Trong phạm vi bài tiểu luận này, chúng em sẽtập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các qui địn pháp luật về cếđộ cia tài sản chung tron thời kỳ hôn nhân và hậu quả phá
Trang 1Gia đình là tế bào của xã hội Mỗi gia đình được xây dựng trên sợi dây liênkết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, trong đó quan hệ hôn nhân có thể coi
là nền tảng của gia đình Kết hôn là sự kiện làm phát sinh một gia đình mà ở đóphản ánh sự chung sống của hai vợ chồng và con cái (nếu có) Sau khi kết hôn, vợ
và chồng phát sinh những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tất yếucủa cuộc sống Quan hệ này xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự điều chỉnh trựctiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình, trong một quy chế gọi là “Chế độ tài sản
vợ chồng” Vậy chế độ tài sản của vợ chồng sẽ được xác lập theo quy điịnh củapháp luật hay dựa trên sự thỏa thuận giữa vợ và chồng?
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân
và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền
bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa
họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng, đặc biệt là chia tài sản chung của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân là một vấn đề quan trọng trong chế độ tài sản của vợchồng Quy định này đã từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điềuchỉnh, góp phần xây dựng củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam Không phải
là qui định mới trong Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng trên cơ sở sự thừa kế LuậtHN&GĐ năm 1986 (Điều 18), qui định này đã dần có những thay đổi tích cực cho phùhợp với sự phát triển của xã hội
Chế độ tài sản theo thỏa thuận không còn là điều mới lạ với nhiều nước trên thếgiới, ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm Đây là hiện tượng thể hiện sự độc lập không
vụ lợi trong quan hệ tài sản của các bên nam nữ khi lập gia đình Phần lớn các quốc giaphát triển trên thế giới hiện nay đều qui định cả hai chế độ tài sản vợ chồng: theo phápluật và theo thỏa thuận, tiêu biểu có Hoa kỳ và Pháp Trong khi đó, một số quốc gianhư Bulgari, Hungari, Roumani, Tiệp Khắc, Việt Nam, ngoài ra còn có Argentina vàmột số bang ở Mehico còn duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợchồng Trong khu vực, Trung Quốc trước đây không có qui định chế độ tài sản vợchồng theo thỏa thuận, nay đã công nhận chế độ này Nhật Bản vốn là quốc gia nặng
về truyền thống cộng đồng và gia đình cũng đã có qui định về thỏa thuân vợ chồng đốivới tài sản
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì việc áp dụng qui định trên vào thực tiễnkhông tránh khỏi những vướng mắc và khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấpliên quan đến tài sản Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề “chia tài sản chung của vợ chồng
Trang 2trong thời kì hôn nhân” có ý nghĩa lý luận và tực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo cho cácquy định của pháp luật đi vào cuộc sống Trong phạm vi bài tiểu luận này, chúng em sẽtập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các qui địn pháp luật về cế
độ cia tài sản chung tron thời kỳ hôn nhân và hậu quả pháp lý của việc chia tài sảnchung của một số nước trên thế giới từ đó đưa ra một số giải pháp cho Việt Nam qua
đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Hàn Quốc, Pháp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”.
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài dựa trên phép biện chứngcủa lý luận khoa học Mac – LeNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng
và Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Ngoài ra, tiểu luận còn sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu khác như so sánh, phân tích, tổng hợp…
1 Khái niệm chung về chế đ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản chung của vợ chồng có thể hiểu như sau:
“Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu)tài sản của vợ chồng, bao gồm các qui định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chiatài sản giữa vợ và chồng theo pháp luật” (Theo: “chế độ tài sản của vợ chồng theo phápluật hôn nhân và gia đình Việt Nam”)
2 cứ x c định tài sản chung của vợ chồng:
Theo khoản 1 điều 27 luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 qui định về tàisản chung của vợ chồng Theo đó tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốcphát sinh tài sản Cụ thể là: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp phápkhác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chunghoặc được tặng chung và những tài sản khác mà vợ chồng thảo thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hon là tài sản chung của vợchồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kếriêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận Tài sản chung của vợ chồngthuộc sở hữu chung hợp nhất”
Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhautrong việc chiếm hữu sử dụng và định đoạt (khoản 2 điều 219 BLDS 2005 và khoản 1điều 28 luật hôn nhân gia định năm 2000) Như vậy về nguyên tắc vợ, chồng có quyền
và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sảncũng nư trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chunghợp nhất
3 Các loại chế đ tài sản của vợ chồng trong pháp luật:
Trang 3Việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện rõ ý chí của nhà nước khi điềuchỉnh các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng Pháp luật các quốc gia trên thế giới đã quyđịnh có 2 chế độ tài sản của vợ chồng đó là chế độ tài sản theo quy định của pháp luật(chế độ tài sản pháp định) và chế độ tài sản theo sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ tàisản ước định).
