1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục Luật bình đẳng giới theo tiếp cận phát triển cộng đồng cho thanh niên người dân tộc Thái tại thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

122 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục chuyên ngành Giáo dục và phát triển cộng đồng với đề tài “ Giáo dục Luật bình đẳng giới theo tiếp cận phát triển cộng đồng cho thanh niên ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

SA HUY HOÀNG

GIÁO DỤC LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG CHO THANH NIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THÁI TẠI THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Quang Uẩn

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn của mình

Người cam đoan

Sa Huy Hoàng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục chuyên ngành Giáo dục và phát triển cộng đồng với đề tài “ Giáo dục Luật bình đẳng giới theo tiếp cận phát triển cộng đồng cho thanh niên người dân tộc Thái tại thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của bản thân, sự giúp

đỡ, động viên khích lệ của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và người thân Tác giả xin chân thành cảm ơn những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu.Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc GS.TS Nguyễn Quang Uẩn đã tận tình hướng dẫn luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Tâm lý giáo dục học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc học tập, nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

TÁC GIẢ

Sa Huy Hoàng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Cấu trúc của luận văn 5

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO THANH NIÊN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THÁI 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về bình đẳng giới và giáo dục Luật bình đẳng giới 6

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.2 Khái quát về Luật bình đẳng giới 17

1.2.1 Mục tiêu bình đẳng giới 17

1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới: 18

1.2.3 Chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới 18

1.2.4 Nội dung quản lý và chính sách về bình đẳng giới 19

1.2.5 Các quy định về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình 19

1.2.6 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện Luật bình đẳng giới 22

1.3 Giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái 28

1.3.1 Thanh niên người dân tộc Thái 28

Trang 5

1.3.2 Các đặc điểm tâm lí, văn hoá xã hội của thanh niên người dân tộc Thái

29

1.3.3 Giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái 35

Tiểu kết chương 1 46

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO THANH NIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THÁI TẠI THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI 47

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 47

2.2 Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong thanh niên người dân tộc Thái tại thị xã Nghĩa Lộ - tỉnh Yên Bái 55

2.2.1 Thực hiện các quy định về bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xã hội 55

2.2.2 Đánh giá chung về tình hình thực hiện bình đẳng giới trong thanh niên người dân tộc Thái tại thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái 65

2.3.Thực trạng giáo dục Luật Bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc Thái ở Nghĩa Lộ 67

2.3.1 Nhận thức của thanh niên dân tộc Thái về bình đẳng giới 67

2.3.2 Thực hiện quá trình giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái ở Nghĩa Lộ 69

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện Luật Bình đẳng giới 84

Tiểu kết chương 2 87

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ GIÁO DỤC LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO THANH NIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THÁI TẠI THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI 88

3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp giáo dục 88

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục Luật bình đẳng giới 88

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ giáo dục Luật bình đẳng giới 89

Trang 6

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp đối tượng 92

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả giáo dục 93

3.2 Các biện pháp giáo dục 93

3.2.1 Biện pháp1: Nâng cao nhận thức của các chủ thể giáo dục về việc giáo dục Luật bình giới cho thanh niên dân tộc Thái 93

3.2.2 Biện pháp 2: Giáo dục qua các phương tiện thông tin đại chúng 95

3.2.3 Biện pháp 3: Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái qua các lớp bồi dưỡng 97

3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức các hình thức giáo dục thông qua các câu lạc bộ, sinh hoạt văn hoá cộng đồng; lễ hội; các phong trào thanh niên 98

3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện giáo dục, cơ chế chính sách cho giáo dục Luật bình đẳng giới 99

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 100

3.4 Khảo nghiệm nhận thức về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 101

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị 55

Bảng 2 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế 57

Bảng 3 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 59

Bảng 4 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế 61

Bảng 5 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình 63

Bảng 6 Kết quả việc thực hiện bình đẳng giới của thanh niên dân tộc Thái 67 Bảng 7 Thực hiện mục tiêu và nội dung giáo dục Luật Bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái 70

Bảng 8 Thực hiện các hình thức giáo dục Luật Bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc Thái 73

Bảng 9 Thực hiện các phương pháp giáo dục Luật Bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc Thái 76

Bảng10 Thực trạng các biện pháp giáo dục Luật Bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc Thái 78

Bảng 11 Kết quả giáo dục Luật Bình đẳng giới 80

Bảng 12 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện Luật Bình đẳng giới 84

Bảng 13 Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 101

Sơ đồ mối quan hệ giữa các biện pháp: 100

Trang 9

Về mặt pháp lý, thực chất vấn đề bình đẳng giới được qui định trong nhiều văn bản khác nhau nhưng chưa tập trung, thống nhất Chưa có văn bản Luật riêng về lĩnh vực này Để khắc phục những tình trạng trên, cùng với những văn bản pháp luật liên quan thì Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 Đây là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm pháp luật bình đẳng giới Đồng thời khẳng định sự quan tâm của Việt Nam trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế

- Nghiên cứu giáo dục Luật bình đẳng giới góp phần cụ thể hoá và làm phong phú các vấn đề lý luận về thực hiện Quyền con người, Quyền bình đẳng giới ở con người

- Lý luận về giáo dụcLuật bình đẳng giới cho thế hệ trẻ, giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái (cộng đồng trẻ tuổi là người dân tộc ít người)

- Góp phần làm phong phú lý luận về giáo dục và phát triển cộng đồng

1.2 Về thực tiễn

Thực tế cho thấy thực trạng bất bình đẳng giới, khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới ở Việt Nam vẫn đang tồn tại trong đời sống xã hội, nhất là

Trang 10

ở miền núi các vùng dân tộc ít người rõ nét như: định kiến giới, bạo lực gia đình, bất bình đẳng về vị trí, vai trò của phụ nữ so với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong cả đời sống gia đình

- Luận văn góp phần tìm hiểu đánh giá hiện trạng về bình đẳng giới, hiện trạng về giáo dục luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái,

từ đó chỉ ra những mặt làm được, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong triển khai giáo dục và thực hiện bình đẳng giới ở đồng bào dân tộc Thái để có những biện pháp giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên tốt hơn

- Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc với hơn 30 dân tộc anh em cùng chung sống Tỉ lệ người đồng bào dân tộc ít người chiếm khoảng 56,5% dân số toàn tỉnh1 Hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở đây ngày càng được nâng cao nhưng mặt bằng dân trí vẫn còn thấp và phát triển không đều Nhiều quan niệm, tư tưởng phong kiến, nhất là tư tưởng

“trọng nam khinh nữ” vẫn chưa được xoá bỏ Thanh niên nam nữ vẫn phải chịu thiệt thòi cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, vẫn phải chịu sự bất bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong gia đình, đặc biệt là trong gia đình người đồng bào dân tộc ít người Với những lý do nêu trên, tôi đã chọn

đề tài: “Giáo dục Luật bình đẳng giới theo tiếp cận phát triển cộng đồng cho thanh niên người dân tộc Thái tại thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bình đẳng giới, giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục nhằm giúp cho việc giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc tốt hơn, góp phần thực hiện Luật bình đẳng giới ở vùng dân tộc ít người có kết quả

1 Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái năm 2015

Trang 11

3 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái tại thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Các biện pháp giáo dục Luậtbình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái tại thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

5 Giả thuyết khoa học

Chúng tôi cho rằng việc thực hiện Luật bình đẳng giới và giáo dục Luậtbình đẳng giới ở thị xã Nghĩa Lộ đã có những kết quả nhất định, song vẫn còn những hạn chế, bất cập Nếu nắm được lý luận và thực trạng về bình đẳng giới và giáo dục Luật bình đẳng giới thì có thể đề ra được một số biện pháp giáo dục phù hợp với thanh niên dân tộc Thái, giúp cho việc giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái ở thị xã Nghĩa Lộ có kết quả tốt hơn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bình đẳng giới, giáo dục Luật bình đẳng giới, giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc ít người

6.2 Khảo sát đánh giá thực trạng thực hiện bình đẳng giới, thực trạng giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái ở thị xã Nghĩa Lộ Lý giải nguyên nhân của thực trạng

6.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái ở thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: các biện pháp giáo dục Luật

bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái ở thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái ở thị xã Nghĩa Lộ

Trang 12

7.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu và khách thể khảo sát thực trạng

*/ Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái ở thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

nữ, Đoàn thanh niên, … 90 người (50 nam, 40 nữ)

Đại diện các gia đình dân tộc Thái: 150 người (60 nam, 90 nữ)

7.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu: thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

7.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu: năm 2016 - 2017

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Các nguyên tắc phương pháp luận

- Nguyên tắc tiếp cận liên ngành:

- Nguyên tắc tiếp cận phát triển

8.2 Các phương pháp nghiên cứu

8.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận, tài liệu, văn bản

8.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp chuyên gia

Trang 13

- Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp thảo luận nhóm

8.2.3 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học với sự trợ giúp của SPSS

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương

Chương I: Cơ sở lý luận về giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên là người dân tộc Thái

Chương 2: Thực trạng thực hiện bình đẳng giới và thực trạng giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

Chương 3: Các biện pháp tăng cường hiệu quả giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái

Trang 14

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO

THANH NIÊN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THÁI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về bình đẳng giới và giáo dục Luật bình đẳng giới

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1.Nghiên cứu về sự bất bình đẳng giới trên thế giới:

“Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ” 2

.Bình đẳng giới, tức là bình đẳng giữa nam và nữ, có thể được xem xét dưới nhiều phương diện khác nhau trong đó có sự bình đẳng về luật pháp, về cơ hội (bao gồm sự bình đẳng trong thù lao cho công việc và trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác cho phép mở ra các cơ hội này), về “tiếng nói” (khả năng tác động và đóng góp cho quá trình phát triển), về thành quả và các kết quả tạo ra

Nói chung, định nghĩa của cộng đồng quốc tế về sự bình đẳng giới có

xu hướng chú trọng vào sự bình đẳng về cơ hội và bình đẳng trước luật pháp

Ví dụ, tại Hội nghị phụ nữ quốc tế ở Nairobi năm 1985, trong Chiến lược tiến lên vì sự tiến bộ của phụ nữ đã định nghĩa sự bình đẳng là “mục tiêu và phương tiện mà trong đó, các cá nhân được đối xử như nhau trước luật pháp

và có cơ hội được hưởng quyền như nhau trong việc phát triển tài năng và kỹ năng tiềm ẩn của mình sao cho họ có thể tham gia vào quá trình phát triển với tư cách vừa là đối tượng thụ hưởng vừa là tác nhân tích cực”3 Trong những thập niên vừa qua, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và sự bình đẳng giới ở nhiều nước đã đạt được những tiến bộ vượt bậc Tỷ lệ các bé gái

2 Viện gia đình và giới, Nghiên cứu gia đình và giới, quyển 19 số 1/2009

3 Đặc san về Bình đẳng giới số 09/2012

Trang 15

theo học tiểu học ở các nước Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi đã tăng gần gấp đôi và tăng nhanh hơn tỷ lệ các bé trai Tuổi thọ bình quân của phụ nữ đã tăng thêm từ 15 - 20 năm ở các nước đang phát triển và ở một số nước, tuổi thọ bình quân của phụ nữ cao hơn nam giới4

Phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động đã thu hẹp bớt khoảng cách giới về việc làm và tiền lương Tuy đã có những tiến bộ như vậy song sự bất bình đẳng về giới vẫn còn rất sâu rộng trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, trong các cơ hội kinh tế, quyềnlực và tiếng nói chính trị ở nhiều nước Do đó, có thể nói: “Không ở nơi nào mà phụ nữ và nam giới lại

có quyền bình đẳng về kinh tế, xã hội và pháp luật”, kể cả các nước phát triển

Sự không tương xứng về quyền giữa nam và nữ diễn ra khá phổ biến trong các quy định pháp luật, luật tục, thực tiễn của các cộng đồng và gia đình

Ở một số nước châu Phi, phụ nữ có chồng không được sở hữu đất đai; người đàn ông có quyền đòi hỏi vợ phải đóng góp sức lao động nhưng người

vợ lại không có quyền đó đối với chồng mình Ở Bôlivia, Goatêmala và Siry, đàn ông có thể cấm vợ mình làm việc ở bên ngoài Ở Ai Cập và Giócđani, phụ nữ phải được chồng cho phép nếu muốn đi đây đi đó Ở một số nước Arập, phải có sự đồng ý của người chồng thì người vợ mới xin được hộ chiếu nhưng lại không có điều ngược lại5

.

