Chương 1 CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
1.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
T tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lơng giáo, đoàn kết các tôn giáo với nhau nằm trong chiến lợc đại đoàn kết dân tộc của Ngời. Đoàn kết theo t tởng Hồ Chí Minh là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo... Đoàn kết là một chiến lợc lâu dài chứ không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời. Năm 1955, phát biểu trong hội nghị Mặt trận Liên Việt, Ngời khẳng
định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết
để xây dựng nớc nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ”1. Đoàn kết là một t tởng lớn, bao trùm của Hồ Chí Minh, chính nhờ vậy mà Ngời đã quy tụ, tập hợp đợc toàn dân tham gia kháng chiến và kiến quốc thắng lợi. Trong đó, đoàn kết giữa những ngời cộng sản với những ngời có tín ngỡng tôn giáo, giữa những ngời có tín ngỡng, tôn giáo khác nhau và giữa những ngời có tín ngỡng với những ngời không có tín ng- ỡng là một bộ phận quan trọng trong t tởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.
- Cơ sở của t tởng đoàn kết lơng giáo ở Hồ Chí Minh
T tởng đoàn kết lơng giáo ở Hồ Chí Minh đợc hình thành trên cơ sở sau đây:
Một là, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của d©n téc.
Có thể thấy, t tởng đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh đợc hình thành trên những cơ sở kế thừa tinh hoa của truyền thống đoàn kết toàn dân trong lịch sử dân tộc Việt Nam .
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc. Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải
đối mặt với thiên tai, định họa. Vì sự sinh tồn và phát triển, ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, ông cha ta đã
thờng xuyên phải đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chiến
đấu chống ngoại xâm để dựng nớc và giữ nớc. Chính điều
đó đã sớm cố kết mọi ngời lại với nhau, hun đúc thành một truyền thống quý báu: “Nhân dân ta có truyền thống yêu n- ớc, thơng nòi, đoàn kết trong quá trình dựng nớc và giữ n- íc”1.
Truyền thống quý báu đó đã thấm sâu và kết tinh trong mỗi con ngời Việt Nam mà Hồ Chí Minh là hiện thân.
Từ lịch sử dân tộc và thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã
rút ra một bài học là: “Sử ta đã dạy cho ta bài học này: lúc nào dân ta đoàn kết muôn ngời nh một thì nớc ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nớc ngời x©m lÊn”2.
Hai là, vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng trong chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng t tởng cho chiến lợc đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộc của Hồ Chí Minh.
1 Văn kiện Hội nghị lần thứ bẩy BCH Trung ơng khoá IX, Nxb CTQG, H., 2003, tr.10
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.,1995, t3, tr.217
Từ sự nhận thức sâu sắc về vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng của học thuyết Mác-Lênin, Ngời
đã chỉ ra rằng: “Lực lợng toàn dân là lực lợng vĩ đại nhất.
Không ai chiến thắng đợc lực lợng đó”1. Đoàn kết toàn dân là yếu tố cơ bản đa tới mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết;Thành công, thành công, đại thành công” là kết luận có ý nghĩa lớn lao trong mọi thời đại.
Ba là, nhiệm vụ nặng nề của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là cơ sở thực tiễn hình thành t tởng đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh.
Là một ngời suốt đời phấn đấu hy sinh cho độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, Hồ Chí Minh luôn ấp ủ trong mình mơ ớc, niềm khát vọng là làm sao cho đất nớc ta
đợc giải phóng, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đợc học hành. Độc lập dân tộc đã khó, xây dựng CNXH còn khó khăn hơn. Ngời cho rằng, độc lập rồi mà dân vẫn cứ
đói, vẫn cứ rét thì thứ độc lập đó chẳng làm gì. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vĩ đại cha hề có tiền lệ lịch sử trong nớc và quốc tế. Thực hiện đợc khát vọng đó là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao, gian khổ và nặng nề. Nhiệm vụ ấy là trách nhiệm chung của dân của nớc và cũng chỉ hoàn thành khi hội tụ đợc sức mạnh của toàn dân.
Nhiệm vụ nặng nề của sự nghiệp cách mạng vừa là cơ
sở vừa là điều kiện tạo nên t tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết nói chung và đoàn kết lơng giáo nói riêng.
Bốn là, chống âm mu chia rẽ lơng giáo của kẻ thù. Chia
để trị vốn là âm mu của các thế lực thực dân, đế quốc.
Thực dân, phong kiến âm mu chia rẽ, phá với khối đoàn kết dân tộc để dễ bề thôn tính và nô dịch dân tộc Việt Nam.
Vì vậy, đoàn kết lơng giáo cũng nhằm chống lại âm mu thâm độc đó.
Mục tiêu đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộc của Hồ Chí Minh là nhằm đạt ớc vọng mà cả cuộc đời Ngời hy sinh phấn
đấu để thực hiện, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng con ngời thoát khỏi sự nô dịch, áp bức, bất công.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vì vậy vấn đề
đặt ra không chỉ có đoàn kết giữa ngời có đạo và không có
đạo mà còn cần đoàn kết đồng bào có tín ngỡng, tôn giáo khác nhau vì mục tiêu chung của dân tộc. Đây là một nội dung quan trọng trong t tởng Hồ Chí Minh về chiến lợc đại
đoàn kết dân tộc. Ngời cho rằng: dới chế độ thực dân phong kiến, đồng bào các tôn giáo đều bị áp bức, bóc lột nặng nề, khi Tổ quốc bị ngoại bang đô hộ thì các tôn giáo cũng không
đợc tự do. Vì vậy, đồng bào các tôn giáo cần đoàn kết lại và
đoàn kết với toàn dân đấu tranh mu giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho tôn giáo. Quan điểm đó đã đợc Hồ Chí Minh nêu lên từ những năm 20 của thế kỉ XX, khi Ngời còn bôn ba hải ngoại để tìm đờng cứu nớc, cứu dân.
