1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

liệu BLDS 2005 có nên tiếp tục thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng để định đoạt tài sản chung của họ hay không

24 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 48,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của

Trang 1

MỤC LỤC: ………1

MỞ ĐẦU: 2

NỘI DUNG: ……… 3

I.Lý luận chung:………3

1.Khái niệm di chúc và người thừa kế theo di chúc:……….3

1.1 Di chúc là gì? 3

1.2 Người lập di chúc:……… 4

II Di chúc chung của vợ và chồng:……….5

1 Lịch sử vấn đề và những thiếu sót, bất cập trong các qui định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của vợ - chồng……… 5

1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề……….5

1.2 Quyền lập di chúc chung của vợ - chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc……….7

1.3 Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ - chồng……… 8

1.4 Hình thức của di chúc chung của vợ - chồng………10

1.5 Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung……… 13

1.6 Hiệu lực của di chúc chung của vợ - chồng……… 18

1.7 Vấn đề chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung……… 19

III Vấn đề còn vướng mắc và giải pháp:……… 20

1 Có tiếp tục thừa nhận di chúc chung của vợ, chồng? 20

2 Giải pháp:……… 20

Kết luận:………23

Danh mục tài liệu tham khảo:……….24

Trang 2

Đó cũng là lí do em chọn đề tài “ Di chúc chung của vợi và chồng” cho bài tập lớn

học kì của mình Có khá nhiều luật gia ủng hộ cho quyền lập di chúc chung của

vợ, chồng để định đoạt tài sản chung, thay vì mỗi bên chỉ được lập di chúc cá nhân Vấn đề tưởng chừng như đơn giản và không có gì phải bàn cãi, vì quan điểm ấy không chỉ được bênh vực bởi luân lý mà còn được thừa nhận cả về mặt pháp lý Nhưng qua công tác nghiên cứu, cũng như qua tiếp cận với thực tiễn pháp lý về di chúc chung của vợ, chồng đã cho thấy, đây là một vấn đề khá phức tạp mà luật hiện hành chưa qui định đầy đủ, rõ ràng Các thiếu sót, bất cập của luật, đã dẫn tới hậu quả là, làm cho vấn đề này càng trở nên rắc rối thêm, thậm chí còn tạo ra nhiều mâu thuẫn so với các qui định khác có liên quan Từ đó, đòi hỏi cần phải lật lại vấn

đề: liệu BLDS 2005 có nên tiếp tục thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ,

chồng để định đoạt tài sản chung của họ hay không?

Trang 3

NỘI DUNG:

I.Lý luận chung:

1.Khái niệm di chúc và người thừa kế theo di chúc:

1.1 Di chúc là gì?

Di chúc đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình thức khác nhau Ngày nay mỗi nhà nước mỗi hệ thống pháp luật trên Thế Giới lại có những quy định khác biệt về cùng một quan hệ pháp luật dân sự là hình thức của di chúc

Sự đa dạng của hình thức di chúc bắt nguồn từ sự phong phú về nhiều vẻ của cuộc sống con người, từ truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia hay từ đặc điểm riêng biệt của mỗi xã hội

Trong bộ luật dân sự Pháp ( hay còn gọi là bộ luật của Napoleon) quy định rất chi tiết hình thức của di chúc, từ Điều 967 đến Điều 1001 Hình thức di chúc gồm

3 dạng : di chúc viết tay, công chứng thư, và bí mật di chúc (Điều 969)

Bộ luật Dân sự Nhật Bản thì quy định về hình thức di chúc từ các Đ967 đến Đ984 Di chúc có các hình thức là viết tay, công chứng, hoặc dưới một dạng tài liệu bí mật trừ trong một số trường hợp đặc biệt thì cho phép lập di chúc khác ( Đ967)

Theo BLDS Việt Nam thì quy định hình thức di chúc từ DD649 đến Đ661 những nhà làm luật Việt Nam quy định 2 hình thức di chúc là : Di chúc bằng văn bản( chúc thư) và di chúc bằn miệng ( chúc ngôn)

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác sau khi chết Theo quy định này di chúc phải có các yếu tố sau:

• Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải của bất cứ chủ thể nào khác

