Nối tiếp phần 1, phần 2 của tài liệu Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô Lô, Cao Lan tiếp tục trình bày các nội dung chính sau: Dân ca Dao, đôi nét về dân tộc Dao và dân ca Dao, xịnh ca Cao Lan, dân ca trong lễ hội Lô Lô,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1DÂN CA DAO
sưu tầm, biên dịch
ĐỖ QUANG TỤ - NGUYỄN LIEN
Trang 3ĐÔI NÉT VÈ DÂN TỘC DAO VÀ DÂN CA DAO
thứ chín sau các dân tộc Kinh (Việt), Tày, Thái, Hoa (Hán), Khmer, M ường, N ùng, M ông(l); và cư trú trên các địa bàn sau đây:
Tây Bắc: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái
Đông Bắc: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên
Trung du: Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây.Tây - Nam Bắc Bộ: H òa Bình
Duyên Hải: Quảng Ninh
Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa
N gười Dao thuộc hai nhóm lớn Kiềm M iền (Đại Bản, Tiểu Bản) và Kìm M ùn (Làn Tẻn, Quần Trắng) sinh sổng tập trung và xen kẽ ở các địa bàn kể trên Riêng ngirời Dao Bình Đầu (nhóm Làn Tẻn) chi hiện diện ở Lai Châu; người Dao Tuyển (Làn Tẻn) có m ặt đông đúc nhất ở Lào Cai, Hà Giang và Tuyên Quang
Từ năm 1936, đồng bào Dao, tiêu biểu là các tiếu nhómn> Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ờ Việt Nam năm 2009, người Dao
có 75 ] 067 người (đứng hàng thứ 9).
Trang 4Đại Ban, Tiều Bàn C ao Băng đã sớm tham gia cách mạng
theo đã cùng toàn dân V iệt N am nhất tề đứng dậy khởi nẹhTa giành chính quyền, lập ra nước V iệt N am dân chủ
Kinh qua hai cuộc kháng chicn chống thực dân xâm lược Pháp và chốne Mỹ cứu nước th ố n s nhât Tô quôc, xây dưng chu nghĩa xã hội, dồng bào Dao đã vươn lên, liến những bước dài trong sự nghiệp phát triển cuộc sông vật chất và tinh thần
Dân tộc Dao là dân tộc yêu thích văn thơ và giỏi ca ngâm Nam giới “Phiêu chòi” chuyên làm thơ tôn vinh lliần thánh gia tiên, thơ nghicm huấn răn dạy con cháu và khuvên thiện xã hội: thơ ca ngợi eiang sơn gấm vóc Thế hệ
“Phiêu chòi đương đại” nối só t “Phiêu chòi truyên thông’-
kế thừa tinh hoa văn học dân gian đã sáng tác nhiều trường thi, đoản thi ca ngợi Tổ quốc V iệt N am , Đ ảng C ộng sản và lãnh tụ anh minh
Thơ nừ giới đằm thám yêu thương, dạt dào khát vọng vượt lên sô phận, nhất mực thủy chung trong tình yêu - hôn nhân và quan hệ xã hội Trước Cách m ạng tháng Tám , nữ giới không có điều kiện học chữ Dao - Hán nên sáng tác theo cam xúc được ý nào, câu nào thì “giữ kỹ trong đầu óc” và “chôn chặt trong tim ” đợi khi có dịp là đem ra biểu đạt qua hát cưới, hát giao duycn sau lúc nông nhàn Chị em nào xuất thân gia tộc Phiêu chòi hoặc dò n e họ Pháp sư, thì
có nhiêu cơ hội “học lỏm ” ông cha rồi truyền lại cho bạn bè đồng quê hương
Trang 5Từ Cách mạng tháng Tám trở về đây, nữ giới ngày càng thông thạo quốc ngữ, biết sử dụng chừ quốc ngữ làm công
cụ diễn tả nội tâm Các bà các chị làm thơ động viên nhau sản xuất, dũng cảm gánh vác việc bản, việc nhà đê chông con yên tâm dánh giặc ngoại xâm Song giữa hai giới có một chút khác biệt: nam giới sáng tác thơ đê hát và “tộ” (tức ngâm đọc) Nữ giới làm vãn vần để hát Họ không ngâm ngợi như cánh mày râu Và họ cũng không nhận mình
là người làm thơ; danh tử thi sĩ thi nhân đối với họ hoàn toàn xa lạ c ầ n chỉnh sửa bài văn vần, họ dùng cách nhâm hát để thực hiện
Người Dao rất cảm kích trước sự quan tâm đầy đù của Nhà nước về văn hóa dân tộc nói chung và ca hát nói riêng Văn hóa văn nghệ Dao được trình diễn trên khăp mọi miên đất nước, được trân trọng bảo vệ và phát huy giá trị toàn diện
Có ai hỏi tại sao nền thơ ca Dao dành đạt thành tựu nổi bật như thế, đồng bào Dao rất tự hào và chân thành bộc bạch:
- Từ xa xưa người Dao đã đặc biệt coi trọng ca hát, cổ nhân từng nói:
“Nơ - hắng dấm, nơ - hắng co, diệu nơ - hắng hồng” nghĩa là “năng uống, năng hát, lại năng hồng” ; hồng là biểu tượng của hạnh phúc, tình yêu, hôn nhân, thịnh vượng
“Không ca biếng hát cũng là già”
- Căn cứ vào sự tích Bàn Vương, nhóm Dao Kiêm Miền khăng định: Chính bà Lưu Tam là người có công làm ra
“nghìn ca khúc” để truyền dạy nhân dân mà điệu hát là Páo Dung Có vùng quả quyết bà là vợ ông Bàn Vương; có nưi quan niệm bà là tiên nữ giáng trần
Trang 6Khi ra khỏi nhà, xóm bản, quê hương, người D ao có hai điều phòng thân:
N gười Dao khá nghiêm khắc đối với hiện tượng xa chệch dòng “Co sang” (Ca xướng) truyền thống:
- Cợt nhả vô lối
“ Sàng ca pậy nắng quỷa súi túa
Ọuỷa liu súi tuông bêu tũa p in ”
H át cợt nhả như chống g ậ y khảm nước
Qua nước rồi, vứt bỏ g ậ y đi.
