Phùng Trung Tập - Luật Thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội 2007, sách chuyên khảo của TS.Phùng Trung Tập - Thừa kế theo di chúc, luận án tiến sỹ của Phạm Văn Tiết - Những quy định chung về quyề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THU HIỀN
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THU HIỀN
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 603830
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Trung Tập
HÀ NỘI – 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
TrangLời cam đoan
Mục lục Danh mục các chữ viết tắt
Mở đầu Chương 1 - Khái niệm quyền thừa kế và thừa kế theo di chúc
1.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc và di chúc chung của vợ, chồng
1.2.2 Khái niệm di chúc chung của vợ, chồng
1.3 Tiến trình phát triển pháp luật quy định về di chúc chung của vợ chồng28
Chương 2 - Lý luận về di chúc của vợ, chồng
và hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ, chồng
2. 1.3 Hình thức, nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ, chồng 46
2. 1.4 Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng 48
2.2 Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng
2.2.1 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng
Trang 5Chương 3 - Thực trạng pháp luật quy định về di chúc chung của vợ, chồng và giải pháp hoàn thiện pháp luật3.1 Thực trạng pháp luật quy định về di chúc chung của vợ, chồng
3.1.3 Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ và chồng; người thừa kế không phụ
thuộc nội dung di chúc
3.1.6 Việc thay thế, bổ sung, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng
3.1.7 Chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung của vợ, chồng
3.2.1 Nên hay không công nhận việc lập di chúc chung của vợ,chồng
3.2.2 Một số kiến nghị đối với các quy định về di chúc chung của vợ, chồng 74
Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chế định về quyền thừa kế là một trong số những chế định quan trọngtrong BLDS năm 2005 Các quy định về thừa kế được quy định tại Phần thứ
IV BLDS năm 2005, từ Đ631 đến Đ687
Khi xã hội phát triển về mọi mặt, trong đó có hoạt động sản xuất kinhdoanh, cung ứng dịch vụ để tạo ra của cải vật chất Hơn nữa, Nhà nước chophép tồn tại nhiều hình thức sở hữu, đa dạng các thành phần kinh tế sản xuấtkinh doanh theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Theo đó sựphân công lao động trong xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng cao.Tài sản của mỗi cá nhân được xác lập do hoạt động sản xuất kinh doanh, cungứng dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế ngày càng lớn và đa dạng Do vậy,khi một cá nhân qua đời thì việc hưởng di sản của người đó trở thành một vấn
đề lớn trong xã hội, được nhiều người quan tâm Các tranh chấp liên quan đếnquan hệ nhận và chuyển giao tài sản của người chết xuất hiện ngày càng nhiềuhơn Các tranh chấp về thừa kế thường phức tạp vì đó là những tranh chấp vềlợi ích và di sản thừa kế của những người thân thích trong cùng gia đình, dòng
họ Giải quyết các tranh chấp về thừa kế không đơn giản, không phải lúc nàoTòa án nhân dân các cấp cũng giải quyết một cách thỏa đáng các tranh chấpđó
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định có hai hình thức thừa kế là thừa
kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Hình thức chia thừa kế theo di chúc
là hình thức chia thừa kế trong đó ý chí của người để lại di sản được Nhànước tôn trọng và bảo vệ thông qua các quy phạm pháp luật Bên cạnh di chúc
cá nhân pháp luật Việt Nam còn quy định về di chúc chung của vợ, chồng.Quy định này làm phức tạp thêm việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế Vì
Trang 8tính đa dạng, phong phú của khối tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồngnên vợ, chồng định đoạt tài sản theo di chúc chung chỉ là ý chí chủ quan của
họ, nguyện vọng của họ, và sau khi họ qua đời, việc giải quyết các tranh chấpliên quan đến di chúc chung không phải bao giờ cũng thấu tình đạt lý Vì vậy,học viên lựa chọn đề tài: “Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân sựViệt Nam” để thực hiện luận văn cao học Luật, nhằm đáp ứng về mặt lý luận
và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài Do vậy đề tài có tính cấp thiết
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện nay về thừa kế ở nước ta đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đáng kể nhất là những công trình sau:
- Thừa kế của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay, Nxb Tư pháp 2004,sách chuyên khảo của TS Phùng Trung Tập
- Luật Thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội 2007, sách chuyên khảo của TS.Phùng Trung Tập
- Thừa kế theo di chúc, luận án tiến sỹ của Phạm Văn Tiết
- Những quy định chung về quyền thừa kế, luận án tiến sỹ của Nguyễn Minh Tuấn
- Di sản thừa kế, Luận án tiến sỹ của Trần Thị Huệ
- Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ
1999, sách chuyên khảo của Nguyễn Ngọc Điện
Ngoài các công trình trên còn có các công trình nghiên cứu về nhữngquan hệ cụ thể như: thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, diện và hàngthừa kế, thừa kế thế vị, … của các tác giả: Phùng Trung tập, Nguyễn MinhTiết, Trần Thị Huệ… được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành: tạp chíLuật học, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Tòa án nhân dân…
Tuy nhiên các công trình nói trên chỉ giải quyết quan hệ thừa kế theo di chúc và theo pháp luật nói chung hoặc giải quyết những vấn đề cụ thể trong
Trang 9quan hệ thừa kế di sản mà chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về
di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam nên học viên lựachọn đề tài: “Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam”
để nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề hẹp nhưng phức tạp ở nước ta hiệnnay
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cứu đề tài học viên đã sử dụng phối hợp các phương pháp:Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương phápphân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh
Thông qua việc sử dụng các phương pháp nói trên học viên có cái nhìnbiện chứng về các hiện tượng có liên quan đến đề tài Khi phân tích và làmsáng tỏ các vấn đề cần thiết học viên luôn nhìn nhận chúng trong mối liên hệ,tác động qua lại lẫn nhau và không tách rời chúng ra nhằm chỉ rõ bản chất,điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của các vấn đề đó Bên cạnh đóphương pháp duy vật lịch sử được học viên sử dụng để nghiên cứu quá trìnhhình thành, phát triển các quy phạm pháp luật về di chúc chung của vợ,chồng Trên cơ sở đó học viên có thể so sánh các quy định đó với nhau để cóthể tổng hợp rút ra kết luận nhằm đưa ra kiến nghị cụ thể, hợp lý để từng bướchoàn thiện các quy định về di chúc chung của vợ, chồng
4. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhằm xác định cụ thể di chúc chung của vợ, chồng và hiệu lực pháp lýcủa di chúc chung do vợ, chồng lập ra Đồng thời có so sánh liên hệ để nhằmlàm nổi bật đặc điểm về hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng Qua đó,phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ,chồng ở tính phù hợp, mức độ phù hợp với đời sống thực tế Nhằm đánh giáhiệu quả điều chỉnh của pháp luật quy định về di chúc chung của vợ, chồng.Qua việc phân tích này đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 10Việt Nam quy định về di chúc chung của vợ, chồng giúp cho cơ quan lập phápsửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật quy định về di chúc chung của vợ,chồng Hơn nữa, đây còn là một tài liệu để giúp cho việc nghiên cứu, học tập
di chúc chung của vợ, chồng trong các trường đào tạo luật và Tòa án nhân dân
ở nước ta hiện nay
5. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn đã giải quyết được về mặt lý luận liên quan đến di chúc chung của vợ, chồng cũng như hiệu lực của loại di chúc này
- Luận văn chỉ ra những bất cập trong những quy định về di chúc chungcủa vợ, chồng trong BLDS năm 2005
- Luận văn xây dựng được khái niệm và đặc điểm của di chúc chung của vợ, chồng
