Chương 3 NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG
3.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.2.1. Quản lý tổ chức tôn giáo
- Một là, vấn đề đăng ký, công nhận tổ chức tôn giáo
T cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo là một nội dung quan trọng trong pháp luật về tôn giáo của các nớc trên thế giới. Trớc khi đi vào phân tích các qui định của pháp luật nớc ta về vấn đề này, chúng ta phải thống nhất một số khái niệm quan trọng.
Trong các văn bản pháp luật về tôn giáo của nớc ta hiện nay không có điều nào qui định về pháp nhân tôn giáo, mà chỉ có qui định về việc công nhận tổ chức tôn giáo: Điều 16, Chơng III của Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo; Mục 1, Ch-
ơng III Nghị định số 92/2012/NĐ- CP. Tại Điều 6 của Nghị
định 92, ngoài việc qui định tất cả các tôn giáo muốn đợc hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải đăng ký (Khoản1), còn qui định chi tiết các loại hồ sơ giấy tờ cần thiết (Khoản 2), thẩm quyền cấp đăng ký cho các tổ chức tôn giáo hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, đợc nhà nớc bảo hộ bằng luật pháp và hoạt động trong khuôn khổ luật pháp của nhà nớc đợc quy định tại điều 8 (khoản 3) cũng nh thời hạn phải cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho các tổ chức tôn giáo (khoản 4) của Nghị định số 92/2012/NĐ-CP.
Sau khi đã đợc cấp giấy đăng ký hoạt động tôn giáo, các tổ chức muốn đợc công nhận về mặt tổ chức phải có trách nhiệm gửi hồ sơ xin công nhận đến các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền với những loại giấy tờ qui định tại Khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 92. Các tổ chức tôn giáo, khi đã đủ các loại giấy tờ theo qui định, sẽ đợc công nhận tổ chức tôn giáo nếu có đã hoạt động tôn giáo ổn định. Hoạt động tôn giáo ổn định kể từ ngày cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và phải có đủ một khoảng thời gian nhất định đợc quy định trong
điều 6 koản 1 của Nghị định 92, cụ thể nh sau:
- Có sinh hoạt tôn giáo ổn định từ 20 năm trở lên kể từ ngày đợc Uỷ ban nhân dân cấp xã (phờng) chấp thuận sinh hoạt tôn giáo, không vi phạm các quy định tại Khoản 2, điều 8 và điều 15 trong Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo.
Trớc ngày Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo có hiệu lực, theo qui định của Nghị định 26/1999/NĐ- CP ngày 19-4-1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, Nhà nớc ta đã thừa
nhận tổ chức và cho phép hoạt động hợp pháp đối với một số tôn giáo sau:
- Công giáo, Giáo hội Công giáo Việt Nam, đợc Nhà nớc công nhận năm 1980.
- Phật giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đợc Nhà nớc công nhận năm 1981.
- Tin Lành, Tổng Hội thánh Tin Lành (miền Bắc) đợc Nhà nớc công nhận năm 1958.
Tổng Liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) năm 2001 đợc Nhà nớc công nhận.
- Đạo Cao Đài, từ năm 1995 đến nay đã có 9 hệ phái đợc Nhà nớc công nhận t cách pháp nhân nh: Cao Tiên Thiên ngày (29/7/1995), Cao Đài Chiếu Minh Long Châu (27-7-1996), Cao
Đài Minh Chơn đạo Hậu Giang (02/8/1996), Hội thánh Truyền giáo Cao Đài (24/9/1996), Cao Đài Tây Ninh (09/5/1997), Cao Đài Ban Chỉnh Đạo (08/8/1997), Cao Đài Bạch y (25/2/1998)...
- Đạo Hoà Hảo, Ban đại diện Phật giáo Hoà Hảo, đợc Nhà nớc công nhận theo Quyết định số 21/QĐ- TGCP ngày 11/6/1999.
- Hồi giáo, Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh đợc công nhận năm 1999.
Từ khi Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo đợc ban hành và có hiệu lực cho đến nay, Nhà nớc ta đã cộng nhận thêm 6 tôn giáo nữa đợc hoạt động dới sự bảo hộ của luật pháp. Đó là:
Đạo Baha’i; Tịnh độ c sỹ Phật hội Việt Nam; Đạo Tứ Ân hiếu nghĩa; Đạo Bửu sơn kỳ hơng; Giáo hội Phật đờng Nam tông minh s đạo; Minh lý đạo Tam tông miếu.
