ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN HÀ VĂN HIẾU TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP NHẰM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ THÀNH SƠ
Trang 1ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
HÀ VĂN HIẾU
TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP NHẰM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ THÀNH SƠN, HUYỆN BÁ
THƯỚC, TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Vũ Thị Hải Anh
Thái Nguyên - 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan trọng trong quá trình học tập và rèn luyện Qua quá trình thực tập giúp cho mỗi sinh viên củng cố lại kiến thức
đã được học trên ghế nhà trường và ứng dụng vào trong thực tế, đồng thời qua
đó giúp nâng cao trình độ chuyên môn cũng như năng lực công tác cho sinh viên để có thể vững vàng khi ra trường và xin việc
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa KT&PTNT Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của cô giáo, giảng viên hướng dẫn: Th.s Vũ Thị Hải Anh, em đã tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu việc sử dụng kiến thức bản địa của đồng
bào dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa” Em xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa KT&PTNT - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng tất cả các thầy,
cô đã tận tình dìu dắt trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt em bày tỏ lòng biết ơn tới giảng viên hướng dẫn cô giáo, giảng viên hướng dẫn Th.s Vũ Thị Hải Anh, em xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của cô, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ xã, UBND xã Thành Sơn đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em khi em về địa phương thực tập và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè và người thân đã giúp đỡ em tận tình trong quá trình nghiên cứu khóa luận
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và bạn bè để khoá luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Thái nguyên, ngày 29 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Hà Văn Hiếu
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1 2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1 3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 2
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Những khái niệm về biến đổi khí hậu 3
2.1.2 Những khái niệm liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu 4
2.1.2.4 Những thích ứng trong sản xuất nông nghiệp 8
2.2 Cơ sở thực tiễn 12
2.2.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới 12
2.1.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 17
2.1.3 Tác động của BĐKH đối với đời sống của nông dân đồng bào dân tộc Thiểu số 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.1.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.1.4 Thu thập số liệu thứ cấp 21
Trang 43.3.5 Thu thập số liệu sơ cấp 21
3.4 Chọn điểm nghiên cứu 22
3.5 Chọn mẫu nghiên cứu 22
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 23
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25
4.2 Thực trạng biến đổi khí hậu tại vùng nghiên cứu trong năm 2018 30
4.2.1 Đánh giá hiện tượng thời tiết cực đoan trên địa bàn xã Thành Sơn 30
4.3.2 Tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp 31
4.4 Hoạt động thích ứng với BĐKH của hộ sản xuất nông nghiệp, sử dụng KTBĐ 36
4.4.1 Hoạt động thích ứng với rét (rét đậm-rét hại) và hạn hán 36
4.4.2 Các hoạt động thích ứng khác 39
4.4.2 KTBĐ được sử dụng để sản xuất nông nghiệp địa bàn xã Thành Sơn 40 4.4.3 Các KTBĐ trong dự báo thời tiết 43
4.5 Những thuận lợi và khó khăn của người dân trong việc vận dụng các KTBĐ trong thích ứng với BĐKH 44
4.5.1 Thuận lợi 44
4.5.2 Khó khăn 45
4.6 Giải pháp phát triển KTBĐ trong thích ứng với BĐKH 46
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Khuyến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các hình thức tham gia của cộng đồng địa phương 7
Bảng 2.2 Tác động của BĐKH trên thế giới 13
Bảng 4.1 Cơ cấu cây trồng nông nghiệp trung bình của xã Thành Sơn năm 2018 25
Bảng 4.2 Số lượng đàn gia súc, gia cầm tại xã Thành Sơn năm 2018 26
Bảng 4.3: Tác động của biến đổi khí hậu đến trồng trọt 32
Bảng 4.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi 35
Bảng 4.5 Kiến thức bản địa về trồng trọt 36
Bảng 4.6: Kiến thức bản địa về chăn nuôi 38
Bảng 4.7: Các hoạt động thích ứng với BĐKH 39
Bảng 4.8: Kết quả phân loại nhóm cây trồng xã Thành Sơn 40
Bảng 4.9 Cây trồng bản địa và khả năng thích ứng của dân tộc Thái 41
Bảng 4.10 Lịch gieo trồng cây nông nghiệp dân tộc Thái 42
Bảng 4.11 Nhận biết dấu hiệu thời tiết xấu dân tộc Thái 43
Trang 6
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
HTXNN :Hợp tác xã nông nghiệp
HTTTCĐ : Hiện tượng thời tiết cực đoan
BHYT : Bảo hiểm y tế
PTNT : Phát triển nông thôn
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân
KTBĐ : Kiến thức bản địa
Chú thích: Tên giống, tên đường không phải là từ viết tắt
Trang 7Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu và những tác động của nó đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới Việt Nam là một trong 5 nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu
