Quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng 2.1Khái quát về lịch sử vấn đề di chúc chung của vợ chồng Do hoàn cảnh lịch sử và xã hội cũng như những hạn chế trong nhận thứctrướ
Trang 1MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU……… 2
NỘI DUNG……… 2
I QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG……… 2
1 Khái quát chung về di chúc……… ……… 2
2 Quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng………… ………… 3
2.1 Khái quát về lịch sử vấn đề di chúc chung của vợ chồng……… 4
2.2 Quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng……… 5
II MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT… 9
1 Một số ý kiến về quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ, chồng… 9
1.1 Về quyền lập di chúc chung của vợ, chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân
trong việc lập di chúc……… 10
1.2 Về nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ, chồng……… 10
1.3 Về hình thức của di chúc chung của vợ chồng……… 13
1.4 Về quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ, chồng… 15
1.5 Về hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng……… 16
1.6 Về chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung của vợ, chồng……… 17
2 Hướng giải quyết……… 18
KẾT LUẬN……… 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 22
Trang 2MỞ ĐẦU
Di chúc chung của vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng đượcquy định trong Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành Tuy nhiên pháp luật hiện hànhmới chỉ có những quy định mang tính chất định khung chứ chưa có quy định cụ thể
về vấn đề này, vì vậy vấn đề di chúc chung của vợ chồng còn gây ra nhiều bất cập
trong thực tiễn áp dụng và thi hành Từ đó em chọn đề tài DI CHÚC CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG nhằm tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về vấn đề Qua đó đưa ra
một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề di chúc chungcủa vợ chồng Trong quá trình làm bài do nhận thức còn hạn chế tất yếu sẽ cónhững sai xót, kính mong thầy, cô đóng góp ý kiến để bài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1 Khái niệm và đặc điểm của di chúc
I.1 Khái niệm di chúc
Di chúc là một loại giao dịch dân sự đặc biệt, là sự thể hiện ý chí đơnphương của chủ thể lập di chúc Ðiều 646 Bộ Luật Dân Sự (BLDS) năm 2005 quy
định về di chúc: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
của mình cho người khác sau khi chết” Theo quy định này thì di chúc có các yếu
Trang 3Các chủ thể khác như pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình không có quyền này Tuynhiên cũng không phải cá nhân nào cũng có quyền lập di chúc Tại Ðiều 647BLDS quy định về điều kiện của người lập di chúc:
“1 Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành
vi của mình.
2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc,
nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”.
Như vậy, mọi cá nhân có tài sản và muốn lập di chúc mà phù hợp với cácquy định có liên quan của pháp luật thì có thể lập di chúc
- Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho ngườikhác;
Một di chúc thì trong nội dung của nó phải có mục đích là chuyển tài sản của
mình cho người khác Ðiều 634 quy định về di sản: “Di sản bao gồm tài sản riêng
của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Di sản của người lập di chúc có thể là tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người
đã chết để lại (trong một số trường hợp di sản có thể là hoa lợi, lợi tức phát sinh từtài sản)
- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết
Điều này phù hợp theo như quy định tại khoản 1 Điều 633 BLDS quy định:
“Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa
án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Ðiều 81 của Bộ luật này” Như vậy,thời điểm mở thừa kế là thời điểm
người có tài sản chết
I.2 Đặc điểm của di chúc:
- Là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc Hành vi pháp lý đơn
Trang 4cần phải bàn bạc hay hỏi ý kiến của bất kỳ ai khi quyết định nội dung của dichúc, (trừ trường hợp di chúc chung của vợ, chồng).
- Di chúc phải theo một hình thức nhất định Hình thức của di chúc phải là sự
thể hiện ra bên ngoài ý chí của người lập di chúc Có hai hình thức là bằngvăn bản hoặc bằng miệng Tuy nhiên, nhìn chung hình thức di chúc bằngvăn bản được sử dụng rộng rãi hơn vì hình thức này có tính pháp lý cao hơn
- Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc.
Dựa trên nguyên tắc chủ sở hữu có tài sản có quyền định đoạt tài sản củamình là cơ sở để người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặchủy bỏ di chúc Vì vậy, di chúc không mang tính ổn định mà dễ thay đổitheo ý chí của người lập di chúc
- Di chúc có hiệu lực từ thời điểm người lập di chúc chết Khoản 1 Điều 667
BLDS quy định: “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế”.
