Trong trường hợp đó, sẽ có nhiều vấn đề pháp lý đặt ra rấtkhó xử lý, như: vấn đề hiệu lực của di chúc chung sẽ được xác định như thếnào; phần di chúc định đoạt tài sản riêng có phải là m
Trang 1A MỞ ĐẦU
Việc lập di chúc chung của vợ, chồng được thừa nhận ở nước ta từ rấtlâu Vấn đề này tưởng chừng như đơn giản bởi nó không chỉ được bênh vựcbởi luân lý mà còn được thừa nhận cả về mặt pháp lý Tuy nhiên, nếu nghiêncứu sâu hơn sẽ thấy di chúc chung của vợ, chồng thực chất là một vấn đề phứctạp, chưa được pháp luật hiện hành quy định một cách cụ thể, rõ ràng; xungquanh vấn đề này còn nhiều bất cập, thiếu sót, đòi hỏi phải có những biện
pháp khắc phục Bàn về vấn đề này, em quyết định chon đề tài: “Một số vấn
đề về di chúc chung của vợ, chồng” cho bài tiểu luận của mình.
B NỘI DUNG
I Sơ lược lịch sử di chúc chung của vợ, chồng
Ở Việt Nam thời trung đại, Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long khôngquy định về di chúc chung của vợ, chồng Trên thế giới, Luật La Mã cũng như
Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp cũng không thừa nhận quyền lập di chúcchung của vợ, chồng
Tuy vậy, việc lập di chúc chung của vợ, chồng lại được thừa nhận trongtục lệ của ta từ lâu Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Namtrong các xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là hình thức
di chúc thông dụng và việc vợ - chồng cùng nhau lập di chúc chung, là hiệntượng phổ biến thời bấy giờ Nó phù hợp với quan niệm truyền thống củangười Việt Nam là coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng
Luật thực định thời cận đại cũng đã bắt đầu ủng hộ giải pháp mang tínhluân lý đó Bộ Dân luật Bắc và Dân luật Trung đều thừa nhận quyền lập dichúc chung của vợ, chồng Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 cũng cho phép vợ,chồng cùng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung
Trang 2Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta cũng thừa nhận vợ, chồng cóquyền lập di chúc chung Thông tư 81-TANDTC ngày 24/7/1981 đã từng nhắcđến di chúc chung của vợ, chồng Pháp lệnh Thừa kế 1990 tuy không trực tiếpqui định về di chúc chung của vợ, chồng, nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệulực của di chúc chung Vấn đề di chúc chung của vợ, chồng cũng được quyđịnh trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005.
II Một số vấn đề liên quan đến những quy định về di chúc chung của vợ, chồng.
1 Quyền lập di chúc chung của vợ - chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc chung.
Điều 646 Bộ luật dân sự quy định : “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Theo
đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọichủ thể hay một cộng đồng chủ thể Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đềpháp lý liên quan tới thân trạng và quyền lợi vật chất của một cá nhân, đượctiến hành sau khi cá nhân chết Như vậy, Điều 663 Bộ luật dân sự quy định dichúc chung của vợ, chồng đã tạo ra sự mâu thuẫn so với Điều 646 nói trên.Mặt khác, việc thừa nhận di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến các vấn đềpháp lý phức tạp khác rất khó xử lý về mặt kỹ thuật pháp lý Ví dụ như xácđịnh thời điểm có hiệu lực của di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế,huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung
Tuy vậy, nếu thiên về nguyên tắc củng cố tình thương yêu và đoàn kếttrong gia đình, thì việc quy định về di chúc chung của vợ, chồng là điều cầnthiết Cũng cần phải nói thêm là, trong quan điểm của tục lệ và pháp luật của
Trang 3các chế độ trước, việc thừa nhận quyền lập di chúc chung không chỉ để củng
cố tình thương yêu đoàn kết trong gia đình, mà việc lập di chúc chung, trước
hết, là nhằm tạo ra giải pháp phòng ngừa, tạo ra sự chế ước đối với người chủ
gia đình, theo quan điểm phụ hệ, để bảo vệ quyền thừa kế của những ngườithân thích khác trong gia đình
2 Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ - chồng
2.1 Di chúc chung chỉ dùng để định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Điều 663 Bộ luật dân sự quy định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung
để định đoạt tài sản chung” Theo đó, nội dung và mục đích của di chúc