a) Chế đ tài sả p p định:
Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn
cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếucó); quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với loại tài sản đó; các trường hợp và nguyêntắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản
nợ chung hay nợ riêng của vợ chồng Chế độ tài sản này được tất cả các nước dự liệutrong hệ thống pháp luật của mình, nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng
do ký kết ôn ước (hay còn gọi là khế ước) miễn sao không trái với các quy định củapháp luật và đạo đức xã hội (trật tự công cộng)
ỊNH TÀI S N THEO THỎA THU N TRONG HÔN NHÂN
Những quy định về quan hệ tài sản giữa vợ, chồng trong Bộ luật Dân sự (BLDS) Phápkhông được đặt trong phần viết về hôn nhân mà được tách riêng và được quy định ởQuyển 3 về việc xác lập quyền sở hữu tài sản Phần này quy định chung cả về hợpđồng hôn nhân và các chế độ tài sản giữa vợ, chồng Theo các quy định này, hợp đồnghôn nhân cũng như các quy tắc trong chế độ tài sản cũng chỉ là những cách thức khácnhau để xác lập quyền sở hữu tài sản, hoặc là tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên
vợ, chồng, hoặc là tài sản thuộc sở hữu chung của cả hai vợ chồng
Những vấn đề chung của chế định tài sản theo thỏa thuận trong hôn nhân theo quy địnhcủa pháp luật Pháp
Nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân bắt nguồn từ việc thực hiệnnguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đã được thừa nhận ở Pháp từ thế kỷ XVI, khi mànhững quan hệ kinh tế, thương mại phát triển mạnh Từ thời kỳ đó, luật pháp và tậpquán đã thừa nhận những sự thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản phù hợp vớihoàn cảnh kinh tế của họ, như là một quyền tự do cá nhân Bộ luật dân sự 1804 ra đời
Trang 4đã kế thừa tinh thần này và duy trì nguyên tắc không thay đổi những thỏa thuận của vợchồng về chế độ hôn sản.
Đạo luật ngày 13 tháng 7 năm 1965 về cải cách chế độ tài sản của vợ chồng đã hủy bỏnguyên tắc này vì cho rằng nó hạn chế quyền quyết định của vợ chồng về chế độ tàisản Hiện nay, nguyên tắc vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản được khẳngđịnh ngay trong quy định đầu tiên của phần những quy định chung của Bộ luật dân sự
về các chế độ tài sản của vợ chồng Điều 1387 quy định : “Luật pháp chỉ điều chỉnhquan hệ vợ chồng về tài sản khi không có thỏa thuận riêng, mà vợ chồng có thể làm vìcho rằng điều đó là cần thiết, miễn sao những thỏa thuận đó không trái với thuần phong
mỹ tục và những quy định sau đây” Quy định này đã gián tiếp cho phép các cặp vợchồng trước ngưỡng cửa hôn nhân có quyền tự do đưa ra các quy tắc pháp lý áp dụngcho quan hệ tài sản giữa họ Hoặc là chế độ tài sản họ tự xây dựng nên bằng hợp đồnghôn nhân, hoặc bằng chế độ tài sản luật định
Thực tế, nhà lập pháp của Pháp đã đưa ra một hệ thống các chế độ tài sản của vợchồng, bao gồm chế độ tài sản pháp định và các chế độ tài sản ước định Dưới ảnhhưởng của nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng, chế độ tài sản phápđịnh không có hiệu lực áp dụng một cách đương nhiên, trái lại, nó chỉ là một chế độtùy nghi (facultatif) Những người kết hôn hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận mộtchế độ tài sản cho riêng mình Nếu họ không thiết lập những thỏa thuận về vấn đề này,chế độ tài sản pháp định sẽ đương nhiên được áp dụng Mặt khác, nguyên tắc tự dothỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng còn giữ hiệu lực ngay cả trong những trườnghợp chế độ tài sản đã được xác định, bằng việc vợ chồng có quyền thỏa thuận thay đổi
Sự thay đổi này có thể được thực hiện trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân.Theo quy định của điều 1394 BLDS, những thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồngphải được tiến hành với sự tham gia của công chứng viên, theo những thể thức nhấtđịnh
Những vấn đề cơ bản của chế độ tài sản trong hôn nhân theo thỏa thuận
Hình thức tồn tại của chế đ tài sản theo thỏa thuận
Điều 1394 BLDS Pháp quy định: “Tất cả hợp đồng hôn nhân sẽ được soạn thảo bằngvăn bản công chứng lập bởi công chứng viên với sự hiện diện và sự đồng ý của tất cảcác bên của hợp đồng hoặc người được ủy quyền của họ
Tại thời điểm ký kết hợp đồng, công chứng viên phải cấp cho mỗi bên một giấy chứngnhận (không tốn phí), trong đó nêu tên và nơi cư trú của công chứng viên, họ, tên, nơi
ở của cặp vợ chồng tương lai, ngày ký của hợp đồng Giấy chứng nhận này cũng chỉ rarằng, nó phải được giao cho viên chức hộ tịch trước khi đăng ký kết hôn
Trang 5Nếu giấy chứng nhận kết hôn không thể hiện rằng vợ chồng đã có thỏa thuận xác lậphợp đồng thì hai vợ chồng, đối với các bên thứ ba, được coi là kết hôn dưới chế độ tàisản luật định, trừ khi, trong các hành vi ký kết với bên thứ ba đó, họ cho biết đã thựchiện một hợp đồng hôn nhân”.
