1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Tôn giáo và dân tộc

255 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 255
Dung lượng 5,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp, sự hình thành và phát triển dân tộc có căn nguyên sâu xa từ sự vận động của sản xuất, của kinh tế đồng thời chịu sự tác động chi phốitrực tiếp

Trang 1

Häc viÖn b¸o chÝ vµ tuyªn truyÒn

PGS,TS Hoµng Quèc B¶o (Chñ biªn)

Giáo trình

Qu¶n lý x· héi

vÒ d©n téc vµ t«n gi¸o

Hµ néi - 2015

Trang 2

TËp thÓ t¸c gi¶:

- PGS, TS Hoµng Quèc B¶o

- PGS,TS Ng« H÷u Th¶o

- TS TrÞnh Quang C¶nh

- Ths Lu HuyÒn Trang

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 1 QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ DÂN TỘC

Chương 1: CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộcError! Bookmark not defined.

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và con đường phát triển của

các dân tộc Việt NamError! Bookmark not defined.

Chương 2: QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân

tộcError! Bookmark not defined.

2.2 Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ đất nướcError! Bookmark not defined.

Chương 3: HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ VỀ DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAYError! Bookmark not defined.

3.1 Hệ thống tổ chức quản lý về dân tộcError! Bookmark not defined 3.2 Nội dung quản lý về công tác dân tộcError! Bookmark not defined.

Phần 2 QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TÔN GIÁO

Chương 1: CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁOError! Bookmark not defined.

1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo

Chương 2: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TÁC TÔN GIÁO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo

2.2 Nhiệm vụ và giải pháp của quản lý xã hội về tôn giáo

Trang 4

Chương 3 : NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TÔN GIÁO

3.1 Những nguyên tắc cơ bản của quản lý xã hội đối với tôn giáo ở nước ta hiện nay

3.2 Nội dung quản lý xã hội về tôn giáo ở nước ta hiện nay

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Phần 1 VÊN §Ò D¢N TéC

Vµ QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ DÂN

TỘC

Trang 7

Chương 1 CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

1.1 CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

1.1.1 Khái niệm dân tộc và dân tộc - tộc người

- Khái niệm về dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩahẹp Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chungmột nhà nước, một lãnh thổ, có chung một nền kinh tế, một chế độ chính trị -

xã hội, có ngôn ngữ và văn hoá chung, thống nhất Theo nghĩa hẹp, dân tộc làchỉ một tộc người cụ thể Ví dụ: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, chính làquốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người, ngoài tộc người Kinh chiếm đa số,còn có 53 tộc người thiểu số khác: Tày, Nùng, H’mông, Bana, Êđê

Khi nói dân tộc - quốc gia là nói theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với quốcgia - dân tộc Trong trường hợp này, dân tộc có thể là một tộc người, là dântộc đơn nhất (như Nhật Bản, Triều Tiên) mà cũng có thể là nhiều tộc người, làdân tộc đa tộc người (như Việt Nam và hầu hết các nước khác) Khi nói Dântộc - tộc người là nói theo nghĩa hẹp; tộc người trong quốc gia - dân tộc cónhiều tộc người hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc - quốcgia đó Mỗi tộc người là một chủ thể bình đẳng (thiểu số cũng như đa số) nhưmọi chủ thể khác, cùng sinh sống, cùng có chung chế độ chính trị, Nhà nước,luật pháp, kinh tế, văn hoá… nhưng lại có văn hoá tộc người riêng của mình(ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, lối sống)

Khái niệm về dân tộc tộc người Dân tộc hay còn gọi là Quốc gia dân tộc và dân tộc - quốc gia (nation) là một cộng đồng chính trị - xã hội đượcchỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có một têngọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tếchung, với những biểu tượng văn hoá chung, tạo nên một tính cách dân tộc

Trang 8

-Tộc người hay dân tộc - tộc người (ethnic) là một cộng đồng mang tínhtộc người, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt), đượcliên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá tạo thành tính cách tộcngười, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức là có chung một khát vọngcùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch

sử (truyền thống, lịch sử, huyền thoại, tục kiêng cữ…)

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề dân tộc

1.1.2.1 Sự hình thành và phát triển của dân tộc

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét vấn đề dân tộctrên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Là một hiện tượng lịch

sử xã hội phức tạp, sự hình thành và phát triển dân tộc có căn nguyên sâu xa

từ sự vận động của sản xuất, của kinh tế đồng thời chịu sự tác động chi phốitrực tiếp của nhân tố chính trị, tức là của giai cấp và Nhà nước trong việc tổchức nên đời sống xã hội của các cộng đồng người Dân tộc ra đời và pháttriển như thế nào, điều ấy còn gắn liền với truyền thống lịch sử và văn hoá (kể

cả đời sống tín ngưỡng, tôn giáo) của từng dân tộc

Mỗi cộng đồng dân tộc cũng như cộng đồng tộc người có lịch sử hìnhthành và phát triển không giống nhau, không đồng thời và nhất loạt như nhau

Dân tộc gắn liền với Nhà nước, tức là dân tộc đã định hình thành quốcgia - dân tộc, nhà nước dân tộc từ rất xa xưa trong lịch sử chứ không phải chỉđến khi chủ nghĩa tư bản, nhà nước tư sản ra đời mới có dân tộc Sự phát triểncủa chủ nghĩa tư bản, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự thiết lậpnhà nước tư sản với quyền thống trị của giai cấp tư sản trong nhà nước đó chỉnói lên sự ra đời của dân tộc tư sản (đúng hơn là dân tộc trong điều kiện thốngtrị tư bản chủ nghĩa với sở hữu tư sản, ý thức hệ tư sản, quyền thống trị chínhtrị và nhà nước của giai cấp tư sản) mà thôi

Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản vì mục đích tìm kiếm và mởrộng không ngừng lợi nhuận của mình đã thường xuyên tiến hành các cuộc

Trang 9

chiến tranh xâm lược, xâm chiếm thuộc địa, mở rộng thị trường để bóc lột và

nô dịch các dân tộc khác, làm cho các dân tộc mất độc lập chủ quyền và tự do,

bị các thế lực của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc thống trị

Chủ nghĩa tư bản đã làm gay gắt thêm tình trạng bất công xã hội và bấtbình đẳng giữa các dân tộc

Những mâu thuẫn đối kháng về giai cấp (giữa tư sản và vô sản) đi liềnvới mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với các dân tộc bị áp bức, các dân tộcphụ thuộc và thuộc địa… Nó tất yếu dẫn tới các cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc

Các cuộc cách mạng vô sản trong thế kỷ XIX và XX vừa qua nhằmthực hiện mục tiêu giải phóng giai cấp và dân tộc đã trở thành những bướcngoặt trong lịch sử các dân tộc

Do đó, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hộiloài người Dân tộc có các hình thức cộng đồng khác nhau trong lịch sử từthấp đến cao, từ thị tộc và bộ lạc đến các bộ tộc và đến khi xuất hiện giai cấp

và nhà nước thì xuất hiện dân tộc

1.1.2.2 Quan hệ giữa dân tộc và giai cấp

Mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp được thể hiện trên những phươngdiện chủ yếu sau đây:

- Giai cấp nằm trong quốc gia - dân tộc, tồn tại trong quốc gia - dân tộc.Song Nhà nước luôn mang bản chất giai cấp, thuộc về một giai cấp nhất định,giai cấp nào nắm quyền lực Nhà nước thì nó cũng dùng quyền lực Nhà nước

đó để thực hiện và bảo vệ lợi ích của mình Để làm được điều đó nó phải nhândanh lợi ích của toàn xã hội và trên thực tế, giai cấp thống trị muốn duy trìđược quyền lực và lợi ích của mình thì tất yếu cũng phải thực hiện những lợiích nào đó của xã hội, của dân tộc Trên phương diện lợi ích, giai cấp và dântộc vừa có mặt thống nhất lại vừa có mặt mâu thuẫn, thậm chí có khi xung độtgay gắt Trước CNXH, các giai cấp thống trị (Phong kiến và Tư sản) trongnhiều trường hợp đã từng phản bội lợi ích dân tộc chỉ vì quyền lợi của nó

Trang 10

Mác và Ăng-ghen đã chỉ rõ, trong chế độ phong kiến, giai cấp địa chủphong kiến với quyền lực tập trung trong tay nhà vua là đại diện cho lợi íchdân tộc, đại diện cho xu hướng tập trung, nó chống lại những xu hướng cát

cứ, phân tán, biệt lập và khép kín ở các địa phương

Cũng như vậy, giai cấp tư sản khi còn có vai trò tiến bộ, nó là đại diệncho lợi ích của dân tộc tư sản khi dân tộc tư sản đáp ứng được nhu cầu pháttriển của chủ nghĩa tư bản Còn khi giai cấp tư sản đã trở nên lỗi thời và phảnđộng thì mâu thuẫn với lợi ích dân tộc của chính nó

Trường hợp bất lực và nhu nhược của giai cấp tư sản Phổ vào những nămgiữa thế kỷ XIX, giai cấp tư sản Pháp năm 1871 là những ví dụ điển hình

- Chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất thống nhất với lợi íchcủa nhân dân lao động và do đó thống nhất với lợi ích của dân tộc