- Trống bỏi vô luân
“ Lô vìa chỉng tong tạp pẹ huấn
Lồ liủ di - ậm toong hó phủi lìn”
Lúa cũ không g iã được nên bột
Già rồi không p h ả i tuổi hát chơi
Vi đặc trưng của hát chơi là giao tình nam nữ
- Xỏ xiên - gây chuyện - xấc xược
Trang 7Biết người đi đường là bậc trung niên m à cô gái vẫn buông lời:
“Anh đi đâu bảo em biết nào ”
N gười đàn ông đứng tuổi hát trả tức thì:
“Ổng cỏ síp miến suông đô duẩn
Bủa mụi công cồng cán chau công
Bủa mụi công cồng cán nhiếp mía
Nhap văng mậy con mậy nhỉa nhồng”
Bo đi củng ma khe sâu về
Bảo con cố cúi làm cỏ nương
Báo con củi cúi cổ làm cỏ
Có quang goc ngô ngô ra hoa
Câu cuối nói thanh mà ý tục Vì vậy, người ta quy định hai loại “Co sang” (Ca xướng) cơ bản:
- Xã hội: hát ngoài đời
Trang 8- Phúng khé dung: tiễn khách
- G iáo miền dung: răn dạy người
- Cô hàn dung: than mồ côi
* Thái Nguyên có:
-T ồ n tòi doi lủng: hát giao duyên nam nữ
- Páo dune hợp tíu: hát khi uống rượu
- Mài pi ảo tôn tòi: dùng cho người đã thành gia thât
- Hão ton: hát ru
- Lồ sấy: ru con
* Lào Cai có:
- Hát cưới Dao Tuyển: vàn an dung
- Hát cưới Dao Đỏ: sình cha lầy
* Yen Bái có:
- Hát cưới Dao Trắng
- Páo a dẻo: hát chơi của ngưòi lớn và trỏ em
- Páo phây - Xứ de: ứng xử
- Dung om: hát đô
Phục vụ nghi lê:
* Tuycn Quang có:
- Tom đàng dung: hát lễ Châu Đàng lớn
- Piền hùng sâu co: hát cúng Bàn V ươns
* Lào Cai có:
- Um cú dung: hát cúng hồn lúa và ngũ cốc khác
- Chà phin dung: thỉnh mời gia tiên
Trang 9* Yên Bái có:
- Sài dung: hát tưởng nhớ gia tiên trong lễ làm chay
- Châu đàng dung: thánh ca Bàn Vương
- Tẩu pi - àng dung: chuộc vía cho trẻ em
Người Dao gọi chung ca hát là “co sang” theo tiếng chữ
là ca xướng, tiếng thường là “dung” có phân biệt:
- Páo dung: ca hát cùa Dao Kiềm Miền bao gồm Đại Bản, Tiểu Bản
Tên, Quần Trẳng, Binh Đầu
Ca là hát lên từ m ột bài văn vẩn 6 từ (lục ngôn), 7 từ (thất ngôn) với sô lượng câu dòng không hạn định Không
có ký âm, không có nhạc cụ đệm, trừ Tồng lình nhỏ (chuông đồng) sử dụng ở lễ đàn khi “lạ m icn” (chicu thần).Páo dung, Áy dung là danh từ chỉ ca hát ngoài xã hội Bài ca lề nghi gọi tăl là “ D ung”
“Sang” (xướng) trong tiếna Dao đồna nghĩa với "Tộ" (đọc) nhưng có ngân nga, cao giọng Có nơi dùng cụm lừ
“Hấp tíu dúng” (hát uống rượu) dể định nghĩa “ Sang” là nghệ thuật đọc và ngâm, “Sang" thường dùng tại nghi lỗ tín ngưỡng và giới hạn trong tầng lớp "phiêu chòi” khi đọc sách vãn chươns “ Sang" phù hợp với thể thơ 3, 4, 5 từ
“Lạ m iên” (chiêu thần) vận dụns thể thơ 3, 4, 5 từ tương
tự Đông dao của người Kinh Điệu Lạ miên cũng được người già, trẻ em dùng khi đọc tam tứ neìi tự kinh vi nó dồn dập sống dộng
Một số nhạc gia cho biết: Qua ký âm hóa Páo dung, điều
Trang 10dễ cảm nhận là ca điệu Páo dung ít phong phú vê âm điệu,
âm giai H iệu quả chuồi âm thanh rất hạn chê vê phương diện âm sắc và âm vực, tạo ra nhạc điệu trầm giãi Páo dung chỉ thu hút người nghe chủ yếu từ ngôn từ văn học
Xin giới thiệu cùng bạn đọc m ột số bài C o sang truyên thống và hiện đại của hai nhóm D ao K iềm M iền và Kìm
M ùn bước đầu sưu tầm ở các tỉnh Y en Bái, Lào Cai, Hà
G iang, C ao Bằng, B ắc Kạn, Thái N guyên, T uyên Quang, Phú Thọ, H òa Bình, Sơn La, Lai C hâu m à 60% là “Co sang” Yên Bái, thuộc hai loại cơ bản xã hội và nghi lễ
T hơ và dân ca cổ hầu hết không có tên bài N oi gương tác giả Dao đương đại, các vị Chủ thư và Phiêu chòi đã sử dụng m ấy từ chủ đề của từng bài để đặt tên Tên riêng của các bài trong sách này là kết quả chọn lựa giữa nhà sưu tầm
và người cung cấp
T ÌN H V À C Ả N H
N H Ụ T TÀ U T Ô N G KHÓI
N hụt tàu tông khói sa chiều choáng
Chùn tuông súi m ịn sởi sinh dơm
Phàn dĩ hùng là vần chang pụa
Phicu chòi tài sới kít mầu phiêm
Dịch:
M ặỉ trời biển Đ ông soi khắp bãi
M ặt nước thuyền trôi, só n g động thuyền
Trang 11Ba tấc chỉ hồng văn chương dệt
Tú tài nhập cuộc dạ vô tâm.
