Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 145 - 151)

Chương 1 CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

1.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân

Tự do tín ngỡng, tôn giáo và không tín ngỡng, tôn giáo là một trong những quan điểm quan trọng trong t tởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo. T tởng đó đợc thể hiện nhất quán cả

trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Ngời, và đã trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nớc ta. T tởng đó đã thâm nhập

1

sâu rộng vào quần chúng nhân dân nói chung, cán bộ,

đảng viên nói riêng.

Cơ sở xuất phát của t tởng Hồ Chí Minh về tự do tín ng- ỡng, tôn giáo là: tôn trọng đức tin của mỗi ngời. Hồ Chí Minh nói: "Tất cả mọi ngời đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu Chủ nghĩa Mác. Cách đây 2000 năm, Đức Chúa Giê su đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn cha thực hiện đợc"1. Và Ngời nhấn mạnh rằng : “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia Tô

tin ở Đức Chúa Trời cũng nh chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tởng"2.

Ngời đã chỉ ra rằng mặc dù thế giới quan của ngời cách mạng khác với thế giới quan tôn giáo, song không vì vậy mà

đối đầu, nghi kỵ nhau; ngợc lại, phải tôn trọng đức tin của mỗi ngời.

Dù với t cách là Chủ tịch Đảng, ngời đứng đầu Chính phủ, hay với t cách là một công dân, Hồ Chí Minh luôn thể hiện là một con ngời mẫu mực trong việc tôn trọng tự do tín ngỡng tôn giáo của quần chúng nhân dân.

Năm 1945, chỉ sau một ngày đọc Tuyên ngôn độc lập ở Quảng trờng Ba Đình, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Hồ Chủ tịch đã phát biểu:

"Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngỡng tự do Lơng Giáo đoàn kết"3.

Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên ghi nhận "Nhân dân có quyền tự do tín ngỡng". Chính cơng của Mặt trận liên việt,

điều thứ 7 điểm 1: "Tôn trọng quyền tự do tín ngỡng, tự do

1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, Tập 4, Tr 272.

2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, t.4. tr.148.

3 Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nxb ST, H., 1970, tr.123

thờ cúng của mọi ngời". Chính cơng của Đảng lao động Việt Nam, điều 8 cũng ghi nhận: "Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngỡng của mọi ngời dân". Tất cả những văn bản ấy

đều có sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch.

Năm 1951, trớc luận điệu xuyên tạc của kẻ địch, Hồ Chủ tịch thấy cần phải nói rõ để tránh sự hiểu lầm của tín đồ các tôn giáo. Trong buổi kết thúc buổi lễ ra mắt của Đảng lao động Việt Nam, Ngời phát biểu: "Chúng tôi xin nói rõ để tránh sự hiểu lầm: Vấn đề tôn giáo thì Đảng lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngỡng của mọi ng- êi"1.

Năm 1955, khi hoà bình lập lại ở mìên Bắc, ngày 8-3- 1955, một lần nữa Ngời khẳng định chính sách nhất quán lâu dài của Đảng và Nhà nớc: "Hiến pháp đã ghi rõ chính sách tự do tín ngỡng. Chính phủ nhất định làm đúng nh vậy. Phải vạch trần những luận điệu xuyên tạc của bọn đế quốc và bè lũ tay sai hòng lừa dối, chia rẽ đồng bào nh chúng thờng nói Chính phủ cấm đạo và nhiều điều vô lý khác.

Đến ngày 14-6-1955, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh 234/SL về vấn đề tôn giáo gồm 5 chơng và 16 điều rất chi tiết và cụ thể về quyền tự do tín ngỡng, tôn giáo của nhân dân. Sắc lệnh này đợc đồng bào có đạo nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ.

Hồ Chí Minh là ngời mácxít chân chính theo quan

điểm duy vật, nhng không ai tìm đợc dù là một biểu hiện rất nhỏ của sự bài xích, chế giễu với một tôn giáo nào bất kỳ.

Ngợc lại, Hồ Chí Minh đã tiếp cận tôn giáo, coi nó nh một di sản văn hoá của loài ngời, và tìm thấy ở đấy những mặt

tích cực nhất định, những nhân tố hợp lý để kế thừa, tiếp thu những giá trị nhân bản, nhân văn của tôn giáo.

Nội dung cơ bản về quyền tự do tín ngỡng trong t tởng Hồ Chí Minh

- Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai đợc xâm phạm quyền tự do ấy. Mọi ngời Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Về vấn đề này, Hồ Chí Minh viết: mọi công dân Việt Nam "có quyền tự do tín ngỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào"1.

- Các nhà tu hành đợc tự do giảng đạo tại các cơ sở thờ tự. Khi truyền bá tôn giáo các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nớc, nghĩa vụ của ngời công dân, ý thức tôn trọng chính quyền và pháp luật của Nhà nớc.

