Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc, giữa đức tin với lòng yêu nước

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 158 - 163)

Chương 1 CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

1.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc, giữa đức tin với lòng yêu nước

Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc cũng là quốc gia đa tôn giáo. Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành, du nhập, số lợng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, vị trí vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, nhng mọi tôn giáo

đều tồn tại trong lòng dân tộc Việt Nam. Vì vâỵ, lợi ích của từng tôn giáo gắn chặt với lợi ích của cả cộng đồng dân tộc.

Đề cập tới mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc, tháng 1 năm 1946, khi nớc ta đang đứng trớc nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lợc lần nữa, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nớc có

độc lập thì dân mới thực sự tự do tín ngỡng. Nớc không độc lập thì tôn giáo không đợc tự do, nên chúng ta phải làm cho n- ớc độc lập đã"1 . Và “Nớc có độc lập thì đạo Phật mới dễ mở mang”2 .

Giữa năm 1946, trong thời gian thăm nớc Pháp khi nói chuyện cùng một vị linh mục ngời Việt ở Pháp, Ngời thân tình tâm sự: "Tôi phải nói thật với ông rằng trong Giáo hội Công giáo tại Việt Nam cha có độc lập. Trên toàn quốc có 15

địa phận, mà chỉ có hai địa phận do Giám mục ngời Việt coi sóc, còn tất cả các địa phận khác đều ở trong tay ngời nớc ngoài. Tôi nghĩ rằng những linh mục trẻ tuổi nh ông phải hành động một trật với chúng tôi , là đòi cho đợc sự độc lập của các địa phận Việt Nam"3 .

ở một quốc gia đa tôn giáo nh Việt Nam, dù là trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hay trong quá trình xây dựng CNXH thì vấn đề dân tộc và tôn giáo vẫn có mối quan hệ rất chặt chẽ. Trong mối quan hệ ấy, vấn đề dân tộc

1 Báo Cứu quốc, ngày 14-1-1946

2 HCM, toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, tập 5, tr.197

3 Trần Tam Tỉnh , S đ d , tr. 78

đựợc đặt lên hàng u tiên, tuy nhiên Hồ Chí Minh không bao giờ xem nhẹ vấn đề tôn giáo . Ngời giải quyết thoả đáng mối quan hệ này đã tạo cơ sở để về sau giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hớng gắn bó với dân tộc nh : “đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

(Phật giáo); “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công giáo);

“sống phúc âm phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” (Tin lành); “nớc vinh, đạo sáng” (đạo Cao đài),

“chấn hng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nớc góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Phật giáo Hoà hảo).

Xuất phát từ thực tế Việt Nam với luận đề “Ngời An Nam không có tôn giáo theo cách nghĩ của châu Âu”, rõ ràng Hồ Chí Minh cho ta một nhận thức về tâm thức tôn giáo của con ngời Việt Nam, ở đó không có ranh giới rõ rệt giữa đạo và

đời, giữa phụng sự Tổ quốc và phụng sự Đức Chúa. Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc đây đợc xét trên giác độ của một nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Đất nớc ta hiện nay có 6 tôn giáo lớn, nhng bao trùm lên lại là toàn dân Việt Nam thờ cúng ông bà tổ tiên, cùng thờ một

đức vua chung là Vua Hùng có công dựng nớc. Truyền thống ngời Việt là “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Mà tất cả chúng ta

đều là con cháu Vua Hùng. Vì vậy “phải cùng nhau giữ lấy n- íc”.

Thực tế Việt Nam cho thấy rằng giải phóng đợc dân tộc thì sẽ có tất cả, không giải phóng đợc dân tộc thì không đ- ợc gì hết. Vì vậy là ngời Việt Nam chân chính yêu nớc phải biết và can đảm đặt tất cả các vấn đề khác trong lợi ích

chung của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc theo con đờng cách mạng vô sản, tức là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy ở Việt Nam, theo quan

điểm của Hồ Chí Minh, khi nào Tổ quốc đợc độc lập, dân giàu, nớc mạnh thì các tín đồ mới đợc tự mình làm chủ tôn giáo của mình. Cái chung là quốc gia, là nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc. Mời ngày sau khi tuyên bố độc lập, trong một buổi tiếp các đại biểu tôn giáo (Gia tô giáo, đạo Phật,

đạo Cao đài), Ngời nói: “Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới

đợc giải phóng. Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi ngời đều là công dân của nớc Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc” 1.

Là tín đồ thì có Đức Phật, Đức Chúa và các Đấng tối cao.

Nhng những tôn giáo đó khi vào nớc ta lại đợc thực hiện bằng một con đờng đặc biệt, qua “bàn lọc” chủ nghĩa yêu nớc Việt Nam. Cho nên ở Việt Nam quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc là gắn đức tin tôn giáo với lòng yêu nớc, yêu Tổ quốc.

Theo Hồ Chí Minh, “một ngời chân chính yêu nớc đồng thời cũng là những chân chính tín đồ của Đức Giêsu. Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài ngời đợc tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lơng cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu”2.

Tôn giáo với dân tộc bao giờ cũng đợc Hồ Chí Minh xem xét và giải quyết trên tinh thần của khối đại đoàn kết toàn dân. Lúc nào khối đại đoàn kết đó đợc giữ vững thì chúng ta giành đợc độc lập tự do; khi nào mất đoàn kết thì bị kẻ

1 Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, Hà Nội, 1993, T3, tr.15

2 Báo Cứu quốc, 18-10-1945

thù xâm lấn. Nớc có độc lập thì tín ngỡng mới đợc tự do, nên mọi ngời phải đấu tranh giành độc lập cho nớc nhà trớc đã.

Tôn giáo trờng tồn nh dân tộc và còn tồn tại lâu dài. Tôn giáo chỉ có thể khẳng định đợc mình khi sống giữa lòng dân tộc và dân tộc trên con đờng phát triển phải biết khai thác, chắt lọc những giá trị tích cực của các tôn giáo.

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến mối quan hệ tôn giáo với dân tộc, nhất là khi đất nớc còn đắm chìm trong đêm dài nô lệ, đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngời nêu mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc giản dị ,dễ hiểu nhng rất độc đáo và sâu sắc. Ngời nêu: Kính Chuá gắn liền với yêu nớc, phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc, nớc có vinh thì đạo mới sáng, nớc có độc lập thì tín ngỡng mới đợc tự do.

Nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh, khi gửi th cho đồng bào Công giáo, cuối th Ngời còn viết : “Thợng đế và Tổ quốc muôn năm” 1.

Theo Hồ Chí Minh, đối với ngời có tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nớc không mâu thuẫn . Một ngời dân Việt Nam có thể vừa là một ngời dân yêu nớc đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính, cũng nh những kẻ chống lại dân tộc, đồng thời cũng chính là những kẻ phản Chuá.

Chúng không chỉ là “Việt gian mà còn là giáo gian”, là những kẻ" phản Chúa , phản dân, phản nớc". Cũng nh Ngô

Đình Diệm là ngời Công giáo, cũng giống nh Giu đa là ngời Công giáo. Ngô Đình Diệm đã "lợi dụng danh Chúa để làm ô danh Chúa, lợi dụng đồng bào để giết hại đồng bào". Trong khi đó có bao nhiêu ngời Công giáo làm những việc ích nớc lợi dân. Hồ Chí Minh yêu cầu ngời Công giáo tốt phải là ngời

công dân tốt, kính Chúa và yêu nớc vừa là trách nhiệm công dân vừa là bổn phận dân Chúa.

Chương 2

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 158 - 163)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w