1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô Lô, Cao Lan: Phần 1

314 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 314
Dung lượng 20,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô Lô, Cao Lan: Phần 1 trình bày các nội dung chính sau: Dân ca Pu Péo, hát phong tục, hát sinh hoạt, dân ca Sán Dìu, hát đố,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

p  N GIAN VIỆT NAM

fu TÁC GIẢ

DÂN CA CÁC DÂN TỘC

Pu Péo, Sán Dìu, Dao, lô Lô, Cao Lan

Trang 3

DÂN CA CÁC DÂN TỘC PU PÉO, SÁN DÌU, DAO, CAO LAN, LÔ LÔ

Trang 5

HOI VAN NGHE DAN GIAN VIET NAM

DAN CA CAC DAN TOC PU PEO, SAN DIU, DAO, CAO LAN, LO LO

• D A N C A PU PEO (Le Trung Vu - si/u tarn, gicJi thieu)

• D A N C A SA N DIU (Diep Thanh Binh - sl / u tarn va bien djch)

• D A N C A D A O (Do Quang T u - Nguyen Lien siru tam va bien dich)

• X IN H C A C A O LAN (Lam Q uy - siru tam va dich)

• D A N C A T R O N G l l H O I C U A N G U O l LO LO (TS L6 Giang Pao

-siru tam va bien dich)

NHA XU AT BAN VAN HOA DAN TOC

Trang 7

D ự Á N C Ô N G B Ố , P H Ổ B IÊ N

T À I SẢ N V Ă N H Ó A , VĂN N G H Ệ D Â N G IA N

V IỆ T NAM

( E l, N gõ 29, Tạ Q u an g B ửu - B ách K hoa - H à N ội

Đ iện thoại: (04)3627 6439; Fax: (0 4 )3 6 2 7 6440

Em ail: duan d an gian @ gm ail.com )

B A N C H Ỉ ĐẠO

1 GS TSKH TÔ NGỌC THANH Trưởng ban

2 ThS HUỲNH VĨNH ÁI Phó Trưởng ban

3 GS TS NG U YỄN XUÂN KÍNH Phó Trưởng ban

4 Ông NGUY ỄN KIỂM ủ y viên

5 N hà văn ĐỖ KIM CUÔNG Uy viên

6 TS TRẦN HỮU SƠN Úy viên

7 N hà giáo NGUY ỀN NGỌC QUANG ủ y viên

8 ThS ĐOÀN THANH NÔ Uy viên

GIÁM ĐỐC VĂN PHÒNG D ự ÁN

ThS ĐOÀN THANH NÔ

Trang 9

Chịu trách nhiệm nội dung:

GS.TSKH TỐ NGỌC THANH

Thẩm định nội dung:

HỘI ĐỒNG THẨM đ ị n h b ả n t h ả o

Trang 11

LỜI GIÓI THIỆU

H ộ i Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) là một tổ chức chính trị xã hội nghè nghiệp, nằm trong khối Liên hiệp các Hội Vãn học nghệ thuật Việt Nam

Quyết định số 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ thay mặt Chính phù đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối liên hệ nghề nghiệp với các tổ chức khác ở trong nước và nước ngoài

Tôn chỉ mục đích của Hội là “S ư u tầm, nghiên cứu, plìỗ

biến và truyền dạy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian các tộc người Việt N a m ” Trên cơ sớ thành quả của các công việc trên,

Hội là một trong những đội quân chủ lực góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa - văn nghệ mang đậm bản sắc dân tộc đã được ông cha ta sáng tạo và giữ gìn trong suốt mấy nghìn năm của lịch sử dân tộc

Những giá trị sáng tạo đó thể hiện moi quan hệ của các tộc người Việt Nam với thiên nhiên thông qua các tri thức sản xuất nông nghiệp; với xã hội thông qua phong tục tập quán, hội xuân; với nhân sinh quan thông qua các nghi lề vòng đời người; với vũ trụ và thế giới tự nhiên đã được siêu nhiên hóa thông qua các loại hình tín ngưỡng tôn giáo; với lý tưởng thẩm mỹ thông qua các sáng tạo văn học nghệ thuật Ờ mỗi tộc người Việt Nam, những lĩnh vực và hình thái văn hóa - vãn nghệ này lại được thể hiện trong một sắc thái riêng Chính

Trang 12

kho tàng văn hóa da dạng đó là nội dung, là đối tượng hoạt động của hội vicn Hội VNDGVN.