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện về những quy định của pháp luật
về di chúc chung của vợ, chồng
- Với những kết quả nghiên cứu trong luận văn đã là căn cứ khoa học,đáp ứng được những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn để giúp cơ quan lậppháp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật quy định về di chúc chung của
vợ, chồng
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu tạo bởi ba chương:Chương 1 – Khái niệm quyền thừa kế và thừa kế theo di chúc
Chương 2 – Lý luận về di chúc chung của vợ, chồng và hiệu lực phápluật di chúc chung của vợ, chồng
Chương 3 – Thực trạng pháp luật quy định về di chúc chung của vợ, chồng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 11Chương 1 KHÁI NIỆM QUYỀN THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC
1.1 KHÁI NIỆM QUYỀN THỪA KẾ
1.1.1 Quyền thừa kế theo nghĩa khách quan
Quyền thừa kế theo nghĩa khách quan là một chế định pháp luật dân sự,
là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản củangười chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định,phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ củangười thừa kế
Các quy phạm pháp luật về thừa kế thể hiện ý chí của Nhà nước, doNhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm bảo vệ các quan hệ nảy sinh trongviệc định đoạt tài sản của cá nhân bằng di chúc, nhận di sản và việc phân chia
di sản theo quy định của pháp luật Vấn đề thừa kế trước đây chủ yếu đượcđiều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức nhưng do tính chất quan trọng và sựphát triển ngày càng phức tạp của quan hệ này mà Nhà nước cần phải canthiệp bằng các quy phạm pháp luật Theo đó, Nhà nước đưa ra quy định, cácchủ thể trên cơ sở các quy định đó thể hiện ý chí của mình; pháp luật chophép các chủ thể tự do bày tỏ ý chí, tự do thoả thuận các vấn đề có liên quannhưng sự tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật
Chế định về thừa kế đã được quan tâm từ rất sớm ngay từ khi Nhà nướcbắt đầu có các văn bản luật thì vấn đề thừa kế đã được nhắc đến Các quy địnhban đầu tuy đơn giản nhưng là tiền đề cho sự phát triển chế định về thừa kế vềsau Tại BLDS 2005 các vấn đề về thừa kế quy định tại phần thứ tư, bao gồm
từ chương XXII đến chương XXV; Trong đó chương XXII: Những quy địnhchung, chương XXIII: Thừa kế theo di chúc, chương XXIV: Thừa kế theopháp luật, chương XXV: Thanh toán và phân chia di sản
Trang 12Chế định thừa kế quy định có hai cách để định đoạt phần di sản củangười chết cho người khác còn sống: người có tài sản lập di chúc để định đoạttài sản hoặc theo một trình tự nhất định của pháp luật Tương ứng với hai cách
đó, có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.Với quy định như vậy pháp luật dân sự trước hết tôn trọng quyền tự định đoạtcủa chủ thể, chủ thể có quyền lập di chúc định đoạt tài sản theo ý chí củamình Khi người lập di chúc chết đi thì phần di sản được định đoạt trong dichúc sẽ được phân chia cho những người thừa kế (là những người được ngườilập di chúc định đoạt tài sản cho, người được hưởng di sản không phụ thuộcvào nội dung di chúc) theo đúng ý chí của người lập di chúc Nếu trongtrường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp hay trường hợp kháctheo quy định của pháp luật thì khi đó pháp luật mới tham gia điều chỉnh đểnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lập di chúc, những ngườithừa kế và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chia thừa kế theo phápluật di sản được chia đều cho những người thừa kế Người thừa kế là nhữngngười có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng (phạm
vi những người này được gọi là diện thừa kế); Diện những người thừa kế được xếp thành hàng thừa kế, có ba hàng thừa kế:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹnuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anhruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại
- Hàng thừa kế thứ ba bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bácruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của ngườichết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
Trang 13Khi phân chia di sản thừa kế tuân theo nguyên tắc: Di sản thừa kế chỉđược chia cho một hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên 1,2,3; Những người thừa
kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, những người ở hàng thừa
kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đãchết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chốinhận di sản
Chế định về quyền thừa kế là một trong số những chế định quan trọngtrong BLDS năm 2005 Các quy định về thừa kế được quy định tại Phần thứ
IV BLDS năm 2005, từ Đ631 đến Đ687 Theo sự phát triển của pháp luật ViệtNam, các quy phạm pháp luật dân sự đã có nhiều thay đổi theo các giai đoạnlịch sử, theo đó các chế định về quyền thừa kế cũng thay đổi theo Sự sửa đổi,
bổ sung các chế định trong các bộ luật dân sự nói chung và các chế định vềquyền thừa kế nói riêng là sự kế thừa các quy định của giai đoạn trước có sửađổi, bổ sung
1.1.2 Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan
Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản vàquyền của người nhận di sản Quyền thừa kế của chủ thể là khả năng xử sự củacác chủ thể quan hệ pháp luật thừa kế được quy phạm pháp luật về thừa kế quyđịnh và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Quyền chủ quan này phải phù hợpvới các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng
Quyền thừa kế là một trong những quyền được pháp luật bảo vệ, nó gắnliền với mỗi cá nhân Pháp luật Việt Nam luôn ghi nhận quyền năng này của cácchủ thể Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân có quyền lập di chúc
để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theopháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật (Đ631 BLDS năm2005) Các cá nhân cũng có quyền bình đẳng về thừa kế không phân biệt dân tộc,giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình
Trang 14độ văn hoá, nghề nghiệp và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ mà ngườichết chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong trong phạm vi di sản nhận…
Khi xem xét về thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề được quantâm trước tiên Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứ khác.Tài sản của người chết để lại được gọi là di sản, chỉ khi di sản còn tồn tại trênthực tế thì người lập di chúc mới có “cái” để định đoạt Di sản phải là tài sảnthuộc sở hữu của người để lại thừa kế (bao gồm tài sản riêng và phần tài sảnriêng trong khối tài sản chung với người khác) với đầy đủ các quyền năng:quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản đó Sau khi tàisản được dịch chuyển cho người còn sống đồng thời quyền sở hữu cũng đượcchuyển giao theo quy định của pháp luật Việc nhận được tài sản cũng đồngthời với việc nhận các nghĩa vụ về tài sản của người lập di chúc (nếu có) Khicòn sống người lập di chúc có những nghĩa vụ về tài sản (nghĩa vụ cấp dưỡng,nghĩa vụ trả nợ…) mà chưa thực hiện được hay thực hiện nhưng chưa xongthì người nhận thừa kế phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hay thực hiện phầnnghĩa vụ đó trong phạm vi di sản thừa kế
Quyền của người lập di chúc được thể hiện ở việc tự do ý chí đối vớiviệc dịch chuyển tài sản của mình, pháp luật tôn trọng và bảo đảm cho sự tự
do định đoạt đó
Quyền của người thừa kế là quyền nhận hoặc không nhận di sản Đikèm với quyền nhận di sản thì người thừa kế cũng có thể phải thực hiện cácnghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Trong trường hợp một người từ chốiquyền nhận di sản cũng đồng nghĩa với việc người đó được loại bỏ nghĩa vụthực hiện các nghĩa vụ về tài sản đó
Tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người nhận di sản trongmột số trường hợp như: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng,sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di
Trang 15sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người viphạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản… Những ngườinày cho dù thuộc diện thừa kế cũng không được quyền thừa kế.
Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụthuộc vào mức độ năng lực hành vi Cho dù người đó có hay không có nănglực hành vi hay năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế Trongtrường hợp như vậy thì cần có người giám hộ, người giám hộ sẽ thực hiệngiúp những người này các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của họ
1.2 KHÁI NIỆM THỪA KẾ THEO DI CHÚC VÀ DI CHÚC
Theo quy định của luật Dân sự: “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.[12]
Trên thực tế, di chúc không phải lúc nào cũng nhằm dịch chuyển tài sảnthuộc sở hữu của người lập di chúc cho người khác Di chúc có thể thể hiệnmột mong muốn, ý nguyện nào đó của người lập di chúc Nội dung di chúctrong trường hợp này thường là những lời căn dặn người còn sống cách sống,cách đối xử với nhau, giao các nghĩa vụ đạo đức… Mặc dù không nhằmchuyển dịch bất cứ loại tài sản nào của người lập di chúc nhưng loại di chúcnày có ý nghĩa nhất định (đặc biệt là về mặt tinh thần) đối với những ngườicòn sống Đây là loại di chúc khá phổ biến, nó thường được thể hiện ở lời căndặn của người sắp chết với những người thân và cũng có thể được thiết lậpbằng văn bản Loại di chúc này không được Luật Dân sự điều chỉnh do các
Trang 16nghĩa vụ được đề cập đến trong di chúc này là những nghĩa vụ tự nhiên, người
có nghĩa vụ có thực hiện nghĩa vụ hay không là phụ thuộc vào lương tâm, đạođức không ai ép buộc và nếu không thực hiện nghĩa vụ thì họ cũng không phảichịu trách nhiệm pháp lý Khi vi phạm các nghĩa vụ được đề cập trong di chúcthì người có nghĩa vụ gánh chịu sự lên án của xã hội, đặc biệt sự là sự phảnứng của dòng họ và gia đình Nếu có tranh chấp xảy ra liên quan đến di chúcloại này pháp luật cũng không can thiệp và cũng không có căn cứ pháp lý đểgiải quyết Chỉ khi vì các tranh chấp đó mà các bên xảy ra xung đột và có dấuhiệu của vi phạm pháp luật thì khi đó các cơ quan chức năng mới có thẩmquyền giải quyết Cơ sở pháp lý để giải quyết xung đột trong trường hợp nàykhông phải là các quy phạm pháp luật thừa kế mà là các quy phạm thuộc cácngành luật khác có liên quan
Như vậy, chỉ những di chúc thể hiện ý chí của cá nhân về việc định đoạttài sản cá nhân nhằm để chuyển giao tài sản của mình cho người khác sau khichết mới được Luật Dân sự điều chỉnh Luật Dân sự quy định về nội dung,hình thức, điều kiện có hiệu lực của di chúc… Trong cùng một di chúc bêncạnh việc định đoạt tài sản người lập di chúc có thể đề cập đến các nghĩa vụ
tự nhiên như đã đề cập ở trên Nhưng Luật Dân sự chỉ điều chỉnh phần liênquan đến việc định đoạt di sản mà thôi, phần còn lại không phải di chúc vôhiệu mà nó không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Dân sự
Người lập di chúc dựa vào ý chí và tình cảm của mình định đoạt chobất cứ ai, bất cứ tổ chức nào mà họ muốn được hưởng di sản sau khi mình quađời Có hai hình thức của di chúc là di chúc văn bản và di chúc miệng LuậtDân sự bảo vệ như nhau đối với hai hình thức nhưng hình thức lập di chúcbằng văn bản được khuyến khích hơn vì khi ý chí của người lập di chúc đượcghi lại đó sẽ là bằng chứng rõ ràng để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến dichúc
Trang 17Về thời hạn, theo quy định của pháp luật hiện hành sau ba tháng, kể từthời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì
di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ (Đ651 BLDS năm 2005) Việc xác địnhnhư thế nào là người di chúc miệng còn sống, minh mẫn, sáng suốt là cơ sởpháp lý để xác định di chúc miệng có hiệu lực thi hành hay không Minh mẫnđược hiểu là làm chủ được hành vi của mình, tự nhận thức một cách độc lậpnhững điều mình muốn hoặc không muốn Cá nhân sáng suốt thể hiện thôngqua việc cá nhân có khả năng độc lập trong suy nghĩ, nhận xét, đánh giá sựvật, hiện tượng không có sự nhầm lẫn Hay có thể nói người minh mẫn, sángsuốt là người hiểu được các hành vi của chính bản thân trong các mối quan hệ
xã hội, nhận biết một cách rõ ràng các sự vật, hiện tượng xung quanh mình và
có cảm giác tương tự như những người bình thường khác đối với cùng sự vật,hiện tượng, quá trình
Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ýchí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực và di chúcmiệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuốicùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó nhữngngười làm chứng ghi chép lại những điều đó rồi cùng ký tên hoặc điểm chỉ Dichúc miệng là biện pháp để giải quyết tình thế cấp bách nhằm bảo đảm tối đaquyền sở hữu, quyền tự do ý chí, quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tàisản của mình Nhưng, lời nói nếu không được lưu giữ bằng một hình thức
Trang 18vật chất cụ thể thì không có gì để kiểm chứng khi cần thiết như vậy định đoạttài sản bằng cách di chúc miệng sẽ rất dễ bị lợi dụng Vì vậy, Luật Dân sự quyđịnh điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng khắt khe hơn so với điều kiện cóhiệu lực của di chúc bằng văn bản Trên cơ sở xem xét quy định về di chúcmiệng có thể nhận thấy cho dù như thế nào thì cuối cùng ý chí của người lập
di chúc vẫn phải thể hiện bằng văn bản mặc dù không phải do người lập dichúc trực tiếp viết hay chứng kiến việc viết ra văn bản đó
Thứ hai: Di chúc bằng văn bản:
Di chúc bằng văn bản có thể lập theo mẫu (phụ lục 1) hoặc theo cáchsoạn thảo riêng của người lập di chúc Nhưng đều phải đáp ứng được các điềukiện luật định
+) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng có hiệu lực pháp lýkhi nội dung của di chúc đáp ứng được các quy định tại Đ635 BLDS năm
2005 Loại di chúc này phải được do tự tay người lập di chúc viết và ký vàobản di chúc Quy định này nhằm các định chính xác người có tài sản lập dichúc bằng chữ viết của mình, tránh sự gian lận trong việc lập di chúc và làchứng cứ chứng minh di chúc do chính người có tài sản lập ra mà không phải
do người khác
+) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Trong trường hợp người lập di chúc nhờ người khác viết thì cần cóngười làm chứng và cần ít nhất có hai người làm chứng Sau khi người đượcnhờ viết di chúc hoàn thành việc việc viết di chúc thì người lập di chúc phải
ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước sự chứng kiến của những ngườilàm chứng Sau đó những người làm chứng xác nhận chữ ký hoặc xác nhậnđiểm chỉ của người lập di chúc và ký tên vào bản di chúc với danh nghĩangười làm chứng Người làm chứng cần phải đạt được điều kiện về năng lực
Trang 19hành vi dân sự (từ đủ 18 tuổi, không tâm thần hoặc mắc các bệnh làm mất khảnăng làm chủ hành vi của mình), người thừa kế theo di chúc và người thừa kếtheo pháp luật không được làm chứng cho việc lập di chúc Ngoài ra, một sốđối tượng khác như: người có quyền và nghĩa vụ liên quan tới nội dung của dichúc; các chủ nợ, con nợ của người lập di chúc… cũng không thể là ngườilàm chứng Những người này không thể làm chứng cho việc lập di chúc bởi vì
họ có thể vì lợi ích riêng của bản thân mà bằng cách này hay cách khác gâyảnh hưởng đối với người lập di chúc, thậm chí có thể đe dọa, lừa dối ngườilập di chúc khiến người lập di chúc không hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự địnhđoạt trong việc chỉ định người thừa kế và phân định tài sản
+) Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực
Sau khi lập di chúc người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng nhànước chứng nhận bản di chúc của mình hoặc yêu cầu ủy ban nhân dân cấp xãchứng thực vào bản di chúc mình lập ra Có thể nói bản di chúc được côngchứng, chứng thực được coi là bằng chứng thuyết phục nhất ghi nhận sự thỏathuận của vợ, chồng là hoàn toàn tự nguyện, tự do, không có sự ép buộc haylừa dối nào vì nó đã được xác nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền Việc yêucầu công chứng và đem bản công chứng đến công chứng nhà nước phải dochính người lập di chúc thực hiện, pháp luật không cho phép ủy quyền chongười khác thực hiện công việc này Công chứng viên có nghĩa vụ côngchứng vào bản di chúc theo yêu cầu của người lập di chúc Tuy nhiên, nếucông chứng viên nhận thấy có dấu hiệu cho rằng người lập di chúc đã khônglàm chủ hành vi lập di chúc do người này mắc bệnh tâm thần hay bệnh kháclàm mất khả năng điều khiển hành vi hoặc di chúc được lập do có sự lừa dối,dọa nạt, áp đặt ý chí từ phía người khác thì công chứng viên có quyền từ chốiyêu cầu của người lập di chúc (trên thực tế việc xác định như thế nào là códấu hiệu cho rằng người lập di chúc không đủ điều kiện để lập di chúc hay di
Trang 20chúc được lập do có sự lừa dối, dọa nạt, áp đặt ý chí từ phía người khác hoàntoàn là do cảm tính và kinh nghiệm của công chứng viên chứ không hề có quyđịnh cụ thể nào về điều này, vì vậy nhiều khi kết quả không phản ánh chínhxác thực tế) Tương tự như vậy, ủy ban nhân dân nơi người lập di chúc yêucầu chứng thực bản di chúc cũng áp dụng để giải quyết yêu cầu chứng thực dichúc của người lập di chúc (Mẫu lời chứng được thực hiện theo phụ lục số 2)
+) Di chúc bằng văn bản còn được lập trong một số trường hợp đặc biệt
Trường hợp 1: Theo quy định tại Đ658 BLDS năm 2005 thì thủ tục lập di
chúc tại cơ quan công chứng, hoặc ủy ban nhân dân cấp xã theo những thủtục: “Người lập di chúc tuyên bố nội dung di chúc của mình trước công chứngviên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân cấp xã Côngchứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực có nghĩa vụ ghi chép đầy
đủ và trung thực nội dung do người lập di chúc công bố Người lập di chúc kýtên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi đã xác nhận bản di chúc được ghichép đầy đủ và chính xác Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứngthực của ủy ban nhân dân xã ký vào bản di chúc.”
K2 Đ658 BLDS năm 2005 quy định trường hợp người lập di chúckhông đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc khôngđiểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhậntrước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy bannhân cấp dân xã Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của ủyban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc vàngười làm chứng Theo quy định tại Đ659 BLDS năm 2005, công chứng viên,người có thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp xã là người thừa kế theo dichúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc người có cha mẹ, vợ hoặcchồng, con là người hưởng thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của
Trang 21người lập di chúc người có quyền và nghĩa vụ về tài sản liên quan đến nộidung di chúc thì không được công chứng, chứng thực bản di chúc đó.
Người không đọc được, không viết được hoặc không nghe được bản dichúc, không ký hoặc không điểm chỉ được vào bản di chúc là người khôngbiết chữ, người cụt cả hai tay nhưng họ phải hiểu và làm chủ được hành vi củamình, người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc người từ đủ mười lămtuổi đến dưới mười tám tuổi không bị tâm thần, không mắc các bệnh khác làmmất khả năng làm chủ hành vi Quy định này thể hiện sự tôn trọng và bảo hộcủa pháp luật đối với sự tự do ý chí của người lập di chúc, các khiếm khuyết
về mặt thể chất không được coi là điều kiện hạn chế người có tài sản thể hiện
ý chí của mình
Trường hợp hai: Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ theo quy định
tại Đ661 BLDS năm 2005 Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viênlập di chúc tại chỗ ở của mình nếu nhận thấy tình hình sức khỏe của mìnhkhông đáp ứng được việc tự lập di chúc theo các hình thức đã nêu ở trên Loại
di chúc này cũng phải tuân theo những thủ tục lập di chúc tại cơ quan côngchứng hoặc ủy ban nhân dân cấp xã Di chúc của công dân Việt Nam đang ởnước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam
ở nước đó; di chúc của người bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, ngườiđang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ quan giáo dục, cơ quanchữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó
Trường hợp ba: Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công
chứng, chứng thực là di chúc của quan nhân tại ngũ có xác nhận của thủtrưởng cơ quan cấp đại đội trở lên; di chúc của người đang đi trên máy bay,tàu biển có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó; di chúc của ngườiđang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận củangười phụ trách bệnh viện, cơ sở chữa bệnh đó; di chúc của người đang làm
Trang 22công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhậncủa người phụ trách đơn vị Các tình huống lập di chúc này được quy định tạiĐ660 BLDS năm 2005.
Điều này thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật thừa kế ViệtNam Hiện thực khách quan trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể tác độngtới người lập di chúc và việc lập di chúc Khi rơi vào một trong các tìnhhuống cụ thể trên người lập di chúc không thể tiến hành việc lập di chúc theođúng trình tự, thủ tục thông thường được Người lập di chúc cũng không thểnhận thức được thực tế đó vào thời điểm chưa xảy ra sự kiện Pháp luật thừa
kế coi đây là những trường hợp ngoại lệ và có quy định riêng đối với từngtrường hợp nhằm đảm bảo người có tài sản được lập di chúc để thể hiện ý chí
cá nhân Cũng để dự liệu tránh các gian lận trong khi lập di chúc ở những tìnhhuống đặc biệt đó thì pháp luật thừa kế cũng quy định chặt chẽ và cá biệt hóatừng loại di chúc được lập trong từng hoàn cảnh đặc biệt khác nhau Quy địnhnày có tính thực tế cao và hoàn toàn phù hợp với hiện thực của các quan hệ xãhội phong phú hiện nay, vì vậy đạt được hiệu quả trong việc điều chỉnh
1.2.1.2 Điều kiện di chúc hợp pháp
Di chúc được lập ra không phải ngay lập tức có hiệu lực, nó chỉ ghinhận ý chí cá nhân tại thời điểm lập di chúc Di chúc chỉ phát sinh hiệu lựcsau khi người lập di chúc chết Vì vậy, khi còn sống người lập di chúc cóquyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hay huỷ bỏ di chúc; Và cũng chỉ duy nhấtngười lập di chúc mới có quyền này; Không ai có quyền vi phạm quyền tự dothể hiện ý chí của người lập di chúc Bất kỳ sự tác động nào tới việc sửa đổi,
bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di chúc mà không theo ý chí của người lập dichúc đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế
di chúc có thể làm phát sinh thêm, thay đổi một phần hay toàn bộ nội dungcủa di chúc Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung mọi vấn đề trong
Trang 23nội dung di chúc, nếu nhận thấy nội dung di chúc đã lập không còn phù hợpvới ý chí của mình thì có thể thay thế hoặc hủy bỏ di chúc Sau khi việc sửađổi, bổ sung hay thay thế di chúc hoàn thành thì di chúc mới sẽ phủ nhận dichúc đã được lập trước đó Khi mở thừa kế người ta sẽ căn cứ vào thời gianđược ghi trên di chúc để xác định hiệu lực của di chúc Về mặt thời gian thìbản di chúc cuối cùng là bản di chúc có hiệu lực pháp luật.