chung là để định đoạt tài sản chung của vợ, chồng Sẽ đơn giản, nếu vợ, chồngchỉ có tài sản chung Nhưng sẽ phức tạp, nếu vợ, chồng vừa có tài sản chung,vừa có tài sản riêng, mà họ lại muốn định đoạt cả hai loại tài sản này trongcùng một di chúc Trong trường hợp đó, sẽ có nhiều vấn đề pháp lý đặt ra rấtkhó xử lý, như: vấn đề hiệu lực của di chúc chung sẽ được xác định như thếnào; phần di chúc định đoạt tài sản riêng có phải là một di chúc riêng; sau khimột bên vợ hoặc chồng chết, thì phần di chúc liên quan tới tài sản riêng của họ
có hiệu lực hay chưa Đây là những vấn đề pháp lý phức tạp mà Bộ luật dân
sự chưa tiên liệu được
Như vậy, nếu quy định trên được thực hiện đúng, thì vợ, chồng khôngthể dùng di chúc chung để định đoạt tài sản riêng của mình Điều này sẽ dẫntới hai hệ quả là:
- Khi vợ, chồng muốn lập di chúc chung thì di chúc đó chỉ được định đoạt tàisản chung Nếu vợ, chồng muốn định đoạt phần tài sản riêng, thì họ phải lậpmột tờ di chúc khác Điều này sẽ gây ra trở ngại tâm lý không nhỏ khi người
ta muốn lập di chúc chung, vì như thế sẽ tạo ra thêm nhiều khó khăn cho các
Trang 4bên liên quan, như phải lập nhiều tờ di chúc khác nhau, thay vì chỉ cần duynhất một tờ di chúc
- Nếu trong di chúc chung vợ - chồng định đoạt cả tài sản chung và tài sảnriêng thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau Điềunày dẫn tới việc, chỉ dựa vào một tờ di chúc, người ta phải chia thừa kế nhiềulần trên cùng sản nghiệp của một người Từ đó sẽ phát sinh nhiều vấn đề khác,như việc xác định người thừa kế bắt buộc, người thừa kế thế vị; sự ra đời củanhững người mới nằm trong hàng thừa kế, sau khi một bên vợ hoặc chồngchết mà di chúc chung vẫn chưa phát sinh hiệu lực; cơ sở để xác định giá trịmột suất di sản bắt buộc là những vấn đề pháp lý không dễ dàng giải quyết
2.2 Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ - chồng
Bộ luật dân sự không quy định rõ những trường hợp bị cấm đoán khilập di chúc chung Điều này sẽ tạo nên những tình huống pháp lý rất khó xử,như việc hai bên lập di chúc để thừa kế lẫn nhau, thì di chúc đó có hiệu lựchay không? Di chúc vốn là một loại giao dịch pháp lý đơn phương và khôngmang tính chất đền bù Việc cho phép vợ, chồng khi lập di chúc chung để thừa
kế lẫn nhau, đã biến loại giao dịch này thành giao dịch pháp lý song phương
và mang tính chất có đền bù, làm thay đổi bản chất pháp lý của di chúc Việc
pháp luật không cấm đoán vợ, chồng lập di chúc chung thừa kế lẫn nhau,chẳng những sẽ không đạt được mục đích tăng cường tình thương yêu, đoànkết trong gia đình, mà có thể còn gây nên nhiều hệ luỵ không thể lường trướcđược, như: sự thông đồng giữa vợ, chồng lập di chúc giả tạo để che đậy nhữnghành vi trái pháp luật; hoặc làm gia tăng nguy cơ khiến các bên phản bội, lừadối, giả mạo di chúc, hoặc thậm chí, tạo cơ hội cho các bên thực hiện âm mưuxấu nhằm trục lợi bất chính di sản của nhau
Trang 52.3 Xâm phạm đến quyền lợi của những người thừa kế bắt buộc
Vấn đề thừa kế bắt buộc đối với di sản của cá nhân được quy định rõ tạiĐiều 699 Bộ luật dân sự Theo đó, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc(cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên mà không
có khả năng lao động) có quyền được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo phápluật, nếu họ không được hưởng hoặc thực tế được hưởng ít hơn 2/3 của mộtsuất thừa kế theo pháp luật Tình huống đặt ra là, di chúc chung chỉ để lại thừa
kế cho một số người mà không dành phần di sản cho những người thừa kế bắtbuộc kể trên và cũng không dành phần di sản cho một bên vợ hoặc chồng, thìnhững người đó có được chia thừa kế bắt buộc không? Nếu họ vận dụng quyđịnh tại Điều 699 để xin được hưởng thừa kế bắt buộc thì giải quyết thế nào
3 Hình thức của di chúc chung của vợ - chồng
Di chúc cá nhân được lập theo 1 trong 2 hình thức là di miệng và dichúc viết, theo những thủ tục rất chặt chẽ Dường như ý chí của nhà làm luậtmuốn di chúc chung sẽ được lập theo những hình thức tương tự như di chúc
cá nhân Nhưng thực tiễn cho thấy, các hình thức và thủ tục để lập di chúc cánhân không phải lúc nào cũng có thể áp dụng phù hợp cho di chúc chung của
vợ, chồng
- Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng?