Sau hơn bốn mươi năm hoạt động, dược sự lãnh dạo cua Đảng và sự chăm sóc của N hà nước, IIỘi VNDGVN đã lớn mạnh với gẩn 1.200 hội viên, số công trình do hội viên của Hội đã hoàn thành lên đến gần 5.000 công trình, hiện đang được lưu trữ và bảo vệ tại Văn phòng Hội

Nay, dược sự quan tâm của Ban Bí thư và Thủ tướng

Chính phủ, Dự án “Công bố và p h ổ biến tài sản văn hóa -văn

nghệ dân gian các dân tộc Việt N a m ” đã được phê duyệt

Trong thời gian 10 năm, Dự án sẽ chọn lọc khoảng 2000 công trình trong số bản thảo Hội lưu trữ của hội viên và xuất bàn dưới dạng các cuốn sách nghicn cứu, sưu tầm Trước mắt trong giai đoạn đầu (2008 - 2012), chúng tôi dự định sẽ chọn xuất bàn 1.000 công trình

Hy vọng, các xuất bàn phẩm của Dự án sẽ cung cấp cho bạn dọc trong và ngoài nước một bộ sách mang tính chất bách khoa thư về các sẳc màu văn hóa của các tộc người Việt Nam, phục vụ thiết thực vào việc tra cứu, mở rộng hiểu biết của bạn đọc về truyền thống văn hóa giàu có và độc đáo đó; góp phần xây dựng nên “Văn hóa Việt Nam tiên tiên, đậm đà bản sãc dân tộc”

Trong quá trinh thực hiện nhiệm vụ, Dự án m ong nhận được ý kiến chi bảo kịp thời của bạn đọc gần xa

Xin chân thành cảm ơn !

Trưởng B an c h ỉ đạo th ự c hiện d ự án

GS.TSKH TÔ NGỌC THANH

Trang 13

DAN CA PU PEO

sưu tầm, giới thiệu

LỂ TRUNG VŨ

Trang 15

DÂN CA PU PÉO SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA MỘT TÔC NGƯỜI

TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ

Thanh niên nam nữ Pu Péo có tập quán sinh hoạt nghệ thuật rất hay là vào đêm cuối năm - 30 tháng Chạp âm lịch hẹn nhau đến tụ họp tại nhà nghệ nhân để học hát Và cũng nhân đấy tiễn năm cũ, đón mừng nãm mới

Nghệ nhân là cụ ông hay cụ bà đểu được, m iễn là các cụ

có một thời thanh xuãn nổi tiếng là người say mê ca hát hát hay, hát giỏi, tính tình đôn hậu

Việc lo liệu tết nhất của mọi nhà đã xong Giờ này, họ quây quần bên bếp, chất thêm củi cho lửa bừng sáng nhà,

ấm người và quên đi cái rét buốt lạnh lẽo của núi rừng bao quanh đêm trừ tịch Một người đại diện cho trai gái làng có vài lời xin gia chủ cất tiếng hát cho con trẻ “nối tài người già” và để “giữ cái hay, cái thơm của dân tộc m ình”

Người già hút xong điếu thuốc, chiêu ngụm trà nóng, vui

vẻ lên liếng, chìm đắm trong giọng dân ca đầm ấm quen thuộc Lớp trẻ chăm chú học, nhắc lại từng câu, từng câu, kiên nhẫn và đầy hứng thú

Gần giao thừa, cuộc hát ngừng nghĩ chốc lát để “đón giọng gà” “Đón giọng gà” (di-ơ-k-loang káy) là một tục lệ của người học hát Trời sắp sang canh, gà sẽ cất tiếng gáy

Trang 16

Làm sao phải đôt quả pháo kịp ném vào chuông gà đúng lúc

nó vừa vỗ cánh để buóc nó phải “tắc tiêng gáy” Ai làm được thì sẽ gập may, nám mới sẽ sáng trí, thuộc nhiều lời

ca, hát giỏi Người ta nghĩ, tiếng gà gáy đã hay lại thiêng vì

nó gọi được mặt trời dậy ("Bài ca chào m ặt trời") M à ticng

gà gáy đầu năm càng quý vì đó là tín hiệu chào mừng năm mới, đem theo biết bao điều may mắn tới cho người Vì vậy con người phải “át tiếng gà” , thay tiếng m ình vào thì cả năm

ấy sẽ hát hay, sẽ hạnh phúc!