Trang 4

• Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản của mình cho người khác

• Chỉ có hiệu lực khi người đó chết

• Di chúc là hành vi pháp lí đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho nguwoif khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thực hiện trong di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế ( cá nhân, tổ chức,…) và phân định tài sản, uyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản

1.2 Người lập di chúc:

Theo quy định của pháp luật tại Đ647 BLDS, người có thể lập di chúc là:

Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không nhận thức được và làm chủ được hành vi của mình

Người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Vì vậy không phân biệt tôn giáo, thành phần, dân tộc….Người từ đủ 18 tuổi có quyền lập di chúc

để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế

Tuy nhiên, người từ đủ 15 tuổi dến chưa đủ 18 tuổi ( có năng lực hành vi 1 phần) có thể lập di chúc với điều kiện lập thành văn bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Sự đồng ý ở đây được hiểu là đồng ý cho họ lập di chúc còn nội dung di chúc do họ tự định đoạt

II Di chúc chung của vợ và chồng:

Trang 5

1 Lịch sử vấn đề và những thiếu sót, bất cập trong các qui định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của vợ - chồng

1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề

Xem xét trong Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì không thấy có qui định

về vấn đề này Đối chiếu với Luật La Mã cũng như Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp thì thấy họ cũng không thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng ( Điều

968 BLDS của Pháp: “Hai hay nhiều người không được lập di chúc chung để lại di

sản cho người thứ ba hay để lại di sản cho nhau”, Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb Tư

bấy giờ ( Vũ Văn Mẫu, Les succesions testamentaires en droit vietnmaien (Thừa kế

theo di chúc trong luật Việt Nam), Luận án Paris, 1948, tr 67, dẫn theo Nguyễn

Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ TP

Hồ Chí Minh, 1999, tr.167) Quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung

để định đoạt tài sản chung, và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ - chồng

Luật thực định thời cận đại cũng đã bắt đầu ủng hộ giải pháp mang tính luân lý

đó Nghiên cứu các Bộ Dân luật của các chế độ trước, thì thấy các Bộ Dân luật Bắc

và Dân luật Trung đều thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ - chồng ( Điều

313 Dân luật Trung kỳ (tương tự, vấn đề cũng được qui định tại Điều 321 Dân luật

Trang 6

Bắc): “Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của gia đình tuỳ theo ý

mình, nhưng phải có vợ chính đồng ý… Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có

vợ chính thuận tình cũng được”, Nhà in Viễn Đệ, 1947, tr 94) Bộ Dân luật Sài

Gòn 1972 cũng cho phép vợ - chồng cùng lập di chúc chung để định đoạt tài sản

chung ( Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn 1972: “Chúc thư chỉ có thể do một người

lập ra; hai người không thể cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình” Nxb Thần

Chung, Sài Gòn 1973, tr 150)

Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta cũng thừa nhận vợ, chồng có quyền lập di chúc chung Thông tư 81-TANDTC ngày 24/71981 đã từng nhắc đến di chúc chung của vợ, chồng Pháp lệnh Thừa kế 1990 tuy không trực tiếp qui định về di chúc chung của vợ, chồng, nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc

chung ( Điều 23 khoản 1 Pháp lệnh Thừa kế 1990: “Trong trường hợp di chúc lập

chung, mà có người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần tài sản của người chết trước có hiệu lực”) Vấn đề di chúc chung của vợ, chồng được qui

định khá rõ trong BLDS 1995 và BLDS 2005 (các Điều 663, Điều 664, Điều 668 BLDS 2005) Các qui định này trong BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi so với qui định của BLDS 1995 (các Điều 667, Điều 671 BLDS 1995) Mặc dù vậy, việc qui định về di chúc chung trong BLDS 2005 vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, bất cập

và chưa phù hợp với thực tế

Có thể nói, pháp luật cận đại và luật hiện hành Việt Nam thừa nhận quyền lập

di chúc chung của vợ - chồng là thể hiện nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nhưng như vậy sẽ gây ra sự mâu thuẫn với các quy định khác về

Trang 7

di chúc làm nảy sinh nhiều bất cập không thể giải quyết được, thậm chí, còn làm phá vỡ tính hệ thống của chế định quyền thừa kế.