Trong tác phẩm “Đờng Cách Mệnh”, Hồ Chủ tịch viết:
“Công hội chú trọng mặt kinh tế hơn. Đảng chú trọng mặt chính trị hơn. Ai là thợ thuyền thì đợc vào hội, dù tin Phật,
tin đạo, tin cộng sản, tin vô Chính phủ, tin gì cũng mặc, miễn là theo đúng quy tắc hội là đợc”1.
Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 13 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã có cuộc họp mặt với đại biểu các tôn giáo nh Phật giáo, Công giáo, Cao Đài tại thủ đô Hà Nội, Ngời nói: “Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới đuợc giải phóng. Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi ngời đều là công dân của nớc Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc”2. Ngời kêu gọi các tôn giáo hãy dẹp bỏ hiềm khích, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nớc nhà.
Đầu năm 1946, phát biểu trong lễ mừng liên hiệp quốc gia do các phật tử trong Hội Phật giáo cứu quốc tổ chức tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nói: “Nớc Phật ngày xa có những bốn
đảng phái làm li tán lòng dân và hại Tổ quốc, nhng nớc Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia tô tin ở Chúa trời; cũng nh chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những bậc chí tôn nên chúng ta tin tởng. Nhng đối với dân, ta đừng làm gì trái với ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy”3. Độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho toàn dân là mẫu số chung để đoàn kết mọi ngời, không kể lơng hay giáo, có đạo hay không có đạo, cũng nh có tín ngỡng khác nhau trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Sau khi kí hiệp định Giơ-ne-vơ, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào cả nớc hãy đoàn kết, Ngời nói:
“Tôi thiết tha kêu gọi tất cả những ngời thật thà yêu nớc không phân biệt tầng lớp nào, tín ngỡng nào, chính kiến nào
1 Hồ Chí Minh tt, Nxb CTQG, H., 1995, t 2, tr.303
2 Hồ chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, H., 1993, t 3, tr.15
và trớc đây đã đứng về phe nào, chúng ta thật thà cộng tác, vì dân, vì nớc mà phấn đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nớc Việt Nam yêu quý của chóng ta”1.
Năm 1965, khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ra miền Bắc ngày càng ác liệt, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đồng bào các dân tộc, các tôn giáo hãy đoàn kết chặt chẽ nh anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mĩ, cứu nớc”2.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo đều phải nên nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nớc nhà. Nhiệm vụ của toàn thể chúng ta là phải giữ vững nền độc lập. Trong Công giáo có câu
“Tam vị nhất thể”, nhà Phật có câu “Vạn chúng nhất linh”
nên chúng ta phải hi sinh cho nhân loại và chúng sinh”3.
Bất cứ ở đâu vào thời điểm nào nếu có cơ hội là Ngời
đều nêu và giáo dục ý thức đoàn kết cho nhân dân.Trong một lần tiếp Việt kiều trong đó có nhiều tín đồ Công giáo, Ngời nói: “Tôi và phái đoàn sang đây, mang cho kiều bào một món quà, không phải là bánh trái cũng không phải là tiền bạc, mà là khẩu hiệu "Đoàn kết trên hết, Tổ quốc trên hết"4.
Nhờ nêu cao tinh thần đoàn kết lơng giáo, hoà hợp dân tộc nên Hồ Chủ tịch đã tập hợp xung quanh mình nhiều giáo sĩ, giáo dân hết lòng phấn đấu cho sự nghiệp cứu nớc, kiến quốc, từ đó xoá dần những định kiến, mặc cảm do lịch sử
để lại và âm mu chia rẽ của kẻ địch.
Để đoàn kết lơng giáo, Ngời còn luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nớc phải quan tâm, chăm sóc cho cuộc
1 Hồ Chí Minh tt, Nxb CTQG, H., 1996, t 7, tr. 323
2 Hồ Chí Minh tt, Nxb CTQG, H., 1996, t 11, tr. 471
3 Báo cứu quốc, ngày 14-15 tháng 1 năm 1946
4 Báo Cứu quốc ngày 27-9-1946
sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo. Lúc nào trong tâm tởng của Ngời cũng trăn trở bởi một điều là làm sao để "các cấp uỷ phải thật quan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bào công giáo"1, làm thế nào để
"sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta đợc ấm no thì
phần hồn cũng đợc yên vui"2.
Từ t tởng Hồ Chí minh về đoàn kết lơng giáo, chúng ta thÊy:
Muốn đoàn kết những ngời có tín ngỡng, tôn giáo khác nhau phải đặt lợi ích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết (độc lập dân tộc và ấm no, hạnh phúc của nhân dân).
Muốn đoàn kết lơng giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngỡng và không tín ngỡng của nhân dân; khắc phục những mặc cảm, định kiến và chống âm mu chia rẽ của bọn phản động.
Muốn đoàn kết lơng giáo phải phân biệt đợc nhu cầu tín ngỡng chân chính của đồng bào có đạo để đáp ứng kịp thời; với việc lơị dụng tín ngỡng, tôn giáo của các phần tử phản động để phê phán, đấu tranh.
Muốn đoàn kết phải chú ý kế thừa giá trị nhân bản của tôn giáo, trân trọng những ngời thành lập các tôn giáo lớn, tranh thủ giáo sĩ, quan tâm đến giáo dân; độ lợng, vị tha với những ngời lầm lỗi; đấu tranh kiên quyết với bọn phản
động lợi dụng tôn giáo.
1 S®d, t.11, tr.83.