1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di chúc chung của vợ,chồng

22 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 207 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Đặc điểm của di chúc chung của vợ chồng Di chúc chung của vợ chồng là một trường hợp đặc biệt của di chúc chung do cá nhânlập vì khi vợ chồng lập di chúc chung thì được pháp luật bảo

Trang 1

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội Trong giai đoạn hiệnnay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân càng đa dạng, phong phú thì thừa kế cũngnảy sinh nhiều vấn đề Thừa kế gồm thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo theo di chúc.Vấn đề thừa kế theo di chúc, pháp luật nước ta có một số điều quy định về di chúc chungcủa vợ, chồng Tuy nhiên qua quá trình áp dụng các quy định này đã nảy sinh một số bấtcập như việc xác định các điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng, nộidung của di chúc chung đồng thời BLDS chưa dự liệu được hết các tình huống xảy raxung quanh các vấn đề có liên quan đến di chúc chung của vợ, chồng như các trường hợpcấm vợ chồng lập di chúc chung, trường hợp vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung dichúc chung khi một bên không đồng ý Do vậy để tìm hiểu rõ những quy định về dichúng chung của vợ, chồng và những vấn đề bất cập còn tồn tại đối với những quy định

hiện hành về di chúc chung của vợ chồng Em xin chọn đề tài: “Di chúc chung của vợ,

chồng”.

Do còn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏinhững thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đánh giá góp ý từ phía thầy, cô để bài của

em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Dưới góc độ khoa học pháp lí, theo Ulpian - một luật gia La Mã nổi tiếng thì: “Di chúc

là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết”.

Trang 2

Theo pháp luật Việt Nam thì khái niệm di chúc được quy định tại Điều 646 BLDS

2005 như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của

mình cho người khác sau khi chết”.

2 Khái niệm di chúc chung của vợ, chồng

* Định nghĩa

Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho ngườikhác sau khi chết Thông qua bản di chúc, người chết đã thực hiện quyền định đoạt đốivới tài sản thuộc sở hữu của mình, vì vậy, thừa kế là hệ luận của quyền sở hữu, có sở hữumới có thừa kế Xuất phát từ lý luận này mà pháp luật nước ta quy định trường hợp dichúc chung của vợ chồng, bởi chế độ sở hữu của vợ chồng là chế độ sở hữu chung hợpnhất và theo quy định của BLDS 2005 Điều 217:

“1 Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ thể chung không được xác định đối với tài sản chung.

Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia

2 Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung”.

Theo quy định trên thì sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó quyền sởhữu đối với mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung Như vậy,quyền sở hữu của vợ, chồng đối với khối tài sản chung không được xác định và họ cóquyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với khối tài sản chung đó, Trong đó có quyền lập dichúc chung để định đoạt khối tài sản chung của vợ chồng sau khi họ chết Từ đó có thể

hiểu di chúc chung của vợ chồng là di chúc thể hiện thống nhất ý chí của vợ chồng trong

việc định đoạt khối tài sản chung sau khi vợ, chồng chết.

* Đặc điểm của di chúc chung của vợ chồng

Di chúc chung của vợ chồng là một trường hợp đặc biệt của di chúc chung do cá nhânlập vì khi vợ chồng lập di chúc chung thì được pháp luật bảo vệ và một số quy đinh về dichúc chung của vợ, chồng được dẫn chiếu tới những quy định chung về di chúc do cánhân lập Vì vậy, di chúc chung của vợ chồng sẽ mang những đặc điểm của di chúc do cánhân lập như di chúc thể hiện ý chí của cá nhân khi lập di chúc, việc lập di chúc nhằm

Trang 3

mục đích định đoạt khối tài sản thuộc sở hữu của mình và di chúc có hiệu lực pháp luậtsau khi cá nhân đó chết Bên cạnh đó di chúc chung của vợ chồng cũng có những đặcđiểm riêng:

Thứ nhất, di chúc chung của vợ chồng là sự thể hiện thống nhất ý chí của hai vợ chồng,

dựa trên quan hệ hôn nhân đang còn hiệu lực

Nếu như thừa kế theo di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của một cá nhân nhằmchuyển dịch khối tài sản của mình cho người khác sau khi chết thì di chúc chung của vợ,chồng là sự thể hiện thống nhất ý chí của cả người vợ và người chồng cùng quyết địnhviệc chuyển dịch tài sản chung của hai vợ chồng cho ai, mỗi người được hưởng baonhiêu, ai sẽ là người quản lý khối tài sản đó Tuy nhiên xét về bản chất, di chúc chungcủa vợ, chồng vẫn mang tính chất quyết định đơn phương bởi dù di chúc thể hiện ý chícủa nhiều người (của vợ và chồng) nhưng những người đó vẫn chỉ là một bên trong quan

hệ dân sự và khi lập di chúc chung, cũng không có sự đồng ý của những người đượchưởng thừa kế

Hơn nữa, di chúc chung do vợ, chồng lập ra phải dược dựa trên quan hệ hôn nhân hợppháp của họ Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ hôn nhân đáp ứng được những quyđịnh về điều kiện kết hôn và thủ tục kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân và giađình (HN&GĐ)

Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta cũng có nhiều cuộc hôn nhân không tiến hành đăng

ký kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng trước pháp luật họ vẫn đượccông nhận là vợ chồng và họ có đầy đủ các quyền của vợ chồng trong đó có quyền lập dichúc chung để định đoạt tài sản chung Đây là những trường hợp đặc biệt xuất pháp từhoàn cảnh lịch sử nước ta Để xác định rõ trường hợp nào không tiến hành đăng ký kếthôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng vẫn được pháp luật công nhận là vợchồng với trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không được pháp luậtcông nhận và trong trường hợp đó họ cũng không có quyền và nghĩa vụ của vợ chồng tạimục 3 Nghị quyết của quốc hội số 35/200/QH10 ngày 09/06/2000 về thi hành luậtNH&GĐ 2000 đã có hướng dẫn như sau:

Trang 4

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 Nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dung khoản 2 và khoản 3 Điều

17 của luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết”

Như vậy, những trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước năm 1987 màkhông đăng ký kết hôn thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng và có đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ của vợ và chồng theo quy định của luật HN&GĐ trong đó có quyềnlập di chúc chung của vợ chồng Đối với những trường hợp nam nữ chung sống với nhaunhư vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến 01/01/2001, họ có nghĩa vụ đi đăng ký kết hôntrong thời hạn 2 năm, đến ngày 01/01/2003 mà họ không tiến hành đăng ký kết hôn thìkhông được pháp luật công nhận là vợ chồng Và kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam nữchung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì đều không được pháp luật côngnhận là vợ chồng và đều không được hưởng các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, trongtrường hợp này họ cũng không có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chunggiữa hai người

Thứ hai, di chúc chung của vợ chồng được lập dùng để định đoạt tài sản chung của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân

Sự cần thiết phải xác định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ, chồng là

những tài sản gì? Theo điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Tài sản chung của

vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác

mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” “Thời kỳ hôn nhân của vợ chồng được xác định là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” (khoản 7 Điều 8 luật HN&GĐ năm 2000) Thời kỳ hôn nhân bắt

đầu từ ngày đăng ký kết hôn và chấm dứt khi một bên vợ chồng chết hoặc vợ chồng lyhôn Như vậy, mọi tài sản trong gia đình có được trong thời kỳ hôn nhân đều được coi làtài sản chung của vợ, chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, địnhđoạt, sử dụng mà không phụ thuộc vào khả năng trực tiếp tạo ra tài sản hay công sứcđóng góp của mỗi bên Vì vậy, khi lập di chúc chung của vợ chồng, họ có quyền địnhđoạt khối tài sản được hai vợ chồng tạo lập ra được tình từ ngày đăng ký kết hôn trước cơ

Trang 5

quan nhà nước có thẩm quyền đến ngày chấm dứt hôn nhân và những tài sản mà vợchồng được thừa kết chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác, mà vợchồng thỏa thuận là tài sản chung.