Theo Điều 651 Bộ luật hình sự, việc lập di chúc miệng chỉ dành cho cá
nhân: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể
di chúc miệng” Do đó, vợ chồng không thể cùng nhau lập di chúc chung bằng
miệng, vì các lý do:
Trang 6Một là, muốn lập di chúc chung, vợ - chồng phải có sự bàn bạc và thống
nhất ý chí chung trước khi cùng nhau lập di chúc Trong tình trạng bị cái chết
đe dọa thì điều này là hãn hữu Khi không có sự thống nhất quan điểm rõ ràng,thì việc lập di chúc chung sẽ không thể phản ánh đầy đủ và trung thực ý chí cánhân của mỗi người
Hai là, thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng,
không cho phép hai người phát biểu ý chí cùng một lúc, mà phải từng ngườiphát biểu Vậy, sự thể hiện ý chí chung sẽ được biểu đạt bằng cách nào? Nếutừng người trình bày riêng ý nguyện của mình, thì thực ra, đó là di chúc cánhân; còn nếu một người đại diện trình bày ý chí chung và người kia chấp
nhận toàn bộ, thì cũng giống như đã uỷ quyền lập di chúc, mà như vậy thì lại
vi phạm nguyên tắc lập di chúc trực tiếp Hơn nữa, trong hoàn cảnh đặc biệt
do cái chết đe dọa cả hai, để một người phát biểu ý chí chung cho người kianghe và hoàn toàn đồng ý, là không thực tế
Ba là, sau 3 tháng kể từ ngày di chúc miệng mà một người chết và một
người còn sống, thì toàn bộ di chúc miệng hoặc một phần di chúc miệng liênquan tới người còn sống có còn giá trị thi hành nữa hay không? Vì theo khoản
1 Điều 651 Bộ luật dân sự thì: “Sau 3 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ” Trong khi đó, di chúc chung chỉ có hiệu lực khi cả hai người đều đã
chết
Bốn là, đang lúc hoàn cảnh bối rối trước sự sống, chết của cả 2 người,
việc tiếp nhận và ghi nhớ ý nguyện của mỗi người có thể sẽ không đầy đủ,không chính xác Ý nguyện của người chết lại không được thể hiện ra thànhmột dạng vật chất định hình rõ ràng và cố định, rất dễ quên và cũng dễ bị sửađổi mà lại không có chứng cứ xác đáng thể hiện sự đồng thuận của vợ, chồng
Trang 7Việc chứng minh được tính chất đồng thuận, tự nguyện của cả hai vợ chồngtrong trường hợp này sẽ không bảo đảm được tối đa tính trung thực, kháchquan.
Chính vì thế, việc cho phép vợ chồng lập di chúc chung bằng miệng sẽtrở nên phức tạp và không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho quyền lợi chínhđáng của chính người lập di chúc lẫn người thừa kế hợp pháp của họ
- Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc viết tay mà không có người làm chứng?