1.2 Quyền lập di chúc chung của vợ - chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc

Điều 646 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 qui định rõ: “Di chúc là sự thể hiện ý

chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết”

Theo đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọi chủ thể hay một cộng đồng chủ thể Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đề pháp lý liên quan tới thân trạng và quyền lợi vật chất của một cá nhân, được tiến hành sau khi cá nhân chết Như vậy, Điều 663 qui định di chúc chung của vợ, chồng đã tạo

ra sự mâu thuẫn so với Điều 646 nói trên Mặt khác, việc thừa nhận di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến các vấn đề pháp lý phức tạp khác rất khó xử lý về mặt kỹ thuật pháp lý Ví dụ như xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung

Tuy vậy, nếu thiên về nguyên tắc củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình, thì việc qui định về di chúc chung của vợ, chồng là điều cần thiết Cũng cần phải nói thêm là, trong quan điểm của tục lệ và pháp luật của các chế độ trước, việc thừa nhận quyền lập di chúc chung không chỉ để củng cố tình thương yêu đoàn kết

trong gia đình, mà việc lập di chúc chung, trước hết, là nhằm tạo ra giải pháp

phòng ngừa, tạo ra sự chế ước đối với người chủ gia đình, theo quan điểm phụ hệ,

để bảo vệ quyền thừa kế của những người thân thích khác trong gia đình (Xem Nguyễn Ngọc Điện, sđd, tr 172)

1.3 Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ - chồng

Trang 8

- Di chúc chung chỉ dùng để định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Điều 663 BLDS 2005 qui định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định

đoạt tài sản chung” Theo đó, nội dung và mục đích của di chúc chung là để định

đoạt tài sản chung của vợ, chồng Sẽ đơn giản, nếu vợ, chồng chỉ có tài sản chung Nhưng sẽ phức tạp, nếu vợ, chồng vừa có tài sản chung, vừa có tài sản riêng, mà

họ lại muốn định đoạt cả hai loại tài sản này trong cùng một di chúc Trong trường hợp đó, sẽ có nhiều vấn đề pháp lý đặt ra rất khó xử lý, như: vấn đề hiệu lực của di chúc chung sẽ được xác định như thế nào; phần di chúc định đoạt tài sản riêng có phải là một di chúc riêng; sau khi một bên vợ hoặc chồng chết, thì phần di chúc liên quan tới tài sản riêng của họ có hiệu lực hay chưa Đây là những vấn đề pháp

lý phức tạp mà BLDS 2005 chưa tiên liệu được

Như vậy, nếu qui định trên được thực hiện đúng, thì vợ, chồng không thể dùng

di chúc chung để định đoạt tài sản riêng của mình Điều này sẽ dẫn tới hai hệ quả là:

* Khi vợ, chồng muốn lập di chúc chung thì di chúc đó chỉ được định đoạt tài sản chung Nếu vợ, chồng muốn định đoạt phần tài sản riêng, thì họ phải lập một tờ di chúc khác Sẽ phức tạp nếu một người có nhiều sản nghiệp khác nhau (tài sản riêng hoặc tài sản với vợ hay chồng hợp pháp khác) Điều này sẽ gây ra trở ngại tâm lý không nhỏ khi người ta muốn lập di chúc chung, vì như thế sẽ tạo ra thêm nhiều khó khăn cho các bên liên quan, như phải lập nhiều tờ di chúc khác nhau, thay vì chỉ cần duy nhất một tờ di chúc

* Nếu trong di chúc chung vợ - chồng định đoạt cả tài sản chung và tài sản riêng thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau Điều này dẫn tới việc, chỉ dựa vào một tờ di chúc, người ta phải chia thừa kế nhiều lần trên cùng sản nghiệp của một người Từ đó sẽ phát sinh nhiều vấn đề khác, như việc xác định

Trang 9

người thừa kế bắt buộc, người thừa kế thế vị; sự ra đời của những người mới nằm trong hàng thừa kế, sau khi một bên vợ hoặc chồng chết mà di chúc chung vẫn chưa phát sinh hiệu lực; cơ sở để xác định giá trị một suất di sản bắt buộc là những vấn đề pháp lý không dễ dàng giải quyết.

- Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ - chồng

BLDS 2005 không qui định rõ những trường hợp bị cấm đoán khi lập di chúc chung Điều này sẽ tạo nên những tình huống pháp lý rất khó xử, như việc hai bên lập di chúc để thừa kế lẫn nhau, thì di chúc đó có hiệu lực hay không? Di chúc vốn

là một loại giao dịch pháp lý đơn phương và không mang tính chất đền bù Việc cho phép vợ, chồng khi lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau, đã biến loại giao

dịch này thành giao dịch pháp lý song phương và mang tính chất có đền bù, làm

thay đổi bản chất pháp lý của di chúc Pháp luật của các chế độ trước tuy có thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng, nhưng luôn cấm vợ, chồng lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn qui định: “ hai người

không thể cùng làm chung một chúc thư lưỡng tương đắc lợi” (tức thừa kế lẫn

nhau - Tác giả chú thích) Việc pháp luật hiện hành không cấm đoán vợ, chồng lập

di chúc chung thừa kế lẫn nhau, chẳng những sẽ không đạt được mục đích tăng cường tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, mà có thể còn gây nên nhiều hệ luỵ không thể lường trước được, như: sự thông đồng giữa vợ, chồng lập di chúc giả tạo để che đậy những hành vi trái pháp luật; hoặc làm gia tăng nguy cơ khiến các bên phản bội, lừa dối, giả mạo di chúc, hoặc thậm chí, tạo cơ hội cho các bên thực hiện âm mưu xấu nhằm trục lợi bất chính di sản của nhau

- Xâm phạm đến quyền lợi của những người thừa kế bắt buộc

Vấn đề thừa kế bắt buộc đối với di sản của cá nhân được qui định rõ tại Điều

699 BLDS 2005 Theo đó, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc (cha, mẹ, vợ

Trang 10

hoặc chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên mà không có khả năng lao động) có quyền được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật, nếu họ không được hưởng hoặc thực tế được hưởng ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật Tình huống đặt ra là, di chúc chung chỉ để lại thừa kế cho một số người mà không dành phần di sản cho những người thừa kế bắt buộc kể trên và cũng không dành phần di sản cho một bên vợ hoặc chồng, thì những người đó có được chia thừa kế bắt buộc không? Nếu họ vận dụng qui định tại Điều 699 để xin được hưởng thừa kế bắt buộc thì giải quyết thế nào Ví dụ: ông A và bà B cùng lập di chúc chung để lại toàn bộ tài sản cho người con cả là C Di chúc chung của ông A

và bà B đã xâm phạm tới quyền được hưởng di sản bắt buộc của các con chưa thành niên khác của ông A và bà B, cũng như của cha, mẹ ông A và cha, mẹ bà B Vậy, di chúc này có bị vô hiệu một phần không, những người thừa kế bắt buộc này

có được khởi kiện đòi chia thừa kế của A, B hay không là những vấn đề chưa được BLDS 2005 làm rõ, nên chắc chắn sẽ dẫn tới nhiều vướng mắc trong việc thực thi pháp luật Không loại trừ trường hợp người vợ hay người chồng còn sống,

vì lý do nào đó, đã khởi kiện đòi hưởng thừa kế bắt buộc từ phần di sản của người kia trong di chúc chung thì cũng sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết

Ví dụ: phần tài sản của người còn sống trong tài sản chung của vợ, chồng bị tịch thu hoặc bị toà án phân chia để trả nợ riêng của người đó, làm cho một phần di chúc chung liên quan tới tài sản của họ vô hiệu, thì họ có được quyền xin hưởng thừa kế bắt buộc từ phần di sản còn lại của người chết trước trong di chúc chung được không?

1.4 Hình thức của di chúc chung của vợ - chồng

Di chúc cá nhân được lập theo 1 trong 2 hình thức là di miệng và di chúc viết, theo những thủ tục rất chặt chẽ Dường như ý chí của nhà làm luật muốn di chúc chung sẽ được lập theo những hình thức tương tự như di chúc cá nhân Nhưng thực

Trang 11

tiễn cho thấy, các hình thức và thủ tục để lập di chúc cá nhân không phải lúc nào cũng có thể áp dụng phù hợp cho di chúc chung của vợ, chồng.

- Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng?

Theo Điều 651, việc lập di chúc miệng chỉ dành cho cá nhân: “Trong trường

hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác

mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng” Do đó, vợ chồng không thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng, vì các lý do:

Một là, muốn lập di chúc chung, vợ - chồng phải có sự bàn bạc và thống nhất ý chí

chung trước khi cùng nhau lập di chúc Trong tình trạng bị cái chết đe dọa thì điều này là hạn hữu Khi không có sự thống nhất quan điểm rõ ràng, thì việc lập di chúc chung sẽ không thể phản ánh đầy đủ và trung thực ý chí cá nhân của mỗi người Tình trạng này dễ dẫn đến việc một bên quyết định nội dung di chúc chung theo ý chí chủ quan của mình mà không có sự thống nhất ý chí với người kia

Hai là, thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng, không cho

phép hai người phát biểu ý chí cùng một lúc, mà phải từng người phát biểu Vậy,

sự thể hiện ý chí chung sẽ được biểu đạt bằng cách nào? Nếu từng người trình bày riêng ý nguyện của mình, thì thực ra, đó là di chúc cá nhân; còn nếu một người đại diện trình bày ý chí chung và người kia chấp nhận toàn bộ, thì cũng giống như

đã uỷ quyền lập di chúc, mà như vậy thì lại vi phạm nguyên tắc lập di chúc trực

tiếp Hơn nữa, trong hoàn cảnh đặc biệt do cái chết đe dọa cả hai, để một người phát biểu ý chí chung cho người kia nghe và hoàn toàn đồng ý, là không thực tế

Ba là, sau 3 tháng kể từ ngày di chúc miệng mà một người chết và một người còn

sống, thì toàn bộ di chúc miệng hoặc một phần di chúc miệng liên quan tới người

còn sống có còn giá trị thi hành nữa hay không? Vì theo Điều 651 khoản 1: “Sau 3

tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng

Trang 12

suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ” Trong khi đó, di chúc chung chỉ có

hiệu lực khi cả hai người đều đã chết

Bốn là, đang lúc hoàn cảnh bối rối trước sự sống, chết của cả 2 người, việc tiếp

nhận và ghi nhớ ý nguyện của mỗi người có thể sẽ không đầy đủ, không chính xác

Ý nguyện của người chết lại không được thể hiện ra thành một dạng vật chất định hình rõ ràng và cố định, rất dễ quên và cũng dễ bị sửa đổi mà lại không có chứng

cứ xác đáng thể hiện sự đồng thuận của vợ, chồng Việc chứng minh được tính chất đồng thuận, tự nguyện của cả hai vợ chồng trong trường hợp này sẽ không bảo đảm được tối đa tính trung thực, khách quan

Chính vì thế, việc cho phép vợ chồng lập di chúc chung bằng miệng sẽ trở nên phức tạp và không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho quyền lợi chính đáng của chính người lập di chúc lẫn người thừa kế hợp pháp của họ

- Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc viết tay mà không có người làm chứng?

Điều 655 BLDS qui định về lập di chúc viết tay của cá nhân: “Người lập di

chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc” Về mặt lôgic, hai người không thể

cùng một lúc viết cùng một nội dung trên cùng một tờ di chúc Vậy phải từng người viết xong, rồi sau đó, từng người ký tên vào bản di chúc đó Vấn đề đặt ra là

di chúc do một người viết và người kia chỉ ký tên hoặc điểm chỉ thì có hiệu lực pháp luật không? Hoặc mỗi người viết một đoạn để nói về những quyết định của mình về từng vấn đề khác nhau, rồi sau đó, cùng ký tên vào di chúc thì có được không? Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ một người viết toàn bộ di chúc, rồi cả hai cùng

ký vào bản di chúc thì không đảm bảo thủ tục lập di chúc viết tay, dễ dẫn đến sự ngụy tạo chữ ký để giả mạo di chúc chung, mà không có cơ sở để giám định bút tích của người lập di chúc Nhưng việc cả hai cùng nhau và thay nhau viết bằng chữ viết của chính mình để định đoạt tài sản chung, thì không thể thực hiện được

Ngày đăng: 29/01/2016, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w