Dù một người có lập bao nhiêu di chúc đi chăng nữa thì những bản di chúc
đó chỉ có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết Điều này đảm bảo cho lợiích cũng như bảo vệ quyền của người lập di chúc
2 Quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng
2.1Khái quát về lịch sử vấn đề di chúc chung của vợ chồng
Do hoàn cảnh lịch sử và xã hội cũng như những hạn chế trong nhận thứctrước đây mà có thể thấy rằng những quy định chung về vấn đề di chúc chung của
vợ, chồng là còn hạn chế Qua tìm hiểu Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thìkhông thấy có quy định về vấn đề di chúc chung của vợ, chồng Và với Luật La
Mã cũng như Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp thì thấy trong bộ luật của họ cũngkhông thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng
Trang 5Tuy vậy, khi xem xét thực tế thì việc lập di chúc chung của vợ - chồng lạiđược thừa nhận trong tục lệ của nhân dân ta từ lâu Qua tìm hiểu một số tài liệu có
liên quan thì theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã
hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là hình thức di chúc thông dụng và việc vợ - chồng cùng nhau lập di chúc chung, là hiện tượng phổ biến thời bấy giờ Bởi lẽ, theo quan điểm của người Việt Nam ta thì tình cảm vợ, chồng nói
riêng và tình cảm gia đình nói chung là những tình cảm cao đẹp cần được duy trì
và phát huy, cho nên việc vợ, chồng cùng lập di chúc chung phần nào đã làm chomỗi quan hệ tình cảm trong gia đình được gắn bó và khăng khít hơn
Bắt đầu bước sang nền xã hội phong kiến, khi nghiên cứu các Bộ Dân luậtcủa các chế độ trước, thì thấy các Bộ Dân luật Bắc kỳ tại Điều 321 và Dân luậtTrung kỳ tại Điều 313 đều thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ - chồng BộDân luật Sài Gòn 1972 tại Điều 572 cũng cho phép vợ - chồng cùng lập di chúcchung để định đoạt tài sản chung
Đến nay, pháp luật hiện hành của nhà nước ta cũng có các quy định tươngđối cụ thể vầ vấn đề di chúc chung của vợ chồng Thể hiện qua thông tư 81-TANDTC ngày 24/71981 đã từng nhắc đến di chúc chung của vợ, chồng Pháplệnh Thừa kế 1990 tuy không trực tiếp quy định về di chúc chung của vợ, chồng,nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung Vấn đề di chúc chungcủa vợ, chồng được qui định khá rõ trong BLDS 1995 (Điều 666) và BLDS 2005(Điều 663) Các quy định này trong BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi so với quiđịnh của BLDS 1995 Tuy nhiên, hiện nay vẫn có rất nhiều vấn đề bất cập trongquy định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của vợ chồng
2.2Quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng
a Chủ thể có quyền lập di chúc chung của vợ chồng
Trang 6Điều 663 BLDS quy định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt
tài sản chung”
Theo như quy định tại Điều 663 BLDS thì chủ thể có quyền lập di chúc
chung của vợ chồng là vợ, chồng Và phải dựa trên hai mối quan hệ là quan hệ hôn
nhân và quan hệ tài sản.
Về quan hệ hôn nhân: chồng phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp Theo
quy định của luật hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam, nữđược pháp luật thừa nhận khi họ tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôntheo đúng quy định của pháp luật Ngoài ra, theo nghị định số 35/2000/QH10 ngày9/6/2000 của Quốc hội; nghị định số 77/2001/NĐ-CP; thông tư liên tịch số01/2001/TTLT… thì một số trường hợp mặc dù vi phạm điều kiện kết hôn nhưngvẫn được pháp luật thừa nhận có quan hệ hôn nhân Đó là các trường hợp sau:
+) Là cán bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết raBắc (1954) lại lấy vợ hoặc chồng khác Sau khi đất nước thống nhất (30/4/1975) họtrở về đoàn tụ với gia đình và thự tế đã tồn tại một người có hai vợ hoặc hai chồng.Mặc dù vậy, do hoàn cảnh chiến tranh cho nên việc kết hôn của họ không bị coi làtrái pháp luật
+) Là nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng chưa đăng ký kết hôntrước ngày 03/01/1987 (ngày luật hôn nhân à gia đình năm 1986 có hiệu lực) khiLuật hôn nhân và gia đình có hiệu lực, dù họ có đăng ký với nhau hay không đăng
ký thì quan hệ của họ vẫn được pháp luật công nhận