Ngay cả ở những nơi mà phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng về chính trị và luật pháp như đã được quy định trong hiến pháp và các đạo luật khác của đất nước họ thì họ cũng không được hưởng chúng một cách trọn vẹn trong thực tế Giáo dục là vấn đề trung tâm để mỗi người có khả năng phản ứng lại trước những cơ hội mà sự phát triển mang lại song sự bất bình đẳng giới trong giáo dục vẫn thể hiện rõ ở nhiều vùng

4 Báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) công bố nhân dịp Ngày Quốc tế cho trẻ em gái 11/10/2016

5

http://text.123doc.org/document/1226915-bao-cao-van-de-binh-dang-gioi-tren-the-gioi-doc.htm

Trang 16

Còn phụ nữ ở Nam Á trung bình chỉ có số năm đi học bằng một nửa của nam giới và tỷ lệ học trung học của phụ nữ chỉ bằng một phần ba của nam giới Về tài sản, ở Bangladesh, tài sản của người đàn ông khi lấy vợ trung bình trị giá khoảng 82.000 taka năm 1996, còn của phụ nữ chỉ là 6.500 taka

Ở Etiopia, tổng tài sản, kể cả đất đai và vật nuôi mà người đàn ông mang theo khi lấy vợ trung bình trị giá khoảng 4.200 birr năm 1997 còn phụ nữ thì chưa đến 1.000 birr6

Điều này đã ảnh hưởng đến quyền chủ động của phụ nữ, khả năng tác động đến các quyết định trong gia đình và địa vị kinh tế của họ Ở nhiều nước đang phát triển, việc đứng tên làm chủ đất đai phần lớn thuộc về nam giới Tại nhiều nơi phụ nữ chỉ có được quyền đất đai thông qua hôn nhânnhưng những quyền này chỉ được đảm bảo khi hôn nhân còn tồn tại Khi chồng chết hoặc khi ly hôn, phụ nữ đều mất quyền kiểm soát đất đai và các tư liệu sản xuất khác Khi phụ nữ làm chủ đất đai, mảnh ruộng của họ thường có diện tích nhỏ hơn mảnh ruộng do nam giới làm chủ Các nông trại và các doanh nghiệp do phụ nữ điều hành thường ít được đầu tư vốn hơn những nông trại và doanh nghiệp do nam giới điều hành

Ở Kenya các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ sở hữu chưa bằng một nửa số nông cụ mà các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ sở hữu; 92% số phụ nữ chỉ sử dụng phương pháp canh tác thủ công, còn 32% số nam giới sử dụng các kỹ thuật cơ giới hoá hoặc dùng gia súc kéo6

Ở Malawi, nông trại do phụ nữ làm chủ sở hữu chỉ sử dụng số phân bón bằng một nửa số phân bón của nông trại do nam giới làm chủ sở hữu sử dụng

Ở Hạ Sahara trong những năm 1980, cán bộ khuyến nông đến thăm 12-70%

số hộ gia đình mà nam giới là chủ hộ nhưng chỉ đến thăm 9-58% những hộ

6 Đề tài cấp bộ Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách Chủ nhiệm: Ths Nguyễn Thị Nguyệt

Trang 17

gia đình mà phụ nữ là chủ hộ Nữ nông dân ít được tiếp cận các dịch vụ này vì

họ có trình độ học vấn thấp hơn, nông trại nhỏ hơn và vì cán bộ khuyến nông chủ yếu là nam giới (ở châu Phi chỉ có 7% cán bộ khuyến nông thực địa là phụ nữ) thường muốn hướng các dịch vụ này đến những nông trại mà nam giới làm chủ hộ Người ta ước tính phụ nữ ở châu Phi nhận được chưa đầy 10% tổng vốn tín dụng dành cho các nông hộ nhỏ và 1% tổng vốn tín dụng dành cho nông nghiệp6

Do sự bất bình đẳng về quyền và do có địa vị kinh tế - xã hội thấp kém hơn so với nam giới đã hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các tiến trình chính trị với tư cách là những đại biểu tích cực cũng như tác động tới các

6 Đề tài cấp bộ Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách Chủ nhiệm: Ths Nguyễn Thị Nguyệt

7 mot-so-dinh-huong-va-giai-phap.htm

Trang 18

http://text.123doc.org/document/1134783-thuc-trang-bat-binh-dang-gioi-o-viet-nam-trong-nhung-nam-gan-day-quyết định ở địa phương và quốc gia Phụ nữ trong thế kỷ XX đã giành được quyền bầu cử ở hầu hết các nước song vẫn còn có sự phân biệt giới khá lớn trong việc tham gia chính trị và đại diện trong các cấp chính quyền - từ các hội đồng địa phương cho đến các quốc hội, nội các

Ở Đông Á, tỷ lệ trung bình số ghế trong quốc hội do phụ nữ nắm giữ là gần 20% Ở châu Âu và Trung Á, tỷ lệ này giảm nhanh chóng trong những năm cuối thập niên 80, từ 25% xuống còn 7% Sở dĩ như vậy là vì các nước Đông Âu bãi bỏ quy định dành 25-33% số ghế trong quốc hội cho phụ nữ Ở nhiều khu vực, tỷ lệ này không quá 10% từ năm 1975-1995 Phụ nữ cũng có rất ít đại diện trong chính phủ Không ở khu vực đang phát triển nào mà phụ

nữ chiếm trên 8% số ghế bộ trưởng vào năm 1998 Ở Trung Đông và Bắc Phi,

tỷ lệ này là 2%, ở Đông Á và vùng Thái Bình Dương là 4%, ở Nam Á và châu Phi Hạ Sahara là 6%, ở châu Mỹ Latinh, Đông Âu và Trung Á là 7 - 8% Ở Nam Á, phụ nữ chiếm chưa đến 1% số vị trí cấp dưới bộ, ở Trung Đông và Bắc Phi là 4%, ở Đông Á và vùng Thái Bình Dương là 6%, ở châu Phi Hạ Sahara là 8% và ở châu Mỹ và vùng Caribe là 13%8