Xã Thành Sơn là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Nông nghiệp là nền kinh tế chủ yếu của xã, xã có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi suối, núi nên đường giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao Trong những năm qua trên địa bàn xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan kéo dài như sương muối, rét đậm, nắng nóng kéo dài thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp; lũ lụt, sạt lở đất thất thường làm cho nền nông nghiệp của xã đang bị đe dọa Tình hình dịch bệnh trên cây trồng ngày một gia tăng, nông dân bị mất mùa thường xuyên phải thay đổi giống cây trồng mới, năng suất, chất lượng, nông sản giảm mạnh, ảnh hưởng tới sinh kế nông dân và nhất là nông dân các bản vùng cao
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều kết quả nghiên cứu, đánh giá các hoạt động thích ứng với BĐKH của hộ nông dân, đặc biệt là các hộ người dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp Để tìm hiểu các biện pháp thích ứng của
bà con dân tộc Thái áp dụng các kiến thức bản địa để ứng phó với BĐKH,
em lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu việc sử dụng kiến thức bản địa của đồng bào
dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”
1 2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 8áp dụng hoạt động thích ứng với hiện tượng BĐKH/thời tiết cực đoan
- Đề xuất giải pháp phát triển KTBĐ của người dân tộc thiểu số trong thích ứng BĐKH
1 3 Ý nghĩa của đề tài
- Tạo điều kiện cho sinh viên được vận dụng những kiến thức được học
áp dụng vào thực tiễn và biết vận dụng kiến thức vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học
- Góp phần thu thập dữ liệu về thực tiễn sản xuất, là tài liệu quan trọng cho các nghiên cứu có liên quan
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau, tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành, đưa ra phương hướng để phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày càng vững mạnh
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những khái niệm về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người
Nghiên cứu của ISDR (2008), đưa ra khái niệm về BĐKH: là sự biến động giữa năm này và năm khác được ghi nhận qua các số liệu thống kê của các điều kiện bất thường như: Bão, lụt, hạn hán bất thường Quan điểm ở đây
về BĐKH chính là sự ghi nhận lại những hiện tượng bất thường theo thời gian Mốc đánh dấu thời gian BĐKH từ 30 năm trở lên
Theo Rex và đồng tác giả (2007), BĐKH ở Việt Nam đó là gia tăng nhiệt độ và ngày càng nóng hơn vào mùa hè và nhiệt độ cực thấp, kéo dài vào mùa đông, cũng như tần suất, cường độ của lụt, hạn, bão, rét hại và mưa thất thường xảy ra trong năm BĐKH là những thay đổi của các yếu tố khí hậu hoặc các hiện tượng khí hậu cực đoan không theo một xu thế nhất định (khoảng thời gian xem xét ngắn hơn BĐKH) BĐKH với các biểu hiện chính
là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng là do các hoạt động kinh tế -
xã hội của con người gây phát thải quá mức gây hiệu ứng nhà kính.[10]
Định nghĩa chung nhất cho sự BĐKH là sự thay đổi các đặc điểm mang
tính thống kê của hệ thống khí hậu khi xét đến những chu kỳ dài hoặc hàng thập kỷ hoặc lâu hơn, mà không kể đến các nguyên nhân theo đó, những thay đổi bất thường trên những chu kỳ ngắn hơn một vài thập kỷ, như El Nino, không thể hiện sự thay đổi khí hậu Thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để nhắc đến những trường hợp đặc biệt của biến đổi khí hậu do tác động của hoạt động con người; ví dụ, trong công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi
Trang 10Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change) định
nghĩa BĐKH là "là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài." Trong định nghĩa cuối thay đổi khí hậu đồng
nghĩa với ấm lên toàn cầu
Kiến thức là một thuật ngữ mang tính triết học và có thể được định nghĩa là một tập hợp các sự kiện khác nhau và các đặc tính thông tin,được chia thành hai loại: kiến thức khoa học và KTBĐ.[12]
Theo UNESCO (2010), KTBĐ là những tri thức địa phương, là duy nhất và đặc trưng cho một nền văn hóa và xã hội Ashok Das Gupta (2012) cho rằng KTBĐ là một hệ thống của các tri thức mà người dân địa phương đạt được thông qua việc tích lũy kinh nghiệm, và các thử nghiệm không chính thức, và sự hiểu biết sâu sắc về môi trường trong một nền văn hóa cụ thể Nhóm tác giả E N Ajani, R N Mgbenka và M N Okeke (2013) lại định nghĩa kiến thức bản địa là kiến thức địa phương được thể chế hóa, được xây dựng dựa trên lời nói và được truyền từ người/thế hệ này sang người/thế hệ khác bằng lời nói Nó là cơ sở để ra quyết định ở cấp địa phương trong nông nghiệp, y tế, chế biến thực phẩm, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên và một loạt các hoạt động khác trong cộng đồng nông thôn (Ashok Das Gupta, 2012; E N Ajani và CS, 2013)
“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa
số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[10]
2.1.2 Những khái niệm liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu
2.1.2.1 Khái niệm thích ứng với biến đổi khí hậu
Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến phát triển, vì thế sự thích ứng trở nên ngày càng quan trọng Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó dùng trong rất nhiều trường hợp Sự thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con người
Trang 11làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại
Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH Khả năng thích ứng đề cập đến mức
độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau
Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH Trong việc đánh giá những tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng Cây cối, động vật và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình Cây cối, động vật và các hệ sinh thái có thể di cư sang một khu vực mới Con người cũng có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di cư Không có đánh giá về những quá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ không thể đánh giá chính xác và đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH Một lý do nữa cho đánh giá thích ứng là giúp cho những nhà lập chính sách biết có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH
Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực [16]
Trang 122.1.2.2 Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã nhận thức được những nguy cơ và thách thức gây ra do sự nóng lên toàn cầu, hậu quả chủ yếu từ những hoạt động của chính con người Nước ta đã phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) vào năm 1994 và Nghị định thư Kyoto năm 2002 Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan Chính phủ làm đầu mối trong việc thực hiện công ước và nghị định trên về BĐKH Cần phải nhấn mạnh rằng Việt Nam đã có lịch sử lâu đời trong việc ứng phó với nhiều kiểu hình thiên tai như lũ lụt, bão Mục tiêu của chiến lược quốc gia là nhằm giảm thiểu nguy cơ từ thiên tai, bao gồm một loạt những biện pháp như xây dựng hệ thống các trung tâm cảnh báo thiên tai trên cả nước, xây dựng hành lang chống lũ (đê biển, đê sông) và các hoạt động nâng cao nhận thức Tuy nhiên, những chiến lược này chỉ mới tập trung chủ yếu vào những ứng phó khẩn cấp với những loại hình thiên tai bất thường và tái xây dựng sau thiên tai hơn là những thích ứng mang tính lâu dài với những tác động của BĐKH trong tương lai Những giải pháp thích ứng lâu dài còn chưa được lồng ghép vào những chính sách cho phát triển bền vững hay xóa đói giảm nghèo Những biện pháp truyền thống đối phó với BĐKH như xây dựng hệ thống đê, mương, các công trình điều tiết và phân lũ, dự báo thời tiết … đang được khai thác tích cực Tuy nhiên, những chiến lược thích ứng với BĐKH hiện nay sẽ thay đổi khái niệm thích ứng chuyển từ bị động đối phó thành chủ động phòng ngừa, đưa những ảnh hưởng tiềm ẩn của BĐKH như là một chỉ dẫn
quan trọng cho việc hoạch định chính sách, khác với kiểu thích ứng “trông và chờ” truyền thống Trọng tâm nhất của những phương án thích ứng được
nhằm vào những lĩnh vực sẽ chịu tác động lớn nhất do BĐKH trong tương lai, bao gồm tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, y tế, khu vực ven biển….[17]
Trang 132.1.2.3 Bài học và thách thức trong thích ứng dựa vào cộng đồng
Mặc dù, thích ứng dựa vào cộng đồng mới được phát triển gần đây nhưng đã xuất hiện những thách thức nhất định và một số bài học đã được đúc kết, bên cạnh những vấn đề liên quan tới tính sẵn có và mức độ tin cậy của nguồn thông tin và dữ liệu về BĐKH, chất lượng quá trình tham vấn trong thích ứng dựa vào cộng đồng, nhân rộng mô hình, kiểm tra và đánh giá Có thể kể tới các vấn đề chính sau:
Bảng 2.1 Các hình thức tham gia của cộng đồng địa phương
Tham gia bị
động
Người tham gia được thông báo về những gì đã, đang
và sẽ xảy ra Những thông tin này được cung cấp bởi chính quyền địa phương hay từ những dự án Tuy nhiên, không có sự lắng nghe những ý kiến phản hồi
từ cộng đồng Những thông tin được đem ra chia sẻ thuộc về những chuyên gia bên ngoài
tự Người dân địa phương không có cơ hội tham gia vào quá trình tìm ra kết quả, cũng như kiểm chứng tính chính xác
Tham gia thông
qua thảo luận
Người tham gia cùng thảo luận và các nhà khoa học/điều tra nghe những quan điểm này Những nhà khoa học này sẽ xác định các vấn đề và giải pháp, có thể có sự điều chỉnh nhỏ từ những phản hồi của người dân Tuy nhiên, quá trình tham vấn cộng đồng này lại không bao gồm quá trình ra quyết định, và những nhà khoa học này không bắt buộc phải xem xét tới quan điểm của cộng đồng
Tham gia với Mọi người tham gia bằng các cung cấp nguồn lực
Trang 14những động cơ
về mặt vật chất
(như nhân lực) để đổi lại với thức ăn, tiền mặt hay các giá trị vật chất tương tự Nhiều nghiên cứu triển khai trên đồng ruộng rơi vào trường hợp này khi người dân nhường đất canh tác cho các nhà khoa học, nhưng họ lại không tham gia vào quá trình triển khai thử nghiệm hay học hỏi Do đó, có thể thấy là, mọi người cũng sẽ kết thúc việc tham gia nếu các động cơ vật chất không còn
Tham gia ở chức
năng nhất định
Người dân tham gia bằng cách lập những nhóm phù hợp với những yêu cầu đặt ra trước đó của dự án Sự tham gia này không phải ngay từ giai đoạn đầu quá trình lập kế hoạch của dự án mà thường sau khi những quyết định quan trọng đã được thông qua Phương thức này có tính phụ thuộc nhiều vào những đối tượng bên ngoài hơn là chính cộng đồng
Tham gia có tính
tương tác
Sự tham gia của cộng đồng ngay từ đầu quá trình xây dựng dự án ở địa phương Do đó họ có thể có những quyết định liên quan tới các kế hoạch hành động,và thiết lập một tổ chức chính quyền địa phương mới – hay tăng cường năng lực cho chính quyền hiện tại