+) Là nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng từ ngày 03/01/1987 (ngàyluật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) trở đến ngày 01/01/2001 (ngàyluật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn nhưngchưa kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng thì họ có nghĩa vụ đăng
Trang 7ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003.Trong thời hạn này dù họ có tiến hành đăng ký kết hôn hay chưa đăng ký thì quan
hệ vợ chồng vẫn được pháp luật công nhận
Về quan hệ tài sản: Tài sản chung của vợ, chồng được xây dựng thành một
chế định cơ bản trong luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Chỉ khi có tài sảnchung thì vợ, chồng mới có thể thiết lập di chúc chung Khi vợ hoặc chồng muốnthiết lập các giao dịch có liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng thì nhất thiếtphải vì lợi ích chung của gia đình, phải có sự đồng ý của bên kia và trong trườnghợp có thiệt hại thì vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm Chế độ tài sản chungcủa vợ, chồng được pháp luật ghi nhận và quy định trên cơ sở sự phát triển củađiều kiện kinh tế - xã hội Nhà nước ta ghi nhận chế độ tài sản chung của vợ, chồngtrước hết dựa trên cơ sở bình đẳng giữa vợ và chồng về mọi phương diện
Vậy, chủ thế có quyền lập di chúc chung của vợ chồng là vợ, chồng có quan
hệ hôn nhân hợp pháp và có tài sản chung
b Nội dung của di chúc chung của vợ chồng
Điều 663 BLDS quy định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt
tài sản chung” Vậy nội dung và mục đích của di chúc chung vợ - chồng: để định
đoạt tài sản chung của vợ chồng Như vậy, di chúc chung của vợ chồng chỉ đượclập để định đoạt tài sản chung của vợ chồng, không thấy nói gì đến tài sản riêngcho nên đối với những tài sản riêng thì họ phải lập một tờ di chúc khác Trongtrường hợp trong di chúc chung vợ chồng định đoạt cả tài sản chung và tài sảnriêng thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau
c Hình thức của di chúc chung của vợ chồng
Trang 8Hình thức của di chúc chung của vợ chồng cũng có hai hình thức như hìnhthức di chúc của cá nhân đó là di chúc bằng văn bản và di chúc bằng miệng
- Di chúc bằng văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết có
chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Bao gồm các loại sau:
+) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 655 BLDS)
+) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Điều 656 BLDS)
+) Di chúc bằng văn bản có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn chứngnhận của Công chứng nhà nước (Điều 657 BLDS)
Ngoài ra, theo Điều 660 BLDS thì có quy định về di chúc bằng văn bản cógiá trị như di chúc đã được chứng nhận, chứng thực
- Di chúc bằng miệng là loại di chúc mà toàn bộ ý chí của người lập di chúc
được thể hiện bằng lời nói Và chỉ được công nhận là hợp pháp khi đảm bảo
đủ các điều kiện do luật định Vợ chồng có thể lập di chúc bằng miệng Tuynhiên vì di chúc bằng miệng được xem là loại di chúc có trình tự tiến hànhphức tạp cho nên đối với lạo di chúc này thì pháp luật có những quy địnhchặt chẽ
d Sửa đổi, bổ sung, thay thế và hủy bỏ di chúc chung của vợ chồng
Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng phảidựa trên nguyên tắc nhất trí, bình đẳng Khoản 2 Điều 664 BLDS 2005 qui định:
“Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì
phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình” Để đảm bảo cho
nguyên tắc bình đẳng trong việc quyết định nội dung của di chúc chung mà vợ,
Trang 9chồng phải có sự thống nhất ý kiến, có sự đồng ý của nhau khi muốn sửa đổi, bỏsung, thay thế hay hủy bỏ di chúc đã lập Chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy
bỏ những phần liên quan đến phần tài sản của mình khi người kia chết trước Điềunày cũng nhằm đảm bảo không sai lệch với ý chí của người để lại di sản đã chếttrước
Điều này cũng tạo ra sự thống nhất cao cho việc lập di chúc chung cũng nhưviệc sửa đổi, bổ sung di chúc chung Tuy vậy, nếu một bên muốn thay đổi quyếtđịnh trong di chúc chung mà bên kia không đồng ý, thì các bên cũng không đượcquyền thay đổi
e Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng
Điều 668 BLDS 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực
từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”.