Niềm say mê nghệ thuật và lòng trân trọng nguồn dân ca của người Pu Péo đến th ế thật độc đáo Người ta coi dân ca như mạch sống của nòi giống và phải nuôi dưỡng nó, người tré phải “nối tài người già” Luyện dạy và truyền nghề vào giờ thiêng - giao điểm của năm cũ và nãm mới là hành động được coi như một mỹ tục định kì

Người ta ca hát trong nhiều tình huống, bằng nhiều cách diễn cảm, theo những yêu cầu riêng Song tựu trung có thể quy vào hai thế loai chính, là hát nghi lễ - phong tục và hát

sinh h oạt - VUI ch ơi.

Nhóm các bài hát nghi lễ - phong tục gồm nghi lễ trong đời sống và nghi lễ nông nghiệp

Trong đời sống, năm mới là cơ hội đặc biệt để thực hiện các nghi thức trang trọng Làm sao phải tiễn năm cũ cho trọn linh và đón nãm mới cho chu đáo ihì mỗi người mới khỏe mạnh, mỗi gia đình mới bình yên, vẹn toàn Cứ mỗi lần Têt đến nhà nào cũng cử hành ba nghi lễ tuần tự theo thời gian: Lễ chiêu hồn (chiều 29 tháng Chạp), Hát đón giao thừa (đêm 30 tháng Chạp) và Hát mừng năm mới (rạng sáng mồng một)

Trang 17

Những nghi lễ này dùng điệu lay khing, một điệu nhạc chậm rãi, ngâm ngợi Lay klừng (lay biệt) hay xỉng khìng cùng chung điệu nhạc, song ứng vào đề tài khác nhau Lay

khing dùng trong lễ Chiêu hồn và lễ tang Còn hát đón giao

thừa và mừng năm mới thì dùng xỉng khing, tiết tấu có thay đổi chút ít, vui hơn lay klùng.

Lễ cưới là giai đoạn hát nhiều nhất của tiến trinh hôn lễ

Làn điệu “H nải” được dùng trong tiệc vui, cũng dùng vào

đây Chẳng hạn, khi nhà trai hát cảm ơn nhà gái dọn rượu

đón tiếp mình (Hnải chúng pần cliứng mí) hoặc khi nhà gái

mở gói đổ dản cưới ra xem (Hndi phà pảù).

Trong nông nghiệp, lay khing là điệu nhạc duy nhất được

dùng vào các nghi lễ cầu mùa, đón đòng (gọi vía lúa “nguồn gốc cây lúa, cây ngô”); lễ mừng lúa m ớ i

Nhóm các bài hát sinh hoạt - vui chơi có các làn điệu âm nhạc sinh động, nét giai điệu trữ tình hơn Đôi khi vẫn dùng

cả làn điệu của nhóm trên Chẳng hạn như chủ khách hát

đối đáp trong tiệc rượu đầu xuân bằng điệu “H nải” và là

“Hnải ching - H nải chiêng”.

Pưn tuống là một loại hát nói, tiết tấu chậm rãi, các câu

hát dài ngắn cũng khác nhau, thường thấy trong các đề tài

kể chuyện, kể chuyện đời xưa

Xỉng cuối, xỉng cáp là làn điệu dùng trong các bài ca

“mừng nhà m ới” hoặc hát vui như “Đùa anh chăn ngựa” Đặc biệt hát đối đáp nam nữ trong “Đêm hát giao

duyên” người ta dùng Xỉng lớn Nhạc điệu có màu sắc dân

tộc, song phải biến hóa và phục vụ cho thể thơ tứ tuyệt, là loại kỹ thuật xa lạ với nguồn thơ ca dán tộc Đâv là hiện