Những dẫn chứng nêu trên chứng minh vấn đề bình đẳng giới không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam, một quốc gia hay một châu lục nào Đó là vấn đề mà cả thế giới phải cùng đối mặt, cùng hợp tác giải quyết khi mà tuy

đã được cải thiện một phần nào đó, nhưng tại hầu hết các quốc gia, phụ nữ vẫn đang phải đối mặt với sự thiên vị nam nữ trong giáo dục, không công bằng trong cơ hội việc làm, sự bất bình đẳng về giới trong chính trị.Vấn đề bình đẳng giới được sự quan tâm của toàn thế giới, khẳng định rằng đây là một vấn đề luôn luôn được ưu tiên giải quyết và góp phần quan trọng vào quá

trình phát triển của toàn thế giới

8 http://text.123doc.org/document/1226915-bao-cao-van-de-binh-dang-gioi-tren-the-gioi-doc.htm

Trang 19

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về giáo dục Luật bình đẳng giới

Năm 2012, với sự tham gia đóng góp tích cực của nhiều chuyên gia, nhà báo, các tổ chức báo chí, hiệp hội, câu lạc bộ báo chí, các tổ chức truyền thông trên thế giới, Tổ chức Văn hoá, Khoa học, Giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã ban hành Bộ chỉ số về Giới trong Truyền thông Tài liệu này thể hiện mối quan tâm và ưu tiên hàng đầu của UNESCO trong lĩnh vực bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ nói chung và phụ nữ hoạt động trong lĩnh vực truyền thông nói riêng Bộ chỉ số cơ bản áp dụng được trong các cơ quan truyền thông của các quốc gia trên thế giới, tạo cơ hội để thực hiện vấn đề bình đẳng giới

Cho đến hiện nay, các nước phát triển đều chú trọng đến vấn đề giáo dục luật bình đẳng giới như: Nước Mỹ, Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore Để vấn đề bình đẳng giới được như ngày nay các nước này

đã trải qua rất nhiều chương trình quốc gia về vấn đề bình đẳng giới áp dụng trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học xã hội, là chìa khoá để xây dựng và phát triển cộng đồng, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu to lớn trong vấn đề này

Sự bất bình đẳng giới đang tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, vì vậy mọi chế chính trị xã hội đều có sự đầu tư ở một mức độ nhất định đến vấn đề nghiên cứu về giáo dục Luật bình đẳng giới và sự đầu tư đó không dừng lại đối với bất kỳ quốc gia, lãnh thổ nào

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội Bởi đây không chỉ là vấn đề nhận được sự

Trang 20

quan tâm chung của cộng đồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là một nước Châu Á, những hậu quả nặng nề của “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhiều trong cuộc sống xã hội

Ngày nay, phụ nữ chiếm hơn một nữa dân số cả nước, đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, bình đẳng giới luôn là nguyên tắc Hiến định trong Pháp luật nước ta: Điều 63 Hiến pháp 1992 qui định “công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình",

“nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ Xúc phạm nhân phẩm phụ nữ…” Vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa quan trọng khi nước ta đang bước vào giai đoạn mới của tiến trình đổi mới, khi chúng ta thực hiện mục tiêu mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, việc nghiên cứu về bình đẳng giới tiếp tục là đề taì được nhiều nhà khoa học quan tâm, đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng định địa vị của người phụ nữ và tạo cơ hội cho phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước Nhiều công trình, đề tài được công bố là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp lụât, chính sách dành cho phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, phòng, chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ…

Ở Việt Nam, cùng với các thành tựu đạt được về bình đẳng giới, chúng

ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là tình trạng bất bình đẳng giới còn diễn ra trên một số lĩnh vực, tồn tại dưới một số hình thức khác nhau Theo website của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện, cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước Nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và nữ giới tạo nên những cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực đời

Trang 21

sống xã hội Thực tế ở Việt Nam hiện nay, bất bình đẳng giới còn thể hiện trên một số lĩnh vực xã hội quan trọng, phụ nữ vẫn chịu nhiều gánh nặng công việc, thu nhập, phân biệt đối xử Một trong những vấn đề bất bình đẳng giới

là sự tham gia của phụ nữ trong cơ cấu tổ chức, quản lý xã hội còn hạn chế, đặc biệt ở cấp cơ sở Theo đó, tỷ lệ cán bộ nữ làm công tác quản lý, lãnh đạo còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng Mặc dù tỷ lệ này tăng nhẹ qua các năm song chưa đồng đều, chưa ổn định, vẫn ở mức thấp so với mục tiêu đặt ra Trong kinh tế, ở một số nơi vấn đề chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn diễn ra, cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp hơn so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực… Đặc biệt, tình trạng bạo hành phụ nữ vẫn diễn ra ở một số nơi, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi xa xôi Một số trường hợp phụ nữ bị bạo hành nghiêm trọng mà chưa được chính quyền, người chung quanh bảo vệ Có những phụ nữ phải âm thầm chịu bạo hành gia đình trong nhiều năm mà không dám tố cáo Thực trạng này, một phần do nhận thức hạn chế của người dân về luật pháp nên chưa biết tự bảo vệ; một phần, do chế tài xử phạt chưa đủ mạnh nên thiếu sức răn đe Bên cạnh đó, vấn

đề chăm sóc sức khỏe, nhất là sức khỏe sinh sản của phụ nữ ở một số vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các dịch

vụ y tế Theo bài viết trên Tạp chí Cộng sản, ở Việt Nam tỷ suất tử vong mẹ còn cao so với một số nước trong khu vực, tỷ suất này vẫn giảm chậm trong