Mọi cá nhân có quyền tự do lập di chúc trong khuôn khổ quy định củapháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng Di chúc được coi là hợppháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
+) Để bảo vệ quyền tự định đoạt của cá nhân cùng quyền và lợi ích củangười có liên qua, điều kiện đầu tiên là điều kiện đối với chủ thể lập di chúc
“Người lập di chúc cần phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép”[12] Về mặt thể chất pháp luật
không quy định điều kiện bắt buộc chỉ số sức khỏe nhưng trí tuệ người lập dichúc khi thể hiện ý chí của mình phải minh mẫn, sáng suốt, tức là người đóphải có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình Có như vậythì người lập di chúc mới có thể biểu đạt được ý chí của mình một cách đầy
đủ và chính xác Bên cạnh đó, người lập di chúc chỉ có thể đạt được sự tự do
ý chí tuyệt đối khi không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép trong quá trình lập
di chúc Sự lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép từ bất cứ người nào làm ảnh hưởngđến việc chỉ định người thừa kế và phân định di sản đều bị coi là hành vi viphạm pháp luật
Người lập di chúc được pháp luật tôn trọng và bảo hộ quyền tự do thểhiện ý chí trong di chúc Tuy nhiên, nội dung di chúc không trái pháp luật, đạođức xã hội Nội dung di chúc thể hiện toàn bộ ý chí của người lập di chúc,
ý chí này phải tôn trọng các quy định của pháp luật, tài sản được định đoạtphải thuộc sở hữu hợp pháp của người lập di chúc, nghĩa vụ được giao chongười hưởng thừa kế phải là công việc không bị cấm thực hiện
Trang 24+) “Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội”[12] Người
lập di chúc có tự do ý chí trong việc quyết định nội dung di
chúc Nhưng nội dung đó phải tuân theo các quy định của pháp luật, đạo đức
xã hội Không định đoạt tài sản cho những đối tượng là người không có đủđiều kiện trở thành người hưởng thừa kế Không được chuyển giao các loại tàisản bị cấm … Ý chí người lập di chúc không được đi ngược lại truyền thốngđạo đức xã hội
+) “Hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật” [12]
“Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mà
có tài sản riêng phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý “[12]
Đối tượng này đã có thể có tài sản thuộc sở hữu cá nhân, tuy nhiên do
độ tuổi còn nhỏ nên chưa thực sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất cũng nhưtinh thần, chưa thể tự quyết được các vấn đề quan trọng liên quan đến bảnthân, đặc biệt là nhận thức về việc lựa chọn người thừa kế và phân định di sảnthừa kế; vì vậy, đây là đối tượng rất dễ bị lợi dụng Cha mẹ hoặc người giám
hộ là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, họ vì quyền lợi củangười được giám hộ mà quyết định các vấn đề có liên quan
“Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực”[12] Quy định này nhằm đảm bảo bản di chúc thực sự là của
người có tài sản lập ra, nội dung thể hiện chính xác ý chí của người lập dichúc Và bản di chúc được đảm bảo tính trung thực bởi cơ quan công chứngnhà nước hoặc ủy ban nhân dân cấp xã
Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được đề cập ở trên.
Trang 25Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng
ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực [12]
Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, vì vậy dichúc chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quyđịnh: quy định về hình thức di chúc, năng lực hành vi của người lập di chúc,nội dung di chúc, thủ tục lập di chúc, việc bảo quản di chúc… Vì vậy, khimuốn định đoạt tài sản thông qua việc lập di chúc thì cần phải hiểu rõ các quyđịnh của pháp luật về thừa kế theo di chúc, tôn trọng và tuân thủ chặt chẽ cácquy định đó Người chủ sở hữu tài sản đã định đoạt tài sản trong di chúcnhưng nếu di chúc đó không đáp ứng được yêu cầu của pháp luật sẽ bị coi là
vô hiệu và phần di sản được định đoạt trong di chúc được phân chia chongười thừa kế theo luật định
1.2.1.3 Thừa kế theo di chúc
Khi người sở hữu tài sản lập di chúc theo đúng các quy định của phápluật thì việc định đoạt di sản của người đó sẽ được thực hiện theo di chúc.Việc hưởng thừa kế theo sự định đoạt của người lập di chúc được gọi là thừa
kế theo di chúc “Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người
đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc.” [12]
Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế vàphân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản
Người lập di chúc là cá nhân đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vidân sự, riêng đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
Trang 26nếu muốn lập di chúc bắt buộc phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám
hộ và di chúc phải được bằng văn bản Người lập di chúc không bị hạn chếlượng di chúc lập ra, một người nếu lập nhiều ban di chúc để định đoạt cùngmột tài sản thì bản di chúc được lập cuối cùng có hiệu lực thi hành
Theo quy định của pháp luật hiện hành người lập di chúc có quyền:
+) Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
+) Phân định tài sản cho từng người thừa kế;
+) Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ
cúng; +) Giao nhiệm vụ cho người thừa kế trong phạm vi di
sản;
+) Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản;
+) Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc.[12]
Việc chỉ định cá nhân, cơ quan, tổ chức nào hay Nhà nước là ngườithừa kế, phân chia di sản, giao nghĩa vụ về tài sản là do ý chí chủ quan củangười lập di chúc Người lập di chúc hoàn toàn độc lập, tự do khi quyết địnhnội dung của di chúc
Người thừa kế theo di chúc có thể là người có quan hệ huyết thống,quan hệ hôn nhân hay nuôi dưỡng đối với người lập di chúc nhưng cũng cóthể không có những quan hệ này hoặc có thể là Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổchức xã hội… Người lập di chúc có thể để lại di sản cho một người, một tổchức hoặc nhiều người, nhiều tổ chức
Người được thừa kế theo di chúc được hưởng phần di sản do người lập
di chúc chỉ định cụ thể trong di chúc, phần di sản của những người thừa kếkhác nhau có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau Di sản người thừa kếđược nhận có thể là tiền hoặc hiện vật Nếu nhiều người thừa kế cùng đượcthừa kế một hiện vật mà là vật không chia được thì họ có thể cùng sử dụng
Trang 27hiện vật đó hoặc quy đổi ra tiền để phân chia theo phần tương ứng mà họđược hưởng theo sự định đoạt được nêu trong di chúc Giá trị phần di sản màngười nhận thừa kế được hưởng phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người đểlại di chúc chứ không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa họ.
Chỉ định người thừa kế và truất quyền thừa kế là quyền năng cơ bảncủa người lập di chúc Người lập di chúc có thể truất quyền hưởng di sản củamột hay nhiều người thừa kế theo pháp luật mà không cần nêu lý do Khi mộtngười bị truất quyền thừa kế thì họ không được hưởng di sản cho dù họ là ai.Pháp luật tôn trọng quyền tự do ý chí của người lập di chúc và đây là mộttrong số các biểu hiện của sự tôn trọng của này Tuy nhiên, để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của một số người trong diện thừa kế pháp luật có quy định
về đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc;Những người này vẫn được hưởng một khoản tài sản nhất định trừ trường hợp
họ từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo quy định củapháp luật Pháp luật bảo vệ những người này vì giữa họ và người lập di chúc
có mối quan hệ đặc biệt, ngoài ra một số người trong số họ không có khả năng
tự bảo vệ (con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất khả năng laođộng, cha, mẹ, vợ, chồng) Trong trường hợp người lập di chúc không cho họhưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba một suất thừa
kế được chia theo pháp luật thì mỗi người trong số họ vẫn được hưởng phần
di sản bằng hai phần ba của một suất thừa kế được chia theo pháp luật Đây làmột trong số điểm hạn chế quyền của người lập di chúc
Ngoài ra còn một số hạn chế khác về quyền của người lập di chúc:
- Người lập di chúc không được đặt điều kiện trong di chúc như điều kiện phát sinh quyền thừa kế hoặc điều kiện chấm dứt quyền thừa kế
- Không được để lại di sản cho gia súc, gia cầm, cây cối Vì theo địnhnghĩa thì thừa kế là việc chuển giao tài sản của người chết cho người khác còn
Trang 28sống, mà gia súc, gia cầm, cây cối không phải là người Nếu cá nhân địnhđoạt tài sản của mình cho gia súc, gia cầm, cây cối thì phần di chúc đó vô hiệutuyệt đối, không có giá trị thi hành Gia súc, gia cầm, cây cối chỉ có thể là đốitượng của các quan hệ xã hội mà không thể trở thành chủ thể của quan hệ xãhội nói chung và quan hệ thừa kế nói riêng Một quan hệ pháp luật không thểchỉ có một bên chủ thể vì vậy việc lập di chúc định đoạt di sản cho vật nuôi,cây trồng là vô nghĩa.