Có thể thấy, BLDS Pháp yêu cầu một hình thức cũng như trình tự có liên quan đếnviệc xác lập hợp đồng hôn nhân rất chặt chẽ Để đảm bảo rằng (bằng những yêu cầu vềhình thức và thủ tục này) người thứ ba có thể dễ dàng tiếp cận với nội dung hợp đồng,
để các giao dịch giữa vợ, chồng với người thứ ba được thực hiện trên cơ sở thông tin
rõ ràng để đảm bảo sự bình đẳng trong giao dịch Điều này củng cố, một lần nữa, đềxuất trên đây của chúng tôi về việc các bên kết hôn phải xuất trình với viên chức hộtịch thoả thuận của họ về chế độ tài sản tại thời điểm kết hôn, và rằng viên chức hộ tịchphải ghi nhận thông tin này trong giấy đăng ký kết hôn là hoàn toàn hợp lý Nó cầnthiết cho một quy trình chặt chẽ và có kiểm soát đối với chế độ tài sản thoả thuận của
vợ chồng
N i dung của hợp đồng hôn nhân
Về bản chất, hợp đồng chỉ chứa đựng những thỏa thuận của vợ chồng về các cách thứcthực hiện các quan hệ tài sản tài của họ mà không đề cập đến các vấn để nhân thân của
họ Các quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ và chồng, vì có liên quan đến đạo đức, trật
tự chung nên đã được pháp luật ấn định, vợ chồng không thể có những thỏa thuậnkhác Hôn ước hợp pháp sẽ là cơ sở cho việc thực hiện, giải quyết những tranh chấp vềtài sản giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ, chồng với người thứ ba Nói cách khác,thỏa thuận này có hiệu lực như pháp luật
Quyền tự d x c định n i dung của hợp đồng
Việc thừa nhận chế độ hôn sản ước định nhằm tạo điều kiện cho những vợ chồng cóthể thực hiện một chế độ hôn sản phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của họ Vì vậy, ngườikết hôn có quyền đưa vào trong hợp đồng những điều khoản mà họ cho là cần thiết đểđiều chỉnh các quan hệ tài sản trong suốt thời kỳ hôn nhân Hợp đồng được lập thôngqua sự can thiệp của công chứng viên, vì vậy, các bên sẽ nhận được những hỗ trợ pháp
lý để thiết lập nên một văn bản thỏa thuận hoàn chỉnh về một chế độ tài sản
Thứ nhất, trong hợp đồng, các bên kết hôn tuyên bố một chế độ hôn sản sẽ áp dụng đốivới họ Đây là mục đích cơ bản nhất của việc lập hợp đồng Thông thường, người kếthôn lựa chọn một trong những chế độ tài sản đã được đề xuất trong BLDS, điều đó sẽ
dễ dàng hơn cho họ khi cần thiết kế nội dung của chế độ tài sản, bởi vì luật đã dự liệutrong đó những điều khoản cơ bản Ngoài ra, vợ chồng cũng có quyền tuyên bố về việc
áp dụng một chế độ tài sản khác, tuy nhiên điều này rất hiếm xảy ra
Trang 6Thứ hai, trong chế độ tài sản đã lựa chọn, các bên có quyền tự do đưa ra những điềukhoản quy định về các vấn đề cụ thể Nếu đó là một trong những chế độ tài sản được
dự liệu trong BLDS, họ có quyền thiết lập những điều khoản bổ sung cho những quyđịnh của luật hoặc sửa đổi những quy định đó Chẳng hạn, vợ chồng tương lai có thểliệt kê những tài sản mà mỗi bên có trước khi kết hôn; tặng cho nhau tài sản; thỏathuận về việc quản lý tài sản chung, riêng; về việc đóng góp tài sản vì nhu cầu chungcủa gia đình; thỏa thuận về việc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản…
1.1.1 Gi i hạn về n i dung của hợp đồng
Tuy nhiên, quyền tự do thỏa thuận trong hôn ước của vợ chồng không phải là không cógiới hạn Gia đình trong xã hội Pháp, cũng giống như ở nhiều nước khác, phản ánh tínhchất cộng đồng, vì thế chế độ tài sản pháp định của vợ chồng ở Pháp, từ khi có Bộ luậtNapoléon đều là các chế độ cộng đồng tài sản Luật hiện hành của Cộng hòa Pháp vềcác chế độ tài sản của vợ chồng không phải chỉ quan tâm đến lợi ích của các bên vợ,chồng, mà trái lại, luôn đề cao những trật tự của gia đình Điều đó thể hiện thông quaviệc nhà làm luật thiết lập hệ thống những quy định, theo đó, tất cả những thỏa thuậncủa vợ chồng về tài sản phải tuân theo Trong các điều 1388 và 1389 của BLDS, nhàlập pháp đã quy định rằng: vợ chồng không thể thỏa thuận phá bỏ những quy định vềcác nghĩa vụ và quyền của họ (phát sinh từ việc kết hôn), về nghĩa vụ và quyền của cha