(Trích từ sách “Páo dung sâu”
của người Dao Tiền
xã Toàn Sơn, Đà Bắc, Hòa Binh)
CO SAI CO SÍN
Quà goi chạu tàu síu phiểm ti - eng
Chào sâu ấy sấu sâu dầm tủ
Co sai co sín chỉm niêm niêm
Meng dăm chúi phẩn cùn nìn sẩy
Dịch:
Hoa nở trên cây lòng vui thích
Giơ tay muốn lấy, lấy chẳng được
Kẻ đẩy người đây dạ vấn vương
Số mệnh không cùng, chỉ hoài thương.
(Ghi theo người Dao Bỉnh Đầu xã Hồ Thầu,
huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu)
H ự u PHONG YẾN CA
DI ÂU PỎNG DÌN CÓ
* Tủi cha tỉnh ghì bù quản chay
D ật quần tết tỉng dêm hùi tàu.
* Chùy chay cháu dồn bù bàn nộ
Trang 12Chu làu tàm m ây tai tỏng sẻng
D ất nhẩy choóng dì bịt tay tin
Tin chẳn nhôn m ạn quây tám lâu.
* Tạp anh tảm quản m ây tò tau
Teu sắm dăm con cha coóng đoòng
Cọôc đắn sìu sẻng ban tôi nhộn
D iều ngò hù ây dặn sìu toòng.
* Bù tu dàng đàu tỉm dăm ây
p ẻ c tim ký nếm phã m hòng chau
Tếu bịt và toòng hò com tan
Tàm sìu tay tin va bàm mằn.
Bài hát diễn ra ở đám cưới D ao Tuyển lúc săp chia tay rước dâu lên đường giữa ba ông nhà gái và ba cô nhà trai
Có đôi chút bịn rịn sau m ột ngày m ột đêm “lời ca đẹp, rượu nồng say”
HÁT M ỪNG TIỆC RƯỢU
* Thôi tạ ơn xong, không việc trọng
Tạm biệt chư óng để trở về.
* M ọi sự chu toàn không phẫ n nộ
Song muôn ba cô lưu lại đây
M ột hai nghiêm biệt nơi đế điện
Trang 13Ngàn vàng muốn mua quỷ tam dương 'Ij.
* Đáp ứng ba ông em vui tấu
Tiểu kim không dám ngồi cung đường(2>
Nước thuận nội triều vạn năm nhuận
Kiều Nga hòa ỷ tận triều đình<3).
* Vô số hương đào lòng không hợp
Trăm tim chỉ ngh ĩ tới hồng châu
Tiêu biệt hoa đường không dám thán
Ba ngày sau để hóa dán thư ờ ng5’
(Ghi theo người Dao Tuyển thôn Xuân Hòa,
xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai)
H ự u PHONG CHÍNH ĐƯỜNG
DI Á u PÓNG CHÁNH ĐOÒNG
* Dạc họp sám làu pèng nhắt phun
Nghền nhụy ấn tình tàng mạn thỉn
0) Hát trêu đùa ba cô trong hôn đoàn nhà trai.
<2) Các cô đáp lời: Chúng em còn bé không dám ngồi sánh vai cùng quý ông tại cung đường.
'3) Nơi nhà gái, chỗ ba ông ngồi, coi như triều đình đang thịnh; tại đây
có nhiều Kiều Nga (các cô gái đẹp ở bên nhà gái) rất họp với ba õng sao các ông không đặt vấn đề.
<4) Nhiều cô đẹp thật nhưng các ông chỉ nghĩ tới ba cô nhà trai.
<5) Từ biệt địa điểm tổ chức hôn lễ qua ba ngày cưới, hết chức năng nhiệm vụ quan “tam phẩm”, ba ông lại là dân.
Trang 14* M ụng hòa chàng hò pôi cô quây
Tòi lọ nàn cánh họp gong nhảng
Tổng chánh vàn nhồn tay tòi cha
Tài chảnh hò chùy hi tỉu nhiêu
HÁT Ở M ÂM ỒNG C H Á N H Đ O Ò N G
Ông Chánh Đ oòng đáp 3 cô nhà trai đón dâu:
* Ta m ới gặp nhau ngày đêm trọn
Ngôn ngữ ân tình chưa thỏa tâm.
* Những m ong hóa thành bao vật quý
Theo các cô về tới Nam Châu (nhà trai).
Tiễn thánh vể nguồn, đế xa giả
Còn ta nào biết về x ử nào.
(Ghi theo người Dao Tuyển thôn Xuân Hòa
xã Tân Dương, huyện Bảo Yen, tỉnh Lào Cai)Hai bài thơ ca cùa hai thanh niên Dao Đại Bản dưới đây thê hiện tâm trạng và cách ứng xử cua họ
- Hàn tan (Đơn thân) là chàng trai nông dân nghèo hiện dương
- Co sin (Cô thân) là nhà quý tộc trẻ tuổi ở âm gian
Trang 15HÀN TAN
Hàn tan phắng tài mậu vắng phẩy
Pơi cù pin súi mịn phấy buây
Bủa phin mài ên danh chùn tang
Mậu ên sùi pịn súi thùi buây
Bủa phin mài cha pin quây diếu
Tan cháy mậu cha mộng súi sing di âu
M ột mình tưởng nhớ đến em
Chang dám dối lời như bồ câu nọ
Trên mặt nước hồ bay hoài mãi
Nhủ em có lòng bơi thuyên tới
Không có lòng mặc nước cháy trôi
Có chồng rỗi thì nên về sớm
Bên hồ vô vọng xanh xanh
Không nhà không cửa mình anh sầu buồn.