Sở dĩ như vậy vì giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sảnxuất tiên tiến, tiêu biểu cho lực lượng cách mạng phủ định chủ nghĩa tư bản

Nó không có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu, do đó nó có tính cách mạngtriệt để, nó phấn đấu đến cùng cho lợi ích của dân tộc và xã hội, hơn thế nữa

nó còn thực hiện mục tiêu lịch sử là giải phóng cho toàn bộ xã hội loài người,xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xoá bỏ mọi căn nguyên sinh ra bóc lột, áp bức và nôdịch con người do chủ nghĩa tư bản gây ra để xây dựng xã hội tương lai cộngsản chủ nghĩa Chỉ có giai cấp công nhân mới là đại biểu chân chính cho sựthống nhất lợi ích giai cấp, dân tộc và nhân loại

Mác và Ăng-ghen đã từng nhận định, một dân tộc đi áp bức dân tộc khácthì bản thân dân tộc đó cũng không có tự do Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản, Mác và Ăng-ghen còn nhấn mạnh rằng, hãy xoá bỏ tình trạng người bóc lộtngười thì tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác sẽ mất theo

- Lênin luôn xem xét vấn đề dân tộc trong tiến trình cách mạng xã hộichủ nghĩa, coi vấn đề dân tộc là một bộ phận khăng khít của tiến trình cáchmạng đó Theo Lênin, xét trên lập trường chính trị quan điểm giai cấp của giai

Trang 11

cấp công nhân, thì vấn đề dân tộc là vấn đề bộ phận, phụ thuộc vào vấn đềgiai cấp.

- Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét việc giải quyết vấn đề dân tộc trên lậptrường quan điểm của giai cấp công nhân Cần phải chống lại khuynh hướngtuyệt đối hoá vấn đề dân tộc, xem nhẹ vấn đề giai cấp, đặt dân tộc lên trên giaicấp, rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, biệt phái, đồng thời cũng chống lại

xu hướng coi nhẹ vấn đề dân tộc, chỉ thấy giai cấp mà không thấy dân tộc, đó

là thái độ hư vô dân tộc

- Mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc cần được nhận thức và giảiquyết đúng đắn trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc sẽ góp phần quyết định vào thắnglợi của đấu tranh giai cấp trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa

Vấn đề dân tộc phụ thuộc vào vấn đề giai cấp Vì sao lại như vậy? Bởi

vì dân tộc chỉ xuất hiện khi trình độ kinh tế - xã hội đã phát triển tới một mứcnào đó Do biến đổi của cơ sở kinh tế - xã hội mà dân tộc xuất hiện Đây làcăn nguyên sâu xa Dĩ nhiên, dân tộc xuất hiện còn được quy định bởi nhữngbiến đổi của nhân tố tộc người Đây cũng là một nhân tố rất quan trọng Songbiến đổi của các tộc người, xét đến cùng chỉ là hệ quả về mặt xã hội - lịch sửcủa biến đổi kinh tế - sản xuất, nhất là biến đổi về chế độ sở hữu Nó dẫn tớimột giai cấp nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất, từ đó nắm quyền thống trị,chi phối xã hội Vấn đề tộc người và dân tộc trong quốc gia - dân tộc đượcgiải quyết như thế nào - điều đó phụ thuộc một phần lớn từ bản chất kinh tế và

ý thức hệ của giai cấp cầm quyền

Mặt khác, phong trào dân tộc, đấu tranh dân tộc luôn chịu sự tác động

và quyết định bởi đấu tranh giai cấp

Xét trong phạm vi một quốc gia - dân tộc cũng như quan hệ giữa cácquốc gia - dân tộc trong khu vực, quốc tế và thế giới, mâu thuẫn giữa các dântộc thường không tách rời mâu thuẫn giai cấp mà luôn gắn với mâu thuẫn giaicấp Phong trào dân tộc, đấu tranh giải phóng dân tộc chẳng những không

Trang 12

tách rời đấu tranh giai cấp mà còn chịu sự chi phối bởi các cuộc đấu tranh giaicấp trong phạm vi dân tộc, quốc tế và thế giới.

Lịch sử đấu tranh giai cấp ở châu Âu, trong thế kỷ XIX, ở nước Nga cuốithế kỷ XIX và trong thế kỷ XX cũng như cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc,các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc chốngách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân(cũ và mới) suốt từ thế kỷ XX cho tới nay đều cho thấy rõ điều đó

Có hàng loạt nhân tố tác động vào vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, mâuthuẫn và xung đột dân tộc, các khuynh hướng phát triển dân tộc, từ kinh tếđến chính trị, từ ngôn ngữ văn hoá, tâm lý, ý thức, tôn giáo nhưng nổi bật nhất

và có sức chi phối mạnh mẽ, quyết định nhất vẫn là kinh tế và chính trị trongtính xác định của chế độ xã hội, nhà nước với ảnh hưởng chi phối của giai cấpnắm quyền thống trị

Trong khi xem xét vấn đề dân tộc dưới lăng kính giai cấp không nênxem mối quan hệ tác động giữa giai cấp và dân tộc là tác động một chiều Vấn

đề dân tộc không chỉ do giai cấp chi phối mà bản thân nó cũng tác động trở lạiđối với giai cấp chứ nó không hoàn toàn thụ động Mặc dù dân tộc xuất hiệntrên cơ sở sự chín muồi của kinh tế - xã hội, của giai cấp và đấu tranh giai cấp(nhất là ở trình độ đấu tranh chính trị giành quyền lực) nhưng nếu các nhân tốtộc người, ý thức dân tộc, ý thức tộc người, tâm lý dân tộc, tâm lý tộc người(thể hiện ở tình cảm, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, văn hóa…) chưa chínmuồi thì cộng đồng dân tộc cũng chưa thể xuất hiện

Cũng như vậy, nếu đặc trưng về ý thức độc lập chủ quyền của dân tộc

và đặc trưng về văn hóa tộc người mà không được bồi đắp, gìn giữ, để chosuy giảm, hoặc mất đi thì sự tồn tại của dân tộc và tộc người cũng suy giảmtheo, thậm chí có thể mất

Giai cấp cũng như nhân tố chính trị nói chung dù có vai trò chi phối vấn

đề dân tộc nhưng không phải là sự chi phối duy nhất, độc nhất và hoàn toàn

Trang 13

Chính trị của giai cấp cầm quyền nếu không tính đến những đặc trưngdân tộc, tộc người, những giá trị thuộc về truyền thống lịch sử, sức sống, bảnsắc của dân tộc và từng tộc người thì cũng không thể giải quyết được vấn đềdân tộc theo lập trường, quan điểm của mình.

Sự xuất hiện và phát triển của dân tộc có những quy luật nội tại riêngcủa nó Phát triển từ thị tộc - bộ lạc tới bộ tộc và dân tộc là biểu hiện của quyluật nội tại ấy trong từng nước, từng dân tộc và quốc gia - dân tộc

Vấn đề dân tộc và giai cấp ở những nước, những vùng, những quốc giadân tộc khác nhau là rất khác nhau

Trong khi ở châu Âu và phương Tây đã diễn ra sự phân hóa giai cấpsâu sắc, đấu tranh giai cấp ở vùng địa chính trị này là nổi bật Ở phươngĐông, châu Á, trong đó có Việt Nam và các nước như Việt Nam đang bị mấtchủ quyền, rơi vào tay của thế lực thực dân xâm lược và đô hộ lại nổi trội ởmâu thuẫn giữa dân tộc với các thế lực xâm lược bên ngoài chứ không phải làmâu thuẫn giai cấp, do trình độ phát triển kinh tế ở đây chưa có sự phân hóagiai cấp rõ rệt Giải phóng dân tộc để xóa bỏ ách áp bức bóc lột và địa vị nô lệ(vì mất độc lập chủ quyền) trở nên đặc biệt bức xúc, sống còn Trong bối cảnhthời đại mới sau Cách mạng tháng Mười, việc giải quyết vấn đề dân tộc đãvượt qua những hạn chế của ý thức hệ, thế giới quan phong kiến, tư sản và chỉ

có thể giải quyết thành công vấn đề dân tộc theo ý thức hệ, theo lập trường,quan điểm của giai cấp công nhân Tất yếu phải gắn giải phóng dân tộc vớiphát triển dân tộc, do đó độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội,quá độ tới chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

1.1.2.3 Hai xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc

Đây là những xu hướng khách quan trong điều kiện của chủ nghĩa tưbản khi đã hình thành dân tộc tư sản

Lênin khi nghiên cứu về dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiệncủa chủ nghĩa tư bản đã phát hiện ra hai xu hướng Đó là xu hướng hình thành

Trang 14

các dân tộc độc lập (tách ra) và xu hướng liên hiệp các dân tộc trong một quốcgia-dân tộc hay nhiều quốc gia-dân tộc lại với nhau (nhập vào) Xu hướnghình thành và khẳng định các cộng đồng dân tộc độc lập thường xuất hiện ởnhững quốc gia có nhiều cộng đồng người có nguồn gốc khác nhau làm ăn,sinh sống Do sự trưởng thành của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh của tình cảmdân tộc mà đến một lúc nào đó, các cộng đồng đó muốn tách ra để tự khẳngđịnh tính độc lập và tự quyết định của mình Đó là tự quyết định về vận mệnhcủa mình, về chế độ chính trị và con đường phát triển riêng của dân tộc mình.