Thứ ba, thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng là thời điểm người sau

cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết

Đây cũng là một đặc trưng của di chúc chung của vợ, chồng làm nó khác biệt so với dichúc do cá nhân lập Bởi thời điểm di chúc cá nhân lập theo quy đinh của pháp luật chỉ cóhiệu lực khi cá nhân đó chết Còn thời điểm của di chúc chung của vợ chồng được xácđịnh theo hai trường hợp Trường hợp thứ nhất là di chúc chung của vợ, chồng có hiệulực khi người sau cùng chết và trường hợp thứ hai là di chúc chung có hiệu lực tại thờiđiểm vợ, chồng cùng chết

Thứ tư, di chúc chung của vợ, chồng chỉ được sửa đổi, bổ sung khi có sự đồng ý của

cả vợ và chồng trong trường hợp cả hai còn sống, và chỉ được sửa đổi riêng phần di chúctrong giới hạn phần tài sản của mình trong khối tài sản chung (nếu một bên chết trước).Đây cũng là một điểm đặc trưng khác biệt so với di chúc do cá nhân lập bởi đối với dichúc do cá nhân lập, họ có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc do mình lập rabất cứ lúc nào mà không cần sự đồng ý của ai (trừ trường hợp di chúc do người chưa đủ

15 tuổi đến dưới 18 tuổi lập thì cần có sự đông ý của cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý)còn đối với di chúc chung của vợ, chồng họ chỉ có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ

di chúc trước đó đã lập khi có sự đồng ý của hai bên Trong trường hợp khi một ngườichết trước thì họ cũng chỉ có thể sửa đổi, bổ sung phần di chúc liên quan đến phần tài sảncủa họ

3 Sơ lược về vấn đề di chúc chung của vợ, chồng

Xem xét Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì không thấy có quy định về vấn đềnày Đối chiếu với luật La Mã cũng như BLDS Cộng hòa Pháp thì họ cũng không thừanhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng

Tuy vậy, việc lập di chúc chung của vợ, chồng lại được thừa nhận trong tục lệ củanước ta từ lâu Theo giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã hộitrước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là hình thưc di chúc thông dụng và việc

vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung là một hiện tượng phổ biến thời bấy giờ Quan

Trang 6

niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ, chồng và luônmuốn củng cố tình yêu thương, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ,chồng cùng nhau lập di chúc để định đoạt tài sản chung và coi đó như là một biểu hiệncao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ chồng.

Theo quy định của các Bộ dân luật các chế độ trước, thì thấy các Bộ dân luật Bắc và

Bộ dân luật Trung đều thừa nhận quyền di chúc chung của vợ, chồng Bộ luật Sài Gòn

1972 cũng cho phép vợ, chồng cùng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung

Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta cũng thừa nhận vợ, chồng có quyên lập di chúcchung Thông tư 81 - TANDTC ngày 24/7/1981 đã từng nhắc tới di chúc chung của vợ,chồng Pháp lệnh thừa kế 1990 tuy không trực tiếp quy định vê di chúc chung của vợchồng, nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung Vấn đề di chúc chungcủa vợ, chồng được quy định khá rõ trong BLDS 1995 và BLDS 2005 Các quy định nàytrong BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi so với quy định của BLDS 1995 Mặc dù vậy, việcquy định về di chúc chung trong BLDS 2005 vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, bất cập vàchưa phù hợp với thực tế áp dụng và thực thi pháp luật