(Sưu tầm tại Quang M inh - Châu Quế Phong Dụ Thượng - Văn Yên - Yên Bái)
CO SIN
(Bài Co sin này không kịp chép nguyên bản vì:
- Chủ sách ở K hai Trung đem sách đi cúng xa.
- Chủ sách ở Trung Tâm cho họ hàng mượn sách chưa kịp lay về.
Trang 16CÔ TH Â N
M ặt trời qua sông không qua sớm
Rọi sáng nhà tôi ánh dư ơng xa
Thiên gia vạn nhà trời không chiếu
Chiếu m ỗi mình ta kẻ không nhà.
M ặt trời sang sông chẳng sang sớm
R ọi sáng buồng tôi ánh m inh dương
Nghìn p h ò n g vạn p h ò n g trời đâu chiếu
C hỉ chiếu mình tôi kẻ không buồng
(Buồng còn có nghĩa thứ hai: vợ hoặc người yêu)
Dất nhật dấm chiếu phăm nhật chuối
Phăm nhật dấm chuối dấm choàng chiếu
Chiếu chín chiếu hô pại m iền siên
Chiếu chấn tó pui dào sệt nhi àn
Trang 17Dịch: KHÔNG THÀNH RƯỢU
M ột ngày nống rượu say ba ngày
Không say ba ngày không thành rượu
Rượu trước rượu sau hại thản người
Rượu lắm chén, buồn chết người.
(Rút từ sách Bàn Vương
ở xã Toàn Son - Đà Bắc - Hòa Bình) Thời phong kiến, tai họa thường xuyên giáng xuống đầu người Dao song cũng có thời kì trời lành đất dịu, vua quan và thứ dân một dạ hợp hòa Người Dao ứng dụng thời khắc quý hiếm này vào hôn nhân hôn lễ
CHỨC ẢNH DƯƠNG QUAN
“CHỌC ENG DÀNG CUỐNG”
Bàng ghi-ẹng chủn tết eng sắc nộn
Mằn có lọ nghiếp tai pèng đì
Chọc eng dòng cuống tay bong lêt
Hòng đì nhuy chang cang đàn hì
Trang 18Dịch: D Ư Ơ N G Q U A N G R Ạ N G N G Ờ I
Vạn trượng tiết xuân sắc trời dịu
Dân hát m ừ ng vui cảnh thái bình
D ương quang rạn g ngời xe vua xu ồng
N gọc tướng ánh hồng g iá n g trần gian
Thánh thần thảy n gự nơ i n gọc án
Dân yên nước thịnh nghe sấm vang
Năm khí nguyên tạo m uôn loài thuận
N ghi lang giá n g hải trông vảy rồng.
(Sưu tầm tại X uân H òa - Tân Dương
B ảo Y ên - Lào C ai - D ao Tuyển)Thảm họa động đất hai năm D ao, M ão đã tàn phá xã hội cộng đồng Dao dưới triều Nguyên Thuận Đe Trung H oa (năm 1368) Tai nạn khủng khiếp này được người D ao đưa vào sách cúng, sach hát, sách sử đế con cháu ghi nhớ suốt đời.Tên bài hát rất khác nhau, vừa dùng ca vừa dùng ngâm.Bài “Diệu tom han dung ph ây ” trích dưới đây của đồng bào Dao Đại Bản, D ao T iểu Bản ở Y ên Bái, Phú Thọ, Tuyên Q uang, Thái N guyên, Cao B ằn g
+ Đ ược rút ra ở các sách Bàn Vương, Bàn Vương thư, Bàn H oàng ca thư:
Diần M ao nhậy nin thin tải han
Xiềm sên tũa m ụa tricn chiu in
Tháo sấu quyền xoong m ậu liệp mai
Tháo sấu họ toòng puấn m ậu kinh
Trang 19Tháo sấu xiềm cán mẩu súi lậu
Diếu phấy phái nhiều mầu mản sin
Diần mao nhậy min thin tải han
Xiềm sên tũa mụa trien chiu khâu
Tháo sấu siềm sên mẩu súi lậu
Tháo sấu pèng tín khúng khán mầu
Kẽ mụa chậu tào xuất khuýa in
Chiu mụa xuất tài iên tũ khuýa
Sủi đía sình tòi xui xuất in
Súi đía sình tòi xui khuýa âu
Đồ mà con đía xuất sình in
Tông pin ỏm
Ù dùn diệu pá pã pin tài
Nhần vả pã pin tú pải lìu
Chiều chiêu guyền guyến xuất tài khán
Thin tẩy tông
Thin sái phía sâu quây búa king
Thin sái trụ xi - em thin chảng liệp
rô S i l l irụ \ i - em tài pái phing
Tliin tàv Tông
Thin sai số sâu quây búa chiêu
Thin sái trụ xi - em thin chảng liệp
Tồ sái trụ ây tẩy dịa chiều
Dịch:
Dân, M ão hai năm, trời họa lớn
Tre gỗ, chuối rừng ra khỏi hết
Trang 20Đến nỗi công kho gạo chắng còn Đen nôi trường học, sách cũng không
Đến nỗi đầm sâu không luồng lạch
K iệt cạn khiến chết nghìn vạn cá Dần, M ão hai năm trời đại hạn Rừng sâu, nứa chuối chảy hết khô
Luồng lạch đầm sâu cũng chẳng còn Đen noi ruộng bằng không nhìn thấy
K hói lửa xuyên thân bổc ngọn cây Lửa từ cây chuối p h ụ t ra
Rêu xanh đáy nước p h u n ra khói
Đ áy nước rêu đả p h ụ t lửa âen
Gốc cây g a i rừng bốc khói xanh
Bên Đ ông ảm đen
M ây đen từ p h ía Đ ông đến
N gười nói bên Đ ông thiệt hại rồi Châu châu huyện huyện chạy lại xem
Trời đất động
Nhà vua viết giấy báo về kinh
Vua mặc áo lập đàn lễ trời
Tháy trò pháp sư mặc áo lễ sao Trời đất động
Trang 21Vua thảo văn thư báo về châu
Vua mặc áo lập đàn lễ trời
Đạo tử mặc áo cầu dưới đất.