Theo như quy định này thì trong trường hợp vợ, chồng cùng lập di chúcchung mà có một người chết trước, thì phần di chúc liên quan đến phần di sản củangười chết trong tài sản chung chưa có hiệu lực pháp luật Sau khi cả hai vợ chồngđều chết thì di chúc chung mới có hiệu lực Pháp luật quy định như vậy để đảm bảocho vợ hoặc chồng còn sống tiếp tục khai thác tài sản chung có hiệu quả
Đồng thời giải pháp này đã đơn giản hoá việc thực thi di chúc chung củaBLDS năm 2005 (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải phápcủa BLDS năm 1995 đã quy định trước đây
II MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Trang 101 Một số ý kiến về quy định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của
vợ, chồng.
Cũng như các vấn đề khác, di chúc chung của vợ chồng tuy đã được các nhàlàm luật dự liệu và quy định tương đối khái quát và cụ thể trong BLDS cũng nhưcác văn bản hướng dẫn Tuy nhiên, hiện nay khi xem xét và nghiên cứu về vấn đềnày thì thấy có nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến những bất cập trong quy định
về di chúc chung của vợ chồng Dưới đây là một số ý kiến
1.1 Về quyền lập di chúc chung của vợ - chồng và nguyên tắc tự nguyện cá
nhân trong việc lập di chúc
Theo như quy định tại Điều 646 BLDS 2005 thì: “Di chúc là sự thể hiện ý
chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Theo đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọi chủthể hay một cộng đồng chủ thể Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đề pháp lýliên quan tới thân trạng và quyền lợi vật chất của một cá nhân, được tiến hành saukhi cá nhân chết Như vậy, Điều 663 quy định di chúc chung của vợ, chồng đã tạo
ra sự mâu thuẫn so với Điều 646 nói trên Mặt khác, việc thừa nhận di chúc chungcủa vợ chồng sẽ kéo theo các vấn đề pháp lý phức tạp khác rất khó xử lý về mặt kỹthuật pháp lý Ví dụ như xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung, việcsửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung
Ý kiến trên cũng có cơ sở như đã phân tích ở trên Tuy vậy, có thể thấy rằngquy định di chúc chung của vợ chồng lại rất phù hợp và cần thiết nếu thiên vềnguyên tắc củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình, tạo cho vợ,chồnchig có sự đồng thuận bàn bặc và nêu ý kiến thể hiện ý chí của mình trongviệc định đoạt tài sản của mình
Trang 111.2 Về nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ - chồng
- Di chúc chung có phải chỉ dùng để định đoạt tài sản chung của vợ chồng?
Điều 663 BLDS 2005 qui định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định
đoạt tài sản chung”.
Nhà làm luật dường như chỉ dự liệu cho di chúc chung với nội dung là địnhđoạt tài sản chung mà không nhắc đến tài sản riêng Điều đó đã dẫn đến việc nếu
vợ, chồng muốn định đoạt cả tài sản riêng vào bản di chúc đó thì sẽ như thế nào?Hay nếu như vợ, chồng đã quyết định trong một di chúc chung vừa có phần địnhđoạt tài sản chung và vừa có phần định đoạt tài sản riêng thì sẽ ra sao? Trongtrường hợp đó, sẽ có nhiều vấn đề pháp lý đặt ra rất khó xử lý, như: vấn đề hiệu lựccủa di chúc chung sẽ được xác định như thế nào; phần di chúc định đoạt tài sảnriêng có phải là một di chúc riêng; sau khi một bên vợ hoặc chồng chết, thì phần dichúc liên quan tới tài sản riêng của họ có hiệu lực hay chưa Đây là những vấn đềpháp lý phức tạp mà BLDS 2005 chưa tiên liệu được
Thêm một vấn đề đang cần được xem xét, đó là nếu quy định trên được thựchiện đúng, thì vợ, chồng không thể dùng di chúc chung để định đoạt tài sản riêng
của mình Điều này sẽ dẫn tới các hệ quả là: Thứ nhất, khi vợ, chồng muốn lập di
chúc chung thì di chúc đó chỉ được định đoạt tài sản chung Nếu vợ, chồng muốnđịnh đoạt phần tài sản riêng, thì họ phải lập một tờ di chúc khác Sẽ phức tạp nếumột người có nhiều sản nghiệp khác nhau (tài sản riêng hoặc tài sản với vợ haychồng hợp pháp khác) Điều này sẽ gây ra trở ngại tâm lý không nhỏ khi người tamuốn lập di chúc chung, vì như thế sẽ tạo ra thêm nhiều khó khăn cho các bên liênquan, như phải lập nhiều tờ di chúc khác nhau, thay vì chỉ cần duy nhất một tờ di
chúc Thứ hai, nếu trong di chúc chung vợ - chồng định đoạt cả tài sản chung và tài
sản riêng thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau Điều