Tuy là một quốc gia đa tôn giáo, nhng Nhà nớc ta không có chủ trơng đề cao tôn giáo này, hạ thấp tôn giáo khác mà các tôn giáo đợc thừa nhận t cách pháp nhân đều bình
đẳng với nhau. Chính vì vậy, nên các tín đồ của mọi tôn giáo ở Việt Nam trớc Tổ quốc đều có nghĩa vụ và quyền lợi nh nhau. Pháp luật của Nhà nớc có trách nhiệm điều chỉnh các hoạt động tôn giáo để bảo đảm mối quan hệ tốt đẹp giữa các tôn giáo cũng nh giữa đạo và đời. Trong trờng hợp quy định trong giáo luật trái với quy định trong pháp luật của Nhà nớc thì về nguyên tắc là phải thực hiện theo pháp luật (với t cách công dân).
- Hai là, việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc
Trong qua tồn tại và phát triển, cơ cấu hành chính của các tôn giáo sẽ có sự thay đổi nhất định. Vì vậy, việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc là điều thờng xuyên xảy ra. Về vấn đề này, Điều 9 Nghị
định số 92 qui định cụ thể nh sau:
1- Việc thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo;
b) Tổ chức đợc thành lập thuộc hệ thống của tổ chức tôn giáo đã đợc nhà nớc chấp thuận;
c) Số lợng tín đồ tại địa bàn đáp ứng đợc điều kiện qui định tại hiến chơng, điều lệ của tổ chức tôn giáo.
2. Việc chia, tách tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo;
b) Số lợng tín đồ tại địa bàn trực thuộc đông, địa bàn hoạt động rộng khó tổ chức hoạt động tôn giáo;
c) Tổ chức sau khi chia tách vẫn thuộc hệ thống tổ chức đã đợc nhà nớc công thuận.
3. Việc sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo;
b) Tổ chức đợc sáp nhập, hợp nhất vẫn thuộc hệ thống tổ chức đã đợc nhà nớc chấp thuận.
Tiếp đến, trong Điều 10 của Nghị định này còn qui
định chi tiết các trình tự, thủ tục đối với việc xin thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc và các qui định về thời hạn đối với các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền trong việc giải quyết nguyện vọng trên của các tổ chức tôn giáo.
Nh vậy, các tổ chức tôn giáo cũng nh các tổ chức xã hội khác, việc cho phép thành lập các tổ chức mới và hoạt động ở các cấp khác nhau phải tuân thủ theo pháp luật và thủ tục pháp lý cần thiết. Các tổ chức tôn giáo muốn đợc Nhà nớc công nhận phải có đủ những điều kiện nhất định (quy
định tại điều 16 của Pháp lệnh về tín ngỡng, tôn giáo). Các tổ chức tôn giáo đó phải có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ và gửi đến cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo mới.
Thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo quy định nh sau:
+ Thủ tớng chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -
ơng;
+ Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng;
Khi nhận đợc hồ sơ hợp lệ, cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan thẩm định hồ sơ trong thời hạn do luật pháp quy định và trình với Thủ tớng chính phủ hoặc Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, công nhận tổ chức tôn giáo.
- Ba là, đăng ký Hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác ( Điều 12, 13 Nghị định sè 92)
Các hội đoàn tôn giáo muốn đợc hoạt động đều phải
đăng ký (trừ những trờng hợp qui định tại khoản 1, Điều 12 Nghị định số 92).
Hồ sơ đăng ký nh sau:
- Văn bản đăng ký, trong đó nêu rõ tên tổ chức tôn giáo, tên hội đoàn tôn giáo, cá nhân chịu trách nhiệm về hoạt
động của hội đoàn;
- Danh sách những ngời tham gia điều hành hội đoàn;
- Nội qui, qui chế hoặc điều lệ hoạt động của hội
đoàn, trong đó nêu rõ mục đích hoạt động, hệ thống tổ chức và quản lý của hội đoàn.