TỒM HAN
Chạng thảo cô sên di ảm chiến thiên
Ký sì tũ tháo thai phình nin
Thám nìn mậu í thin tá hán
Liệp mả vuầy tào duẩn chổng miền
Nhụt quái chiệp hửm quang mành phiu
Luồng quây tá khói phủng quây thiên
Lên đinh núi cao chẳng thấy trời(l>
Bao giờ thấy được năm yên vui
Ba năm không mua trời đại hạn
Thẳng ngựa truyền báo dân khắp nơi
Trăng đã qua rằm thì ít sáng
Rồng về biển cả, phượng về trời(2>.
(Tân Lĩnh - Lục Yên - Yên Bái - Dao Đỏ)
(1) Bài này nguồn gốc ở sách cúng Bàn c ổ , phát âm bằng hai thứ tiếng Quan Hỏa và Dao Do bài có liên quan đến vận mệnh cùa cộng đông - xã hội nên nó được đồng bào nam nữ thuộc lòng và hát than khi gặp vận hạn.
(2) Hoạn nạn đã đến, ai đi đâu thì đi Cũng có bài nói “về núi” tiếng Dao là “Quây sên”.
Trang 22P Ụ A M Ù N M Ù I
Dịch:
Dịch:
Mùn mùi chà tuông chia có làng
Chia có chái cha dũ giải chia
Chia có hèng dàu tài sía soong
HỎI CÔ EM
Hỏi cô trong nhà mấy gái trai
Có mấy ở nhà giúp cha mẹ?
Mấy đi xa tìm vợ tìm đôi?
(Lản Nhì Thàng - Phong Thổ - Lai Châu - Dao Đỏ)VẤM SỐ GAI GHÌU
Dang mân tại tầu long tra đón
Dam ghìu cha chiáng sit dâu pẻ
Dãm pấu trán trèo chú nhàn mại
Thấy chú dang cản nàn dăn hùi
Dam cố sáng tàu dâu pé quây
Púng sáu chi - ăn tàu nhân tốt chá
Chấu veng vếu vặt chầy loong đăm
v ấm số gai ghìu chầy loong hùi
NƯỚC MÁNG CẠN HẾT
Dương trần thăm nhau đưa trà đón
Uống chè nhạt mới phải anh em
Trang 23Ấm phủ mât tiền mua trà chén
N hớ tiếc dương gian khó trở về
Ở xa liên tưởng anh em quý
Phóng chân tới nhà nhận đúng nhà
Đường đến nhẵn thực là anh tới
Nước máng cạn anh p h ả i múc th ô i(l>
Trước khi lên nhà sàn, nước hết chu nhà phải múc vào cho đầy, nhưng là khách đến chơi mà anh tự múc thì mới phải là bạn
XUẤT SỚI
Thơ ca lịch sử dân tộc Tiểu Bản (Dao Tiền) thể thất ngôn cùa họ Bàn thôn Suối Bí, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La nói về bốn họ lớn được phân ra:
Puôn suất Piền cha tài dất lầu
Puôn suất Trêu cha tài nhẩy lầu
Puôn suất Lại cha phàm có lầu
Puôn suất Tảng cha phay có lầu
Trang 24T ÌN H Y ÊU
Dich:
GHIN G SANG QUÁ GỎI
Ghing sang quả gỏi mụi chấy eng
Nọi gậy tòng đềm m ậu sa chấy
Thíng tàu mặn tỉn quá m ạn tây
Phùn bây gậy đầu chấy phổi chấy
Tham nhột quả gỏi dằm dàng mi
Pé nệu dàm lành cóc nhen gỏi
Cóm che song cắn sâu pêu bấu
Tủi tau thám tóng pêu bâu đềm
Tham nhột kẻng đền đòi thai chóng
Tủi tạu dòng dàng tú m ăn thím
TR ÊN R Ù N G H O A N Ở
Trên rừng hoa n ở cây tươi tốt
K hông p h á i m ọi cày đều có mật
Trên trời đầy sao, dư ớ i rừ ng đầy hoa
Ban truyên trai g á i đư ợc y ê u thương
Chim chóc muôn loài đều m ở m ắt
Cảv mía chờ đến vụ thu hoạch
Đ ợi mùa thu, mía ngọt đến ngọn
Tháng Ba cày bừa, m ọi người trồng cấy
Tháng Chín ỉúa vàng, dạ yên vui.