Nó có xu hướng liên quan tới phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành – tức là xem xét tới nhiều quan điểm khác nhau, áp dụng quá trình nghiên cứu tổng hợp và có cấu trúc Nhóm tham gia này đại diện cho quyết định của cộng đồng, do đó đảm bảo cộng đồng có tác động trong việc duy trì cơ cấu tổ chức hay thực hiện chính sách
(Nguồn: Pretty (1995)) 2.1.2.4 Những thích ứng trong sản xuất nông nghiệp
+ Thích nghi trong chọn giống: việc có được giống tốt thích nghi với
điều kiện của vùng là yếu tố quan trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng
Trang 15cũng như khả năng chống chịu với những thay đổi của các tác nhân từ bên ngoài
Vì vậy trong bối cảnh diễn biến của BĐKH, thích nghi trên phương diện chọn giống tốt là điều kiện đảm bảo năng suất và chất lượng của nông sản
Như vậy, để thích nghi với BĐKH trong hoạt động sản xuất nông nghiệp chúng ta cần lựa chọn những giống có khả năng thích nghi trước tác động của BĐKH Đặc biệt là những giống có nguồn gốc bản địa, đã trải qua một thời gian dài chuyển đổi để thích nghi trong những điều kiện sản xuất khó khăn Mặt khác trong quá trình nghiên cứu thích nghi với BĐKH trong lĩnh vực giống cây trồng và vật nuôi cần phải nghiên cứu từng loại giống thích nghi trong mỗi vùng và điều kiện cụ thể [6]
+ Thích nghi phương thức sản xuất: bao gồm thay đổi cơ cấu cây trồng trên một đơn vị diện tích hay liên kết các loại cây trồng và vật nuôi trong một
hệ thống sản xuất Việc thay thế phương thức sản xuất độc canh bằng các phương thức kết hợp nhiều cây, con Thay đổi phương thức sản xuất quá chú trọng vào đầu tư phân bón và kỹ thuật công nghệ cao bằng các kiến thức bản địa thích hợp trong điều kiện BĐKH, đặc biệt là đối với nông dân có điều kiện kinh tế thấp
Để thích nghi với các BĐKH các vùng khác nhau, phải có cách bảo tồn trong nông nghiệp, chất hữu cơ trong đất và đối phó với các rủi ro trong sản xuất Vì vậy việc luân canh cây trồng, mô hình nông lâm kết hợp, hệ thống cây trồng bậc thang và các hệ thống canh tác kết hợp khai thác đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều vùng được xem là thích nghi trong phương thức sản xuất[6]
+ Thời vụ sản xuất của hệ thống cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố thời tiết khí hậu vì vậy hệ thống thông tin dự báo các điều kiện thời tiết và khí hậu liên quan đến BĐKH là cần thiết để xác định thời vụ thích hợp cho mỗi loại cây trồng Vì vậy cách tiếp cận kết hợp giữa khoa học khí tượng/khí hậu
và khoa học cây trồng/vật nuôi xuất hiện là cách duy nhất để thích nghi với BĐKH trong tương lai
Trang 16Nông dân ở khu vực Đông Nam Á đã trải qua thời gian dài để điều chỉnh trong thực hành quản lý sản xuất và trong đó thay đổi, luồng lách thời
vụ sản xuất được xem như một hình thức trong thích nghi với BĐKH Thông qua hệ thống cảnh báo về những BĐKH trong tương lai, người dân đã điều chỉnh mùa vụ sản xuất phù hợp với những thay đổi đó Xác định thời gian thực hiện các hoạt động canh tác tốt trong điều kiện khí hậu mới.Thay đổi thời gian cho mùa vụ gieo trồng là xác định được thời điểm để thu hoạch sản phẩm nông nghiệp ngoài đồng để tránh lũ lụt , hạn hán xảy ra Mặt khác, thay đổi thời gian cho mùa vụ sản xuất liên hệ đến thay đổi nhiệt độ và lượng mưa của mùa vụ trước và các dự báo của mùa vụ sau Nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy hình thức thích nghi này bao gồm xác định lịch thời vụ sản xuất của cây trồng và vật nuôi như thời điểm bón phân hóa học, phân bổ hệ thống thủy lợi, thu hoạch, che phủ cho cây, gieo trồng và làm đất…Bố trí mùa
vụ thích hợp trong việc thực hành các hoạt động sản xuất của mùa vụ tăng trưởng của cây trồng và vật nuôi làm tăng thêm tiềm năng tối đa năng suất cây trồng vật nuôi trong điều kiện thiết hụt về ẩm độ và căng thẳng về nhiệt.[6]
+ Kỹ thuật canh tác: Chấp nhận đổi mới kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp là một trong những chủ trương trong chiến lược thích ứng với BĐKH
đề cập đến nhiều nhất Thích nghi trong lĩnh vực này tập trung vào những đặc điểm của hệ thống sản xuất; đặc tính của người sản xuất để xác định được mức
độ ảnh hưởng của các quyết định của họ để đưa ra các lựa chọn thích nghi
Thích nghi trong lĩnh vực kỹ thuật canh tác rất phong phú và đa dạng tùy thuộc vào loại BĐKH, điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên của vùng cũng như nhận thức của người dân, điều này được thể hiện rõ thông qua kiến thức bản địa Kiến thức bản địa là cái cơ bản nhất để đưa ra các quy định ở cấp độ địa phương trong nhiều cộng đồng nông thôn Nó không chỉ có giá trị văn hóa
mà còn là cơ sở cho các nhà khoa học và các nhà lập kế hoạch để cải thiện các điều kiện ở cộng đồng nông thôn Kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức bản địa
Trang 17trong các chính sách cho BĐKH có thể dẫn đến phát triển hiệu quả, sự tham gia của cộng đồng và đạt được tính bền vững [7]
2.1.2.5 Khái niệm về kiến thức bản địa và sử dụng kiến thức bản địa trong thích ứng với biến đổi khí hậu
KTBĐ là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường xã hội
KTBĐ là kho tàng kiến thức rộng lớn và vô cùng quý báu của cộng đồng các dân tộc trên khắp mọi miền đất nước, là một yếu tố cấu thành bản sắc văn hóa của từng dân tộc nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung Trong sản xuất nông - lâm nghiệp và quản lý nguồn tài nguyên thiên, KTBĐ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển các kỹ thuật phù hợp với điều kiện cụ thể về kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục của từng địa phương, vùng miền, nhất là trong điều kiện BĐKH đang diễn ra rõ rệt như hiện nay