mẹ và con, về quản lý theo pháp luật, về giám hộ, cũng như về trật tự thừa kế Vềnguyên tắc, những điều khoản của hôn ước trái với những quy định này sẽ bị tuyên bố
vô hiệu
Những thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản chịu sự điều chỉnh trực tiếp nhất bởicác quy định về nghĩa vụ và quyền của họ Tại các điều từ 212 đến 226, BLDS đã quyđịnh những nghĩa vụ và quyền riêng biệt của vợ và chồng với một tinh thần chung nhấtlà: vợ chồng cùng nhau đảm bảo điều hành gia đình về tinh thần và vật chất, chăm loviệc dạy dỗ con cái và chuẩn bị tương lai của chúng (điều 213) Đặc biệt, các điều từ
214 đến 226 tập hợp nên một chế định pháp lý mà học thuyết của Pháp gọi là chế đ
cơ ở của các chế đ tài sản của vợ chồng (Le régime primaire hoặc Le statut de base).
Đây là những quy định về các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng nhằm đápứng nhu cầu của cuộc sống gia đình Đó là những vấn đề: đóng góp vào việc chi tiêucủa gia đình; bảo vệ chỗ ở của gia đình; quyền tự chủ của mỗi bên vợ, chồng thực hiệncác giao dịch vì nhu cầu của gia đình và trách nhiệm liên đới của bên kia, quyền tự chủ
về nghề nghiệp, về việc sử dụng tài khoản (ngân hàng và chứng khoán); quyền mộtmình thực hiện giao dịch thông qua cơ chế đại diện hoặc cho phép của Tòa án…Theoquy định của điều 226, các quy định trên có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các quan hệ
vợ chồng, bất kể họ lựa chọn chế độ hôn sản nào Trong bối cảnh thừa
Trang 7nhận nhiều chế độ tài sản của vợ chồng, chế độ cơ sở giữ vai trò chủ đạo, nhất là đốivới các chế độ hôn sản ước định, nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cho sự ổnđịnh của cuộc sống gia đình Do có tầm quan trọng như vậy, tất cả các nghiên cứu vềcác chế độ tài sản của vợ chồng theo luật của Pháp đều bắt đầu từ chế độ cơ sở này.Đối với pháp luật Việt Nam thì chế độ tài sản cơ bản được thiết lập trong Luật Hônnhân và Gia đình năm 2014 với các nguyên tắc được quy định tại các Điều 29, 30, 31,32.
Như vậy, sự tổ chức các chế độ tài sản của vợ chồng trong luật của Cộng hòa Pháp dựatrên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng nhưng không tách rờinghĩa vụ của họ đối với đời sống chung của gia đình Điều đó tạo điều kiện cho vợ,chồng có thể thực hiện những quan hệ tài sản phù hợp với tình hình kinh tế của bảnthân, mang lại lợi ích cho gia đình và cá nhân mỗi bên vợ chồng Trong thực tế, mặc
dù số lượng các cặp vợ chồng lập hôn ước chiếm tỉ lệ rất thấp (khoảng 20%), nhưngcác chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng vẫn luôn tồn tại cùng với quan niệm vềquyền tự do cá nhân và vì sự cần thiết của nó trong những trường hợp nhất định
1.2 Hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng hôn nhân có hiệu lực phát sinh phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân và chỉ cógiá trị trong chừng mực quan hệ hôn nhân còn được duy trì Điều này có nghĩa là nếunhư không có quan hệ hôn nhân thì hợp đồng hôn nhân sẽ… không là gì cả Với logicnhư vậy, Điều 1395 BLDS Pháp quy định: “Hợp đồng hôn nhân phải được soạn thảotrước khi kết hôn và không có hiệu lực cho đến ngày kết hôn” Như vậy, kết hợp haiquy định ở Điều 1394 và 1395 đã dẫn ở trên, ta có một tình trạng như sau, thứ nhất,nếu tại thời điểm kết hôn mà không có bằng chứng (hay vợ chồng không đưa ra bằngchứng) cho sự tồn tại hợp đồng hôn nhân thì quan hệ hôn nhân giữa họ sẽ được xác lậptrong tình trạng đặt dưới chế độ tài sản luật định, thứ hai, nếu các bên đã xác lập hợpđồng hôn nhân nhưng sau đó vì các lý do cá nhân, quan hệ hôn nhân không được xáclập thì hợp đồng đã xác lập sẽ không có giá trị (không phát sinh hiệu lực)
Câu hỏi tương tự cũng đặt ra trong lĩnh vực này, nếu quan hệ hôn nhân của họ bị tuyên
