NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 176 - 184)

Chương 3 NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG

3.1. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Dựa vào những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, công tác quản lý xã hội đối với tín ngỡng, tôn giáo ở nớc ta hiện nay phải đợc tiến hành trên những nguyên tắc sau:

3.1.1. Tôn giáo và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không được phân biệt vì lý do tôn giáo

Điều 70 của Hiến pháp Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã xác định: “Công dân có quyền tự do tín ngỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trớc pháp luật.

Những nơi thờ tự của các tín ngỡng, tôn giáo đều đợc pháp luật bảo hộ.

Không ai đợc xâm phạm tự do tín ngỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nớc”

Tôn trọng tự do tín ngỡng tôn giáo là tôn trọng những giá

trị tích cực trong nội dung cơ bản của mỗi tôn giáo và những hoạt động tín ngỡng, tôn giáo trong khuôn khổ của pháp luật. Các tôn giáo đều bình đẳng trớc pháp luật, do

đó phải có sự đối xử công bằng giữa các tôn giáo, dù đó là tôn giáo lớn hay nhỏ, có tổ chức chặt chẽ hay lỏng lẻo. Mọi tôn giáo, mọi tín đồ của các tôn giáo đợc pháp luật thừa nhận

đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ theo luật định.

Vì thế, mọi hoạt động tôn giáo đều phải tuân thủ pháp luËt.

Mặc khác, sự bình đẳng còn thể thể hiện ở vị trí của ngời tín đồ tôn giáo trong đời sống xã hội và trong quan hệ với tín đồ các tôn giáo khác. Với t cách là công dân, mọi tín

đồ tôn giáo đều bình đẳng trớc pháp luật về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, không bị phân biệt đối xử vì lý do tín ngỡng trong mọi sinh hoạt xã hội, xoá bỏ mọi thành kiến vì lý

do đức tin tôn giáo. Còn với t cách là tín đồ tôn giáo, Nhà nớc

đảm bảo cho họ thể hiện đợc nghĩa vụ và quyền lợi với giáo héi.

Ngoài ra, công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo phải th- ờng xuyên xem xét, giải quyết các nhu cầu tín ngỡng hợp pháp của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, không để kéo dài, gây khó khăn, làm cho giáo hội, giáo dân hiểu lầm, để các phần tử xấu có điều kiện lợi dụng kích động, chống phá.

3.1.2. Đoàn kết gắn bó đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân

Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo là yêu cầu tự thân của cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trớc đây, trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhờ đoàn kết đợc hết thảy đồng bào, dân tộc, cách mạng nớc ta mới có thành công. Ngày nay cũng vậy, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng chỉ có thể thành công khi có sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà đồng bào có tôn giáo là một bộ phận trong khối

đó.

Mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tơng đồng để đoàn kết, gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngỡng tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo đó, công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo ở nớc ta hiện nay cần lấy lợi ích phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá; ổn

định chính trị của cả nớc nói chung và ở vùng đồng bào tôn

giáo nói riêng là điểm xuất phát đồng thời làm mục tiêu.

Công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nớc, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo. Đồng thời, công tác quản lý xã hội về tôn giáo phải góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nớc, xây dựng cuộc sống “Tốt đời đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Chỉ có nh thế, khối

đại đoàn kết toàn dân tộc mới đợc củng cố vững chắc, công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nớc mới đi tới thành công.

3.1.3. Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được đảm bảo;

những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy

Mục tiêu phát triển của xã hội nớc ta là xây dựng một nớc Việt Nam dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mục tiêu đó đợc sự đồng tình rất cao của các tín đồ chức sắc tôn giáo và đã đợc phản ánh trong đờng hớng, ph-

ơng châm hành đạo của các tôn giáo. Đối với Phật giáo, là

“đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; với Công giáo là

“sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; với Tin lành là “kính chúa – yêu nớc”; với đạo Cao đài là “nớc vinh - đạo sáng”… Chính vì thế, các tôn giáo

đã có nhiều hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội tích cực, lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trờng xã hội

chủ nghĩa và xu hớng toàn cầu hoá hiện nay. Những hoạt

động đó từ phơng diện công tác xã hội quản lý đối với tôn giáo cần phải tiếp tục phát huy.

Công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo cũng cần nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng của tín đồ, thông qua việc tăng cờng hơn nữa trong công tác giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin trong đồng bào có đạo; mở rộng việc thu hút họ vào các tổ chức quần chúng, phát huy tiềm năng của ngời dân lao động và của trí thức các tôn giáo trong xây dựng cuộc sống mới và làm nghĩa vụ công dân.