Khái niệm thích ứng với BĐKH là một cụm từ mới được đưa vào trong truyền thông và các hoạt động của các chương trình và dự án ở Việt Nam cũng như các tỉnh MNPB Các hoạt động thích ứng với BĐKH đã được hình thành, tích lũy và lưu truyền nhiều thế hệ trong cộng đồng Hoạt động sinh kế của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, vì vậy, KTBĐ đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững ngành nông nghiệp thích ứng BĐKH
Khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức địa phương dùng để chỉ những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hòa văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan.[7]
Trang 18● Giá trị và vai trò của kiến thức bản địa trong thích ứng với BĐKH
dựa vào cộng đồng
- Sự đa dạng về hệ thống cây trồng, vật nuôi trong hệ thống góp phần cải thiện và duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH, giảm tính dễ bị tổn thương tại cộng đồng
- Sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện tự nhiên tại địa phương do các giống bản địa đã được chọn lọc và kiểm nghiệm qua thời gian và được cộng đồng chấp nhận Các giống cây trồng/vật nuôi bản địa thường có khả năng chống chịu tốt, ít bị dịch bệnh hơn so với các giống mới và không yêu cầu đầu tư thâm canh cao phù hợp với nhiều người kể cả người nghèo
- KTBĐ là nền tảng cơ bản cho sự tự cung tự cấp và tự quyết của người dân giúp cho người dân chủ động, ít bị phụ thuộc vào bên ngoài giảm tình trạng dễ bị tổn thương tại cộng đồng do BĐKH gây ra
- Người dân đã quen với các kỹ thuật bản địa nên họ có thể hiểu, vận dụng và duy trì các kỹ thuật đó tốt hơn so với các kỹ thuật mới đưa vào từ bên ngoài nên kinh nghiệm và tiếng nói của cộng đồng được phát huy và sử dụng
có hiệu quả
- KTBĐ cung cấp thêm các giải pháp, lựa chọn trong quá trình thích ứng với BĐKH Nhờ đó, mà người dân địa phương có thêm các lựa chọn khi đưa ra các giải pháp, mô hình phù hợp với cộng đồng nhằm thích ứng với BĐKH thay vì phụ thuộc vào các yếu tố từ bên ngoài (giống, kỹ thuật mới) [ADC, Báo cáo nghiên cứu Kiến thức bản địa thích ứng với Biến đổi khí hậu, 2013]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới
● Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới
Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng băng tan và tăng mực nước biển trung bình trở nên phổ biến 11 trong số
Trang 1912 năm từ 1995 đến 2006 được xếp vào những năm có nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng kỷ lục (từ năm 1850) Xu thế nhiệt độ tăng trong 100 năm (kể từ năm 1906-2005) là 0,740C (0,560C đến 0,920C), lớn hơn xu thế được đưa ra trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC là 0,60C (từ 0,40C đến 0,80C) (kể
từ năm 1901-2000) (IPCC, 2007) Sự gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến
trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các khu vực vĩ độ cao ở phía Bắc Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vực đại dương Những thay đổi về nồng
độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ che phủ đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống khí hậu Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã tăng khoảng 70% so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2004 [11]
● Tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới
Có thể tóm lược những ảnh hưởng của BĐKH đến các khu vực trên thế giới như sau:
Bảng 2.2 Tác động của BĐKH trên thế giới
- Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng tới các vùng trũng ven biển, đông dân cư Chi phí thích ứng
có thể chiếm ít nhất từ 5-10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Năm 2080, diện tích đất khô cằn và bán khô cằn ở châu Phi
sẽ tăng từ 5-8% theo các kịch bản khí hậu
Châu Á - Đến những năm 2050, lượng nước ngọt có thể sử dụng được
Trang 20ở Trung Á, Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt tại các lưu vực sông lớn sẽ giảm
- Vùng ven biển, nhất là các vùng châu thổ rộng lớn đông dân
ở Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á sẽ chịu rủi ro nhiều nhất,
do lũ từ sông, biển
- BĐKH kết hợp đô thị hoá, công nghiệp hoá và phát triển kinh tế nhanh chóng gây áp lực tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Sự hoành hành của dịch bệnh và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy, chủ yếu liên quan đến lũ lụt và hạn hán sẽ gia tăng ở Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á do những thay đổi trong chu trình thủy văn
- Vào năm 2030, sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ giảm ở hầu hết miền đông nam Úc và các vùng miền đông New Zealand do hạn hán và cháy rừng xảy ra nhiều hơn Tuy nhiên, một số vùng khác ở New Zealand sẽ được hưởng những lợi ích ban đầu
- Vào năm 2050, phát triển ven biển thuộc Úc và New Zealand sẽ làm tăng nguy cơ mực nước biển dâng, tăng tần suất và cường độ của bão, lũ ven biển
Trang 21Châu Âu
- BĐKH sẽ làm tăng sự khác biệt giữa các khu vực Các tác động tiêu cực bao gồm tăng nguy cơ xảy ra lũ quét trong nội địa, lũ lụt ven biển thường xuyên hơn và xói mòn mạnh hơn (do bão lớn và mực nước biển dâng cao)
- Các vùng núi sẽ phải đối mặt với sự thu hẹp của sông băng,
độ che phủ của tuyết giảm và suy giảm số lượng lớn các loài (vào năm 2080, ở một số khu vực tỷ lệ suy giảm là 60% tùy theo các kịch bản phát thải)