bố hủy do trái pháp luật thì hợp đồng hôn nhân sẽ chấm dứt hiệu lực theo sự chấm dứtcủa quan hệ hôn nhân? Câu trả lời là có, theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu Vàcũng theo các quan điểm này, khi chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng việc tuyên bố hủynhư vậy, việc xử lý hậu quả pháp lý liên quan đến quan hệ tài sản giữa vợ, chồng sẽ xử
lý theo quy định của pháp luật chứ không theo hợp đồng hôn nhân Ngược lại, trongtrường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân do vợ, chồng chết hoặc chấm dứt quan hệ hônnhân thì hợp đồng hôn nhân lại được sử dụng như cơ sở pháp lý cho việc giải quyếtvấn đề chia tài sản giữa vợ, chồng cũng như trong các quan hệ tài sản liên quan đến
Trang 8người thứ ba Nhóm cho rằng, cách giải thích này là phù hợp trong bối cảnh pháp lýViệt Nam hiện nay trong việc giải thích các quy định của pháp luật Việt Nam hiệnhành liên quan đến việc huỷ kết hôn trái pháp luật mà giữa các bên kết hôn có chế độtài sản thoả thuận Rằng trong trường hợp này cần giải quyết việc phân chia tài sản khihuỷ kết hôn trái pháp luật theo quy định của pháp luật chứ không theo thoả thuận trongchế độ tài sản thoả thuận giữa họ Bởi bản chất của huỷ kết hôn trái pháp luật là mộtdạng chế tài, nên việc xử lý quan hệ tài sản cần thiết phải áp dụng một cách thống nhấttheo quy định của pháp luật.
Cũng cần lưu ý một vấn đề liên quan đến việc xác lập hợp đồng hôn nhân trong luậtdân sự Pháp, đó là luật này cho phép việc xác lập hợp đồng hôn nhân có thể được tiếnhành thông qua vai trò của người đại diện được ủy quyền (Điều 1394 BLDS Pháp).Cũng giống như các hợp đồng khác được giao kết theo luật chung, hợp đồng hôn nhântheo quy định tại Điều 1399 BLDS Pháp cũng có thể bị tuyên bố vô hiệu vì lý do liênquan đến hình thức Quy định cụ thể như sau: “Người thành niên trong tình trạng đượcgiám hộ hay trợ quản không thể xác lập hợp đồng hôn nhân mà không có sự tham giacủa người giám hộ hoặc người trợ quản
Thiếu vắng sự tham gia hỗ trợ của những người này trong việc xác lập hợp đồng hônnhân, hợp đồng hôn nhân có thể bị tuyên bố vô hiệu trong năm kết hôn theo yêu cầucủa hoặc những người cần thể hiện sự đồng ý theo quy định của pháp luật trong việcxác lập hợp đồng, hoặc của người giám hộ hoặc của người trợ quản” Ngoài ra, cácquy định của pháp luật cũng cho phép tuyên bố vô hiệu một hợp đồng hôn nhân viphạm các quy định về hình thức khác
1.3 Sự sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hiệu lực của hợp đồng hôn nhân
Điều 1397 BLDS Pháp quy định: “Sau hai năm thực hiện chế độ tài sản giữa vợ chồngtheo hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có thể thỏa thuận, vì lợi ích của gia đình, để sửađổi, hoặc thậm chí thay đổi hoàn toàn hợp đồng hôn nhân bằng chứng thư công chứng
Để có hiệu lực, các chứng thư công chứng này phải chứa đựng nội dung về việc thanh
lý chế độ tài sản đã có trước đó trong trường hợp cần thiết
Các bên có liên quan của hợp đồng hôn nhân được sửa đổi hay chấm dứt và con đãthành niên của mỗi bên vợ, chồng được thông báo – mang tính cá nhân – về sự thayđổi được đề xuất Mỗi người trong số họ có thể phản đối việc sửa đổi trong thời hạn batháng
Các chủ nợ của vợ chồng cũng được thông báo về các thay đổi do vợ chồng đề xuấtbằng cách đăng một thông báo trên một tờ báo được ủy quyền công bố thông báo tạiđịa phương nơi cư trú của vợ, chồng Mỗi người trong số họ có thể phản đối việc sửađổi trong vòng ba tháng kể từ ngày công bố
Trang 9Trong trường hợp thỏa thuận thay đổi hợp đồng hôn nhân bị phản đối, chứng thư côngchứng về việc thay đổi này sẽ phải được phê duyệt bởi tòa án Việc yêu cầu phê duyệtcũng như quyết định phê duyệt của tòa án phải được công bố trong các điều kiện vàchế tài theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Khi vợ hoặc chồng có con chưathành niên, việc phê chuẩn của tòa án đối với chứng thư công chứng về việc sửa đổihợp đồng hôn nhân là bắt buộc.