Trang 18

tượng giao lun văn hóa Pu Péo - H án tộc Đ iều này có thê giải thích bằng ý kiến sau đây của già làng (vào những năm

1965 - 1968) Cách nay khoảng 5 đời (khoảng giữa th ế kỉ XIX - LTV) người Pu Peo cư trú biệt lập Lúc ấy dùng

“CHÓ/” (Xỉng cuối)“cáp” (xỉng cáp) để hát trao đổi tình

càm yẽu đương hoặc giao tiếp, chào hỏi nhau trong xã hội Sau đó người Pu Péo ở gán rồi ớ xen kẽ với người Hán, buôn bán với họ (trao đổi sản p h ẩ m ), hát tình yêu nam nữ

và lấy nhau giữa hai dân tộc N hư vậy là hiện tượng biến động về cư trú kéo theo sự phát triển các m ối quan hệ xã hội, tộc người và do đó giao lưu văn hóa

Dân ca là nguồn tâm sự sâu lắng, cô đọng của m ỗi dân tộc Vì vậy dân ca có giá trị tự thân to lớn, chứa đựng lượng thông tin đáng kể

Dân ca đã ghi lại đời sống thông qua m ối quan hệ nhiều chiều của con người Người với m ôi trường (thiên nhiên, thần thánh, m a quỷ, động vật (như: thú rừng, gia sú c ), cây trồ n g ); người với người: từng thành viên với gia đình, dòng họ, giữa các th ế hệ (con cháu - tổ tiên, bố m ẹ - chàng rể); bạn với bạn; nam - nữ; cá thể và cộng đ ồ n g Những mối quan hệ này thường bộc lộ thông qua các tôn giáo, hoạt động tôn giáo và phong cách tư duv cổ (tín ngưỡng thờ tổ tiên, tín ngưỡng đa thần, tục thờ m ặt trờ i ) Dân ca phản ánh m ột xã hội có tổ chức, sóng theo ki cương, truyền thống đạo đức (kinh già yẽu tré, tình nhân ái, tinh thần lao động bến bí và sáng ta o )

Nhiéu đề tài được m ở ra khai thác, giãi bày tâm tư con người, thế ứng xử, tinh thần lạc quan và trí thông m inh

Trang 19

phản ánh cuộc sống nội tâm phong phú của m ột dân tộc trong quá trình đấu tranh sinh thành để tự khẳng định giữa

m ột bối cảnh lịch sử và không gian ít thuận lợi

Quả vậy, giá trị dân ca Pu Péo được biểu hiện ở sức sống nội tại và bản sắc dân tộc Dân ca được sáng tạo và lưu truyền bằng phương pháp truyền m iệng, trẽn cơ sớ chất liệu nghệ thuật - lời ca cổ truyền và phần nào đó, bằng chất liệu ngoại lai (đan xen văn hóa)

Như sẽ thấy trong phần dán ca, tất cả các loại bài hát nghi lễ - phong tục và sinh hoạt - vui chơi (phần I, II, DI) được sáng tạo hoàn toàn bằng chất liệu dân tộc (âm nhạc - lời ca, nghi thức trình diẽn) phục vụ cho các lễ tiết - sinh hoạt tín ngưỡng của nội bộ cộng đồng Ý nghĩa sâu xa của tình hình này là, bản sắc và bản lĩnh dân tộc là gốc là bền vững, không thể pha tạp, không thể m ất mát Chúng ta nhớ lại rằng, nhân khẩu Pu Péo này chỉ còn 300 người, số dân vào loại ít nhất trong đại gia đình các dân tộc V iệt N am (1>.Những ai đã từng một lần tới vùng cao tỉnh Hà Giang, đi qua các xã Phố Là, Sủng Chéng (huyện Đồng Văn) rồi đọc các bài ca trong các chương trên, đều có thể thấy hiện lên khung cảnh núi rừng quê hương người Pu Péo với những địa danh, địa hình rất cụ thể, thân quen Tính chân thực bộc lộ

rõ trong lời văn cầu thần thánh; cúng tổ tiên, vừa khẩn thiết

(1> V ề các vấn đẻ như tộc danh, lịch sử di cư và các quá trình định cu,

hệ ngôn ngữ, nén kinh tế sinh nghiệp của dân tộc Pu Péo xin đọc trong

'T ruyện c ổ Pu P éo” (Lê Trung Vũ sưu tầm, giới thiệu) trang 2 - 3 , Nxb

Văn hóa dân tộc, nãm 1988 Theo Tổng điểu tra dân số và nhà ở năm

2009, ở Việt Nam người Pu Péo có dân số 687 người.