Có thể nói, pháp luật cận đại và pháp luật hiện hành Việt Nam thừa nhận quyền lập dichúc chung của vợ, chồng là thể hiện nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết tronggia đình, nhưng như vậy sẽ gây ra sự mâu thuẫn với các quy định khác về di chúc làmnảy sinh nhiều bất cập không thể giải quyết được, thậm chí còn làm phá vỡ tính hệ thống

của chế định quyền thừa kế

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG

1 Nhận xét chung các quy định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của vợ, chồng

Di chúc chung của vợ chồng có những nét đặc thù so với di chúc thông thường, đểhiểu và vận dụng nó không phải là một điều đơn giản Hiện nay, trong BLDS, di chúcchung của vợ chồng chỉ được quy định trong một vài điều luật và được nằm trong chươngThừa kế theo di chúc của BLDS Chính vì vậy, khi xem xét và vận dụng về di chúc chungcủa vợ chồng chúng ta phải đặt nó trong mối liên hệ với di chúc nói chung

Trang 7

Những quy định trong BLĐS 2005 về di chúc chung của vợ chồng đã đánh dấu mộtbước phát triển của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, gópphần làm ổn định các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân Pháp luật thừa kế Việt Nam thừa nhận di chúc chungcủa vợ chồng với những quy định mang tính cụ thể và linh hoạt, phù hợp với từng điềukiện, hoàn cảnh cụ thể; quy định chặt chẽ về nội dung cũng như về trình tự thủ tục lập dichúc; hiệu lực pháp luật của di chúc làm cho điều luật có tính khả thi cao, đáp ứng đượcnguyện vọng và yêu cầu của người dân cũng như phù hợp với sự đa dạng của các quan hệ

xã hội

Mặc dù BLDS 2005 quy dịnh về di chúc chung của vợ chồng là như vậy nhưng hiệnnay trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật cho thấy những quy định trên vẫn còntồn tại một số hạn chế nhất định gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật, gây nênnhiều cách hiểu khác nhau về cùng một vấn đề, có quy định còn chồng chéo, chưa nhấtquán, chưa đáp ứng được tính khả thi, chưa phù hợp với những đặc thù của di chúc chungcủa vợ chồng; chưa quy định căn cứ chấm dứt di chúc chng của vợ chồng,

2 Di chúc chung của vợ, chồng

* Vợ chồng là chủ thể cùng lập di chúc chung

Di chúc là sự thể hiện ý chí thống nhất của cả hai vợ, chồng: vì thế cả vợ và chồngđều phải đáp ứng những yêu cầu về mặt chủ thể để di chúc chung có hiệu lực pháp luật

Di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật khi cả hai vợ và chồng đều có năng lực

hành vi dân sự “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng

hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Một người chỉ được coi là

có năng lực hành vi dân sự để tham gia các giao dịch khi người đó bằng khả năng củamình tiến hành các hành vi, qua đó bằng khả năng của mình để thực hiện các và gánh váccác nghĩa vụ dân sự Như vậy, vợ và chồng là hai chủ thể độc lập phải tự mình quyết địnhviệc định đoạt khối tài sản chung, sau đó đi đến sự thống nhất ý kiến khi lập di chúcchung của cả hai vợ chồng

Năng lực hành vi dân sự của người vợ hoặc người chồng phải đáp ứng cả hai điềukiện sau:

Trang 8

- Yêu cầu về độ tuổi: Khoản 1 điều 647 BLDS 2005 quy định về độ tuổi của ngườilập di chúc như sau:

“Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình” Và

theo quy định tại Điều 18 BLDS 2005: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người đã thành

niên” Và người đã thành niên được coi là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Như

vậy, trong trường hợp vợ, chồng cùng lập di chúc chung thì cả hai vợ chồng phải đáp ứngđiều kiện là đã thành niên, không bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khảnăng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Tuy nhiên, nếu xem xét về điều kiện kết

hôn của vợ, chồng theo quy định tại điều 9 của Luật HN&GĐ 2000 “Nam từ hai mươi

tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” là có thể đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Khi vợ chồng lập di chúc chung phải tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọahoặc bị cưỡng ép Vợ chồng phải tự nguyện, thống nhất ý chí của cả hai người từ đó mớiđảm bảo được tính tự nguyện của người lập di chúc