Sự thay đổi hợp đồng hôn nhân có hiệu lực giữa các bên vợ chồng tại thời điểm côngchứng hoặc tại thời điểm được phê duyệt bởi tòa án và trong mối quan hệ với các bênthứ ba thì sự thay đổi này có hiệu lực sau ba tháng kể từ thời điểm được ghi chú trongđăng ký kết hôn Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp không có ghi chú trong đăng kýkết hôn, sự thay đổi này vẫn có hiệu lực với bên thứ ba nếu trong các thỏa thuận vớibên thứ ba này, các cặp vợ chồng cho biết họ đã thay đổi chế độ tài sản của họ
Các chủ nợ không phản đối sự thay đổi chế độ tài sản của vợ chồng, nếu cho rằng đã
có sự gian lận trong việc thực hiện các quyền của mình có thể tiến hành việc kiện đểphản đối trong khuôn khổ quy định tại 1167 Bộ luật này”
Sự thay đổi hợp đồng hôn nhân hay sự sửa đổi chế độ tài sản giữa vợ chồng thôngthường được tiến hành theo một trong hai hình thức, thứ nhất, bổ sung thêm một điềukhoản nào đó vào hợp đồng hôn nhân, thứ hai soạn thảo mới một hợp đồng hôn nhân.Tóm lại, việc sửa đổi hợp đồng hôn nhân, thậm chí thay đổi chế độ tài sản từ chế độ tàisản luật định sang chế độ tài sản thỏa thuận là hoàn toàn được phép theo quy định củaBLDS Pháp hiện hành Sự cho phép này thực tiễn chưa ghi nhận có rủi ro cho ngườithứ ba bởi thủ tục pháp lý cho các động tác này được quy định rất chặt chẽ
Trong khi đó, Điều 17 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam quyđịnh:
“1 Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thìtrong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặctoàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định
2 Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật”
Với các quy định này, pháp luật Việt Nam hiện hành không dự kiến bất kỳ cơ chế kiểmsoát nào từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc sửa đổi, bổ sung chế độtài sản theo thoả thuận giữa vợ chồng Điều này cũng dễ hiểu, bởi ngay từ việc xác lậpchế độ tài sản thoả thuận đã không có sự kiểm soát thì việc sửa đổi, bổ sung
đương nhiên là không có kiểm soát Như đã phân tích trên đây, chế độ tài sản thoảthuận, mặc dù chỉ là thoả thuận giữa vợ, chồng, nhưng lại tác động rất lớn đến ngườithứ ba, do đó chúng tôi cho rằng, cùng với việc xác lập chế độ tài sản thoả thuận, việc
Trang 10sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản này cũng cần có sự kiểm soát từ cơ quan quản lý có thẩm quyền.
Tài sản vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và giađình.Sau khi kết hôn, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các quyền chiếmhữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng vì thế mà hình thành Do tàisản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quanđến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanhthương mại nên vấn đề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là saukhi vợ chồng ly hôn Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợchồng có liên quan đến tài sản Sự phức tạp trong việc xác định tài sản chung, tàisản riêng vợ chồng cùng những hạn chế trong việc qui định về chế độ tài sản vợchồng trong luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình nước ta ngày càng trở nên bấtcập Một mặt, việc giải quyết các xung đột trên không thể đảm bảo được công bằng,bình đẳng giữa các chủ thể (người vợ thường thiệt thòi về tài sản sau khi ly hôn).Mặt khác, số lượng và độ phức tạp của các vụ việc liên quan đến tranh chấp tài sản
vợ chồng ngày càng gia tăng gây khó khăn và tốn kém cho ngành tư pháp1 Trướckhi nghiên cứu giải pháp cho tình trạng trên thì việc làm rõ các khái niệm chế độ tàisản vợ chồng và các hình thức là cần thiết
2 ữ ấ đề cơ bả của c ế đ ả r ô â e ỏa uậ
2.1 ấ đề của c ế đ ả e ả uậ
Vì các cặp vợ chồng đăng ký hợp đồng về tài sản hôn nhân là rất hiếm trong xãhội Hàn Quốc, phần lớn các cặp vợ chồng đã tuân theo Đạo luật 830, quy định tài sảnhôn nhân là hệ thống tài sản riêng