- Theo Đ635 BLDS năm 2005 quy định:
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng
đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan,
tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.[12]
(cá nhân được sinh ra trong vòng 300 ngày sau khi người để lại di sản chết)
1.2.2 Khái niệm di chúc chung của vợ, chồng
1.2.2.1 Định nghĩa di chúc chung của vợ, chồng
“Di chúc chung của vợ chồng là di chúc chung để định đoạt tài sản chung của vợ, chồng”[12]
Với tư cách là đồng sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản vợ, chồng cóquyền định đoạt tài sản chung bằng nhiều cách, trong đó có quyền định đoạttài sản chung bằng cách lập di chúc Di chúc chung vợ, chồng có thể coi làmột loại di chúc đặc biệt so với di chúc cá nhân
Di chúc chung vợ, chồng thể hiện sự đồng thuận vợ, chồng trong việcđịnh đoạt tài sản chung Chủ thể lập di chúc chung không phải là cá nhân mà
là hai người: vợ và chồng, trên cơ sở bàn bạc, thoả thuận đi đến thống nhất lập
di chúc để định đoạt khối tài sản chung và thống nhất nội dung của di chúc
đó Tuy nhiên, cần phân biệt sự thoả thuận này với việc thoả thuận giữa
Trang 29các chủ thể khi cùng nhau thiết lập các loại hợp đồng Di chúc chung tuy có
sự thoả thuận nhưng hoàn toàn không phải là một dạng hợp đồng “Hợp đồng
là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề nào đó, từ đó làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên”[12].
Di chúc chung có sự thoả thuận, nhưng các chủ thể thoả thuận ở cùng một bên
- bên để lại di sản Sự thoả thuận của các bên khi lập di chúc chung khôngnhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của bên kia mà
sự thoả thuận đó nhằm thống nhất ý chí chung của hai bên vợ, chồng trongviệc định đoạt tài sản chung của vợ, chồng cho người thứ ba khác, tổ chứchay Nhà nước và phân định tài sản cho người thừa kế cũng như việc thực hiệncác quyền khác của người lập di chúc
1.2.2.2 Cơ sở thiết lập di chúc chung của vợ, chồng
Khác với di chúc của cá nhân thể hiện ý chí cá nhân trong việc địnhđoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, di chúc chung được thiết lập trên cơ sởquan hệ hôn nhân và quan hệ sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản chung vợ,chồng Chỉ khi quan hệ này tồn tại một cách hợp pháp thì di chúc chung mới
có cơ sở ban đầu để hình thành Kể từ khi quan hệ hôn nhân hợp pháp đượcthiết lập từ thời điểm đó chế độ tài sản chung cũng hình thành
Thứ nhất: Quan hệ hôn nhân
Với quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 hôn nhân hợppháp phải là hôn nhân có đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bằngchứng hôn nhân và từ đó là bằng chứng của vợ, chồng hợp pháp là giấy chứngnhận đăng ký kết hôn Nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà khôngđăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ, chồng Trước khi
có luật hôn nhân và gia đình năm 1959 không có quy định cấm nhiều vợ,nhiều chồng, khi hai người chung sống với nhau như vợ chồng vẫn được côngnhận là vợ, chồng hợp pháp
Trang 30Hôn nhân thực tế được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 Nếuhai người kết hôn và đăng ký kết hôn hợp pháp, có giấy đăng ký kết hôn hợppháp thì được công nhận là vợ, chồng Trên thực tế, có nhiều trường hợp nam,
nữ sống với nhau như vợ, chồng nhưng không đăng ký kết hôn Chung sốngnhư vợ, chồng thường được chứng minh thông qua việc có con chung, có tàisản chung, được hàng xóm xung quanh và xã hội coi như vợ, chồng, đã đượcgia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó Đốivới những trường hợp như vậy ta phải căn cứ vào thời điểm hai người bắt đầusống với nhau để phân tích
Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP của TAND TC về giải quyết một sốloại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình tại phần II, mục 1, điểm a quy
định “trường hợp quan hệ vợ, chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987,
nếu một bên chết trước, thì bên vợ hoặc chồng còn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế”[13] Theo đó, có
thể hiểu trước ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 được công bố thìviệc chung sống như vợ, chồng của nam, nữ được pháp luật công nhận chỉ cần
họ chứng minh được quan hệ của hai người
Đối với trường hợp thời điểm xác lập hôn nhân thực tế được xác lập từngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, cũng theo quy định của Nghị quyết số01/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về giảiquyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình tại phần II, mục 1,điểm b:
Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/ mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng
ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003; do đó cho đến trước ngày 01/01/2003 mà có một bên
Trang 31vợ, chồng chết trước thì bên vợ, hoặc chồng còn sống được hưởng
di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế [17]
Ngoài ra, theo quy định tại Công văn số 77/2003/HĐTP ngày
27-6-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về giải quyết tranhchấp thừa kế trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng:
Khi giải quyết tranh chấp về thừa kế trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000, nếu sau ngày 01/01/2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên chết trước thì cần phân biệt như sau:
- Đối với trường hợp trước ngày 01/01/2003 họ đã xin đăng ký kết hôn (đã kê khai, có tên trong danh sách những người xin đăng ký kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập trước ngày 01/01/2003), nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa kịp hoàn tất thủ tục để cấp chúng nhận đăng ký kết hôn cho họ thì các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiếp tục hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn và công nhận họ là vợ, chồng kể từ ngày họ chung sống như vợ, chồng trên thực tế Sau thời điểm chung sống như vợ, chồng họ hoàn toàn có quyền lập di chúc chung của vợ, chồng Di chúc đó có hiệu lực như các di chúc chung của vợ, chồng trong các trường hợp khác Cho dù di chúc chung của họ được lập trước khi
họ xin đăng ký kết hôn thì vẫn được coi là hợp pháp.
- Đối với trường hợp trước ngày 01/01/2003 họ không làm thủ tục xin đăng ký kết hôn và sau ngày này họ mới đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân của họ chỉ được tính từ thời điểm đăng ký Do
đó, nếu rơi vào trường hợp này di chúc chung vợ, chồng chỉ được
Trang 32coi là hợp pháp khi về mặt thời gian nó được lập sau thời điểm được công nhận đăng ký kết hôn, khoảng thời gian chung sống như
vợ, chồng không được pháp luật thừa nhận.[9]
Thứ hai: Quan hệ tài sản
Tài sản chung của vợ, chồng được xây dựng thành một chế định cơ bảntrong luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Chỉ khi có tài sản chung thì vợ,chồng mới có thể thiết lập di chúc chung Khi vợ hoặc chồng muốn thiết lậpcác giao dịch có liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng thì nhất thiết phải
vì lợi ích chung của gia đình, phải có sự đồng ý của bên kia và trong trườnghợp có thiệt hại thì vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm Chế độ tài sảnchung của vợ, chồng được pháp luật ghi nhận và quy định trên cơ sở sự pháttriển của điều kiện kinh tế - xã hội Nhà nước ta ghi nhận chế độ tài sản chungcủa vợ, chồng trước hết dựa trên cơ sở bình đẳng giữa vợ và chồng về mọiphương diện Chế độ tài sản chung của vợ, chồng được quy định nhằm xácđịnh các loại tài sản trong mối quan hệ giữa vợ, chồng và gia đình, xác địnhcác quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ,chồng Tài sản chung của vợ, chồng chỉ hình thành sau khi quan hệ hôn nhânhợp pháp được thiết lập, tuy nhiên vợ, chồng có thể thoả thuận không có tàisản chung (chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân)
Tài sản chung của vợ, chồng không nhất thiết phải do cả hai vợ, chồngcùng trực tiếp tạo ra và không phụ thuộc vào việc vợ, chồng sống chung hayriêng Vợ, chồng là đồng chủ sở hữu chung hợp nhất đối với khối tài sảnchung không phụ thuộc vào công sức đóng góp, vợ, chồng bình đẳng đối vớiviệc sở hữu tài sản chung Pháp luật quy định cho vợ, chồng cùng sở hữu khốitài sản chung khi là vợ, chồng hợp pháp và vợ, chồng có quyền để lại thừa kế
di sản là khối tài sản chung Ý chí chung của vợ, chồng đối với khối tài sảnchung được thể hiện trong di chúc chung của vợ, chồng
Trang 33Di chúc chung chỉ dùng để định đoạt khối tài sản chung của vợ, chồng,còn đối với tài sản riêng thì được định đoạt trong di chúc riêng của vợ, chồng.Tài sản riêng của vợ, chồng chỉ thuộc sở hữu cá nhân của người vợ hoặcngười chồng, vì vậy chỉ người nào sở hữu tài sản đó thì mới có quyền địnhđoạt tài sản bằng các cách khác nhau trong đó bao gồm cả việc lập di chúc đểđịnh đoạt tài sản Người vợ hoặc người chồng không có quyền áp đặt ý chícủa mình đối với người còn lại khi họ lập di chúc để định đoạt tài sản riêng.
Di chúc chung là một dạng di chúc đặc biệt so với di chúc cá nhân, tính khácbiệt đó là do tính chất đặc thù của quan hệ vợ, chồng và tính chất của sở hữuchung hợp nhất đối với tài sản của vợ, chồng do luật định
1.2.2.3 Hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng
Di chúc chung của vợ, chồng theo quy định của pháp luật Việt Namhiện hành chỉ phát sinh hiệu lực khi hai người cùng chết hoặc sau khi ngườisau cùng chết Theo đó, nếu một người vợ hoặc người chồng chết thì khôngngay lập tức di chúc chung phát sinh hiệu lực Sau khi người vợ hoặc chồngchết người còn sống sẽ quản lý di sản (trừ trường hợp có thoả thuận khác) vì
di sản chung đang được vợ, chồng sử dụng chung và có nhiều tài sản là vậtđồng bộ hay là vật không chia được và sau khi người này chết thì di chúcchung sẽ phát sinh hiệu lực Người thừa kế bắt buộc phải đợi thời điểm ngườisau cùng chết mới được hưởng phần di sản cuản mình và hưởng các quyềnkhác có liên quan Mọi tranh chấp trước thời điểm người sau cùng chết khôngđược giải quyết Và trước thời điểm đó nội dung di chúc hoàn toàn có thể bịthay đổi bởi người còn sống (phần di chúc định đoạt tài sản của người cònsống) Trường hợp đặc biệt cả hai người cùng chết thì thời điểm hai ngườicùng chết là thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực
Di chúc chung của vợ, chồng đã được pháp luật quy định từ khá sớm.Tuy nhiên do thói quen sinh hoạt và những tập tính tồn tại từ thời kỳ phong
Trang 34kiến nên di chúc chung ngay từ đầu không thực sự được nhiều người quantâm Sự phát triển tất yếu của nền kinh tế và quan điểm xã hội tác động đếncác quy định của pháp luật trong đó có quy định về di chúc chung của vợ,chồng Hiện nay, di chúc chung của vợ, chồng được quy định tại các điềuĐ663, Đ664 BLDS năm 2005 Các quy định về di chúc chung của vợ, chồngtheo quy định của BLDS năm 2005 ngày càng xuất hiện những điểm bất hợp
lý Có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này Trên cơ sở nghiên cứu quyđịnh của pháp luật về di chúc chung và các tài liệu có liên quan, học viêncũng có một số quan điểm riêng về di chúc chung của vợ, chồng Trong khuônkhổ luận văn học viên sẽ trình bày kỹ hơn ở phần sau
1.3 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1.3.1 Trước năm 1990
Do điều kiện lịch sử Việt Nam, trước năm 1990 là giai đoạn mà pháp luậtchưa thực sự hoàn thiện, các quy định về thừa kế nói chung là không nhiều vànằm rất rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau Các quy phạm cũng chưathể dự liệu được hết các quan hệ xã hội nảy sinh Việc áp dụng pháp luật nóichung, pháp luật về thừa kế nói riêng còn nhiều khó khăn Đây là thực trạngchung của pháp luật Việt Nam và pháp luật về thừa kế là một phần trong đó.Pháp luật về thừa kế thời gian này chưa dự liệu được hết các tình huống xảy ratrên thực tế mà chỉ chủ yếu là quy định về một số vấn đề cơ bản
1.3.1.1 Thời kỳ pháp luật phong kiến
Di chúc chung chưa được quy định trong pháp luật thừa kế trong thời
kỳ này Xem xét Bộ luật Hồng Đức và luật Gia Long đều không thấy có quyđịnh về di chúc chung của vợ, chồng
Nhưng thực tế di chúc chung của vợ, chồng vẫn tồn tại khách quan vàkhá phổ biến Đặc biệt là khi tư tưởng phong kiến nặng nề thì đại đa số tài sản
Trang 35chung trong gia đình được định đoạt thông qua di chúc chung Thực tế nàyđược cho rằng xuất phát từ nguyên nhân hệ tư tưởng thời kỳ bấy giờ Các vấn
đề liên quan đến các thành viên trong một gia đình thường được điều chỉnhchủ yếu bằng các quy phạm đạo đức, các chuẩn mực đạo đức luôn nhằm củng
cố tình thương yêu, mối đoàn kết trong gia đình Mặt khác, người Việt vốn rấtcoi trọng và đề cao đạo nghĩa vợ - chồng nên việc vợ và chồng cùng nhau lập
di chúc chung được khuyến khích là tất yếu, đây có thể được coi như biểuhiện cao đẹp của tình nghĩa vợ - chồng Do chưa có quy phạm điều chỉnh nên
di chúc chung của vợ, chồng được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức, cókhi còn được quy về di chúc cá nhân để điều chỉnh (khi đó thường người cóthẩm quyền đồng nhất di chúc chung vợ, chồng với di chúc của người chồng).Bên cạnh đó, do quan niệm tam tòng, tứ đức của thời kỳ phong kiến thì người
vợ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng, đặc biệt là vấn đề kinh tếngười chồng được coi là người chủ gia đình và có toàn quyền quyết định mọivấn đề trong đó có cả vấn đề tài sản cho dù là tài sản chung hay tài sản riêng
Vì vậy, dù muốn dù không người vợ cũng phải tuân theo ý chí của ngườichồng trong di chúc để lại tài sản của cả hai vợ, chồng cho những người cònsống Thực tế, di chúc chung của vợ chồng trong thời kỳ này chủ yếu là thểhiện ý chí của người chồng trong việc định đoạt tài sản chung vợ, chồng Ởkhía cạnh này thì di chúc chung của vợ, chồng thể hiện thực tế cũng là mặttrái của xã hội phong kiến, là vỏ bọc của sự bất bình đẳng trong sở hữu vàđịnh đoạt tài sản
1.3.1.2 Thời kỳ pháp luật thuộc địa - 1990
Tìm hiểu về di chúc chung của vợ chồng trong các Bộ Dân luật chế độtrước như bộ Dân luật Trung kỳ Đ313:
Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của gia đình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính đồng ý… Trừ tài sản của
Trang 36vợ chính ra thì người chồng được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của gia đình theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được [3].