* Nội dung của di chúc chung của vợ chồng không trái pháp luật, đạo đức xã hội

Ngoài điều kiện về chủ thể, để xác định một di chúc chung của vợ chồng có đượcxem là hợp pháp hay không, cần xem xét đến nội dung của di chúc chung đó Khoản 2

Điều 652 BLDS 2005 quy định: “Nội dung của di chúc chung không trái pháp luật, đạo

đức xã hội” Nội dung của di chúc là tổng hợp các vấn đề mà vợ, chồng thống nhất ý kiến

với nhau về việc định đoạt khối tài sản chung như chỉ định người thừa kế, truất quyềnhưởng di sản của người thừa kế, phân định phần di sản cho tùng người thừa kế đượcthể hiện trong di chúc chung đó Vì vậy, một di chúc chung được coi là hợp pháp nếu sựthể hiện trên không vi phạm những điều pháp luật cấm, không trái với những điều màpháp luật quy định

Ngoài ra, di chúc muốn được coi là hợp pháp nếu nội dung của nó phù hợp với đạođức xã hội Đạo đức xã hội là những trật tự công cộng, những thuần phong mỹ tục đãđược hình thành từ một cơ sở kinh tế nhất định đã và đang được cộng đồng người thừanhận và tôn trọng

* Hình thức của di chúc chung của vợ chồng

Trang 9

BLDS 2005 cung quy định cụ thể quy định về hình thức của di chúc chung của vợ

chồng những dẫn chiếu tới điều 649 BLDS 2005: “Di chúc phải được lập thành văn bản;

nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc bằng tiếng nói của dân tộc mình” Như vậy di chúc có thẻ được lập bằng văn bản hoặc di chúc miệng Tuy nhiên dù

di chúc được lập theo hình thức nào nó cũng phải tuân theo những quy định của phápluật

- Di chúc chung được lập dưới hình thức văn bản

Hình thức văn bản: là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết có chứng nhậnhoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Di chúc băng văn bản

có những loại sau:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 655);

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Điều 656);

- Di chúc bằng văn bản có có công chứng hoặc chúng thực của cơ quan nhà nước(Điều 657)

Dù được lập dưới hình thức nào thì di chúc bằng văn bản phải tuân theo những quy

định chung của di chúc bằng văn bản, cụ thể tại khoản 2 điêu 653 quy định: “Di chúc

không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc” Người lập

di chúc bằng văn bản có quyền, tùy theo ý muốn của mình và tùy theo hoàn cảnh cụ thểchọn một trong những hình thức di chúc bằng văn bản nói trên khi lập di chúc bằng vănbản Các hình thức di chúc bằng văn bản nói trên đều có giá trị pháp lý như nhau

- Di chúc miệng

Điều 651 BLDS quy định: “1 Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe

dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì

có thể di chúc bằng miệng 2 Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập

di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ” Di chúc

miệng chỉ được lập trong trường hợp người để lại di sản bị cái chết đe dọa hoặc bệnh tật

mà không thể lập di chúc bằng văn bản được Di chúc bằng miệng nếu tuân thủ theo trình

tự, thủ tục lập thì có hiệu lực thi hành trong thời hạn ba tháng kể từ khi lập di chúc Nếu

Trang 10

trong thời hạn này mà người lập di chúc chết thì di chúc có hiệu lực pháp luật và thi hành.Nếu sau ba tháng kể từ thời điểm lập di chúc mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn

và sáng suốt thì di chúc miệng đương nhiên sẽ bị hủy bỏ

* Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ chồng

Điều 664 BLDS quy định: “1 Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di

chúc bất cứ lúc nào 2 Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung, thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết, thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình” Cũng như việc

lập di chúc của một cá nhân, vợ - chồng khi đã thống nhất ý chí lập di chúc chung, thì họcũng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào Một bên vợhoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng

ý của bên kia Nếu một người chết trước thì vợ hoặc chồng còn sống chỉ có thể sửa đổi,

bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình trong khối tài sản chung hợp nhấtcủa vợ chồng Khi đó di chúc đã có giá trị thực hiện đối với phần tài sản của người vợhoặc người chồng chết trước trong khối tài sản chung của vợ chồng Người còn sốngkhông thể sửa đổi, bổ sung phần di chúc của người đã chết mà chỉ có thể sửa đổi, bổ sung

di chúc liên quan đến phần tài sản của bản thân người đó

* Hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

Điều 668 BLDS quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm

người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết” Trường hợp vợ và chồng

cùng lập di chúc để định đoạt tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất của họ nhưngsau đó một người trong số họ chết trước thì chỉ phần di chúc có liên quan đến phần di sảncủa người chết trước mới có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong dichúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của

vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia vào thời điểm đó Trên cơ sở đó, mặc

dù vợ chồng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung của vợ chồng, khi người vợhoặc người chồng chết trước thì phần di sản liên quan đến tài sản bằng ½ khối tài sảnchung và phần tài sản riêng có hiệu lực thi hành Còn phần di sản liên quan đến tài sảnrieng của người còn sống và ½ khối tài sản chung của vợ và chồng vẫn thuộc sở hữu củangười vợ hoặc chồng còn sống chưa có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, nếu vợ chồng cùng

Trang 11

nhất trí thỏa thuận trong di chúc chung thời điểm di chúc chung có hiệu lực thi hành làthời điểm người sau cùng chết, thì thời điểm di chúc có hiệu lực thi hành đối với di sảncủa người vợ hoặc chồng đã chết trước.

III MỘT SƠ HẠN CHẾ BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG

1 Hình thức của di chúc chung của vợ, chồng

Di chúc chung của vợ, chồng được lập theo hình thức miệng và hình thức văn bản

theo những thủ tục chặt chẽ giống như di chúc do cá nhân lập Tuy nhiên, thực tiễn chothấy, không phải các hình thức và thủ tục của di chúc chung do vợ, chồng lập:

* Đối với di chúc chung được lập theo hình thức văn bản :

Điều 655 BLDS 2005 quy định về lập di chúc viết tay của cá nhân: “ Người lập di

chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc” Theo cách hiểu trên, hai người phải cùng

một lúc viết và ký tên vào bản di chúc đó Điều này không thể xảy ra trên thực tế Mặtkhác điều này cũng có nghĩa là hai người phải cùng viết giống nhau về cùng một nộidung, thành hai đoạn khác nhau trên tờ di chúc, mà như vậy sẽ trở thành di chúc của từng

cá nhân mà không thể “ủy quyền” cho người kia thay mặt để viết toàn bộ di chúc, vì trái

với nguyên tắc di chúc viết tay phải được viết trực tiếp bằng chữ viết tay

* Đối với hình thức di chúc miệng

Theo quy định của Điều 651 BLDS 2005, hình thức của di chúc chung của vợ chồng

có thể được lập dưới hình thức miệng Tuy nhiên như đã phân tích ở trên thì di chúcchung của vợ chồng không thể lập theo hình thức này vì những lý do sau:

+ Một là, muốn lập di chúc chung vợ, chồng phải có sự bàn bạc và thống nhất ý chí

chung trước khi cùng nhau lập di chúc Trong tình trạng bị cái chết đe dọa thì điều nàykhông thể xảy ra, khi không có sự thống nhất quan điểm rõ ràng, thì di chúc chung khôngthể được lập vì không có sự thống nhất ý chí giữa vợ, chồng Tình trạng này sẽ dẫn đênviệc một bên quyết định nội dung di chúc chung theo ý chí chủ quan của mình mà không

có sự thống nhất ý chí với người kia

+ Hai là, Thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng, không cho

phép hai người phát biểu ý chí cùng một lúc mà phải từng người phát biểu Vậy, sự thểhiện ý chí chung sẽ được biểu đạt bằng cách nào? Nếu tùng người trình bày riêng ý

Ngày đăng: 29/01/2016, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w