10 năm qua 9

Trong một số trường hợp, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản phụ

nữ chưa được chú trọng tuyên truyền đúng mức Không chỉ nam giới, mà bản thân phụ nữ cũng chưa quan tâm sức khỏe sinh sản của chính mình và không

9 Báo Nhân dân điện tử số ra ngày Thứ Hai, 07/03/2016

Trang 22

áp dụng các biện pháp phòng tránh thai an toàn dẫn tới hậu quả nghiêm trọng Một số gia đình, dù phụ nữ tham gia đóng góp kinh tế như nam giới nhưng vẫn phải làm nhiều việc nhà hơn và nam giới vẫn thường là người đưa ra các quyết định quan trọng,… Vì thế, bất bình đẳng giới vẫn diễn ra ở một số nơi, trên một số lĩnh vực và phần thiệt thòi thường vẫn thuộc về phụ nữ

Có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới Trước hết là tỷ lệ sinh chênh lệch giữa nam và nữ đã khiến mức chênh lệch giới trong độ tuổi lao động tăng, dẫn đến sự bất bình đẳng giới trong lao động Số lượng người làm công tác bình đẳng giới còn thiếu, cộng với hạn chế về kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới nên việc tuyên truyền bình đẳng giới còn hạn chế Cùng với đó là tỷ lệ nghèo, lạc hậu ở một

số vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số làm cho lao động nữ không được đến trường học nên chưa biết chữ, từ đó chưa chủ động tham gia hoạt động xã hội, tham gia các tổ chức xã hội nhằm mang lại sự bình đẳng cho chính mình Nhiều quan niệm cổ hủ, lạc hậu, trọng nam khinh nữ, phụ nữ chỉ ở nhà quanh quẩn bếp núc, phụ nữ phải lo chuyện gia đình, trẻ em gái không cần học nhiều còn tồn tại ở nhiều nơi, tạo nên nguy cơ không hoàn thành mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam Cũng phải khẳng định rằng, nhận thức của một số người, đặc biệt là nam giới, còn thiếu tôn trọng phụ nữ, thiếu tôn trọng những giá trị mà phụ nữ mang lại cho cuộc sống Trong khi đó, nữ giới vẫn phải đảm đương việc gia đình nhiều hơn nam giới Đáng nói là còn một bộ phận không nhỏ nữ giới chưa nhận thức đầy đủ về quyền được bình đẳng của mình, chấp nhận chịu bạo hành, chịu sự phân biệt đối xử một cách gần như là hiển nhiên

Vì thế, để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, bên cạnh các chương trình hành động, các chính sách hỗ trợ của chính phủ, sự bảo vệ của hệ thống pháp luật, các biện pháp tuyên truyền giáo dục, thì quan trọng hơn là tất cả mọi người, cả nam giới và nữ giới đều cần tự giác thay đổi quan niệm về phân biệt

Trang 23

đối xử, nữ giới cũng cần phải tự nâng cao trình độ, sự hiểu biết để vừa tự bảo

vệ bản thân, vừa tích cực tham gia các hoạt động xã hội, qua đó khẳng định tự

ý thức về quyền được bình đẳng của mình

Bình đẳng giới là một trong các yếu tố để xác định một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Phụ nữ là một nửa thế giới, phải được tôn trọng, được công nhận giá trị, vai trò xã hội cũng như cống hiến của họ Ông K Matsuura, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO từng khuyến cáo: “Không nên xem bình đẳng giới một cách thiển cận như là vấn đề chỉ của riêng phụ nữ, nó đặt ra cho chúng ta những câu hỏi cơ bản về bản chất các mối quan hệ trong

xã hội chúng ta Đó là vấn đề đòi hỏi cả nam giới và phụ nữ cùng ngồi lại với nhau tìm ra các giải pháp sao cho vừa mang tính thực tiễn vừa phải dựa trên các nguyên tắc Nhưng các giải pháp trên sẽ không được chấp nhận hay bền vững nếu sự bình quyền, chân giá trị, công việc của nam giới và nữ giới không được tôn trọng”10 Như vậy, việc xây dựng xã hội có bình đẳng giới, bảo đảm bình đẳng giới là lời kêu gọi không chỉ của riêng nữ giới, mà của mọi người, là mục tiêu cần sớm hoàn thành của các quốc gia, để từ đó góp phần xây dựng một thế giới phát triển bền vững

Các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2008 của chính phủ qui định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Bình đẳng giới về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước

về bình đẳng giới Nghị định số 48/2009/ NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 của chính phủ về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới với Nghị định số 55/2009/ NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009 của chính phủ qui định xử phạt

Trang 24

22/7/2011 về việc phê duyệt chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 và Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 2/10/2015 về việc phê duyệt chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020

Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiêu biểu là: tác giả Lê Ngọc Hùng: “Xã hội học về giới và phát triển”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000; tác giả Ngô Bá Thành: “Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam”, xuất bản năm 2001; “Đưa vấn đề giới vào phát triển: thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói”, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2001; tác giả Lương Phan Cừ: “Bình đẳng giới- hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”, xuất bản năm 2004; tác giả Lê Thi - Viện khoa học xã hội Việt Nam:

“Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004; tác giả Đỗ Thị Thạch: “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2005; tác giả Lê Ngọc Văn (chủ biên) - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Gia đình và giới: “Nghiên cứu gia đình lý thuyết

nữ quyền, quan điểm giới”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2006 và nhiều bài viết đăng trên các tạp chí có liên quan

- Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề bình đẳng giới đều có đề cập đến nhiều vấn đề như:

Hội thảo khoa học một số vấn đề lý luận và phương pháp trong nghiên cứu về bạo lực gia đình (Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam tháng 11/2016)

Tại trụ sở Hội LHPN TP, Ban Vì sự tiến bộ Phụ nữ và Bình đẳng giới

TP HCM – Hội Nữ tri thức TP HCM đã tổ chức hội thảo “Vấn đề giới trong hoạt động Khoa học kỹ thuật và hội nhập quốc tế”