Điều 655 Bộ luật dân sự quy định về lập di chúc viết tay của cá nhân:
“Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc” Về mặt lôgic, hai
người không thể cùng một lúc viết cùng một nội dung trên cùng một tờ dichúc Vậy phải từng người viết xong, rồi sau đó, từng người ký tên vào bản dichúc đó Vấn đề đặt ra là di chúc do một người viết và người kia chỉ ký tênhoặc điểm chỉ thì có hiệu lực pháp luật không? Hoặc mỗi người viết một đoạn
để nói về những quyết định của mình về từng vấn đề khác nhau, rồi sau đó,cùng ký tên vào di chúc thì có được không?
Tóm lại, pháp luật cần phải quy định hình thức riêng cho di chúc chungcủa vợ chồng, chứ không thể áp dụng giống như di chúc của cá nhân Bộ luậtdân sự chưa quy định cụ thể vấn đề này là một thiếu sót cần được khắc phục.Nên chăng, chỉ nên thừa nhận vợ, chồng được lập di chúc bằng hình thức vănbản có người làm chứng hoặc văn bản có công chứng, chứng thực
4 Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung
Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồngphải dựa trên nguyên tắc nhất trí Khoản 2 Điều 664 Bộ luật dân sự quy định:
“Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì
Trang 8phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ
có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình” Điều
này tạo ra sự thống nhất cao cho việc lập di chúc chung cũng như việc sửađổi, bổ sung di chúc chung Tuy vậy, nếu một bên muốn thay đổi quyết địnhtrong di chúc chung mà bên kia không đồng ý, thì các bên cũng không đượcquyền thay đổi Quy định này tạo ra những vấn đề bất cập sau:
Thứ nhất, quy định này xâm phạm tới quyền tự do định đoạt của cá
nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, cũng như vi phạm nguyêntắc tự nguyện trong việc lập di chúc
Thứ hai, quy định này cũng tỏ ra thiếu nhất quán vì không cho phép
một bên tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc chung khi vợ - chồng còn sống, nhưnglại cho phép một bên còn sống có quyền sửa đổi, bổ sung phần di chúc liênquan đến phần tài sản của mình khi một bên vợ hoặc chồng đã chết Sự thiếunhất quán trong quy định trên không thể giải thích được, vì thực chất, cả haitrường hợp này đều giống nhau là khi một bên sửa đổi, bổ sung di chúc chungđều không có sự đồng thuận của người kia Trong khi việc sửa đổi, bổ sung dichúc chung của vợ, chồng cần phải bảo đảm nguyên tắc nhất trí giữa vợ,chồng với tư cách là các đồng sở hữu chủ của tài sản chung Do đó, nếu đãcho phép một bên được tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc chung khi một bên đãchết, thì cũng cần phải công nhận quyền của một bên được tự mình sửa đổi,
bổ sung, thay thế, huỷ bỏ phần di chúc chung liên quan đến tài sản của mình,khi không tìm thấy sự đồng thuận của bên kia
Thứ ba, quy định trên cũng chưa dự liệu các khả năng khác khiến di
chúc phải bị sửa đổi, bổ sung mà không thể tìm được sự đồng thuận của vợ,chồng do vợ, chồng đã mâu thuẫn và sống ly thân, ly hôn hoặc do một bên vợhoặc chồng còn sống, nhưng đã bị tuyên bố mất tích, bị tuyên bố mất năng lực
Trang 9hành vi dân sự, bị mất trí, bị bệnh lú lẫn tuổi già khiến cho họ không còn thểhiện được ý chí cá nhân được nữa.
Suy cho cùng, lập di chúc chung là sự thể hiện tập trung của nguyên tắccủng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình Nhưng việc níu kéo các bên
vợ chồng, buộc họ phải nhất trí với nhau, trong hoàn cảnh mâu thuẫn giữa họkhông thể dung hoà được nữa, thì việc lập di chúc chung hay cố giữ lại dichúc chung cũng không phải là cách hữu hiệu khiến cho họ trở nên thươngyêu, đoàn kết với nhau hơn
5 Hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng
Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng luôn là vấn
đề gây ra rất nhiều tranh cãi Sở dĩ có sự bất đồng này là do thời điểm có hiệulực của di chúc chung không trùng với thời điểm mở thừa kế
Điều 668 Bộ luật dân sự quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Tuy nhiên, việc xác định di chúc chung của vợ chồng phát sinh tại thời
điểm người sau cùng chết lại phát sinh những vấn đề phức tạp sau đây:
- Thứ nhất: Việc phải chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay chồng chết trước, sẽ gây khó khăn cho các bên liên quan và cho cả các cơ quan tiến hành tố tụng.