Trang 20

vừa cổ sơ, rất mực thân tình chân chất (“ Đ ón m ừng năm

m ới”, “ Lễ chiêu hồn” , “Đón giao thừa” ) Còn khi đọc

“Tết, bạn cũ gặp nhau” , “H át ru ” chúng ta như được giao tiếp với những lời nói, tấm lòng nhân hậu, vui tươi và rất mực V C U đời Hát đố là những bài ca đôi đáp ngắn, sắc bén, vui hóm và thông m in h

Riêng phần IV, về Hát giao duyên, nam nữ đối đáp, dài như m ột bán tình ca nồng nàn, được sáng tạo trên cơ sỡ giao lưu văn hóa, dưa vào m ột thể thơ H án tộc để thể hiện tâm hổn dân tộc, m à tình hình được xác định theo ý kiến của già làng như đã trình bày ở trên Ở đây, sự đấu tranh cho một tình yêu trong sáng, nhằm đạt hạnh phúc lứa đôi chân chính được lần lượt diễn tả qua các chặng tình cảm thăm dò, tâm tình, thề thốt, chia ta y

Dân ca Pu Péo đúng như người Pu Péo nghĩ, đó là “cái hay, cái thơm của dân tộc” , đó cũng là sức sống m ãnh liệt, ngọn lửa bcn trong vẫn rực cháy của những tâm hồn đa dạng nhưng chuyên nhất với những đặc điểm đã biết; đã được giữ gìn trân trọng trong trí nhớ các th ế hệ nghệ nhân, hôm nay muốn được giãi bày, m uốn được góp them hương sắc vào kho tàng dân ca trữ tình rộng lớn của các dân tộc Việt Nam

Chúng tôi xin ghi nhớ công lao của các nghệ nhân Trương Thị M áy Củng Díu Lòng, Tráng Pháng Lý, Phụ Du Máy cùng cụ Lê Hải đã giúp đỡ cung cấp tư liệu và tích cưc cộng tác đế hoàn thiện tác phẩm

Lê Trung Vũ

Trang 21

P h ầ n I

HÁT PHONG TỤC

I TRỔ NG LÚA, TRỔNG NGÔ

BÀI CA CHÀO MẶT TRỜI

Thuở xưa thế kia

Ngày xưa thế ấy

Có một mặt trời

Có một mặt trãng

Mải chơi trên núi

Mải chơi trong mây

Da núi trơn tuột

Bầu trời chợt tối sầm

Mặt đất như mù sương

Trang 22

Lúc nào cũng là đếm đen Trời đất như ở trong hòm Mặt trời nằm im, lắng nghe Măt trăng nằm lặng, lắng nghe.

Em là Cau CựaĐem gà trống đi gọi m ặt trời

Ôm gà trống đi tìm m ặt trăngCau Cuông đến bờ vựcCau Cựa đến bờ núi

Cùng cất lời van lạy:

- “Xin mặt trời trở về Chiếu sáng ban ngày Xin mặt trãng trở lại Chiếu sáng ban đêm Mời mật trời trờ về Mời mặt trăng trở lại Cho yên lòng người bản Cho xanh lá cây rừng” Cau Cuông, Cau Cựa Lại cất lời xin:

Đừng giận giống người Đừng thù muông thú

Trang 23

Sáng tới phương Tây

Phương Đông buổi mai

Người người ùa ra đón chào

Sáng sáng, mặt trời thức giấc từ phương Đông Chiều chiều, mặt trời về phương Tây ngủ yên Như thế, như thế,

Trời đất tưng bừng,

Làng bản sướng vui

{Củng Díu Lèng hát)

Trang 24

N G U Ồ N G Ố C C Â Y LÚ A , CÂ Y N G Ô

N gày xửa ngày xưa,

Xưa lắm chuyện kể rằng:

Người ta ãn củ nâu, củ mài

Ngày qua ngày, tháng nối tháng

Đào củ mài trong rừng sâu

Tìm củ nâu trên núi thẳm

Ăn trong rừng, trên núi cao

Ngày xưa chưa có hạt ngô

Không chỉ con người ta than thở

Thú rừng cũng phải kêu van

Tiếng kêu than rén rĩ núi non

*

22

Trang 25

Hai ông Sáng(1) nghe lời than, thấu nỗi cực,

Từ trời bay xuống mách người mặt đất

- Có giống hồng cẩm chứa trong chum quý

Lại cả kê, mạch, ngô đầy ắp chum trời

Ăn cơm ngon, bụng người không chướng

Ản ngô thơm, da hết bủng vàng

Trẻ em béo tốt

Người già thêm tuổi!”

Chuyện thật lạ, chuyện thật mới,

Người vây quanh hỏi:

- “Làm thế nào lên được tới nơi

Đem giống quý về,

Cứu nguời đang đói?”

- “Đường lên có thang trời

Lấy sáp ong miết vào từng bậc

Lấy sáp ong đắp kín kẽ chân

Dùng sáp ong đắp kín kẽ tay

Lần theo thang, từng bậc, cứ lên, lên mãi!”

Người bước lên thang, thang nghiêng nghiêng Bước xuống thang, thang rung rinh®

- “Thang nghiêng đừng lo

Thang rung đừng ngại

Vòng đi rồi vòng lại

Từng bước bước lên cao”

Vòng đi rồi vòng lại

(1) Ông Sáng ngày: Mặt trời Ông Sáng đêm: Mặt trãng.

(2) Thang dài quá, bị võng.

Trang 26

Từng bước, đã tới trời

Đ ây rồi, bờ rào nhà Dé L inh(l)

Ngôi nhà sao im ắng

Đ ây rồi, bờ rào nhà Dé Lúa

Ngôi nhà sao im lặng?

Dé Lúa phận em , Dé Linh là chị

M uốn phá rào, cột rào chôn kĩ

N ghe đập cửa, con Dé Lúa ra

Ô ng Sáng vừa tới

Ô ng bảo m ở cửa kho

Bé thưa: “K ho đóng, kho không biết mở

Khi đang ngủ, kho chưa m uốn thức”

Ông Sáng giục m ở cửa kho

Bé hỏi: “Lấy lúa làm gì?

Lúa đang ngủ, lúa chưa thức giấc”

Ông Sáng dịu lời: “Gọi lúa dậy,

Đưa lúa về m ặt đất

Lúa mọc thành cây

Lúa mọc nơi kia, lúa m ọc nơi này

Lúa theo người, người theo lúa

Lúa về làm giống, lúa nở nuôi người

Lúa để cúng ma, lúa để cúng trời”

Nghe nói, bé sáng m ắt, bé cười

Bé m ở kho, đánh thức lúa dây, tặng người

Ông Sáng cùng người cõng lúa đi xa

’ Dé Linh, Dé Lúa là hai chị em ruột, là hai người giữ kho lúa tức là

Mẹ Lúa trên trời.

Trang 27

Chân Dé Linh mới bước tới nhà

Chân Dé Lúa mới về tới cửa

Nhìn kho, kho vẫn mở

Nhìn lúa, lúa không còn nữa!

Dé Linh vượt đỉnh đồi đuổi theo

Dé Lúa vượt đỉnh núi đuổi theo

Dé Linh, Dé Lúa dừng lại, phải quay về(1)

Buồn chân, buồn tay

Buồn bụng, buồn đầu

Trang 28

N hớ lời ông Sáng.

Ba ngày xem lúa m ột lần

Năm ngày thăm cây m ột buổi

Cây vẫn thế, cây không lớn

Lúa hồng cẩm lá không xanh

Lúa tẻ thân mọc chẳng nên thân

Tại sao cây lúa không lớn?

Bởi đâu trồng lúa không nên?

Chắc Dé Linh lòng không vừa lòng,

Lúa không ra lúa

Chắc Dé Lúa bụng không ưng bụng

Cây chẳng nên cây

- Me Lúa m uốn gì, xin bảo cho hay

Mẹ Ngô m uốn gì, xin nói cho biết

Ồng thầy cầm đá cúng(1) khấn nguyện:

- “Dé Linh cần gì, ngọn lúa mới xanh

Dé Lúa cần gì, cây ngô mới tốt?

Dé Linh m uốn có bạc trắng(2)

Dé Lúa có cần rượu th ịt?”

Hòn đá cúng lặng yên

111 Viên đá tròn - quả đá (đăm biền), bằng quả cân tay, dùng để cúng

đế tìm (bói) ma - thán hoặc ma - hỏi ma Hòn đá này phải lấy ở chỗ núi cao, vách dá hay hang sáu, nơi người không đặt chân tới.

Y nói: Trong sạch, thành kính Lấy hòn đá thô về, nhờ thợ sửa sang mài nhẩn, tròn, đục lỗ, xỏ dãy, lam lễ cúng đá, thành đá thiêng Thường ngày, treo đá ờ bếp hoặc đặt ở góc nhà, nơi người không tới (2) Bạc thật.

26

Trang 29

Hòn đá thiêng không động(l)

- Dé Linh có ưng cơm chín,

Dé Lúa có m uốn bánh ngon?”

Đá cúng lắc lư thay lời Dé Linh

Đá cúng đung đưa thay lời Dé Lúa

Từ nay đá mang tin đi tin lại

ở giữa nhà Trên bàn đặt m ột mẹt, một sàng, một chõ đồ,

m ột nồi Đ ật bó lúa vào giữa mẹt Thắp hương trên bó

('1 Thầy đọc lời cúng, nếu đá cúng động đậy là ma - Mẹ Lúa đã ưả lời Lời đáp của ma chi thầy cúng hiểu được.

(2) Bài này thuộc loại hát Lay klìing, thường hát vào lúc đón giao thừa

để nhớ ơn người đã cho mình lúa, ngỏ làm bánh, đổ xôi trong dịp Tết (tức nhớ ơn Dé Linh, Dé Lúa) Bài này cũng dùng để gọi vía lúa, cầu lúa tốt vào Tết mồng 5 tháng 5, lúc lúa đang làm đòng Nay trong từng

vụ, từng mùa trổng trọt, mỗi khi lúa xấu, người Pu Péo thường cũng khấn bằng cơm gạo hoặc bánh làm bằng bột ngô, bột gạo.

27

Trang 30

lúa C h ẻ đôi 15 đoạn ống bương dài m ộ t gang, m ấu ở giữa, đặ t ở sàng Cưa m ột đoạn ống bương ngấn (có mấu) thay chén Đ ể m ộ t ít rượu vào đoạ n ống này, m ời tô tiên, rồi cúng N gười già trong nhà, đứng nhìn ra cửa, đọc bài

“ĐÓIÌ lứa v ề ”.

Thưa kỵ, thưa cụ,

Thưa cụ, thưa ông,

Thưa ông, thưa cha,

Thưa cụ ông, cụ bà

Thưa các bác, các cô,

Kính các thần, các th á n h 'u

Xin cấm các loài sâu bọ ăn hại lúa

Xin ngăn các loài sâu bọ ăn hại ngô

Các thần rừng, thần nương

Xin che chở cho lúa

Mười ngày tốt, chín ngày lành

Mười ngày tốt, m ột trăm ngày lành

Người tìm ngày tốt cúng

Chim Rác (?) tìm m ùa trồng lúa, chim kêu

Hôm nay tháng lành, ngày tốt

Chúng tôi có mặt đủ đầy:

Vợ chồng, con cái, cháu chắt

Tôi mừng m ùa lúa mới

Bó lúa to đem cúng

Bó lúa mrti Jan g mừng

(1> Nguyên ý: ma.