Tháng 9/2016, Hội thảo “Vấn đề giới trong hoạt động khoa học, kỹ

Trang 25

thuật & hội nhập quốc tế” đã được tổ chức tại TP.HCM Đây là một hội thảo trong chuỗi ba hội thảo nhằm triển khai Kế hoạch của Ủy ban nhân dân Thành phố về thực hiện “Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 - 2018”, do Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ và Bình đẳng giới Thành phố và Hội Nữ trí thức Thành phố phối hợp tổ chức

Hội thảo khoa học “Giới và An sinh xã hội” do Trường Đại học Lao động và Xã hội – Cơ sở II và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.HCM đồng tổ chức tại Trường Đại học Lao động và Xã hội – Cơ sở II (ĐHLĐXH -CSII) vào ngày 25/10/2016 vừa qua

Bên cạnh đó, trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lí đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, của Luật bình đẳng giới

Với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cùng với những công trình nghiên cứu nêu trên cho chúng ta thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam Cần có sự quan tâm hơn nữa và sự chung tay đóng góp của toàn xã hội thì vấn đề bình đẳng giới mới được đặt đúng vị trí

và tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển chung của toàn xã hội

1.2 Khái quát về Luật bình đẳng giới

1.2.1 Mục tiêu bình đẳng giới

Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

và gia đình

Trang 26

1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới:

1 Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

2 Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới

3 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử

1.2.3 Chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới

Có nhiều chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới có thể nêu lên 5 chính sách cơ bản sau:

1 Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển

2 Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình

3 Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

4 Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới

5 Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn;

hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước

Trang 27

1.2.4 Nội dung quản lý và chính sách về bình đẳng giới

Nội dung quản lý và chính sách về bình đẳng giới gồm 8 nội dung cơ bản sau:

1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

3 Ban hành và tổ chức thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

4 Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới

5 Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới

6 Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới

7 Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về bình đẳng giới

cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Trang 28

Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt,

bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: + Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

+ Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

1.2.5.2 Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế

Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: + Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật

1.2.5.3 Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động

Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác

Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm: + Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

+ Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại

Trang 29

1.2.5.4 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng

Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật

1.2.5.5 Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế

1.2.5.6 Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin

Trang 30

Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

1.2.5.8 Bình đẳng giới trong gia đình

Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình

Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình

Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn

và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật

Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển

Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình

*/ Để triển khai thực hiện hiệu quả quy định về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình và các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới cần có sự rà soát để lồng ghép các nội dung bình đẳng giới một cách đồng bộ vào hệ thống luật pháp của tám lĩnh vực chính của đời sống Cần có thời gian và các nguồn nhân lực, vật lực lớn Bên cạnh đó cần khắc phục khoảng cách giữa những qui định, những điều khoản của pháp luật, những văn bản qui phạm pháp luật và việc triển khai thực hiện trên thực tế

1.2.6 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện Luật bình đẳng giới

1.2.6.1 Trách nhiệm của Chính phủ

Ban hành chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; hằng năm báo cáo Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Trang 31

Trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

Chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền

Tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; chỉ đạo, tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Công bố chính thức các thông tin quốc gia về bình đẳng giới; quy định

và chỉ đạo thực hiện tiêu chí phân loại giới tính trong số liệu thông tin thống

kê nhà nước

Phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và chỉ đạo các cơ quan hữu quan trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của nhân dân

về bình đẳng giới

1.2.6.2 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước

Xây dựng và trình Chính phủ ban hành chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành, hướng dẫn theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

Tham gia đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Tổng kết, báo cáo Chính phủ việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới

Trang 32

1.2.6.3 Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bộ, cơ quan ngang bộ

có trách nhiệm sau đây:

+ Rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý;

+ Nghiên cứu, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;

+ Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý; thanh tra, kiểm tra,

xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới

1.2.6.4 Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp

Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới tại địa phương

Trình Hội đồng nhân dân ban hành hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới theo thẩm quyền

Tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở địa phương

Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới

Tổ chức, chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho nhân dân địa phương

1.2.6.5 Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước

về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật

Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức

Trang 33

Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới

Tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viên thực hiện bình đẳng giới

1.2.6.6 Trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Thực hiện các quy định tại Điều 29 của Luật này

Tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ

đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị

Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật

Thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới

1.2.6.7 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình

Trong công tác tổ chức, cán bộ, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có trách nhiệm sau đây:

+ Bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ bình đẳng trong việc làm, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm và hưởng phúc lợi;

+ Bảo đảm việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên nguyên tắc bình đẳng giới

Trong hoạt động, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có trách nhiệm sau đây:

+ Xác định thực trạng bình đẳng giới, xây dựng và bảo đảm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm;

+ Bảo đảm sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ trong xây dựng, thực thi pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

Trang 34

+ Giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động do mình quản lý;

+ Có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức và gia đình;

+ Tạo điều kiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹ gánh nặng lao động gia đình

*/ Đối với cơ quan làm công tác dân tộc: là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đây là một lĩnh vực công tác mang tính đặc thù thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển Trong các chính sách đó không thể thiếu chính sách về Bình đẳng giới Cơ quan làm công tác dân tộc có trách nhiệm đảm bảo để thực hiện chính sách bình đẳng giới phát triển một cách toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại vùng sâu, vùng xa vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn

1.2.6.8 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình

Trong công tác tổ chức và hoạt động, cơ quan, tổ chức không thuộc trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này có trách nhiệm sau đây:

+ Phải bảo đảm cho nam, nữ bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng; + Báo cáo hoặc cung cấp kịp thời thông tin về bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền;

+ Đề xuất hoặc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức mình

Căn cứ vào khả năng, điều kiện của mình, cơ quan, tổ chức chủ động hoặc phối hợp tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới sau đây:

Trang 35

+ Tổ chức các hoạt động tuyên truyền kiến thức về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho các thành viên của cơ quan, tổ chức và người lao động;

+ Bố trí cán bộ hoạt động về bình đẳng giới;

+ Tổ chức nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm tăng cường bình đẳng giới;

+ Dành nguồn tài chính cho các hoạt động bình đẳng giới;