Biểu hiện trên thực tế của xu hướng này là phong trào đấu tranh chống

áp bức dân tộc, sự phụ thuộc và lệ thuộc dân tộc khác, hướng tới thành lập cácquốc gia-dân tộc độc lập Xu hướng này trở nên rất mạnh ở giai đoạn đầu củachủ nghĩa tư bản Hiện nay, xu hướng này vẫn đang diễn ra

Cùng với xu hướng tách ra khỏi cộng đồng chung để hình thành cáccộng đồng độc lập, trong phong trào dân tộc còn có một xu hướng khác,ngược lại, đó là sự liên hiệp, sự gắn kết các dân tộc, các quốc gia hoặc cácdân tộc - tộc người trong một quốc gia lại với nhau

Sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ, giao lưukinh tế, văn hoá làm xuất hiện nhu cầu xoá bỏ các hàng rào ngăn cách giữacác dân tộc, tạo nên mối quan hệ quốc gia, quốc tế rộng lớn hơn, đặc biệt ởgiai đoạn chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa đế quốc

Nếu xu hướng thứ nhất là hiện tượng phân ly thì xu hướng thứ hai làhội nhập, các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau

Cả hai xu hướng đó tuy khác nhau nhưng có một vài điểm chung: đó là

vì lợi ích của dân tộc, trước hết là lợi ích kinh tế và chính trị, là mục đích trựctiếp cũng như mục đích lâu dài, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển củadân tộc

Lênin đã từng viết: “Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, cóhai xu hướng lịch sử trong vấn đề dân tộc Xu hướng thứ nhất là sự thức tỉnhcủa đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi

Trang 15

ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc Xu hướng thứ hai làviệc phát triển và tăng cường mọi thứ quan hệ dân tộc, việc xoá bỏ nhữnghàng rào ngăn cách các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tưbản, của đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học”1.

Dù là những xu hướng khách quan nhưng trong điều kiện của chủ nghĩa

đế quốc, việc thực hiện hai xu hướng này thường gặp những cản trở lớn

Chủ nghĩa đế quốc mở rộng xâm chiếm thuộc địa, duy trì ách áp bứcbóc lột, khai thác nguyên vật liệu và sức lao động đã dùng chiến tranh và bạolực để biến hầu hết các dân tộc nhỏ và lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc

Do đó nguyện vọng của các dân tộc được sống trong độc lập tự do thường bịngăn cản và xoá bỏ bởi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc Để thực hiện xuhướng độc lập và khẳng định chủ quyền, các dân tộc phải trải qua các cuộcđấu tranh lâu dài, phức tạp, có khi hàng thế kỷ với những hy sinh không nhỏ

Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng lại

bị các thế lực đế quốc chủ nghĩa lợi dụng để thành lập những khối liên hiệpnhằm duy trì ách áp bức, bóc lột đối với các dân tộc đó

Lý luận cũng như thực tiễn đã cho thấy, để thực hiện hai xu hướng nêutrên một cách đúng đắn, lành mạnh thì chỉ có thể tìm thấy điều kiện giải quyếttrong chủ nghĩa xã hội

Tiền đề có tính nguyên tắc là phải xoá bỏ tình trạng dân tộc này áp bứcbóc lột dân tộc khác, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ dân tộc và tôntrọng quyền tự quyết của các dân tộc

Trong các nước xã hội chủ nghĩa việc thực hiện hai xu hướng phát triểndân tộc đều nhằm đi tới mục đích tích cực: các dân tộc tự nỗ lực để phát triển,đạt tới trình độ phát triển phồn vinh về kinh tế, độc lập chủ quyền về chính trị

và phát triển văn hoá theo bản sắc, truyền thống của mình Thực hiện hợp tác,đoàn kết, đồng thuận để cùng phát triển

1 V.I.Lênin, toàn tập, Tiến bộ, M.1980, tr.24, tr.158.

Trang 16

Để cho những xu hướng đó phát triển và trở thành hiện thực, phải chútrọng giải quyết bằng thể chế, chính sách, cơ chế trong quan hệ giữa các dântộc theo nguyên tắc tôn trọng, chủ quyền, bình đẳng, giải quyết hài hoà cácquan hệ lợi ích, tôn trọng bản sắc văn hoá, phong tục tập quán, tâm lý và ýthức dân tộc, tăng cường đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng pháttriển, duy trì lâu dài mối quan hệ tin cậy, tôn trọng lẫn nhau, đảm bảo sựthống nhất trên cơ sở của những sự đa dạng, những sắc thái khác biệt.

Cần phải hết sức tránh những biểu hiện nghi kỵ, hằn thù dân tộc, chủnghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, sự đồng nhất giản đơn, áp đặt các chuẩn mựccủa dân tộc này vào dân tộc khác

Tự nguyện và bình đẳng, tôn trọng và tin cậy, đoàn kết và hợp tác lànhững cơ sở phải luôn luôn nhận thức đúng, vận dụng nhất quán trong quan

hệ giữa các dân tộc, trong giải quyết vấn đề dân tộc, trong quốc gia - dân tộc

và trong quan hệ quốc tế, nhất là trong tình hình và bối cảnh hiện nay với xuthế toàn cầu hoá và hội nhập

1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh vềvấn đề dân tộc

1.2.1.1 Dân tộc Việt Nam

Là một nhà cách mạng, thấm nhuần phép biện chứng duy vật của chủnghĩa Mác-Lênin, am hiểu sâu sắc thực tiễn quá trình hình hành và phát triểncủa dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh không dập theo tiêu chí khái niệm dântộc tư sản để vận dụng xem xét vấn đề dân tộc ở nước ta Người khẳng định:

“Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc Các dân tộc trong nước

ta gắn bó ruột thịt với nhau, trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sửlâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp”.Đồng thời, người cũng khẳng định một sự thật lịch sử không thể phủ nhận:

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể

Trang 17

mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” Như vậy ở đây cần làm rõ haikhái niệm: “dân tộc” và “tộc người” để hiểu chính xác luận điểm nói trên của HồChí Minh.

Dân tộc (Nation) và tộc người (Ethnie) là những khái niệm có mối liên hệmật thiết với nhau, tuy thống nhất nhưng không đồng nhất:

Khi nói “nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc” hay “nước ta

có 54 dân tộc” thì cần hiểu “dân tộc” ở đây là chỉ một dân tộc cụ thể, hay một tộcngười như dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Nùng, dân tộc Bana, Êđê… Nhưvậy khái niệm dân tộc mà Hồ Chí Minh dùng trong trường hợp này đồng nhấtvới tộc người (Ethnie)

Khi nói “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” thì “dân tộc” ởđây có nghĩa là quốc gia - dân tộc (Nation), như dân tộc Trung Hoa, dân tộcPháp, dân tộc Ý, dân tộc Việt Nam…

1.2.1.2 Cộng đồng dân tộc

Cộng đồng dân tộc là khái niệm dùng trong các trường hợp có sự cố kếtbền vững dựa trên những yếu tố kinh tế, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán củadân tộc (Nation) hay tộc người (Ethnie) Có cộng đồng dân tộc được hìnhthành từ một tộc người nhất định (Triều Tiên) Có cộng đồng dân tộc đượchình thành từ nhiều tộc người Có cộng đồng dân tộc được hình thành từ sựtập hợp nhiều bộ phận tộc người khác nhau trong đó bộ phận chính là ởchâu Âu đã công nghiệp hoá hoà trộn với cư dân bản địa cùng tổ chứcthành một dân tộc tư sản (Hoa Kỳ, Nga, Úc…) Có cộng đồng dân tộc hìnhthành bằng sự tập hợp nhiều bộ lạc, tộc người, liên minh bộ lạc, được hìnhthành trong một quốc gia (châu Phi)

Cộng đồng dân tộc Việt Nam hay cộng đồng các dân tộc Việt Nam là thuậtngữ dùng để chỉ tất cả các thành viên của dân tộc Việt Nam, mang quốc tịchViệt Nam, ở trong lãnh thổ Việt Nam hoặc sinh sống, làm việc ở nước ngoài

Trang 18

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, cộng đồng dân tộc Việt Nam bao gồm tất

cả các dân tộc (tộc người) sinh sống trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và có thể

ở các vùng lãnh thổ khác Thuật ngữ “dân tộc Việt Nam” là cách nói ngắn gọn của thuật ngữ “cộng đồng dân tộc Việt Nam” hay “cộng đồng các dân tộc Việt

Nam”.