- Ở Nam Âu - vùng đã từng dễ bị tổn thương bởi tính bất thường của khí hậu - BĐKH sẽ làm cho các điều kiện (nhiệt
độ cao và hạn hán) nghiêm trọng hơn và nhìn chung làm giảm khả năng sử dụng nước, tiềm năng thuỷ điện, du lịch và năng suất cây trồng
- BĐKH cũng sẽ làm tăng mối nguy hiểm tới sức khoẻ vì các đợt sóng nhiệt và tần suất cháy rừng tự nhiên
Châu Mỹ
La tinh
- Giữa thế kỷ này, ở miền Đông Amazon, nhiệt độ tăng cao kết hợp với suy giảm lượng nước sẽ dẫn đến sự thay thế rừng nhiệt đới bằng các hoang mạc Thảm thực vật bán khô hạn sẽ được thay thế bằng thảm thực vật khô hạn
- Nguy cơ mất đa dạng sinh học ở mức cao là do sự tuyệt chủng các loài ở nhiều khu vực thuộc vùng nhiệt đới ở Mỹ La tinh
- Năng suất của một số loại cây trồng quan trọng và khả năng sinh sản của gia súc sẽ giảm gây hậu quả bất lợi tới an ninh lương thực Nhìn chung, số lượng người có nguy cơ bị đói gia tăng
- Những thay đổi trong các mô hình về lượng mưa và sự biến mất của các sông băng sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sử dụng
Trang 22nước phục vụ cho con người, nông nghiệp và thuỷ điện
Bắc Mỹ
- Nóng lên ở các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp tuyết phủ, tăng lũ lụt mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè khiến cho cuộc cạnh tranh vì tài nguyên nước phân bổ không đều diễn ra khốc liệt hơn
- Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ này, BĐKH ở mức vừa phải sẽ nâng tổng sản lượng của ngành nông nghiệp dựa vào nước mưa thêm từ 5-20%, nhưng sản lượng tăng thêm lại thay đổi theo vùng
- Các thành phố đang trải qua các đợt sóng nhiệt sẽ gặp phải thách thức lớn hơn vì trong suốt thế kỷ này các đợt sóng nhiệt gia tăng về số lượng, cường độ và thời gian, gây tác động tiêu cực tới sức khoẻ
- Các cộng đồng và nơi cư trú ven biển sẽ phải chịu ngày càng nhiều áp lực do các tác động của BĐKH
Các vùng
cực
- Các ảnh hưởng chủ yếu sẽ là giảm độ dày và diện tích của các sông băng, mũ băng và băng biển, những thay đổi trong các hệ sinh thái tự nhiên gây ảnh hưởng bất lợi tới nhiều sinh vật gồm các loài chim di cư, động vật có vú và các loài ăn thịt
- Đối với các cộng đồng ở Bắc cực, các tác động đặc biệt là những tác động do thay đổi trạng thái của băng, tuyết sẽ phức tạp
- Các tác động tiêu cực sẽ bao gồm tác động tới cơ sở hạ tầng
và lối sống truyền thống của các cộng đồng bản địa
Các đảo
nhỏ
- Mực nước biển dâng sẽ làm gia tăng lũ lụt, dông bão, xói lở
và các thảm họa ven biển khác, đe dọa các hạ tầng cơ sở có ý nghĩa quan trọng, nơi ở và các điều kiện hỗ trợ sinh kế của các cộng đồng trên đảo
- Phá huỷ hiện trạng ven biển, ví dụ xói lở bờ biển và làm suy
Trang 23giảm các rạn san hô ven biển, ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên địa phương
- Vào giữa thế kỷ này, BĐKH sẽ làm suy giảm tài nguyên nước ở nhiều đảo nhỏ, chẳng hạn như biển Caribe và Thái Bình Dương không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu trong thời
kỳ mưa ít
- Do nhiệt độ cao hơn nên các loài ngoại lai sẽ tăng cường xâm lấn, đặc biệt ở các đảo nằm ở vĩ độ trung và cao
(Nguồn: IPCC, 2007)
2.1.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
● Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trong 40 năm qua, các nhà khoa học đã quan sát thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai, bão lũ xảy ra nhiều hơn ở nước ta, đây là một trong số những biểu hiện về BĐKH được khẳng định Ngoài ra, còn có các biểu hiện khác là (BTNMT, 2009)
- Nhiệt độ trung bình hàng năm tăng 0,1oC mỗi thập kỷ trong giai đoạn
từ 1931 tới 2000, và tăng trong khoảng từ 0,4-0,8oC ở 3 thành phố lớn của Việt Nam (gồm Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 1991 tới 2000
- Lượng mưa thay đổi khác nhau tùy từng vùng, nhưng nhìn chung lượng mưa cả năm vẫn tương đối ổn định Tuy nhiên, ngày càng có nhiều trận mưa bất thường với cường độ lớn xảy ra hơn, gây ra lũ lụt
- Hạn hán xảy ra thường xuyên hơn ở khu vực phía Nam trong những năm gần đây và có xu hướng kéo dài hơn
- Trong 50 năm qua, mực nước biển tăng trung bình từ 2,5-3cm, tùy từng khu vực
- Bão nhiệt đới giảm về số lượng trong 40 năm qua, nhưng ghi nhận được những cơn bão mạnh hơn ở khu vực phía Nam
Trang 24- El Nino và La Nina xảy ra với cường độ mạnh hơn trong 50 năm qua, gây ra nhiều cơn bão nhiệt đới, lũ lụt và hạn hán thường xuyên [14]
● Tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Ở nước ta, BĐKH thể hiện rõ nhất ở sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về số lượng lẫn cường độ Trong khi tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài vào mùa hè kéo theo hạn hán dữ dội trên diện rộng, thì trong những năm gần đây số cơn bão có cường độ mạnh cũng xuất hiện nhiều hơn Nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường, phức tạp, khó dự đoán
và mùa mưa bão cũng kết thúc muộn hơn Cùng với sự nóng lên của bề mặt trái đất, nhiệt độ trung bình của các khu vực ở nước ta cũng tăng lên Hiện tượng BĐKH ở nước ta đã và đang tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, nhất là có vấn đề sức khỏe, BĐKH cũng gây ra những tác động xấu đối với sản xuất nông nghiệp, các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ… đều chịu những tác động tiêu cực
từ hiện tượng BĐKH gây ra Bên cạnh đó, BĐKH cũng có tác động trực tiếp
và gián tiếp đến các hoạt động văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ.[15]