(Sưu tầm ở Phong N iên - Bào Thắng -
L3 0 Cai - Dao Tuyên)
Trang 25MÀI PHIÊM LÂY THÔNG(1)
Mài phiêm phiêm lây thông
Mầu phiêm ghẽ pí quả tàng lồng
Mài phiêm dất nin kỉn pham kỉn
Mầu phiêm dất thẩy điệm phang puồng
Dất nin pham pé lụa chiệp nhât
Diêm tan chiêm dỉa tú phàng puồng
Hải nhất phang puồng mặn nỏi thỉng
Hỏa mấy diều chai thin dịa thing
Lầy nhiều diều than hắng pẹ trị
Kỉn chiếm puồng liều hắng tỏi luồng
Mìu mài chiền phiêm mị mài ấy
pển chằng thúi đía dất thong luồng
Dịch: CÓ TÌNH LÒNG AI THANH THẢN
Có tình lòng ai thanh thản
Không tình như ngọn đèn cách bóng
Có tình một năm thấy nhau ba lần
Không tình nghĩa, suốt đời chảng nhìn thay nhau Một năm có 360 ngày
Không đâu chi gặp có đêm nay
(l) Bài: Dân ca Dao Nga Hoàng (Quần Chẹt) do hai vợ chồng nghệ nhân Triệu Thị Loan - Dương Đức Chính quê xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tinh Yên Bái trình diễn và đoạt Huy chương Bạc tại Liên hoan Hát Dân ca và Giao duyên toàn quốc lần thứ nhất (1994).
Trang 26N gày m ai g ặp nhau sẽ n g h ĩ lại
Đ ến cả ông trời cũng ra lời hát theo
Con cá lượn trắng n h ư hòn sỏi
Thấy chàng đẹp tựa con rồng
Ánh có tình thì em có nghĩa
Thành đôi rồng uốn lượn dư ới làn nước xanh trong.
DỪNG C H Ậ U M À I C O N , C H ÌN G M À I LẬU
Chiu chiu chin m ụi phiêm ph ây thảu
M ậy híu mìu phiêm phảng hải pin
D ùng chậu m ài con, chìng m ài lậu
Thúi xuất m ài nhuần cắp khói liều
Ên dùn m âv goi chỏi phiêu khí
Y phiên piên lậu bên lọ pin
Tấu lây phỏng phây nàn thảu chiếm
Q uả hoi phiêm toang nin quỷạ nin
Tú thin xẩy dịa hòng ên phú
Diệm văng phin ên m ui chiếm tú puồng liều
N gày ngày lòng em n h ớ đến
C hăng biêt lòng anh nh ớ p h ư ơ n g nào
Dân ca Nga Hoàng (Quần Chẹt) do nữ nghệ nhân Triệu Thi Loan quê xã Cát Thịnh trình diễn tại Liên hoan Hát Dân ca giao duyen toan quốc lẩn thứ nhất 1994 đạt Huy chương vàng.
Trang 27Cây đa cỏ gẻc tình có lối
Nước hợp dòng chảy về biển khơi
Sổ phận không m ở tự mình ph ả i m ở
Đừng có sửa đến giữa chỉm g lại bỏ
Không thể không đến với anh vi lòng em quá nhớ Chang lẽ đế ở trong lòng năm qua năm
Được trời ban xuống hồng ơn phúc
Không uổng nghĩa tình anh đã gặp em.
HỌP DỒN NÀNG SẬP NGẬU
Cúng nên mây chấy cán dam sin
Vóa sàng pỏng tâu dăm rì gầy
Năng chậy quây chấy nên táu phan
Dẹt nhột dam pòng hô nhột pòng
Meng năng thai pòng châm thỉm nêm
Họp tăng mây chấy ban thôi dồn
Năng tú họp dồn năng sập ngậu
Pet tinh ngậu lùi ta dăm gỏi
Nhớ mong rr>' ' 1 )1 nhưng không gặp
Hỏn íiiò:ưi con giỏ bay tìm em
Neu anh nguyện ước đến bên nhau
Trang 28M ột ngày không gặp ngày sau gặp
M ong sao giáp m ặt như lòng ước
Ta cùng nhau p h ố i kết vạn năm
H ợp duyên bền vững tựa trăng răm
N hấ t định ngũ l ô i (ì) đánh không tan.
(Sưu tầm ở Phong N iên - B ảo Thăng -
Lào Cai - D ao Tuyển)
C Á Y PA O H IÊU
Tủi tâu ngậu kéng cáy pao hiêu
Tau den thíng hì cóc tọng thím
G oạng phan dậu dồn ròi chảm tòi
N hằm rì chang vay tản dòng voải
Số nhun tăng goòng thím dặm bông
N hìn biệt phún gầy thỉm dăm gầy
M ung hỏa sằng hò thắc nhột lâu
Diến dáng thai tản bây rùy thím
Đ ã canh năm, tiếng gà báo hiệu
Sao thưa trăng lặn động lòng người
Đ ôi bên hữu tình thèm trao đoi
Ngâm thơ giao đoi sảng khoái dài
Chúc nguyện cùng chàng tâm không thả
N gười phân ly, tâm chẳng ly rời
(l) Ông Thiên Lôi.
Trang 29M ong hóa thành gỉ chặn đường trời n>
Uyên ương nán lại như nguyện ý.
(Sưu tầm ở Trì Quang - Bảo Thắng -
Lào Cai - Dao Tuyển)DĂM L ự N HỊN
Đáy nước trân châu(2) không d ễ hiện
ít gặp cây khô lại sinh hoa
Dưới nhà trồng chàm mong thành bãi
Bên nhà trồng mía mong thành đường.
(Sưu tầm ở Mường Thải - Phù Yên -
Sơn La - Dao Họ)LẠI TÔ LẾT SÚI
Pìa sên trám mùa mùa dệm tố
Dịa súi phát chiền mung dệm khoi
(1) Mong có phép gì ngăn trời đừng chiếu sáng để hai ta được hát nữa (vì hát đêm).
<2) Ngọc quý.
Trang 30Dich:
Lầy nhiều táo tòi kêm súi đía
Lại tô lết súi súi mầu khoi
DAO SẮC CHÉM NƯỚC
Vào rừng chặt cây, cây không đô
Xuống nước quăng chài, chài không m ớ
Cá chép đi lại đáy nước vàng
D ao sắc chém nước, nước không mờ.