1.2.1.3 Dân tộc đa số và dân tộc thiểu số

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, người Việt (còn gọi là dân tộc Kinh)

có số dân đông nhất gọi là dân tộc đa số, và có trên 50 dân tộc có số dân ít hơn số dân của dân tộc Việt, gọi là các dân tộc thiểu số Theo cách gọi thông

thường, dân tộc đa số là dân tộc đông người, còn dân tộc thiểu số là dân tộc ítngười Gọi là “ít người” cũng chỉ là tương đối trong một tương quan nhấtđịnh Ví dụ dân tộc Tày so với dân tộc Việt (Kinh) thì dân tộc Tày là dân tộc ítngười, nhưng dân tộc Tày so với dân tộc Pà thẻn thì dân tộc Tày lại là dân tộcđông người Vì vậy để thống nhất cách gọi, các văn bản của Đảng và Nhànước ta đã chính thức gọi dân tộc Việt (Kinh) là dân tộc đa số, còn các dân tộckhác là dân tộc thiểu số Quy định này phù hợp với cách nói và cách viếttrước đây của Hồ Chí Minh Ví dụ ngày 18/10/1961 trong “Bài nói chuyện tạihội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sảnxuất…”, Người đã nói “Phải tăng cường đoàn kết dân tộc… Các dân tộc thiểu

số đoàn kết với dân tộc đa số”

1.2.1.4 Quan hệ dân tộc

- Phạm trù quan hệ dân tộc cần được hiểu là sự liên hệ tương tác bao gồm

sự gắn bó, ảnh hưởng lẫn nhau, giúp đỡ, tương trợ, hợp tác, sự cần thiết qualại, tác động hữu cơ với nhau và có cả mầm mống của sự bất đồng, tiềm ẩnnhững mâu thuẫn và xung đột

- Quan hệ dân tộc được xem xét trên nhiều bình diện không chỉ trong nội bộquốc gia với những quan hệ tộc người hợp thành quốc gia - dân tộc Việt Nam mà

Trang 19

còn là quan hệ giữa nước ta với những quốc gia khác biểu hiện thành quan hệ giữanhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam với các nước khác nhìn từ vấn đề dântộc và tộc người.

Do đó, giải quyết mối quan hệ dân tộc - tộc người không chỉ ảnh hưởngtrong phạm vi nước ta mà còn có thể mở rộng tới những nước khác, nhất lànhững nước láng giềng (Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia…)

Cần đặc biệt lưu ý cách giải quyết quan hệ dân tộc của Hồ Chí Minh.Nhiều lần Người nói rằng có đoàn kết dân tộc thì mới đoàn kết được quốc tế

Ở đây, chúng ta giới hạn vấn đề chỉ xem xét mối quan hệ dân tộc - tộcngười trong phạm vi trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc nhắcnhở cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc rằng tuyệt nhiên không được

có sự kỳ thị dân tộc, tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, tự kiêu và tự ti.Phải thân ái, đoàn kết, kính trọng, tin cậy và giúp nhau giữa các dân tộc

Về mặt nhận thức, cán bộ, đảng viên không được chỉ thấy mặt khó khăn,phức tạp trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, trong quan hệ dân tộc mà cònthấy mặt thuận lợi, mặt tốt đẹp trong quá trình giao thoa và tiếp biến văn hoá, sựcộng sinh và hỗ trợ lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển trong một quốc gia đadân tộc như nước ta Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta có nhiều dân tộc,đây là điểm tốt” (11/9/1963) Điểm tốt cơ bản nhất đã được lịch sử hàng ngànnăm của dân tộc ta khẳng định

“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Êđê, Xê đăng hay

Ba na và các dân tộc khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt.Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”(19/4/1946) Chính vì thế mà “Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruộtthịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùngnhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp” (18/12/1959).Quan hệ dân tộc phải được giải quyết bằng các văn bản chính trị - pháp lý

và bằng hệ thống chính sách của Nhà nước

Trang 20

1.2.1.5 Chính sách dân tộc

Cùng với pháp luật, chính sách là một trong những công cụ quản lý củanhà nước Chính sách là nội dung hiện thực của chính trị Cơ sở của việchoạch định chính sách là thực tiễn Đó là cộng đồng dân tộc Việt Nam thốngnhất trong đa dạng đã cùng tồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử,ngày nay ở trình độ phát triển cao của sự cố kết trong một quốc gia độc lập,thống nhất đang vững bước tiến lên mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh

Xem xét khái niệm chính sách dân tộc cần tiếp cận ở hai cấp độ:

Thứ nhất, chính sách dân tộc đồng nhất với chính sách quốc gia, chính

sách đối nội và đối ngoại Hay nói một cách khác, đó là chính sách xây dựng,phát triển đất nước và bảo vệ chủ quyền quốc gia

Mục tiêu của chính sách ở cấp độ này phải hướng vào thực hiện quyềncủa toàn thể quốc dân, đáp ứng lợi ích, nhu cầu chính đáng, hợp lý của nhândân (không phân biệt đa số, thiểu số) chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, thựchiện dân quyền để phát triển và thực hiện dân chủ thực tế

Thứ hai, chính sách dân tộc là chính sách tộc người, chính sách đối với

các dân tộc thiểu số

Nguyên tắc của việc hoạch định chính sách dân tộc là đảm bảo quan hệdân tộc: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển bềnvững Đồng thời đó cũng là mục tiêu của đường lối chính trị và của Nhà nước

xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà bản chất của nó là của dân, do dân, vì dân

Vì vậy chính sách dân tộc ở nước ta phải được hoạch định đủ sức tạo ra

sự tương tác xã hội để giải quyết các mối quan hệ dân tộc quốc gia, dân tộc tộc người, giữa cái chung (đại gia đình Việt Nam) với cái riêng (từng thànhviên trong cộng đồng Việt Nam); giữa cái chung phổ biến với những cái riêngđặc thù (Chính sách dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ trình bày ở phầnsau)

Trang 21

-1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường phát triển của các dân tộc Việt nam

1.2.2.1 Dân tộc Việt Nam hình thành và phát triển trong một quá trình lịch sử lâu dài

Khác với các dân tộc phương Tây, dân tộc Việt Nam ra đời cùng với sựxuất hiện của Nhà nước Hồ Chí Minh xác định việc đoàn kết các “con rồngcháu tiên”, “con lạc cháu hồng”, không phân biệt trai, gái, già, trẻ, giàunghèo, lương giáo, không phân biệt Mán, Mường, Mèo… là nhiệm vụ quantrọng để giữ gìn, bảo vệ tổ quốc và xây dựng, phát triển đất nước hưng thịnh,bền vững mang lại tự do, hạnh phúc cho mọi người dân

Các dân tộc ở Việt Nam đều là anh em trong đại gia đình chung là Tổquốc Việt Nam Các dân tộc đều cư trú trong một lãnh thổ quốc gia có chủquyền Họ sống xen kẽ, tụ cư, lập nghiệp từ bao đời nay gắn bó máu thịt vớinhau, sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau; tình dân tộc, nghĩa đồng bàođược phản ánh vào từng gia đình và tổ chức cuộc sống cộng đồng ở các thôn,bản, buôn, làng Lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước đã là quốc gia đadân tộc Lúc đầu chỉ có vài ba dân tộc sinh sống ở đó Cùng với thời gian,lãnh thổ quốc gia Việt Nam được mở rộng, và cứ mỗi lần như thế lại thu hútnhiều dân tộc mới Trong số các dân tộc ở nước ta hiện nay, có dân tộc sinhsống ở nước ta rất sớm như các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường,Tày - Thái, Môn - Khơme… có dân tộc cư trú thời gian muộn hơn như cácdân tộc trong nhóm ngôn ngữ H’mông - Dao…

Các dân tộc ở Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú cùng sự phát triểnđất nước

Một điểm nổi bật trong sự phát triển giữa các dân tộc Việt Nam đó là sựđoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, sự tiếp đón và hoà nhập đã mau chóng cốkết với nhau như anh em ruột thịt, như những người con cùng chung một bọc(đồng bào) Các dân tộc thiểu số một khi định cư ở nước ta đều xem đây là Tổ

Trang 22

quốc của mình; và luôn có ý thức xây dựng, củng cố quốc gia Việt Nam độclập thống nhất.

Các dân tộc thiểu số ở nước ta, có những dân tộc có cùng chung nguồngốc lịch sử, điều này được thể hiện qua các nhóm ngôn ngữ dân tộc, hoặc một

số dân tộc không cùng nguồn gốc lịch sử, song lại thống nhất do cùng chung

cơ tầng văn hoá Nam Á

Mặc dù thời gian hội nhập vào đời sống quốc gia - dân tộc khác nhaunhưng một khi xem Việt Nam là Tổ quốc của mình thì tất cả các dân tộc đềucùng chung một vận mệnh lịch sử, đều gắn bó máu thịt với nước Việt Nam từkhi ra đời và trải qua các thời kỳ phát triển cho đến nay

Trong lịch sử dựng nước, giữ nước, người Kinh (Việt) với cương vị là dântộc đa số đã giữ vai trò cực kỳ quan trọng là hạt nhân trung tâm, tập hợp vàphát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các dân tộc anh em Nhờ sự tương hỗ,hợp tác, gắn bó giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số mà Tổ quốc Việt Nam tangày càng hùng mạnh, có vị thế địa chính trị, kinh tế, văn hoá… vẻ vang đượcloài người tiến bộ khâm phục và ca ngợi

1.2.2.2 Sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan hệ dân tộc và con đường phát triển của các dân tộc ở Việt Nam

Đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển bền vững là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong lịch sử quan hệ dân tộc và con đường phát triến của các dân tộc ở Việt Nam

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ dân tộc, nội dung công bằng xã hộiđược đặc biệt nhấn mạnh Người quan tâm nhiều đến công bằng về lợi ích kinh

tế, về khâu phân phối và coi đó là mắt khâu kinh tế - chính trị rất quan trọng đểthực hiện công bằng xã hội Người đã mượn lời người xưa để chỉ rõ "không sợthiếu, chỉ sợ không công bằng Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"1.Như vậy, dù giàu hay nghèo thì công bằng cũng vẫn là mắt xích quan trọng nhất