Hoạt động xá hội, từ thiện, nhân đạo của các tôn giáo

đợc Nhà nớc khuyến khích. Cá nhân tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành tham gia vào việc xã hội hoá các hoạt động y tế, văn hoá, giáo dục… với t cách công dân, đợc khuyến khích và tạo điều kiện để thực hiện theo quy định của pháp luật.

Cần giáo dục truyền thống yêu nớc, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc, giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những ngời có công với Tổ quốc, dân tộc. Thông qua đó, sự đồng thuận,

đoàn kêt giữa những ngời có tín ngỡng, tôn giáo và không tín ngỡng, tôn giáo, giữa những ngời có tôn giáo khác nhau

đợc tăng cờng.

3.1.4. Những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, hoạt động mê tín dị đoan; kích động chia rẽ các dân tộc, tôn giáo; làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước phải được xử lý và ngăn chặn

Với tính nhạy cảm đặc thù, hoạt động tôn giáo có những phức tạp nhất định, nhất là việc dễ bị các thế lực xấu lợi dụng vì mục đích chính trị, hoặc trục lợi kinh tế… Vì vậy, việc theo đạo, truyền đạo cũng nh mọi hoạt động tôn giáo khác là tự do, nhng phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật;

không đợc lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo; không đợc hoạt động mê tín dị đoan; không đợc ép buộc ngời dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, ngời truyền

đạo và các cách truyền đạo vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháo luật.

Công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo, trong đó có công tác đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo, trớc hết phải

đợc dựa trên những quy định của pháp luật. Song kinh nghiệm cho thấy, công tác này chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng. Tuy nhiên, công tác quản lý xã

hội đối với tôn giáo từ góc độ này không chỉ dừng lại ở việc xử lý sai phạm, mà quan trọng hơn, phải có các biện pháp phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật.

Theo quy định hiện hành, hoạt động tín ngỡng tôn giáo bị đình chỉ nếu thuộc một trong các trờng hợp sau:

- Xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hởng nghiêm trọng

đến trật tự công cộng hoặc môi trờng.

- Tác động xấu đến đoàn kết toàn dân, đến truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.

- Xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của ngời khác.

- Có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác.

3.1.5. Tạo ra sự thống nhất, phối hợp đồng bộ trong công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo của các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị

Muốn phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo, vấn đề có ý nghĩa cốt lõi là phải thực hiện cho đợc sự phân công, phân cấp về chức năng, nhiệm vụ cụ thể cho từng yếu tố hợp thành hệ thống chính trị và cho nội bộ các yếu tố với nhau.

Hệ thống chính trị cần tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trơng chính sách về tôn giáo trong cán bộ,

đảng viên và nhân dân, nhất là trong chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo. Quan tâm thoả đáng việc đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở các cấp.

Trong đó, tổ chức đảng đóng vai trò quyết định tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo.

Vì vậy, tổ chức đảng phải thờng xuyên nâng cao vai trò lãnh đạo đối với công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Theo nguyên tắc này, các cấp ủy đảng phải thờng xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời đề ra chủ trơng, tích cực xây dựng lực lợng chính trị ở cơ sở và chăm lo bồi dỡng, phát triển đội ngũ cốt cán trong các tôn giáo; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dỡng và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ của hệ

thống chính trị làm công tác tôn giáo… Các cấp uỷ đảng phải không ngừng tự đổi mới phơng pháp lãnh đạo, bảo đảm vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với công tác này.

Phải nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nớc đối với tôn giáo,

đa các tôn giáo hoạt động bình thờng trong khuôn khổ pháp luật; thực hiện tốt sự bảo hộ của Nhà nớc về các hoạt động tôn giáo hợp pháp, đúng pháp luật; kịp thời ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật.

Các tổ chức chính trị – xã hội trong quản lý xã hội với tôn giáo, có chức năng tham gia vào các quá trình quản lý xã hội

đối với chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc đối với tôn giáo. Các tổ chức này còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo.

Theo quy định hiện hành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trong công tác tôn giáo, với vi phạm nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm:

- Tập hợp đồng bào có tín ngỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Phản ánh kịp thời ý kiến nguyện vọng, kiên nghị của nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngỡng, tôn giáo với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.

- Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, ngời có tín ngỡng, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngỡng tôn giáo.

- Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về tín ngỡng tôn giáo.

Nh vậy để tạo ra sự thống nhất, phối hợp đồng bộ trong công tác quản lý xã hội đối với tôn giáo của hệ thống chính trị, cần phải thờng xuyên củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo của mọi tổ chức hợp thành hệ thống;

phải phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô

hình tổ chức quản lý xã hội về tôn giáo ở các cấp và phải xây dựng quy chế phối hợp, phát huy sức mạnh và hiện quả

của công tác này.

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 176 - 184)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w