Tương tự vấn đề cũng được quy định tại Đ321 Dân luật Bắc kỳ, hay tại Đ572 Dân luật Sài Gòn 1972:
Chúc thư chỉ có thể do một người lập ra; hai người không thể cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ, chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình [4]
Đều thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng ở các mức độkhác nhau Ngoài việc thừa nhận di chúc chung vợ, chồng thì bước đầu cũng
đã có quy định về hiệu lực, thời điểm phát sinh hiệu lực của loại di chúc này
Năm 1990 Pháp lệnh về thừa kế số 44 – LCT/HĐNN8 được Hội đồngNhà nước ban hành ngày 10/09/1990 điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thừa
kế Tại pháp lệnh này di chúc chung của vợ, chồng không được đề cập tới với
tư cách là một quy phạm pháp luật độc lập Tuy nhiên, tại Đ23 của Pháp lệnhquy định về hiệu lực di chúc đã gián tiếp thừa nhận di chúc chung vợ, chồng,
Đ23 quy định: “Trong trường hợp di chúc do nhiều người lập chung, mà có
người chết trước, thì chỉ phần di chúc có liên quan đến tài sản của người chết trước có hiệu lực.”[8] Với quy định như vậy pháp lệnh này đã thừa nhận việc
nhiều người được cùng nhau lập di chúc và định đoạt tài sản chung Vợ,chồng là chủ sở hữu chung hợp nhất đối với khối tài sản chung nên hoàn toàn
có quyền lập di chúc để định đoạt khối tài sản đó và di chúc chung của vợ,chồng là một dạng đặc biệt của loại di chúc này Mặc dù di chúc chung của
vợ, chồng đã được gián tiếp thừa nhận nhưng với quy định như vậy thì di
Trang 37chúc chung của vợ, chồng chỉ là một trong các loại di chúc chung do nhiềungười có tài sản chung lập, như vậy bản chất của di chúc chung chưa thể đượclột tả đầy đủ, quan hệ hôn nhân là cơ sở để hình thành khối tài sản chungkhông hề được đề cập tới Mặc dù vậy, pháp lệnh về thừa kế năm 1990 là vănbản đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của pháp luật thừa kế, lần đầu tiên đã cómột văn bản riêng thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
về các vấn đề liên quan đến thừa kế Cơ quan tư pháp đã có cơ sở pháp lý để
xử lý các yêu cầu từ phía các chủ thể và có căn cứ pháp lý để giải quyết cáctranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thừa kế
1.3.2 Từ năm 1990 đến năm 1995
Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được áp dụng trong một thời gian dài vàđạt được hiệu quả nhất định Nhưng, cùng với sự phát triển của xã hội và sựhình thành nền kinh tế thị trường hoàn toàn mới mẻ ở nước ta, sự tồn tại củaPháp lệnh này không còn phù hợp để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nữa
Kế thừa những quy định của Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 một cách cóchọn lọc cùng với sự sáng tạo của nhà làm luật không chỉ trong lĩnh vực thừa
kế mà ở mọi lĩnh vực của giao lưu dân sự, năm 1995 BLDS đầu tiên được rađời Các chế định tại BLDS năm 1995 đã có rất nhiều điểm được điều chỉnhcho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ
Theo quy định tại Đ666 BLDS năm 1995 thì: “ Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung.”[11] Như vậy BLDS năm 1995 đã
trực tiếp công nhận giá trị của di chúc chung của vợ, chồng; công nhận vợ,chồng có quyền định đoạt tài sản chung bằng hình thức lập di chúc chung
Đ667 BLDS năm 1995 quy định về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ
bỏ di chúc chung
1- Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.
Trang 382- Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người
đã chết, thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.[11]
BLDS 1995 công nhận vợ, chồng có quyền được sửa đổi, bổ sung, thaythế hay hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào, chỉ cần có sự đồng ý của phíabên kia Khi cả hai người còn sống việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúcchung được thực hiện bởi cả hai vợ, chồng không tính phần nội dung bị thayđổi, hay bổ sung thêm liên quan đến phần tài sản nào Nếu một trong haingười đã chết mà người kia muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc thì chỉ cóthể tác động đến phần di chúc liên quan đến tài sản của mình
Đ671 Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng:
Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng
có thoả thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó.[11]
Quy định này không có gì khác so với quy định về hiệu lực của di chúcđược quy định tại Pháp lệnh thừa kế năm 1990
Trang 39mới Quy định về di chúc chung của vợ chồng là một trong số quy định mới
đó Về cơ bản quy định về di chúc chung của vợ chồng không có thay đổinhiều, điểm thay đổi quan trọng nhất là quy định về hiệu lực của di chúcchung của vợ chồng Đ668 BLDS nă m 2005 (Hiệu lực pháp luật của di chúc
chung của vợ, chồng): “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm
người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”.[12]
Như vậy, nếu như BLDS năm 1995 cho phép vợ chồng có thể thoảthuận với nhau về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung thì BLDS năm
2005 đã loại bỏ quyền tự thoả thuận của vợ chồng về thời điểm có hiệu lựccủa di chúc chung Việc loại bỏ quyền tự thoả thuận là do BLDS năm 2005 đãsửa đổi quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc chung
BLDS năm 1995 di chúc chung của vợ chồng có thể phát sinh hiệu lực
ở hai thời điểm khác nhau:
+) Trong trường hợp một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật;
+) Nếu vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó [11]
BLDS năm 2005 luật quy định di chúc chung chỉ phát sinh hiệu lực tạithời điểm người sau cùng chết hoặc thời điểm hai vợ chồng cùng chết Có thểhiểu là di chúc chung chỉ phát sinh khi cả vợ và chồng đều đã chết (cùng thờiđiểm hoặc không cùng thời điểm) Xung quanh quy định về hiệu lực di chúcchung có rất nhiều tranh cãi về tính khả thi của nó Có rất nhiều ý kiến ủng hộquy định của BLDS năm 1995 vì cho rằng với quy định như tại BLDS năm
2005 sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật và có thể gây ảnh hưởng tớiquyền và lợi ích hợp pháp của nhiều người
Trang 401.3.4 Từ năm 2005 đến nay
Kể từ thời điểm BLDS năm 2005 có hiệu lực đến nay không có thêmvăn bản nào điều chỉnh về di chúc chung của vợ, chồng Do quy định về dichúc chung của vợ chồng tại BLDS năm 2005 có nhiều điểm chưa thực sựhiệu quả nên có nhiều ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện quy định này Có một
số bài viết đã đưa ra quan điểm và đề suất cá nhân Tuy nhiên chưa có thayđổi nào của pháp luật Đây là một thiếu sót lớn cần được xem xét và giảiquyết