(Sưu tầm ở Phiêng Luông - Mộc Châu
- Sơn La - Dao Tiền)
CHI - ẨU VÌA - CHI - ẨU PUÔNG
Chi - ẩu vìa dổm choong pến sáo sá
M uôn sín dom choong tang chi - ẩu puông
Dom siến pỉn khán khoa lò chỉa
Nàn hò phối dáng kít khoa chuông
LÚA C ủ - GIÓ XƯA
Lúa cũ không nên làm cơm m ới
Q uạt m ới khô ng nên h ó n g g ió xư a
Chằng tin nhìn bên hoa rơi rụng
Khó thê kết đôi cùng hoa rữa.
(Sưu tầm ở Phiềng Luôn^ - M ộc Châu
- Sơn La - Dao Tiền)
Trang 31DỘM KHOI KHOA
Trẩu mùa lánh sánh trậu
Trẩu mùa lánh sánh dộm khoi khoa
Váng ới tại chùn dộm mài loảng
Váng ới tăn siên mậu puốn ca
Cây không có lả cày
Cảy không có lá không nở hoa
Đại thuyền không nước sao qua lại
Đơn thân lai vãng không bài ca.
(Sưu tầm ở Phiềng Luông - Mộc Châu - Sơn La)
DẦM PÂY HÁI TÓ
Đáp chảng khoa hồng khán hoa hỉn
Hìn chàng mìn chín tó tó dang
Phay làng liệp phiêm dé diết tó
Dảm pây hái tó tháo mùi phiêu
Bước chân nhìn thấy hoa hồng hiện
Đóa đóa trước mặt ngời ánh hoa
Trang 32Nhớ anh định tâm ngắt m ột ãỏa
Nào biết bông nào đên tay ta.
(Sun tầm ở vùng Làn Nhì Thàng - Phong Thổ - Lai Châu - Dao Đỏ)
CHÁY CHIÈM
Pẹ chấy piẽu nhàn biều dỉa súi
Tũ chín chấy chiềm nhàn chiểu biêu
Phin dang ói kít dảm diếu vả
Chiềm nhất chấy chiềm nàn nỏi phiêu
Giầy trắng bọc tiền bỏ xuống nước
Được thấy giấy chìm bạc nỗi lên(I>
Tiên nương muốn lay không nói sớm
Bảy giờ giấy chìm khó noi lên.
(Sưu tầm ở vùng Làn Nhì Thàng Phong Thổ - Lai Châu - Dao Đỏ)CHÉP CHÒI VÌN TUÔNG
Phay làng phún liều phiêm chê quá
Mái híu kình chiêu quá hái chiêu
Mẩy híu kình chiêu quá hái quờ
(” Đông bạc trắng ngày xưa khá nặng, không thể nổi lên mặt nước.
Trang 33Pẹ quờ mài khoa sái cháng chiêu
Pẹ quỡ mài khòa sái cháng guyên
Chếp chòi vìn tuông dàng suốt nhỉa
Chiệp puôn dàng lảng sính tòng dàng
N hớ anh không rõ lòng anh có
Biết chăng Kỉnh Châu(l> qua châu nào
Không biết Kinh Châu qua nước nào
Bạch quốc(2> có hoa bừng sáng châu
Bạch quốc có hoa rực chiếu huyện
Hương sắc gia trung tỏa khắp ngoài
Mười phần sáng lảng, bìm g rực sáng.
(Sưu tầm ở vùng Lang Thíp - Dao Đỏ)CHỦN LÂ Y MỤI
Chùn chây pun lời ghỉa lâu quây
Loòng tài lìn nhoàng tú piến khố
Quây ki-a phây mụi ía phiêm dào
Lây pệt mụi
Chín tùn phơi phin lầy pệt quơi
Siếu nhum pham xí hồng là tụn
Diết sĩ puôn loàng luồi luội quơi
Trò phiu lậu tái tro lọ mụi
(1) Tên một châu xưa cùa người Dao.
(2) Ám chỉ người.
Trang 34V in lậu tró lọ chỏi tẩy nhoàng
Trò lọ chòi hoàng liều toong chiểu
Liều loòng quýa hô éng tài làng
CH IA TA Y EM
Sắp sửa chia tay dưới đầu đường.
Anh đến với em m ới nửa phần,
về nhà nhớ em, lòng ưu phiền.
Ly biệt em
Cắt đứt dây tơ ly biệt về.
Ba tấc chỉ hồng trong tay nắm.
M ột tác trao anh lệ tràn trề.
Tiếng hát câu cười em g iữ chắc.
Đ ường xa hoàn lại đất làng em.
Trả hết nhưng ruột còn lưu giữ.
G iữ lấy cho anh đế về sau.
(Rút ở sách “P á o D ung sâu” xã Toàn Sơn
huyện Đà Bắc - H òa Bình - Dao Tiền)
M UỒN TIU
Tiu nay nhàng muổn
Hôp giêm làng tào
Làng khu xê vuổn đang
Trang 35Khu tiu giệt dang hang thin dang
Hả hóp pau nhờ di-àng
Dùi xe vuổn đang
Đang luồng dinh, đang nhang dinh
MỜI RƯỢU
Rượu đây em mời
Uống từ đầu làng
Cuối bản van còn thơm.
Rượu ngon m ột chén như ngàn chén.
Uống đã ba năm.
M iệng van còn thơm.
Thơm tình anh, thơm tình ta.
(Triệu Thị Loan, người Dao Quần Chẹt ở Cát Thịnh
-Văn Chấn - Yên Bái cung cấp)TÚN TỊNH CHIÈN TÚN TỊNH
Tăng: Tún tịnh chiền tún tịnh
Toòng chia nhụt tàu tún tịnh tăng
Piền pung tậy chiếu chấu chín kín
Trìa hùng pụa mẫu híu con tằng
Diết tìu hồng phây dện siếu hún
Siếu hún phùn phi-ai lọ chán tuông
Chán tuông phếu tài dòi tú di-ấm
Trang 36Diầm chùn lậu chạng tú phàng puồng.