+ Tổ chức hệ thống nhà trẻ phù hợp để lao động nam, nữ kết hợp hài hoà giữa lao động sản xuất và lao động gia đình;

+ Hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi;

+ Tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con

Nhà nước khuyến khích thực hiện các hoạt động quy định tại khoản này

1.2.6.9 Trách nhiệm của gia đình

Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới

Giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm

mẹ an toàn

Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác

1.2.6.10 Trách nhiệm của công dân

Công dân nam, nữ có trách nhiệm sau đây:

+ Học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới; + Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực

về bình đẳng giới;

Trang 36

+ Phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới;

+ Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân

*/ Những nhận định trên cho thấy giáo dục Luật Bình đẳng giới không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một tập thể nào đó, mà đây là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị và toàn thể xã hội Trách nhiệm này phải được hiểu đúng mức, đúng với tầm quan trong của nó và đúng với ảnh hưởng của vấn đề Bình đẳng giới tới sự phát triển chung của toàn xã hội

1.3 Giáo dục Luật bình đẳng giới cho thanh niên người dân tộc Thái

1.3.1 Thanh niên người dân tộc Thái

Đã từ lâu, trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật, chính sách Nhà nước, các công trình khoa học, các phương tiện thông tin đại chúng và cả giao tiếp thường ngày khái niệm “Dân tộc” được dùng vừa để chỉ một tộc người cụ thể (“dân tộc Kinh, Thái, Mường, Hoa ”), vừa để chỉ một cộng đồng quốc gia của nhiều tộc người như “Dân tộc Việt Nam” Chúng ta nói

“dân tộc Việt Nam là một” nhưng cũng nói “dân tộc Việt Nam gồm dân tộc Kinh, dân tộc Mường, dân tộc Thái ” Cách dùng này không thật chuẩn về mặt logic và thuật ngữ khoa học nhưng đã trở thành thói quen

*/ Khái niệm “Dân tộc”: Dùng để chỉ một cộng đồng cụ thể (Tày, Việt,

Thái, Mường, Hoa ), đó thực ra là khái niệm “Tộc người” (Ethnie), là một hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử Ứng với mỗi chế độ kinh tế - xã hội gắn với các phương thức sản xuất (nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến,

tư bản và xã hội chủ nghĩa), tộc người có một trình độ phát triển, được gọi bằng các tên: bộ lạc, bộ tộc chiếm nô, bộ tộc phong kiến, dân tộc tư bản chủ

Trang 37

nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa Như vậy, thực chất của “Dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Kinh” mà người ta quen gọi chỉ nên gọi là “Tộc người Thái, tộc người Tày, tộc người Kinh” hay “Tộc Thái, tộc Tày, tộc Kinh”, thậm chí đơn giản hơn là “người Thái, người Tày, người Kinh” mới đúng12

.

*/ Khái niệm thanh niên: Thanh niên Việt Nam tuổi từ 15 đến 30,

không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội tích cực trong học tập, lao động, hoạt động xã hội và bảo vệ Tổ quốc; thừa nhận điều lệ Đoàn đều có thể trở thành đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh13

Thanh niên người dân tộc Thái, đang ở độ tuổi thanh niên từ 15 đến 30 tuổi

1.3.2 Các đặc điểm tâm lí, văn hoá xã hội của thanh niên người dân tộc Thái

1.3.2.1 Đặc điểm về văn hóa xã hội của thanh niên người Thái

Văn hóa là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội Văn hóa cùng với ý các hình thái ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức tôn giáo, đã tạo nên diện mạo phong phú, đa dạng của đời sống tinh thần của một dân tộc và một thời đại14

Song hành với quá trình khai mở tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn, con người

đã làm nên lịch sử văn minh của mình Thời gian như chảy bất tận nhưng trong dòng chảy ấy lại là sự cô đọng của những gì tinh tuý nhất mà con người

đã gây dựng trong sinh tồn để làm thành truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc

Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, văn hóa được nhìn nhận bằng nhiều quan điểm khác nhau tương ứng với cách tiếp cận vấn đề

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa là một hệ thống quan điểm khách quan, toàn diện, cụ thể Về cơ bản, Đảng đứng trên lập

12 Trang điện tử của Ủy ban Dân tộc

13 Hướng dân thực hiện điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X

14 http://text.123doc.org/document/1683571-de-tai-5-y-thuc-xa-hoi-hinh-thai-y-thuc-xa-hoi-potx.htm

Trang 38

trường Mác xít khẳng định văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên, cải tạo

xã hội, có quan hệ biện chứng với các hình thái ý thức khác Với đặc trưng

đó, văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển15

Trong hơn 12 dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái thì dân tộc Thái là dân tộc chiếm số đông khoảng 47,8%[1]

Về cơ bản, dân tộc Thái ở Nghĩa Lộ chia làm hai nhóm chính là: Thái đen và Thái trắng

Văn hóa Thái ở Nghĩa Lộ là một nền văn hóa lâu đời, có bản sắc riêng rất độc đáo nhưng cũng không kém phần phong phú.Từ cái nhìn của triết học cho thấy văn hóa Thái ở Nghĩa Lộ được biểu hiện trên hai lĩnh vực: Văn hoá vật chất và văn hóa tinh thần Thanh niên người dân tộc Thái ở đây chịu ảnh hưởng hoàn toàn của nền văn hóa Thái

*Thứ nhất, lĩnh vực văn hóa vật chất, bao gồm:

- Phạm vi (không gian) cư trú: là địa bàn nơi người Thái sinh sống Dải đất ăn đời ở kiếp của mình được người Thái gọi là "bản"hay còn gọi là "Mật Tập" Đặc điểm của "Mật Tập" là không lấy vườn tược, đồi nương và đường

đi lối lại để quy định vị trí của nó mà lấy thế đất làm điểm trung tâm khai mở cho tổ ấm của mình Về cơ bản người Thái ở đây

Lấy sông suối, địa thế khoáng đãng để đặt hướng nhà;