2.1.3 Tác động của BĐKH đối với đời sống của nông dân đồng bào dân tộc thiểu số
Biến đổi khí hậu đang gây tổn thất nặng nề về môi trường, kinh tế, sức khỏe, đời sống tinh thần cho cộng đồng dân tộc thiểu số, văn hóa của cộng đồng đang bị mai một Tất cả đều diễn ra ngày càng mạnh hơn, tần suất nhiều hơn vào những năm gần đây.[17]
Cộng đồng dân tộc thiểu số ngày càng nhìn nhận rõ hơn tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến đời sống hàng ngày tại các địa phương
Theo ông Sùng Văn Kinh, dân tộc Tày, xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, khí hậu ngày càng khắc nghiệt gây thiếu nước sinh hoạt và sản xuất, kinh nghiệm sản xuất hay tập quán canh tác bị thay đổi, nguồn nước ngầm, nước ở các khe suối ngày càng ít đi, lũ ống, lũ quét kéo theo sỏi, đá
Trang 25làm mất diện tích đất ở, đất canh tác, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, môi trường ô nhiễm sau thiên tai, gián đoạn việc học tập củaconem.[17]
Thời tiết cực đoan dẫn tới sức khỏe con người bị ảnh hưởng, nhất là người già và trẻ nhỏ, số người chết và mất tích ngày càng tăng, nhiều bệnh mới xuất hiện, cần chi phí nhiều hơn cho mua sắm đồ dùng để thích ứng với biến đổi khí hậu
Chị K’Nhổi, dân tộc K’Ho, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, cho biết mưa, nắng, nóng, lạnh thất thường không theo quy luật, sương muối, rét đậm, rét hại kéo dài ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, vật nuôi Lũ quét, sạt lở đất làm cho các công trình giao thông, thủy lợi hỏng, tài sản bị mất, tính mạng của người dân cũng bị đe dọa.[17]
Ở Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, khu vực Tây Nguyên bị sạt lở đất do mưa kéo dài, mất nhiều diện tích đất sản xuất, chủ yếu là ruộng, vườn ven khe lạch Tình trạng hạn hán kéo dài dẫn đến không có nước sinh hoạt, sản xuất như tại tỉnh Ninh Thuận xảy ra nghiêm trọng, tới 16 tháng không có mưa.[17]
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Những hộ nông dân có sử dụng hoạt động thích ứng với BĐKH và các kiến thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp để ứng phó với BĐKH trên địa bàn xã Thành sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu vào các hộ dân tộc
Thái sản xuất nông nghiệp tại địa bàn xã Thành Sơn bị ảnh hưởng của BĐKH
và các hộ nông dân thuộc xã nghiên cứu đã sử dụng các kiến thức bản địa trong ứng phó với BĐKH
Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp là số
liệu hộ thực hiện trong năm 2018, các số liệu thứ cấp là số liệu của giai đoạn
2016 - 2018
Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu: từ tháng 02 năm 2019 đến tháng 05 năm 2019
3.1.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
- Tìm hiểu thực trạng BĐKH, những biểu hiện của thời tiết cực đoan và tác động của chúng đến sản xuất nông nghiệp tại vùng nghiên cứu
- Tìm hiểu việc sử dụng các KTBĐ của bà con sản xuất nông nghiệp để ứng phó với BĐKH thuộc xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
- Nghiên cứu các thuận lợi và khó khăn trong áp dụng KTBĐ trong thích ứng BĐKH và đề xuất giải pháp phát triển KTBĐ
- Đưa ra một số định hướng, giải pháp để ứng phó với BĐKH trên địa bàn xã
Trang 273.1.4 Thu thập số liệu thứ cấp
Là số liệu, tài liệu thu thập được trên sách báo, báo cáo có liên quan đến các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế Tham khảo các luận văn thạc sĩ, các khóa tốt nghiệp, các đề án quy hoạch phát triển kinh
tế xã hội, các báo tổng kết hàng năm và số liệu thống kê của xã Thành Sơn
Số liệu thứ cấp được thu thập cho nghiên cứu gồm các thông tin liên quan đến BĐKH đã công bố từ cấp tỉnh, huyện, xã, trên các trang báo, tạp chí, trên mạng internet, sách và các báo cáo kết quả của các chương trình, dự án
đã thực hiện tại vùng nghiên cứu, báo cáo tổng kết của HTXNN, UBND xã, Phòng NN&PTNT huyện, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thanh Hóa Số liệu từ các niên giám thống kê, báo cáo thống kê và báo cáo nghiên cứu đã được công bố
Bảng số liệu về nhiệt độ, lượng mưa của Trung tâm Khí tượng thủy văn
xã Thành Sơn, huyện Bá Thước từ 2010-2018 Các số liệu về BĐKH và tác động của nó trên lĩnh vực sản xuất tại xã nghiên cứu thuộc huyện Bá Thước
3.3.5 Thu thập số liệu sơ cấp
Các số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách sử dụng các công cụ khác nhau như thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, phỏng vấn trực tiếp hộ sản xuất nông nghiệp thông qua bảng hỏi và quan sát thực địa
- Phỏng vấn sâu những hộ nông dân có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp trong vùng bị tác động của BĐKH và sử dụng các KTBĐ để ứng phó với BĐKH, có hoạt động thích ứng bằng bảng hỏi đã chuẩn bị trước, được thực hiện sau khi có những thông tin thứ cấp thông qua các báo cáo và thông tin sơ cấp qua thảo luận nhóm
Những thông tin chính trong cuộc phỏng vấn sâu người am hiểu là để khẳng định lại và khai thác sâu các hiện tượng BĐKH và sử dụng các KTBĐ
để ứng phó với BĐKH Tại điểm nghiên cứu, mức tác động cụ thể của BĐKH; các hoạt động thích ứng, kinh nghiệm sản xuất, KTBĐ, dự đoán BĐKH tại vùng nghiên cứu
Trang 28- Phỏng vấn hộ gia đình: Sau khi thu thập và phân loại thông tin dữ liệu, bảng câu hỏi bán cấu trúc được xây dựng và tiến hành thực hiện phỏng vấn các hộ đã chọn tại xã nghiên cứu
- Giống cây trồng/vật nuôi bản địa?