Nhà hôn nhân nên được coi là đồng sở hữu bất kể quyền sở hữu nếu được muavới sự giúp đỡ của người phối ngẫu khác Bên cạnh đó, không nhất quán rằng hoạtđộng của người nội trợ có giá trị kinh tế theo quyết định của tòa án trong việc áp dụngĐạo luật 839-2, tuy nhiên, nó không được ước tính bởi cùng một Tòa án trong Đạoluật 830 Trên hết, vợ hoặc chồng không có quyền nên được pháp luật bảo vệ khỏi ditản khỏi nhà hôn nhân bằng cách xử lý người phối ngẫu có quyền Trên thực tế, nhữngngười vợ không có chức danh được báo cáo là nạn nhân của tranh chấp phân chia tàisản, vì trong nhiều trường hợp, người chồng có quyền sở hữu tài sản
1Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 trong công tác xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngày tòa án nhân dân số 01/BC-TANDTC ngày 15 tháng 01
năm 2013
Trang 11Theo quy định chung của Bộ luật Dân sự, một bên có nghĩa vụ có thể hủy bỏ hợpđồng xử lý bằng cách bán giữa bên có nghĩa vụ và bên thứ ba nếu bên có nghĩa vụ thựchiện bất kỳ hành vi pháp lý nào có quyền đối với chủ thể của mình với kiến thức rằng
nó sẽ làm phương hại đến bên có đạo luật 406 khi người phối ngẫu không phải là chủ
sở hữu quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng xử lý bằng cách bán hoặc quà tặng giữa ngườiphối ngẫu có quyền và bên thứ ba theo Đạo luật 406 với lý do anh ấy / cô ấy có quyềnyêu cầu phân chia tài sản tại thời điểm phân chia và người phối ngẫu có quyền có ýđịnh xấu để tránh yêu cầu phân chia tài sản, có thể không được Tòa án chấp nhận vìngười khởi kiện không thể chấp nhận có quyền yêu cầu phân chia tài sản cho đến khi
ly hôn được xác định
Khi người khởi kiện là người nội trợ, Tòa án sẽ bác bỏ yêu cầu bồi thường với lý
do nội trợ không phải là đóng góp có giá trị kinh tế, mặc dù đó là một sự hy sinh caoquý Cách duy nhất mà người khởi kiện có thể bảo vệ tài sản của mình là gắn tài sảncủa vợ hoặc chồng với tư cách là chủ nợ có quyền yêu cầu phân chia tài sản tại thờiđiểm ly hôn khi họ phát hiện ra nỗ lực của vợ / chồng có quyền định đoạt tài sản củamình tại thời điểm tố tụng ly hôn theo Điều luật tố tụng gia đình Điều 63, nhữngtrường hợp như vậy được giới hạn như ngoại lệ
Ngược lại, Tòa án Tối cao Hàn Quốc cũng quyết định rằng các hoạt động nội trợđược coi là đóng góp kinh tế trong phân chia tài sản hôn nhân tại thời điểm ly hôn,theo Điều 839-2
Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận xuất hiện tương đối sớm ở Hàn Quốc, từ
Bộ luật Dân sự năm 1990, Bộ Tư pháp của Đại Hàn Dân quốc đã đưa ra những quy định về vấn đề này Theo luật Dân sự năm 2016 của Đại Hàn Dân quốc có quy định như sau về việc thỏa thuận tài sản vợ chồng tại Điều 829 “Thỏa thuận
và sự thay thế của thỏa thuận lên tài sản hôn nhân” của Tiểu mục
2 về Ảnh hưởng đến tài sản như sau:
1 Nếu chồng và vợ chưa có, trước thời kỳ hình thành hôn nhân, đã tham gia mộthợp đồng cái mà quy định về phương diện khác về tài sản của họ, quy định tàisản của họ sẽ được điều chỉnh bởi quy định của từng khoản trong điều này
2 Nếu vợ và chồng có, trước thời kỳ hình thành hôn nhân, đã tham gia vào một hợp đồng liên quan đến tài sản, hợp đồng không thể thay thế trong suốt thời
kỳ hôn nhân: đã quy định rằng nếu có lý do thay đổi hợp đồng, nó có thể đượcthay đổi trên sự đồng thuận của tòa án
3 Nếu, một trong vợ hoặc chồng quản lý tài sản của người khác theo hợp đồng được đề xuất ở khoản 2, và tài sản bị tổn hại bởi sự quản lý sai, người vợ hoặc chồng của người quản lý có thể yêu cầu tòa án cho phép họ làm chủ quản
Trang 12lý tài sản Trong trường hợp này, nếu tài sản đó là tài sản chung giữa vợ
và chồng, thì người vợ hoặc chồng có thể yêu cầu tòa án chia tài sản đó
4 Nếu chồng và vợ đã ký hợp đồng liên quan đến tài sản của họ, hợp đồng đó cóthể không được thực thi đối với người kế vị theo danh nghĩa của người chồng hoặc người vợ hoặc người thứ ba trừ khi được đăng ký trước khi hình thành hôn nhân