Sau 15 ngày đối với hội doàn có phạm vi hoạt động trong 01 huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh; Sau 20 ngày
đối với hội đoàn có phạm vi hoạt động ở nhiều huyện, thị,
thành phố trong một tỉnh; Sau 30 ngày đối với hội đoàn đối với hội đoàn hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, nếu cơ quan nhà nớc có thẩm quyền tại khoản 2 điều19 của Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo có trách nhiệm cấp đăng ký cho tổ chức tôn giáo. Nếu không đồng ý phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác cũng có qui định trong khoản 2 điều 19 Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo.
- Bốn là, việc thành lập, giải thể trờng đào tạo, mở lớp bồi dỡng những ngời chuyên hoạt động tôn giáo (
Điều 14- 15 Nghị định số 92)
Thành lập và hoạt động của các trờng đào tạo những ngời chuyên hoạt động tôn giáo là cần thiết cho mỗi tôn giáo,
đồng thời đây cũng là một nội dung quan trọng thể hiện quyền tự do tôn giáo trong mỗi quốc gia.
Theo qui định của pháp luật hiện hành, việc thành lập các trờng đào tạo những ngời chuyên hoạt động tôn giáo phải xin phép Thủ tớng Chính phủ, còn việc xin mở lớp bồi dỡng thì phải xin phép Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Ngoài ra, tại các Điều từ 14 đến 18 của Nghị định số 92 còn qui định chi tiết hồ sơ xin mở trờng, lớp; việc giải thể và mở lớp bồi d- ỡng những ngời chuyên hoạt động tôn giáo.
Cho đến nay, hầu hết các tôn giáo ở nớc ta đều đã
thành lập đợc trờng đào tạo những ngời chuyên hoạt động tôn giáo.
- Năm là vấn đề phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, và thông báo về việc cách chức, bãi nhiệm chức sắc trong tôn giáo (Điều 19 - 20 Nghị
định số 92).
Đây là một nội dung đợc đổi mới khá rõ rệt trong Nghị
định số 92. Trớc đây, đối với việc phong chức, phong phẩm của những chức sắc, chức việc của các tôn giáo phải xin phép cơ quan nhà nớc có thẩm quyền.
Nhng hiện nay, các tôn giáo chỉ phải đăng ký danh sách những ngời trong diện sẽ đợc phong chức, phong phẩm. Đây là một qui định mới thể hiện chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nớc ta trong vấn đề phong chức, phong phẩm của các tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo chỉ phải nộp bản đăng ký trên
đến Thủ tớng Chính phủ hoặc đến Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với những loại giấy tờ theo qui định tại các điều 19 và 20 của Nghị định số 92.
Đối với việc cách chức, bải nhiệm chức sắc trong tôn giáo, các tổ chức tôn giáo chỉ phải thông báo đến các cơ
quan có thẩm quyền (các cơ quan mà các đối tợng bị cách chức, bãi nhiệm đã đợc đăng ký việc phong chức, phong phÈm).
- Sáu là, thuyên chuyển nơi hoạt động của chức sắc, nhà tu hành (Điều 22 - 23 Nghị định số 92)
Khác với các qui định trớc đây, việc thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành phải xin phép với chính quyền địa phơng nơi đến và nơi đi. Hiện nay việc thuyên chuyển nơi hoạt động của chức sắc, nhà tu hành đợc thực hiện một cách khá thông thoáng. Việc thuyên chuyển chức sắc, nhà tu
hành chỉ phải thông báo với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đi và đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi
đến. Sau 15 ngày, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, nếu Uỷ ban nhân dân huyện nơi đến không có ý kiến gì khác thì
chức sắc , nhà tu hành có quyền hoạt động tôn giáo ở nơi xin chuyển đến. Riêng đối với những trờng hợp chức sắc, nhà tu hành vi phạm pháp luật về tôn giáo đã bị Chủ tịch UBND cấp tỉnh xử lý vi phạm hành chính hoặc đã bị xử lý về hình sự thì hồ sơ thuyên chuyển nộp cho UBND cấp tỉnh nơi đến theo khoản 1 điều 23 của Nghị định 92. Sau 20 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trờng hợp không chấp thuận, phải nêu rõ lý do.