- Các kinh nghiệm của người dân đang áp dụng trong canh tác cây trồng vật nuôi
3.4 Chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa đây là xã bị ảnh hưởng nhiều bởi BĐKH và nông dân sản xuất nông nghiệp đã sử dụng nhiều hoạt động để thích ứng với BĐKH
3.5 Chọn mẫu nghiên cứu
Tiêu chí chọn hộ: Là các hộ dân tộc thiểu số thuộc dân tộc Thái đang sản xuất nông nghiệp tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước bị ảnh hưởng bởi BĐKH và thời tiết cực đoan
Phương pháp chọn hộ điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập danh sách những hộ làm nông nghiệp tại Thành Sơn thuộc huyện Bá Thước bị tác động của BĐKH và các hộ sản xuất nông nghiệp có sử dụng các KTBĐ để ứng phó với BĐKH Chọn ngẫu nhiên 40 hộ để phỏng vấn thu thập thông tin cho nghiên cứu Các nhóm hộ được lựa chọn bao gồm hộ nghèo và hộ cận nghèo
có sản xuất nông nghiệp Tại xã Thành Sơn chọn 5 làng là Làng Báng, Kho Mường, Đông Điểng, Nông Công và Phả Khà Mỗi xóm chọn ngẫu nhiên 8
hộ để phỏng vấn
Phương pháp chọn hộ phỏng vấn sâu: theo phương pháp sampling (từ kết quả điều tra bằng bảng hỏi, lựa chọn những hộ đặc trưng nhất trong sử dụng kiến thức bản địa trong thích ứng BĐKH, tiếp tục phỏng vấn đến khi mẫu phỏng vấn mới không bổ sung thêm thông tin cần thiết)
Trang 29Snowball-Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
+ Phía Bắc giáp với xã Phú Lệ, huyện Quan Hóa
● Địa hình
Xã Thành sơn có diện tích đồi núi trên 70% tổng diện tích tự nhiên của xã, phần còn lại là đất bằng và các gò đồi thấp nằm tập chung giữa các giải núi cao độ dốc lớn từ 30-50%
Từ những đặc điểm trên diện tích đồi núi nhiều thuận lợi cho việc phát triển cây lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, diện tích rất thuận lợi cho phát triển cây ăn quả, trồng rau màu
● Khí hậu
Đối với xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa cũng chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa mang đặc tính khí hậu miền núi phía Bắc Khí hậu hàng năm được chia thành hai mùa rõ rệt là: mùa mưa và mùa khô
Trang 30+ Nhiệt độ trung bình năm là 23,50C
- Lượng mưa:
+ lượng mưa trung bình ở địa bàn xã là 1.000-1.800mm Riêng vụ chiêm xuân mưa 80 % lượng mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 là có lượng mưa lớn nhất khoảng 400mm, các tháng còn lại có lượng mưa ít
+ Vào mùa mưa thường xảy ra mưa thời gian vài giờ cho đến 4,5 ngày, dẫn đến xảy ra lũ lụt
- Gió:
+Chủ yếu là gió mùa Đông Bắc và gió tây nam vào mùa hè xảy ra một
số đợt gió Tây Nam thổi từ nước Lào qua Không khí khô và nóng thời gian
từ 5 -10 ngày, vào mùa mưa thường xảy ra mưa to kèm theo dông bão, lốc xoáy rất mạnh
● Sông ngòi
Xã Thành Sơn có nhiều suối bắt nguồn từ những sườn núi cao của xã, lòng sông suối thường sâu, để có nước tưới cho đồng ruộng, đồng bào các dân tộc có nhiều kinh nghiệm làm mương, phai, bắc máng, làm guồng nước Đồng bào còn lợi dụng sức nước để phục vụ sản xuất, đời sống như, làm thuỷ điện mini, xuôi mảng
● Tài nguyên thiên nhiên
Xã Thành sơn chủ yếu là đồi núi chiếm phần lớn diện tích đất đai tự nhiên Xã Thành Sơn nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông nên có nhiều gỗ quý (đinh, lim, nghiến, táu…) cùng nhiều cây dược liệu (sâm 7 lá, giảo cổ lam ) và nhiều loại chim muông, thú rừng như nai, khỉ, lợn rừng, gấu.…Do kiến tạo địa chất, sự bồi đắp của các con suối đã tạo cho xã những bồn địa, những thung lũng lòng máng, đất đai khá màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa, ngô, các loại rau, đậu, cây công nghiệp (mía, luồng ) và cây ăn quả (cam, quýt, chuối)…