- Mọi công dân có hay không có tín ngỡng, tôn giáo đều

đợc hởng mọi quyền lợi của ngời công dân (kể cả trong bầu cử ngời vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nớc) và phải làm mọi nghĩa vụ của ngời công dân.

- Các tôn giáo đợc xuất bản và phát hành kinh sách có tính chất tôn giáo, nhng phải tuân theo luật xuất bản, đợc mở trờng đào tạo những ngời chuyên hoạt động tôn giáo của m×nh

- Những nơi thờ tự và các đồ thờ, các trờng giáo lý của tôn giáo đợc pháp luật bảo hộ. Các di sản văn hoá có trong tôn giáo cần đợc bảo vệ, giữ gìn. Liên quan tới vấn đề này, khi nói về Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đợc xây dựng trực tiếp dới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngời đã nhấn

1 S®d. t. 9. tr.593

mạnh: "Trong Hiến pháp nớc ta đã định rõ: Tín ngỡng tự do.

Nếu ai làm sai Hiến pháp, ...sẽ bị trừng phạt"1.

- Tôn trọng tự do tín ngỡng, nhng kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngỡng và tự do t tởng của ngời khác hoặc làm những việc trái pháp luật. Ngời đã nhấn mạnh: "Bảo vệ tự do tín ng- ỡng, nhng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản nớc"2.

Để việc thực hiện tự do tín ngỡng góp phần tích cực vào việc phát triển xã hội, nội dung tự do tín ngỡng phải đợc luật hoá. Bởi vì, những quy định pháp luật có liên quan tới tín ngỡng, tôn giáo vừa là điều kiện, vừa là công cụ thực hiện tự do tín ngỡng.

Hồ Chí Minh rất chú trọng đế tín ngỡng truyền thống ở Việt Nam nhất là tín ngỡng thờ cúng Tổ tiên, Ngời cho rằng:

“Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tợng xã hội.”3. Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, đảng viên tôn trọng phong tục tập quán, tín ngỡng của mọi ngời. Đối với những ngời có công với dân với nớc, những bậc tiên hiền, liệt sĩ hy sinh vì

dân, vì nớc...Ngời luôn tỏ lòng ngỡng mộ. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc đến “tổ tiên ” với tình cảm chân tình, tôn kính và nhận thấy “tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà”. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở hậu thế ghi lòng, tạc dạ công ơn của các bậc tiền bối. T tởng của Ngời phù hợp với truyền thống của dân tộc Việt Nam là “uống nớc nhớ nguồn,

1 S®d, t.5, tr.44.

2 Báo Nhân Dân, ngày 16-20/10/1953.

ăn quả nhớ ngời trồng cây”. Ngời thờng dấy lên trong mỗi con ngời niềm tự hào về con Rồng cháu Lạc, về nghĩa “đồng bào” và khuyên mọi ngời dân Việt dù có khác nhau về tín ng- ỡng, dân tộc, thế hệ ... cũng đều phải có trách nhiệm với

ông cha để gìn giữ những gì mà tổ tiên để lại “Các Vua Hùng đã có công dựng nớc, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy níc”.

Thờ cúng tổ tiên vừa là tín ngỡng vừa là đạo lý làm ng- ời, đồng thời cũng là nét đẹp của văn hoá dân tộc. Do vậy, ngời Việt dù là dân tộc đa số hay thiểu số, theo tín ngỡng này hay tôn giáo khác, ở trong nớc hay nớc ngoài vẫn vọng về quê hơng xứ sở, nơi có mồ mả tổ tiên, có những anh hùng tiên liệt đã từng hy sinh vì dân vì nớc để gìn giữ cội nguồn của mình.Văn kiện Hội nghị Trung ơng lần thứ 7 BCHTƯ khoá IX nêu quan điểm: “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những ngời có công với Tổ quốc và nhân dân” là kế thừa t t- ởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng phù hợp với nguyện vọng của đa số nhân dân.

Bên cạnh những giá trị tốt đẹp, trờng tồn của tín ngỡng thờ cúng tổ tiên, tôn vinh các vị anh hùng dân tộc chúng ta

đang chứng kiến sự trỗi dậy của hiện tợng mê tín, dị đoạn và hủ tục lạc hậu- biểu hiện của phi giá trị, phản văn hoá. Hồ Chí Minh cũng đã từng phê phán hiện tợng này.

Từ chỗ làm rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới mê tín, dị đoan, Hồ Chí Minh đã nêu ra một số phơng hớng lớn nhằm khắc phục tệ nạn đó:

- Bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn hoá mới, xây dựng thuần phong mỹ tôc.

- Việc đấu tranh nhằm khắc phục tệ nạn mê tín dị

đoan phải tế nhị, tránh thô bạo.

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 145 - 151)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w