Lấy thế đất chạy theo ven núi để đặt hướng, đặt biệt là đặt hướng nhà Cộng đồng người Thái cư trú ở nhiều nơi khác nhau, để phân biệt rõ về nơi "chôn nhau cắt rốn", họ đặt cho bản của mình một cái tên gọi riêng, có thể lấy tên con sông, suối, rừng, rú, là tên cho bản

15 uong-5-khoa-viii.html

Trang 39

http://thichhohap.com/cam-tinh-dang/quan-niem-van-hoa-la-nen-tang-tinh-cua-xa-hoi-trong-hoi-nghi-trung Về kiến trúc nhà ở: Người Thái chủ yếu là ở trong nhà sàn Đây là loại nhà được người Thái kiến thiết bằng những chất liệu từ thiên nhiên, gần gũi với nơi họ sinh sống

Ở Nghĩa Lộ có 4 dạng nhà sàn chủ yếu gắn liền với sự phát triển từ thấp lên cao của đồng bào Thái: Dạng cổ truyền gọi là nhà có đà; Dạng thứ hai gọi là nhà quá giang cột chôn; Dạng thứ ba là nhà kê hai hàng cột có quá giang; Dạng thứ tư là nhà kê hạ

Các dạng nhà sàn ở Nghĩa Lộ về hình thức bên ngoài có đôi chút khác nhau, nhưng về cấu trúc cơ bản là giống nhau, gồm 12 phần chính là: 1 "Xau hóng" là cột chính của nhà Khi xây cất một ngôi nhà việc đầu tiên là phải dựng được "Xau hóng"; 2 Xau khăn (cột hồn) là cột dùng để thờ khi vợ chết Đây là cột đối xứng với Xau hóng; 3 Đay (cầu thang); 4 Cỏi-sàn hiên đầu hồi có càu cầu thang chính; 5 Tu cơi (cửa chính để vào trong nhà); 6 Gian hóng (gian nọc-ngoài); 7 Xuôn (buồng ngũ); 8 Bỏn non (Giường nằm của vợ chồng gia chủ); 9 Tảu phi (bếp); 10 Tu xan (cửa ra vào bếp); 11 Xan nọc (xà phơi); 12 Đây xan (cầu thang dầu hồi thường gác lên xà phơi)

Về trang phục: Người Thái ở Nghĩa Lộ có truyền thống dệt vải lâu đời Giới nam của dân tộc Thái mang trang phục rất đơn giản, ít giữ bản sắc (cả về trang phục lẫn trang sức) thanh niên cũng như người già đều mang trang phục giống nhau Đặc biệt, ngày nay với sự thâm nhập của người Kinh, thì nam giới Thái đã mang trang phục như miền xuôi Sắc phục của nữ giới ở Nghĩa

Lộ có thể phân thành hai kiểu Tháitrắng (Tày Đón) và Thái Đen (Tay Đằm) Phụ nữ thái ở Nghĩa Lộ chủ yếu mặc váy (Xỉn).Ngoài sắc phục che thân ra, người Thái còn rất "giàu có" về trang sức Phần lớn trang sức được làm bằng bạc trắng và bằng vải

Nhìn chung, trang phục của người Thái ở Nghĩa Lộ gọn gàng, đẹp Phụ

nữ xính trang sức đã làm tăng thêm nét duyên dáng và tươi đẹp của họ Việc

Trang 40

mặc váy đã tôn lên được thân hình mảnh giẻ, điệu đà của họ, nhân lên phong cách Á Đông của người phụ nữ Việt Nam

- Về ẩm thực: Món ăn truyền thống của người Thái ở Nghĩa Lộ là Xôi Người Thái nổi tiếng với "Cơm lam" (xôi nhồi ống nứa).Thức ăn của người Thái rất tự nhiên nhưng lại rất phong phú và giàu vitamin, đạm Sông, suối, khe, rạch trở thành nguồn cung cấp tôm, cua, cá, ốc, ếch, đầy chất dinh dưỡng; Thảm thực vật, đồi núi là nguồn cung cấp rau sạch, măng, nấm, rêu, nhiều vitamin

Người Thái ở Nghĩa Lộ rất thích uống rượu Đối với họ uống rượu là phong tục cho nên họ tự chế biến lấy để tiêu thụ Rượu của người Thái có ba loại chính: Lảu xiêu (cất hay trắng), Lảu xả (Rượu cần), Lảu vang (rượu nếp cái) Người Thái xem rượu là cái cớ để cởi mở niềm vui, sự hân hoan mang tính văn hóa lành mạnh, không bê tha Với người Thái, rượu cần là thức men thú vị mỗi khi có đình đám

Sinh hoạt ẩm thực của người Thái có cung cách giờ giấc nhất định

"Kín lảu mi ngan, đa pan mi pựa", tức là ăn có bữa, rượu có giờ

*Thứ hai là, lĩnh vực văn hóa tinh thần:

Là cư dân sinh tụ lâu đời với truyền thống nông nghiệp, từ rất lâu người Thái ở Nghĩa Lộ có một đời sống tâm linh cộng đồng Tín ngưỡng dân gian của người Thái là biểu hiện nhận thức, tâm lý, tình cảm của họ về các hiện tượng xung quanh tự nhiên và xã hội:

- Quan niệm về vũ trụ: Theo người Thái ở Nghĩa Lộ, vũ trụ chia làm ba phần: Thứ nhất là, Mường Phạ (Mường Phen)- là mường của các vị then; Thứ hai là, Mường Lùm(Mường người)

Thứ ba là, Mường Boọc Đai (Mường trong lòng đất):

- Quan niệm về "Phi":

Nếu đời sống tâm linh của con người là nhằm hướng đến một đấng siêu

Ngày đăng: 07/06/2017, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Viện gia đình và giới, Nghiên cứu gia đình và giới, quyển 19 số 1/2009 Khác
[4] Báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) công bố nhân dịp Ngày Quốc tế cho trẻ em gái 11/10/2016 Khác
[6] Đề tài cấp Bộ Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách. Chủ nhiệm: Ths. Nguyễn Thị Nguyệt Khác
[16] Báo cáo tổng kết năm học 2015-2016 của Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái Khác
[18] Trang thông tin điện tử UBND thị xã Nghĩa Lộ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm