Quản lý hoạt động tôn giáo

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 193 - 200)

Chương 3 NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG

3.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

3.2.2. Quản lý hoạt động tôn giáo

- Một là, đăng ký hoạt động tôn giáo hàng năm của tổ chức tôn giáo cơ sở (Điều 24 - 25 Nghị định số 92)

Nghị định số 92 cũng qui định việc đăng ký hoạt

động tôn giáo hàng năm tại của các tôn giáo cơ sở, cụ thể nh sau:

- Hàng năm trớc ngày 15 tháng 10, ngời phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm gửi bản đăng ký hoạt

động tôn giáo sẽ diễn ra vào năm sau tại cơ sở đó đến UBND cấp xã.

- Nội dung bản đăng ký nêu rõ ngời tổ chức, chủ trì

hoạt động, dự kiến thành phần, nội dung hoạt động, thời gian, địa điểm diễn ra hoạt động.

- Sau 15 ngày kể từ ngày nộp bản đăng ký hợp lệ, nếu UBND cấp xã không có ý kiến khác, thì tổ chức tôn giáo cơ

sở đợc thực hiện hoạt động tôn giáo theo nội dung đã đăng ký.

Ngoài các chơng trình đã đợc đăng ký, tại các tổ chức tôn giáo cơ sở còn thờng xuyên diễn ra những hoạt động tôn giáo mới phát sinh do nhu cầu của tổ chức tôn giáo hoặc du nhu cầu tôn giáo của một cộng đồng tín đồ nhất định. Đối với những loại hoạt động này đợc qui định nh sau:

- Hoạt động tôn giáo có sự tham gia của tín đồ ngoài huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc ngoài tỉnh, tổ chức tôn giáo cơ sở phải đợc UBND cấp tỉnh nơi diễn ra hoạt động tôn giáo chấp thuận;

- Hoạt động tôn giáo có sự tham gia của tín đồ trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tổ chức tôn giáo cơ sở phải đợc UBND cấp huyện nơi diễn ra hoạt động tôn giáo chấp thuận.

Các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến cơ quan nhà nớc cs thẩm quyền quy định tại

điểm a và b khoản 1 qui định. Trong văn bản đề nghị phải chỉ rõ tên hoạt động tôn giáo, ngời tổ chức, dự kiến số lợng ngời tham dự, nội dung hoạt động, thời gian, địa điểm và các điều kiện đảm bảo... Sau 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nớc có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho tổ chức tôn giáo, nếu không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

- Hai là, đăng ký ngời vào tu (Điều 26 Nghị định sè 92)

Việc nhận ngời vào tu, đối với tất cả các tôn giáo, là rất cần thiết cho việc tăng cờng đội ngũ làm tôn giáo chuyện nghiệp nên đợc các tổ chức tôn giáo rất quan tâm. Đến nay, các qui định trong pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo của nớc ta rất thông thoáng. Các tổ chức tôn giáo chỉ phải đăng ký danh sách những ngời muốn vào tu với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tôn giáo trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận ngời vào tu. Hồ sơ đăng ký ngời vào tu chỉ còn những loại giấy tờ sau:

a) Danh sách ngời vào tu;

b) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của UBND cấp xã nơi ngời vào tu có hộ khẩu thờng trú;

c) ý kiến bằng văn bản của cha mẹ hoặc ngời giám hộ (với ngời cha thành niên vào tu).

Nh vậy, rõ ràng là việc nhận ngời vào tu của các tổ chức tôn giáo đã dễ dàng và thuận tiện hơn trớc rất nhiều.

- Ba là, Hội nghị, Đại hội của các tổ chức tôn giáo (Điều 27- 28- 29 Nghị định số 92)

Tổ chức tôn giáo cơ sở tổ chức hội nghị thờng niên, đại hội có trách nhiệm gửi hồ sơ đến UBND cấp huyện nơi diễn ra hội nghị, đại hội.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lợng ngời tham dự, nội dung, chơng trình, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị, đại hội;

b) Báo cáo hoạt động của tổ chức tôn giáo cơ sở.

3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận đợc hồ sơ hợp lệ, UBND cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, tr- ờng hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Đối với Hội nghị, đại hội cấp trung ơng hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo:

+ Tổ chức tôn giáo tổ chức hội nghị thờng niên, đại hội cấp trung ơng hoặc toàn đạo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ban Tôn giáo Chính phủ.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lợng ngời tham dự, nội dung, chơng trình, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị, đại hội;

b) ý kiến bằng văn bản của UBND cấp tỉnh nơi dự kiến tổ chức hội nghị, đại hội;

c) Báo cáo hoạt động của tổ chức tôn giáo;

d) Hiến chơng, điều lệ hoặc hiến chơng, điều lệ sửa

đổi (nếu có).

3. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đợc hồ sơ

hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nớc đối với tôn giáo cấp Trung -

ơng có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trờng hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Ngoài hai trờng hợp nêu trên, các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến UBND cấp tỉnh nơi diễn ra hội nghị, đại hội.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ tên tổ chức tôn giáo đứng ra tổ chức, lý do tổ chức hội nghị, đại hội, dự kiến thành phần, số lợng ngời tham dự, nội dung chơng

trình, thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức và các điều kiện bảo đảm khác;

b) Báo cáo hoạt động của tổ chức tôn giáo.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đợc hồ sơ hợp lệ, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trờng hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

- Bốn là, các cuộc lễ của tổ chức tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo và việc giảng đạo, truyền đạo của chức sắc, nhà tu hành ngoài cơ sở tôn giáo (Điều 31- 32 Nghị định số 92)

Đây là những dạng hoạt động tôn giáo có ảnh hởng rất lớn đối với đời sống xã hội tại những nơi diễn ra các sự kiện tôn giáo nêu trên, đặc biệt là đối với trật tự xã hội và sự tác

động của các sự kiện đó đối với tín đồ cũng nh những ngời không phải là tín đồ của các tôn giáo đó. Chính vì vậy pháp luật nớc ta qui định rất chặt chẽ những hoạt động này.

Đối với việc tổ chức các lễ hội tôn giáo diễn ra ngoài cơ

sở tôn giáo có sự tham gia của tín đồ trong huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thì các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Nếu tổ chức lễ hội tôn giáo có sự tham gia của tín đồ ở nhiều huyện, quận, thị xã hoặc từ nhiều tỉnh, thành phố Trung ơng, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị và gửi tới Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh theo qui định tại Điều 25 Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo. Văn bản

đề nghị nêu rõ tên cuộc lễ, ngời chủ trì, nội dung, chơng trình, thời gian, địa điểm thực hiện, quy mô, thành phần tham dù cuéc lÔ.

Trong thời hạn 10 ngày (đối với các trờng hợp thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện) và 15 ngày (đối với những trờng hợp thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) kể từ ngày nhận đợc hồ sơ hợp lệ, các cơ quan trên có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với các cuộc lễ trên, trờng hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Đối với việc giảng đạo, nhà truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo: các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến UBND cấp huyện nơi dự kiến giảng đạo, truyền đạo.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ lý do thực hiện giảng đạo, truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo, nội dung, chơng trình, thời gian, địa điểm thực hiện, ngời tổ chức, thành phÇn tham dù;

b) ý kiến bằng văn bản của tổ chức tôn giáo trực thuộc hoặc tổ chức tôn giáo trực tiếp quản lý chức sắc, nhà tu hành;

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đợc hồ sơ hợp lệ, UBND cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, tr- ờng hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

- Năm là, việc quản lý đất đai, cơ sở thờ tự và việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình kiến trúc tôn giáo (Điều 4, 26, 27, 28, 29, 30, 31 Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo ( Điều 34- 35 Nghị định số 92)

Đây là vấn đề phức tạp và dễ làm phát sinh nhiều khiếu kiện nhất trong hoạt động tôn giáo hiện nay, ví dụ nh các vụ ở Trà Cổ (Đồng Nai), Hoà Khánh (Đà Nẵng), Cầu Rầm (Nghệ An)

…. Về nguyên tắc, các có sở tôn giáo đều đợc nhà nớc bảo hộ,

nhng do vấn đề lịch sử để lại, các cơ quan quản lý đất đai và cơ quan quản lý tôn giáo đang phải giải quyết một khối lợng công việc khá nặng nề nhằm, một mặt đảm bảo nhu cầu về cơ sở vật chất cho các tôn giáo, mặt khác đảm bảo đúng chính sách đất đai của nhà nớc ta nói chung.

Sau khi Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo năm 2004 ra đời, cho đến nay, nhà nớc ta vẫn cha ban hành một văn bản hớng dẫn nào về vấn đề đất đai của các tổ chức tôn giáo mà chỉ có những qui định về việc xây mới và việc cải tạo, nâng cấp công trình kiến trúc tôn giáo tại các Điều 34 và 35 của Nghị định số 92. Do đó việc giải quyết vấn đề đất

đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo vẫn theo qui định cũ.

Các văn bản trực tiếp liên quan đến vấn đề đất đai của các tôn giáo gồm: Điều 51 Luật Đất đai ngày 14/7/1993, Luật sửa đổi và bổ sung một số điều khoản của Luật Đất

đai ngày 02/12/1999; Thông t liên tịch giữa Tổng cục Địa chính và Ban Tôn giáo của Chính phủ ngày 30/10/2000 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích cơ sở tôn giáo đang sử dụng... Theo đó, cơ sở tôn giáo đợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cử ngời đại diện hợp pháp chịu trách nhiệm trớc Nhà nớc về việc sử dụng đất của cơ sở tôn giáo tại địa phơng.

- Các cơ sở tôn giáo sử dụng đất mà đang có tranh chấp chỉ đợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã giải quyết xong tranh chấp;

- Đối với đất mà cơ sở tôn giáo đang sử dụng do nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc thuê đất không phù hợp với pháp luật đất đai phải đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 193 - 200)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w