Khoa\ Tún tịnh chiền tún tịnh.
Toòng chia nhụt tàu tủn tịnh khoa
D àng sấy dàng dùn m ây tú phúi
Diềm sấy diầm dùn chổng phúi khoa
Dịch:
Trai: N hất quyết thật nhất quyêt
Lẩ y m ặt trời xác nhận " tr a i”
Cầu xin thổ thần chứng giám cho.
Ô ng trời, cha mẹ biết căn do
M ột dây tơ hồng tay quẩn ngón.
Cắt m áu tay rỏ vào chén này.
Chén m áu nguyền hai ta cùng uổng.
X u ố n g đư ờng âm ta lại g ặ p nhau.
Gái: N h ấ t quyết thật nhất quyết.
Xin m ặt trời chứ ng nhận “h o a ” n>
D ương thế d ư ơ ng gian không được kết
Âm thế âm gian cùn g cư ới hoa.
(Sưu tầm ở thị trấn Tằng Loỏng - Lào Cai - Dao Đỏ)
Trang 37Thàu năng nhà lì poòng cảm chc
Tạn chụ đềm thim dặm ây gầy
Châu dăm pản đằng đằng pản chậu
Chăm chậu chặn cắn đằng dăm gầy
Dịch: CON DÚI GẶP CÂY MÍA NGỌT
Giấy trắng tựa cô mười tám tuổi
Chữ viết xấu như cụ sán mươi
Tựa thể con dúi gặp cây mía
Được ăn ngọt không muốn xa rời
Dây leo lên cây, dây chẳng rời.
(Sưu tầm ở vùng Phong Niên - Bảo Thắng
Lào Cai - Dao Tuyến)
TỎNG CÓI MÁNG MÀNG
pỏng quai thển tàu sâu dòng vin
Méo hạc tủi chùn nghẹc thui dầu
Tỏng cói máng màng pấy sa vạ
Chỏng thím pùng ây châu rồn tủi
Gió qua đầu rừng thoi nứa rung.
Mèo học bơi thuyền lộn ngược dòng.
Trang 38N ào biết biến Đ ô n g rộng từng bao.
M à đã rắp tâm ã ẩy thuyền vào.
(Sưu tầm ở vùng Phong Niên - Bảo Thắng - Lào Cai - D ao Tuyển)
NĂM M ÀU TÁ N
Dất nãm màu tán det qua phạt
Ting thai dồn sóng thây quấy hòng
D òng tim m àu tán phăn de chấy
Thám sếu quả cha lò n ày sóng
HOA D Â M B Ụ T
M ột hoa dâm bụt m ột hoa nở
Đ ịnh vị trên cành luôn luôn đỏ
C hàng nói dâm bụ t đỗ không p h ả i lúc nào cũng đò
K hông quá ba ngày rơ i rụng đất.
(Sưu tầm ở vùng Phong N iên Bảo Thắng
-Lào Cai - D ao Tuyển)
D Ẩ U D ÍA PH ÌN D Ă N G
Ghé ngàn sien tào khan khòa hỉn
Hỉn tháo piến thin nơ - hắng tó chiêm
Phay làng sún siếu dé diết tó
Dầu día phin dăng sien chỉn loòng
Trang 39Dịch: E SỢ TIÊN N Ư ƠN G
c ch núi rùng bên thấy hoa hiện.
Hiện đến lưng trời tựa đóa vàng.
Lòng muốn g iơ tay ngắt m ột đỏa.
E sợ tiên nương gh ét bo chàng.
(Sưu tầm ở vùng Làn Nhi Thăng Phong Thổ - Lai Châu - Dao Đỏ).TÓNG QUÁ
Dùy năng ú dồn quai thỉn ghịng
Cung sin tóng quá phạt dăm dôn
Dòng năng ú dồn tâu kẻn chi-ao
Ngạy năng tóng qua tệt nhây dồn
Tết lo si tàu cheng lò này
Vấy bây ú dồn tảm chăm ghịnh
Ta như con khi chuyển trên rừng.
Nhìn quả đài hái không lấy được.
Anh như con khỉ nhưng khôn bụng.
Em tựa đài hái thân rơi rụng
Đe cho con khi tha vào rừng.
(Sưu tâm ở vùng Phong Niên Bảo Thắng - Lào Cai - Dao Tuyên)
Hột đài hái dùng làm nhân bánh nếp.
Trang 40TẤU LẦY M Ậ U V U Ầ N
Coong súi miều m iêu nan khàn ỗ
Thin chảng mẩu nài nàn khán chình
Chia lầy m ậu chín nàn pịa hoọng
Tấu lầy m ậu vuần nàn díp chang
Suối khe tràn trề khó thấy nhà.
Trời cao không đ â t khó thấy tình
Cha nội không tiền khó vào phổ.
Tim ruột không hồn khó tiếp chương(I).
(Sưu tầm ở vùng Lang Thíp
V ăn Y ên - Yên Bái - Dao Đỏ)
TH A Y VĂN HỆP
Tạu mọ pòng tỏng thay văn hệp
Ghin toỏng chi-ẩu quai đâu màn thẻng
Dẹt thúi tảnh m ành dăm sa nhột
Dét thây gậy đàu dặm sa chủn
Tau chạm mọ pầy dậu nhột họm
Nghìn mện quây dòng mậu nhột hàn
Rì nhạo ắn pấy lành tán dạc
M ậy nệm quây dòng mậu dạc ấy
(l) V ă n c h ư ơ n g , trò ch u y ệ n