Thực tế cho thấy, một cá nhân có thể có nhiều sản nghiệp, bao gồm tàisản riêng của cá nhân và phần tài sản chung với vợ hay chồng, chưa kể có thể
họ còn có nhiều vợ hay nhiều chồng hợp pháp khác Nếu xác định di chúcchung chỉ có hiệu lực dựa vào thời điểm “bên sau cùng” chết, thì có thể phảitiến hành chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay người chồng
Trang 10chết trước Việc chia thừa kế lần đầu được tiến hành đối với phần di sản là tàisản riêng của người chết trước hoặc những tài sản chung khác không địnhđoạt trong di chúc chung, dựa vào thời điểm mở thừa kế của người đó Các lầnchia thừa kế sau được áp dụng đối với phần di sản định đoạt trong di chúcchung của vợ, chồng, khi di chúc chung có hiệu lực (vào thời điểm bên saucùng chết) Trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết trước mà vừa có di sảnđịnh đoạt bằng di chúc chung, vừa có tài sản riêng không lập di chúc hoặc cónhững tài sản chung không được đưa vào di chúc chung,hoặc một phần tài sảnliên quan đến phần di chúc chung bị vô hiệu… thì có thể dẫn đến hậu quả làkhối di sản của người đó được chia thừa kế làm nhiều lần Điều này dẫn đến
hệ quả là người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước sẽ phải kiện xinchia thừa kế nhiều lần, toà án sẽ phải ít nhất hai lần thụ lý và giải quyết hai vụtranh chấp khác nhau trên cùng một khối tài sản của người chết trước Từ đókhông chỉ gây khó khăn cho người thừa kế của người chết trước, làm phức tạpthêm tính chất của vụ việc, mà còn gây khó khăn cho các cơ quan chức năngtrong việc giải quyết tranh chấp thừa kế, thậm chí có thể dẫn đến vi phạmnguyên tắc không thụ lý, xét xử nhiều lần cho cùng một vụ việc (nhất sự bấttái cứu) theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
- Thứ hai: Quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung như luật hiện hành sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước.
Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thờiđiểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực,những người thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân chia disản của người chết đã được định đoạt trong di chúc chung và phần di sản liênquan tới phần nội dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong trường
Trang 11hợp người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ củanhững người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như cha, mẹ của ngườichết trước, người thừa kế là con riêng chưa thành niên đang đau yếu cần cótiền để chữa bệnh…), làm những người này mất quyền được hưởng di sản Vídụ: ông A, bà B lập di chúc chung để lại di sản cho các con chung của ông A,
bà B và cha, mẹ của ông A Sau đó, ông A chết Vấn đề phức tạp phát sinh làcha mẹ của ông A cần khoản tiền để chữa bệnh, nên muốn được chia thừa kế
di sản của ông A Nhưng do bà B vẫn còn sống, di chúc chung của A và Bchưa có hiệu lực, nên cha mẹ của ông A không thể xin chia di sản của ông Atheo di chúc chung nói trên Vì thế, quyền được hưởng thừa kế của cha mẹông A không được bảo đảm
Ngoài ra còn có các trường hợp di chúc chung có thể bị vô hiệu toàn bộhay một phần, nhưng mãi đến hàng chục năm sau mới phát hiện, thì quyềnkhởi kiện đòi chia thừa kế của những người thừa kế hợp pháp của người vợhay chồng chết trước đã bị bỏ lỡ mà không còn cơ hội để khắc phục được, nếungười thừa kế đó đã chết Điều này đã xâm phạm tới quyền thừa kế hợp pháp– một quyền hiến định cơ bản của công dân, được Hiến pháp và pháp luật bảo