1 Hồ Chí Minh Toàn tập Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Tập 12, tr 185.

Trang 23

của đoàn kết dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, nguyên tắc công bằng xã hội giữa các dân tộc hoàntoàn gắn chặt chẽ với việc đảm bảo quyền lợi của các dân tộc, không phânbiệt đa số hay thiểu số được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực trong đời sốngkinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội

Thực chất bình đẳng dân tộc ở nước ta là các tộc người cùng chung lưngđấu cật thực hiện mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng

xã hội, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh

Bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta được xây dựng trên cơ sở quyền conngười mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trong bản "Tuyênngôn độc lập" (02/9/1945)

Bình đẳng về chính trị giữa các dân tộc phải được thể hiện ở sự bình đẳng

về quyền làm chủ đất nước Mọi công dân (không vi phạm pháp luật) đều cóquyền tham chính, tham gia quản lý xã hội (đúng cả trong Hiến pháp và trongthực tế)

Bình đẳng về kinh tế theo Hồ Chí Minh là nền tảng tạo cơ sở vật chấtcho bình đẳng trên các lĩnh vực khác Trong quốc gia đa tộc người, sự yếukém về trình độ kinh tế của một tộc người không chỉ cản trở sự phát triểncủa bản thân dân tộc ấy mà còn là lực cản phát triển chung của cả cộngđồng Do vậy, từng bước tạo sự phát triển đồng đều giữa các dân tộc lànhiệm vụ quan trọng Theo Hồ Chí Minh, sự bình đẳng kinh tế giữa các tộcngười phụ thuộc vào sự nỗ lực vươn lên của từng dân tộc và có sự giúp đỡcủa các tộc người khác, nhất là các tộc người có trình độ phát triển lực lượngsản xuất cao hơn

Sự bình đẳng về văn hoá giữa các tộc người: đó là sự tôn trọng những bảnsắc văn hoá, phong tục tập quán của các tộc người Sự bình đẳng là sự tạođiều kiện để văn hoá của các tộc người phát triển hài hoà trong sự phát triển

Trang 24

chung của văn hoá đa tộc người, từ đó góp phần xây dựng nền văn hoá tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Sự bình đẳng về xã hội là tổng hoà mối quan hệ kinh tế chính trị - xã hội giữa các dân tộc Ở nghĩa hẹp là thông qua thiếtchế xã hội truyền thống và thiết chế xã hội hiện đại của các tộcngười, coi thiết chế xã hội là yếu tố tích cực, đan xen tác độngvào đời sống xã hội cộng đồng các tộc người Do vậy, cần tôntrọng, tạo điều kiện và cơ hội như nhau để các dân tộc cùng pháttriển, đồng thời khắc phục, loại trừ những yếu tố xã hội tiêu cực,lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của các cộng đồng dân tộc thiểusố

-Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: muốn có sự bình đẳng về kinh tế, chínhtrị, văn hoá - xã hội thì đặc biệt phải quan tâm đến tuyên truyền, giáo dụcnâng cao ý thức công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc:

“… Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bác bỏ hết những điều hủ tệ cũ, baonhiêu bất bình (sự không bình đẳng) trước sẽ sửa chữa đi… Chính phủ sẽgắng sức giúp đỡ cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:

a Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng

b Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho các dân tộc”1.Như vậy, để thực hiện sự công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, khắcphục sự khác biệt giữa các dân tộc, giữa miền ngược với miền xuôi phải xoá

bỏ các thành kiến hẹp hòi cũ, tăng cường sự đoàn kết giúp đỡ nhau giữa cácdân tộc; từ đó, khắc phục từng bước sự phát triển chênh lệch giữa các dân tộc,tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc còn ở trình độ lạc hậu bằng sự nỗ lựccủa chính mình cùng với sự giúp đỡ của các dân tộc anh em phát triển nhanhtrên con đường tiến bộ phồn vinh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phê phán những biểu hiện dân tộc lớn

1 Sdd, Tập 4, tr110 - 111.

Trang 25

xem thường dân tộc nhỏ hoặc tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cục bộ, tự ti dân tộc.

Để khẳng định sự công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc

đa số trên đất nước ta, Người nói: "Các dân tộc xoá bỏ xích mích do đế quốc

và phong kiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng vềquyền lợi và nghĩa vụ"1

Để phát triển kinh tế phải chú ý đến đặc điểm của từng vùng miền và có

sự phân bố lại dân cư Miền núi có nhiều thế mạnh lâm sản, cây ăn quả chănnuôi, khai khoáng nhưng lại kém về giao thông và trình độ văn hoá, dân cư lạiquá thưa thớt “Hiện nay, có hàng chục vạn đồng bào miền xuôi lên tham giaphát triển kinh tế miền núi Đồng bào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồngbào miền xuôi Và đồng bào miền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miềnnúi Đó là hai phía, là chính sách dân tộc của Đảng”2 Mọi người phải đoànkết, các dân tộc phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau để cùng phát triển, cùngtiến lên chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bất bìnhđẳng dân tộc có thể từ những nhân tố khách quan (sự chênh lệch quá lớn vềtrình độ phát triển do lịch sử để lại; do điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu không đồng đều giữa các vùng) và thường là từ những tác nhân chính trị - xãhội do lịch sử để lại và cả những thiếu sót bất cập trong việc đề ra và thựchiện những chính sách hiện hành

Ngày nay Nhà nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần định hướng xã hội chủ nghĩa thì sự bất bình đẳng giữa các tộc ngườitrong một quốc gia đa dân tộc không phải hoàn toàn bị thủ tiêu, mà nó có thểcòn tồn tại dưới những biểu hiện khác như: sự phân hoá giàu nghèo, sự kỳ thịtộc người, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc…

Do vậy, bình đẳng, công bằng, tôn trọng trong quan hệ dân tộc không chỉdựa trên tính pháp lý, mà còn phải được coi trọng về cả mặt tư tưởng nhận

1 Sdd, Tập 9, tr 587.

2 Sdd, Tập 11, tr 135.

Trang 26

thức chính trị, coi đó là nhu cầu phát triển khách quan của cả dân tộc đa số

và dân tộc thiểu số

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: muốn bình đẳng, đoàn kết, tương trợ

để cùng phát triển phải được bắt nguồn từ sự nối tiếp truyền thống tương thântương ái của dân tộc Việt Nam Truyền thống này đã được phát triển thànhchủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam:

Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Hay: Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người chung một nước phải thương nhau cùng.

Sự tương trợ hay tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc phải được thể hiệntrong phạm vi cả nước và trong phạm vi từng vùng dân tộc; thực hiện trên tất

cả các lĩnh vực bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, bằng sức người,sức của và cả việc làm trọn nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc và Nhà nước.Trên lĩnh vực này, sự giúp đỡ của Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quantrọng, thể hiện sự đầu tư tập trung có trọng điểm phù hợp với nhu cầuphát triển, phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc, tạođiều kiện thuận lợi để các tộc người thiểu số chậm phát triển vươn lên,tiến kịp trình độ phát triển chung của cả nước

Trên đất nước ta, sự công bằng, bình đẳng, hợp tác, tương trợ và tôn trọnggiúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển giữa các tộc người có mối quan hệ thốngnhất hữu cơ không tách rời nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia, chúng hỗ trợlẫn nhau để hướng tới mục tiêu cuối cùng là làm cho các dân tộc dù lớn haynhỏ sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc;cùng tiến bộ vững chắc và đạt tới sự công bằng, bình đẳng thực sự về mọimặt Do đó, không thể coi trọng mặt này, xem nhẹ mặt kia Muốn có sự côngbằng, bình đẳng giữa các tộc người thì không có con đường nào khác làcác tộc người phải đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ, tương trợ, tôn trọng lẫn

Trang 27

nhau; vượt qua khó khăn, từng bước xoá bỏ cách biệt về vật chất, tinhthần giữa các tộc người tiến tới trình độ phát triển chung, tương đốiđồng đều về mọi mặt Cơ sở quan trọng để thực hiện điều đó là: đườnglối, chính sách nhất quán của Đảng, pháp luật Nhà nước về vấn đề dântộc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để đảm bảo công bằng, bình đẳng, tương trợlẫn nhau giữa các dân tộc thì việc thực thi chính sách dân tộc phải đảm bảophát triển toàn diện đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc, tạođộng lực phát triển toàn diện vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số VớiChủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại thì vấn đề dân tộc và thực hiện tốt chínhsách: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, tôn trọng, kính trọng và tin cậytrong quan hệ dân tộc có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp cáchmạng của nước ta Đó cũng chính là chính sách để đảm bảo sự pháttriển bền vững của các dân tộc ở Việt Nam

1.2.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc

vµ chiến lược đại đoàn kết dân tộc

a - Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc

Như trên đã khẳng định: Việt Nam là một quốc gia thống nhất bao gồmnhiều dân tộc, hình thành sớm trong lịch sử Đó là một cộng đồng người đã

cố kết lâu đời với nhau trên lãnh thổ Việt Nam để cùng nhau đấu tranhchinh phục thiên nhiên và chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam

Nước ta có 54 thành phần dân tộc Có thành phần cư dân có mặt từ lâuđời, cũng có một số thành phần khác đến sau nhưng muộn nhất thì cũng quanhiều thế kỷ

Các thành phần dân tộc Việt Nam đã chung lưng, hợp lực, tạo lập nêntruyền thống đoàn kết, yêu thương gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, no đói có nhau,

Trang 28

sống chết cùng nhau Lịch sử hình thành và phát triển của các dân tộc ViệtNam ngày càng bồi đắp cho truyền thống quý báu đó Từ khi có Đảng, truyềnthống ấy được nhân lên gấp bội và trở thành sức mạnh vô địch nhấn chìm bè

lũ bán nước, cướp nước để đưa các dân tộc nước ta tiến lên con đường độc lập, tự

do và chủ nghĩa xã hội

Ngay từ lúc đi tìm đường cứu nước, trong tác phẩm “Bản án chế độ thựcdân Pháp”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước Việt Nam là mộtnước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục,chung một tiếng nói" 1 Năm 1946 trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam, Người căn dặn: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, GiaRai hay Ê đê, Xê Đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháuViệt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cónhau." 2

Các dân tộc ở nước ta dù đông người hay ít người nhưng dân tộc nào cũngđóng góp xứng đáng vào sự nghiệp dựng nước và bảo vệ Tổ quốc, cùng đoànkết gắn bó với nhau vì sự nghiệp chung Suốt trường kỳ lịch sử trong các thànhphần dân tộc trên đất nước Việt Nam chưa bao giờ xuất hiện chủ nghĩa dân tộchẹp hòi, không bao giờ có hiện tượng biệt lập mà xu thế tất yếu ngày càng đoànkết hoà hợp Nhân dân các dân tộc ta hiểu sâu sắc các bí quyết để vượt qua mọigian nan, thử thách nhiều khi có tính chất còn mất của giống nòi là tăng cườngkhối đại đoàn kết dân tộc "Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết" Đoàn kết làchiến thắng, là thành công Đó là bài học lớn nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam

ta mà bất cứ ai, bất cứ dân tộc nào nếu muốn tồn tại và phát triển đều phải ghinhớ, giữ gìn và phát huy Đoàn kết là di sản tinh thần vô cùng quý báu của tổtiên ta để lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy,nâng lên đỉnh cao rực rỡ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thànhcông, đại thành công”

1 Nguyễn Ái Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp Nxb Sự thật, Hà Nội 1975, tr.217.

2 Sđd Hà Nội 1995, Tập 4, tr.217.

Trang 29

Theo Hồ Chí Minh, xuất phát của việc nghiên cứu chính sách dân tộcchính là từ thực tiễn của cộng đồng đa dân tộc, đa tộc người ở nước ta Thựctiễn đó đòi hỏi phải xem xét vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trên cácbình diện lịch sử và hiện tại của dân tộc Việt Nam

Người còn chỉ rõ: giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là phải xuất phát từmục tiêu cách mạng, nhiệm vụ chiến lược cách mạng trong từng giai đoạnnhất định Theo Người, sẽ không thể giải quyết được vấn đề dân tộc một cáchđúng đắn và có hiệu quả nếu không căn cứ vào đường lối chung và nhiệm vụcách mạng đặt ra

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng một Nhà nước dân chủ,Nhà nước của dân, do dân, vì dân Người nói: "Chế độ ta là chế độ dân chủ,tức là tất cả đồng bào các dân tộc đều là người chủ nước nhà"1

Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách của Đảng và Nhà nướcta

Đảm bảo để ngày càng xây dựng và phát triển chế độ dân chủ, đảmbảo dân chủ thực tế cho tất cả mọi người dân

- Dân chủ về chính trị: đó là điều kiện tiên quyết để dân chủ trong tất cảcác lĩnh vực khác

- Dân chủ về kinh tế: là cơ sở của dân chủ, gốc quyết định của chế độ dânchủ để đảm bảo sự đoàn kết, tôn trọng giữa các dân tộc

- Dân chủ văn hoá xã hội: đây là chìa khoá để người dân hiểu dân chủ,đấu tranh cho dân chủ, thực hiện dân chủ, hưởng thụ dân chủ và thể hiện ởchỗ:

+ Bình đẳng về giữ gìn bản sắc văn hoá từng dân tộc

+ Thực hiện "đời sống mới", cải tạo phong tục tập quán lạc hậu, học tập

và thực hành văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc

1 Sdd Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1996, Toàn tập, tập 10, tr 326.

Trang 30

+ Tạo sự giao thoa và tiếp biến văn hoá.

+ Phát triển giáo dục, bởi vì theo Người "người mù chữ đứng ngoài chínhtrị"

+ Tạo điều kiện để chuyển giao và tiếp nhận khoa học kỹ thuật tiên tiến

Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều

là của dân, bao nhiêu quyền hành cũng thuộc về dân, quyền hành, lực lượng đều

ở trong dân Dân có quyền làm chủ, đồng thời có nghĩa vụ, trách nhiệm củangười chủ Không có dân tham gia thì Đảng và Chính phủ không có lực lượng.Không có Đảng và Chính phủ thì không có người đứng ra tổ chức, hướng dẫnhoạt động nhằm phát huy mọi tài trí và sáng kiến của nhân dân để phục vụ dân,chăm lo cuộc sống và phát triển sức dân Mọi đường lối, chủ trương và chínhsách đề ra chỉ cốt nhằm vào mục đích đó từ phát triển kinh tế - văn hoá đến củng

cố chế độ chính trị và phát triển xã hội lành mạch, tiến bộ, công bằng và vănminh, làm cho người dân được hưởng quyền dân chủ mà họ xứng đáng đượchưởng

b- Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết dân tộc

Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ miền núi ngày 01/9/1962, HồChí Minh đã khẳng định: " chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối vớimiền núi là rất đúng đắn Trong chính sách có hai điều quan trọng nhất là:Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào" 1

Vấn đề đại đoàn kết dân tộc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt rấtnhiều trong các bài nói và viết của Người Người coi thực hiện chính sách dântộc chính là đảm bảo thực sự cho đại đoàn kết dân tộc Do vậy, nó đã đượcquán triệt trong toàn bộ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta từ trướcđến nay mang một nội dung lý luận và thực tiễn sâu sắc Đó là sự vận dụngtrung thành và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn nước ta; đó cũng

là sự phát huy đến cao độ những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt

1 Sđd Tập 10, tr.168.

Trang 31

Đoàn kết là bản chất của nhân dân lao động nước ta, nó được phát huyđến cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh Do cuộc sống đòi hỏi con người đãmang sẵn trong mình tính tập thể, lao động và dựa vào thành quả lao độngchung mà sống - đó là đặc điểm chỉ có ở người lao động Cùng với sự pháttriển khổng lồ của lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản, sự tha hoá của conngười, chia rẽ con người cũng phát triển đến cực điểm Sự áp bức nô dịch conngười là hậu quả tất nhiên của mọi xã hội có bóc lột và áp bức giai cấp Sự ápbức của dân tộc này đối với dân tộc khác chẳng qua chỉ là sự thể hiện cái cănnguyên sâu xa đó Các nhà kinh điển của chủ nghĩa cộng sản khoa học cũng

khẳng định rằng: Một dân tộc đi áp bức một dân tộc khác thì bản thân dân

tộc đó cũng không có tự do Khẩu hiệu nổi tiếng của Mác-Ănghen nêu ra chỉ

đường cho dân tộc đấu tranh tự giải phóng "không xoá bỏ nạn người bóc lộtngười thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác sẽ bị xoá bỏ Khi nào sự đốikháng giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa, thì sự thù địch giữa cácdân tộc cũng đồng thời mất theo"1

Hồ Chí Minh đã phát triển tư tưởng nói trên, Người khẳng định: Đại đoànkết dân tộc là cội nguồn, là sức sống mãnh liệt của nhân dân ta, là bí quyếtthành công của dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước "Đồng bào taphải đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau, tăng gia sản xuất để mọi người đượccơm no áo ấm ”2 Người khẳng định, chỉ bằng sức mạnh đoàn kết toàn dânmới chiến thắng kẻ thù: "Cần phải đoàn kết, cần phải hợp tác cùng nhau xâydựng nhân dân, dân chủ chuyên chính để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiếnquốc thành công"3 Đó là bài học lớn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công giáodục cho toàn Đảng, toàn dân ta

Từ buổi đầu dựng nước cho tới ngày nay truyền thống đại đoàn kết toàndân tộc ngày càng được bồi đắp và phát huy: "Bây giờ chúng ta tất cả mọi dân

1 C Mác và Ăng-ghen tuyển tập, T1, Nxb Sự thật, H.1980 tr 565.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T7, Nxb.Chính trị Quốc gia, H.1996, Tr 166.

3 Sđd, tr.218.

Trang 32

tộc Kinh, Thái, Mông, Mèo, Mán, Xá đều là anh em ruột thịt Đồng bàophải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này Mỗi dân tộc có bản sắc riêng củamình nhưng tất cả các dân tộc đều gắn bó với nhau trong cộng đồng dân tộcViệt Nam.

Hồ Chí Minh khẳng định: người chủ tự nhiên và muôn thuở của đất nướcViệt Nam là dân tộc Việt Nam Dân tộc Việt Nam gồm nhiều dân tộc hợp lại;

có dân tộc đông người, có dân tộc ít người, có miền núi và miền xuôi Trongquá trình chung sống đã sớm hoà hợp, gắn bó các dân tộc đó với nhau trongmột cộng đồng thống nhất và góp phần làm phong phú thêm nền văn hoáchung Tuy trình độ phát triển có sự chênh lệch nhau, hoặc nhiều, hoặc ít là dođiều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử nhưng từ ngàn xưa các dân tộc đã biết đùmbọc nhau, đồng cam cộng khổ, đoàn kết nhất trí Bằng mồ hôi, xương máu củamình các dân tộc nước ta đã đoàn kết và cùng nhau xây đắp nên Tổ quốc Việt Namđộc lập, thống nhất và giàu đẹp

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: vấn đề đại đoàn kết toàn dân là nhiệm vụ

có tính chiến lược của cách mạng Việt Nam Trong thời kỳ cách mạng dân tộcdân chủ, đoàn kết dân tộc để cứu nước giành độc lập tự do Đoàn kết mọi lựclượng, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở khối côngnông liên minh do Đảng lãnh đạo Người khẳng định: " Đoàn kết là lựclượng mạnh nhất của chúng ta, chúng ta phải đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ" 1 và

"Đoàn kết chặt chẽ lực lượng trong nước và ngoài nước, chúng ta khắc phụcđược mọi khó khăn một cách thắng lợi" 2 Nếu đáp ứng được nguyện vọngcủa quần chúng cơ bản trong đồng bào các dân tộc chính là đáp ứng yêu cầu

tự do, dân chủ của nhân dân lao động Cần tăng cường khối đại đoàn kết toàndân tộc một cách vững chắc, tranh thủ được rộng rãi các tầng lớp trong đồngbào các dân tộc thì cách mạng thành công Đồng thời, đoàn kết cần đi liền vớigiáo dục tuyên truyền, đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết Hồ Chủ

1 Sđd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 7, tr 368.

2 Sđd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập7, tr 368.

Trang 33

tịch luôn nhắc nhở mọi người cần phải khắc phục nhược điểm trong việchoạch định chính sách, tuyên truyền chính sách và chấp hành chính sách.Trong cuộc đấu tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, Chủ tịch Hồ ChíMinh chỉ rõ: một trong những âm mưu phá hoại của chúng là: phá hoại khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, đó là một âm mưu hành động thâm độc quỷ quyệtnhất Do vậy, chúng ta phải đấu tranh lâu dài và gian khổ

Từ trước đến nay, các thế lực thù địch vẫn không ngừng phá hoại khối đạiđoàn kết dân tộc của chúng ta bằng nhiều thủ đoạn, kích động chia rẽ dân tộcnuôi dưỡng tư tưởng hẹp hòi nhằm chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết toàndân của cộng đồng dân tộc Việt Nam Kẻ thù tìm mọi mánh khoé khoét sâuvào khó khăn của chúng ta, mua chuộc cán bộ, kích động chia rẽ giữa quầnchúng và cán bộ, đặc biệt ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Chủ tịch HồChí Minh đã căn dặn phải: "Đoàn kết thành một khối như ruột thịt "1 và

"Đoàn kết rộng rãi và lâu dài, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố "2

Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, đoàn kết dân tộc có nội dung mới làđoàn kết để làm chủ tập thể, đoàn kết để cùng nhau xây dựng chế độ mới,đoàn kết cùng nhau xây dựng nền văn hoá mới và con người mới, thực hiệnbình đẳng mọi mặt giúp các dân tộc anh em trong nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: chủ nghĩa xã hội là nguyện vọngtha thiết của nhân dân các thành phần dân tộc Việt Nam ta Chỉ có chủ nghĩa

xã hội mới là sự đảm bảo vững chắc cho độc lập tự do của Tổ quốc, là sứcmạnh làm nên sự phát triển toàn diện nhất, nhanh chóng nhất, rực rỡ nhất, đạttới đỉnh cao nhất của cả dân tộc Việt Nam Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làmcho khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc hơn, sâu sắc hơnkhông có thể nào chia cắt được

Trong điều kiện mới, đại đoàn kết dân tộc phải đảm bảo được công bằng

xã hội Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về

1 Sđd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, tập 7, tr.543.

2 Sđd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nộ 1996, Toàn tập, tập 7, tr.438.

Trang 34

mọi mặt giữa các dân tộc, tạo điều kiện xoá bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình

độ kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc Chính sách đó chỉ mục tiêu cần đạt tới

và những điều kiện để thực hiện Theo Người, bình đẳng dân tộc chỉ có thểthực hiện đầy đủ và hoàn toàn khi đảm bảo thực sự bình đẳng về chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số Ngược lại, quyềnbình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc càng được củng cố thì các dân tộccàng phấn khởi, đoàn kết chặt chẽ để xây dựng chủ nghĩa xã hội

Hồ Chủ tịch luôn luôn căn dặn phải đặc biệt coi trọng công tác vùng cao

và vùng biên giới, nhắc nhở các ngành, các cấp có kế hoạch cụ thể, thiết thựcđẩy mạnh phong trào miền núi về các mặt kinh tế - văn hoá - xã hội nhằm cảithiện đời sống đồng bào; đó chính là đảm bảo sự đoàn kết, bình đẳng, tươngtrợ đồng bào các dân tộc là cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc.Tóm lại: Đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh lànhiệm vụ chiến lược của cách mạng Đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh, là điềukiện đảm bảo cho thành công Đại đoàn kết dân tộc sẽ đạt tới trình độ cao vàngày càng củng cố vững chắc trên cơ sở bình đẳng, tương trợ cùng phát triển.Ngày nay, Đảng ta tiếp nối quan điểm của Người "Luôn xác định vấn đề dântộc, công tác dân tộc và đại đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọngtrong cách mạng nước ta"1 và muốn đoàn kết thì nhất thiết phải đảm bảo bìnhđẳng, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, đó là vấn đề có tính nguyên tắctrong công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới

1.2.2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam

Nhân dân các dân tộc Việt Nam đã cùng chịu đựng số phận bị thực dânphong kiến thống trị gần một thế kỷ Vấn đề trước tiên đặt ra cho cách mạngViệt Nam là phải giành lấy độc lập cho dân tộc

Quyền tự quyết của từng dân tộc phụ thuộc vào quyền tự quyết của quốc

1 Văn kiện Hội nghị TW lần thứ 7, Khoá IX, NXB, Chính trị Quốc gia, H 2003, tr29.

Trang 35

gia dân tộc, thống nhất ở việc giành lấy chủ quyền quốc gia Nhưng giành độclập bằng con đường nào? Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

a- Cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam phải đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản

Với tầm nhìn của nhà chiến lược vĩ đại, Hồ Chí Minh khẳng định rằng:

Đấu tranh giải phóng dân tộc là tiền đề để đấu tranh giải phóng giai cấp

vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động, tức là giải phóng giai cấp vô sản gắn liền với giải phóng dân tộc - hai vấn đề này không tách rời nhau.

“Quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kếtlại để đánh đổ đế quốc và Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửabỏng” 1 Quyết định ưu tiên vấn đề độc lập dân tộc lên trên hết là hoàn toànđúng đắn, phù hợp điều kiện và đánh giá đúng mâu thuẫn cơ bản và chủ yếucủa xã hội Việt Nam lúc đó Độc lập chủ quyền là khát vọng cháy bỏng củamột quốc gia dân tộc có lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm, khôngkhuất phục trước kẻ thù Bởi lẽ, không có độc lập cho quốc gia dân tộc thìkhông có giai cấp nào, không tầng lớp xã hội Việt Nam nào có độc lập tự do.Người chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại và đem lại sự tự

do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no cho mọi người Độc lập dân tộc luôn gắnvới chủ nghĩa xã hội; là con đường giải quyết triệt để mâu thuẫn trong xã hộiViệt Nam Nếu chưa có độc lập, tự chủ thì các tầng lớp nhân dân Việt Nam phảiđứng lên đấu tranh cho đến khi nước nhà có độc lập tự do

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng giải phóng dân tộc là bộphận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới Cáchmạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thìmới giành được thắng lợi hoàn toàn”2

b Kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong

1 Sdd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 3, tr 198.

2 Sdd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 12, tr 304 - 305.

Trang 36

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấpmột cách biện chứng Người chỉ rõ: mối quan hệ đó là nguyên tắc chiến lượccủa cách mạng, là nhân tố đảm bảo cho cách mạng Việt Nam thắng lợi Đảngphải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Chủ nghĩa yêu nướcViệt Nam được Hồ Chí Minh khắc phục những hạn chế của lịch sử và pháttriển lên tầm cao mới Giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ độc lập để tậphợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đoàn kết dân tộc đứng trong hàng ngũcách mạng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc với những mục tiêu cao

cả là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Trong cách mạng mỗi nước cũng như quan hệ quốc tế không phải lúc nàolợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế cũng phù hợp, thống nhất vớinhau Phép biện chứng là ở chỗ: không thể lấy lợi ích quốc tế làm tan biến lợiích dân tộc và giai cấp; cũng như không thể lấy lợi ích dân tộc, giai cấp đốilập với lợi ích quốc tế Phải dựa vào từng điều kiện cụ thể để giải quyết: “ Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản trong cách mạnggiải phóng dân tộc cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa”1 Do vậy, cần phảichú trọng phát huy truyền thống yêu nước đoàn kết các dân tộc trên lậptrường giai cấp vô sản, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đoànkết tất cả các giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, mọi tổ chức, cánhân trên nền tảng liên minh công nông trong cuộc đấu tranh giành độc lậpdân tộc

c- Bình đẳng dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người

Hồ Chí Minh đã từng nói: Nếu nước độc lập mà dân không được hạnhphúc, tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì “Chủ nghĩa xã hội là tất cảmọi người, các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung

1 Sdd NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 12, tr 305.

Trang 37

sướng”1 Điều đó có ý nghĩa là quyền bình đẳng dân tộc chỉ có thể được thựchiện khi dân tộc được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn tự do, ấm no,hạnh phúc Theo Hồ Chí Minh, nước ta là nước gồm nhiều dân tộc, quyềnbình đẳng các dân tộc thực chất là quyền bình đẳng con người, chúng ta phảithi đua diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Tổ quốc sẽ thống nhất độclập hoàn toàn, chúng ta thực hiện được: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dânsinh hạnh phúc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bình đẳng dân tộc gắn bó với sự đoàn kết,tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Người cho rằng, đất nước ta gồmnhiều dân tộc cùng sinh sống; tất cả các dân tộc được bình đẳng, tất cả nhưanh em trong một nhà, không có sự phân chia nòi giống, tiếng nói

Các dân tộc đều có quyền bình đẳng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, vănhoá… Chính phủ sẽ giúp đỡ mọi mặt cho đồng bào các dân tộc Các dân tộcphải đoàn kết, phải tương trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau Người kêu gọi cácdân tộc sống trên cõi Việt Nam phải thương yêu nhau, kính trọng nhau, giúp

đỡ nhau: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta

là không bao giờ giảm bớt Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vữngquyền tự do, độc lập của chúng ta”1 Người luôn luôn căn dặn tránh: tưtưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc

1.2.2.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế - văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số

Phát triển kinh tế - văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số được Hồ Chí Minhđặc biệt coi trọng và coi đó là một bộ phận hợp thành của toàn bộ công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội Tư tưởng xuyên suốt của Người về xây dựng vàphát triển miền núi là làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bàocác dân tộc thiểu số được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi vềkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

1 Sđd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 10, tr 317.

1 Sđd Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 4, tr.217-218.

Trang 38

-Trên cơ sở xem xét cụ thể tình hình, đánh giá thực trạng của miền núi về tài nguyên, cư dân, con người và xã hội trong tiến trình lịch sử, Hồ Chí Minh đã chỉ

rõ vị trí, vai trò và tiềm năng của miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

+ Về tiềm năng kinh tế

Miền núi nước ta có nguồn tài nguyên rất phong phú, đó là "rừng vàng",

"rừng tiền" của cả nước, đồng thời cũng là khu vực quan trọng để mở mangnông nghiệp và công nghiệp Thế mạnh đó là khả năng đất đai canh tác (trồnghoa màu, cây lương thực, cây công nghiệp, trồng rừng ); khả năng chănnuôi; khả năng xây dựng những trung tâm công nghiệp như: khoáng sản, điệnlực, luyện kim, chế biến nông sản và lâm sản Theo Người, các sản phẩm củarừng có đủ loại có thể đổi lấy nhiều máy móc, hàng hoá, còn các loại quặng

có thể xây dựng công nghiệp để phát triển kinh tế

+ Vấn đề cư dân ở vùng dân tộc thiểu số

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của đồng bào các dân tộcthiểu số trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Người nhận thức đúng đắn

và sâu sắc hơn ai hết về các dân tộc thiểu số ở nước ta không những có truyềnthống đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn có truyền thống cần cù, thôngminh, sáng tạo Bác nhận định: Con người và truyền thống lịch sử, văn hoáchính là yếu tố quan trọng hàng đầu, vừa là mục đích, vừa là động lực thúcđẩy các quá trình thúc đẩy kinh tế - xã hội ở miền núi nước ta

+ Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, vùng cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số

Người chỉ rõ: "miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối vớiquốc phòng, đối với kinh tế "1 Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta sốngchủ yếu dọc theo tuyến biến giới Việt Nam với các nước; là cửa ngõ và đầumối để phát triển kinh tế, giao lưu và tiếp biến văn hoá, xây dựng tình hữunghị và hợp tác về mọi mặt Lợi thế này nếu tận dụng triệt để và hợp lý sẽ

1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội 1984, tr 449-420.

Trang 39

thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế, văn hoá nhằm cải thiện đờisống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số

Như vậy, trong lịch sử cũng như trong hiện tại, miền núi nước ta có vị tríquan trọng và có những điều kiện thuận lợi làm cơ sở vững chắc cho việc pháttriển kinh tế, văn hoá Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở chúng

ta phải quan tâm sát sao đến những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số

Do điều kiện tự nhiên, địa lý cách trở về giao thông liên lạc, lại thêm sự ápbức bóc lột của bọn đế quốc và phong kiến nên trình độ phát triển kinh tế- vănhoá của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, vẫn tồn tại những

hủ tục, mê tín dị đoan… Người nói rằng: “Ngày nay đồng bào rẻo cao được tự

do, bình đẳng không bị áp bức bóc lột như trước kia Nhưng đời sống vật chất

và văn hoá chưa được nâng cao mấy"1 Theo Người, làm cách mạng là giànhđộc lập dân tộc, mà độc lập rồi mà dân cứ đói rét, chỉ một bộ phận ngườiđược hưởng hạnh phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì Bởi vậy, "đồng bào,cán bộ cần chú ý giúp đỡ đồng bào rẻo cao vì ở đấy làm ăn khó nhọc hơn, vănhoá cũng chậm phát triển hơn"2 và Người yêu cầu Đảng và Chính phủ phải cóchính sách phát triển kinh tế - văn hoá, tìm ra những biện pháp và bước đithích hợp để phát triển toàn diện, nhằm đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, đểđồng bào ai cũng được học hành, ai cũng được làm chủ đất nước Vận dụng

nó trong từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của miền núi, Người cho rằng :

"Muốn phát triển kinh tế - văn hoá miền núi, ngoài việc xây dựng phát triểnphải tiến hành cải tạo miền núi, cải tạo một cách toàn diện trên các lĩnh vựckinh tế - văn hoá nhằm "đánh thắng giặc nghèo khổ, lạc hậu" làm thay đổi cơbản bộ mặt đất nước và con người miền núi

- Nhiệm vụ và yêu cầu phát triển kinh tế - văn hoá ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số

Phát triển kinh tế - văn hoá ở miền núi phải nằm trong tổng thể quy hoạch

1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr 323.

2 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tr 239.

Trang 40

của kinh tế cả nước Nó có yêu cầu chung và cụ thể trong từng thời kỳ Nhưngvới những đặc điểm của miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở nước ta, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã chỉ ra yêu cầu chung của phát triển kinh tế - văn hoá là: tăngcường đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào Theo Người, phải lấy nôngnghiệp làm khâu đột phá tạo điều kiện và tiền đề phát triển công nghiệp hoásau này Trong nông nghiệp cần phải tiến hành đồng bộ, kết hợp giữa cáckhâu phát triển hợp tác xã, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Ngườinhận định: " Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm làm cho đồng bào địaphương khá hơn cả về vật chất lẫn tinh thần Sản xuất phải toàn diện"1 Tuỳvào điều kiện của từng địa phương, nền nông nghiệp miền núi phải được tổchức trên cơ sở phản ánh đúng đặc thù, trình độ canh tác, tập quán sản xuất

mà phát triển cây lương thực, cây ăn quả hay cây công nghiệp

Trong quá trình xây dựng phát triển nền kinh tế miền núi, vùng đồng bàodân tộc thiểu số, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc cải tiến và áp dụngkhoa học kỹ thuật vào các ngành nông, lâm nghiệp, cải tiến công cụ, chốngxói mòn Đẩy mạnh ngành chăn nuôi, nghề rừng và phát triển cây côngnghiệp Kết hợp chặt chẽ công nghiệp địa phương, thủ công nghiệp và sảnxuất chế biến

Mặt khác, Người nhấn mạnh đến việc phát triển giao thông, mở mangđường xá đến từng bản làng các dân tộc thiểu số sinh sống Bởi miền núinước ta do địa hình hiểm trở từ ngàn xưa, việc đi lại, giao thông gặp muônvàn khó khăn Để nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần cóđường giao thông thuận lợi Bên cạnh đó, phải xây dựng được những cơ sở y

tế, mạng điện đến cho đồng bào miền núi Điều đó sẽ mang lại hiệu quả pháttriển kinh tế, đáp ứng những vấn đề xã hội, phát triển văn hoá, nâng cao dântrí

Giải quyết được những vấn đề trên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số lànhiệm vụ khó khăn, lâu dài nhưng kết quả đạt được như thế nào chính là

1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tr.418.

Ngày đăng: 04/11/2020, 13:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w