5 Nếu người quản lý đã bị thay đổi hoặc phân chia tài sản trong đồng sở hữu đã được thực hiện theo các khoản (2) và (3) hoặc bằng một hợp đồng, sự thay đổihoặc phân chia đó có thể không được thực thi đối với người kế vị theo quyền của người chồng hoặc vợ hoặc chống lại bên thứ ba trừ khi nó đã được đăng ký
Tại các khoản 1, khoản 2 của điều 829 Bộ luật Dân sự 2016 này đã nêu ra đượccác tình trạng quan hệ của các đối tượng tham gia, điều này giúp đảm bảo những rắcrối trong quá trình áp dụng luật của chủ thể tham gia Bên cạnh đó luật còn quy định
cả chủ quản lý tài sản trong hôn nhân và điều kiện cho sự thay đổi quyền quản lý tạikhoản 3, khoản 5, nhưng lại chưa quy định rõ ràng điều khoản 4, khoản 5 về vấn đềđăng ký tại đâu và các điều kiện của các bên khi đăng ký
Bộ luật dân sự hiện hành của Hàn Quốc có hệ thống hợp đồng tài sản hôn nhân(Bộ luật dân sự Hàn Quốc, Điều 829) và hệ thống tài sản theo luật định Trước khi kếthôn, chồng và vợ tương lai có thể tham gia vào một thỏa thuận trong đó họ đồng ý vềcác quyền tương ứng mà mỗi người sẽ có đối với tài sản mà họ mang vào tài sản Tuynhiên, nếu vợ chồng tương lai không ký hợp đồng, luật gia đình của Hàn Quốc áp đặt
hệ thống tài sản theo luật định (Bộ luật dân sự Hàn Quốc, Điều 829, khoản 1)
Về nguyên tắc, hợp đồng tài sản hôn nhân không thể thay đổi hoặc sửa đổi trongthời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, nếu có lý do chính đáng, vợ hoặc chồng có thể thay đổihợp đồng với sự chấp thuận của tòa án (Bộ luật dân sự Hàn Quốc, Điều 829, khoản 2).Theo hợp đồng, vợ hoặc chồng có thể yêu cầu phân chia tài sản chung khi vợ hoặcchồng chăm sóc tài sản hôn nhân đe dọa giá trị kinh tế của mình bằng cách quản lýkhông đầy đủ Trong trường hợp như vậy, người phối ngẫu khác có thể yêu cầu tòa áncấp cho anh ta hoặc cô ta quyền quản lý tài sản hôn nhân và một phần của việc phânchia tài sản chung (Bộ luật dân sự Hàn Quốc, Điều 829, khoản 3) Chỉ khi hợp đồngđược đăng ký thì nó mới có hiệu lực đối với bên thứ ba (Bộ luật dân sự Hàn Quốc,Điều 829, khoản 4
Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống hợp đồng hôn nhân hầu như chưa được thựchiện tại Hàn Quốc Ban đầu, Hàn Quốc chỉ có hệ thống tài sản hôn nhân theo luật định
và không có bất kỳ truyền thống nào liên quan đến hợp đồng tài sản hôn nhân Điều
Trang 13này có thể là do thực tế rằng ít người nhận thức được quyền thực hiện hợp đồng tài sảnhôn nhân trước khi kết hôn Rõ ràng là những gì xảy ra trong thực tế là nhiều cặp vợchồng không thực sự hiểu rằng họ đang ký kết hợp đồng tài sản hôn nhân khi họ kếthôn, chứ đừng nói đến bản chất và hậu quả của hợp đồng Do đó, các cặp vợ chồngkhông hiểu các quyền và nghĩa vụ của họ trong điều khoản của hợp đồng khi bước vàohôn nhân Hơn nữa, do việc hình thành nội dung của hợp đồng hôn nhân phụ thuộchoàn toàn vào chính người phối ngẫu tương lai, có vẻ như một số cặp vợ chồng không
có đủ thông tin về tình hình tài chính của người kia có xu hướng tránh thực hiện hợpđồng
hệ thống hợp đồng tài sản hôn nhân hiện tại của Hàn Quốc
Đối với hệ thống hợp đồng tài sản hôn nhân tùy chọn, các cặp vợ chồng có thểchọn một tài sản riêng và sở hữu chung của hệ thống tài sản Theo việc thực hiện hệthống hợp đồng tài sản hôn nhân tùy chọn, hệ thống tài sản theo luật định hiện tại củaHàn Quốc sẽ thay đổi từ hệ thống tài sản riêng sang hệ thống tài sản hôn nhân tùychọn Mặc dù chỉ có một số ít các cặp vợ chồng có thể chọn hệ thống tài sản hôn nhântùy chọn, nhưng để làm như vậy, cần phải giúp các cặp vợ chồng dễ dàng lựa chọntrong các hệ thống tài sản hôn nhân khác nhau Luật pháp cần cung cấp một hình thức
cơ bản của hợp đồng tài sản hôn nhân để cho phép các cặp vợ chồng dễ dàng thực hiệnhợp đồng thông qua các phương thức khác và công khai nó để khuyến khích kích hoạthợp đồng tài sản hôn nhân