Trang 31

Từng bước chân đi

Từng lốt chân ở lại(1)

Mới được lúa trắng, lúa cẩm mang về

Nam giới cầm liềm cắt bông lúa tẻ

Nữ giới cầm hái<2> cắt bông lúa nếp

Nữ cất hái vào túi gai, mang bó lúa to về

Nam cất liềm vào vỏ bao, địu bó lúa lớn về

Vác nhiều lúa, chân bước nặng nề

Mang nhiều lúa, chân bước mỏi mệt(3>

Tháng Giêng: khoanh rừng, khoanh đất

Tháng Hai: phát nương, cuốc đất

Tháng Ba: nổi lửa đốt rẫy, dọn cỏ

Làm đúng từng tháng, từng tháng

Mới được bông lúa to này

Mới được bó lúa lớn này!

Hạt lúa mẫm thì hạt gạo béo

Mười bát chè đem cúng

Năm bát rượu đem dâng

Cúng đuổi ma xấu đi xa

Cúng đuổi sâu bọ đi xa

Tôi cúng ông Thổ Công

Tôi dâng ông Thổ Thần

Trang 32

Tôi cúng ông bà

Tôi cúng ma cúng rể, m a cô ruột

Cúng cu năm đời cu sáu đời

Ăn lúa mới, hưởng gạo mới

Hưởng xong, xin đừng giận

Mời ăn cho hết, xin đừng để lại

Hưởng rồi, xin phù hộ cho cháu con

Xin cho lúa xanh, cứng cây, cứng ngọn

Ma quen, ma lạ(l) hưởng đủ

Xin đừng lấy nồi, lấy nicu

Lấv mẹt, lấy sàng

Xin đừng quấy rối, đừng làm hại

Xin đuổi gió bão mưa đá đi xa

Đuổi thời tiết xấu chảy theo dòng sông

Lúa lén đòng phải đủ nước cho lúa nặng hạt

Phải che chở lúa, chắn gió bão cho lúa lcn tốt

Nắng quá thì che cho mát

Mưa quá thì chắn cho nước đừng dổ nhiều

Đuổi cái rét buốt đi xa

Bão to thì quạt đi hướng khác

Xin các ma, thánh thần, tổ tiên

Nhớ cho! Nhớ cho!

(Củng Díu Lèng hát)

(,) Ma nhà khác, họ khác.

30

Trang 33

Cúng cơm mói

Thưa kỵ, thưa cụ,

Thưa ông, thưa bà

Thưa mẹ, thưa cha

Tôi cúng cụ kỵ

Tôi cầu thánh thần

Người là rể hay là cô

Người là bác hay là thím

Tôi đều cúng, tôi đều mời

Cụ năm đời, sáu đời

Trang 34

Lợn nhỡ đang nuôi

Gà tơ đã có

Hôm nay thịt lợn nhỡ, thịt gà tơ

Bày trên m âm cúng dâng mời

Trước dành tổ tiên

Sau phần con cháu

Của cúng thật ít

Tấm lòng thật nhiều

Cơm cúng thơm , thịt ngon, béo

Tay làm, lòng mời mới nên

Cắt bông lúa to, bông mẩy

Trong đám ruộng to, ruộng rộng

Lợn béo, thịt tươi này

Nuôi nhiều tháng, nhiều ngày

Rau cắt trong ao sâu, vườn lớn

Giã bông lúa nếp tròn dâng cúng

Giã bỏng lúa tẻ mẩy dâng mời

Dự hướng rồi, để phúc cho con

Đỏ con, nuôi được con khỏe

Dự hưởng rồi, để lộc cho cháu

Chân nuôi gia súc tốt tay

Chăn nuôi gia cầm tốt giông

Nuôi con gì được con ấy

32

Trang 35

Lợn gà đầy đàn, đầv sân.

Dự hưởng rồi, dể phúc cho con

Con lớn, con bé không hư đốn

Dự hưởng rồi, để lộc cho con

Người lớn, người bé không đau ốm

Dự hưởng rồi che chở cho gia đinh

Đừng cho sét đánh xuống ruộng

Gió, đừng cho nó to

Bão, đừng cho nó lớn

Mưa, đừng cho nó nhiều

Nước vào ruộng, nước đủ lúa uống

Nắng, đừng cho hạn hán

Thấy gió về, đẩy gió lên núi

Thấy mưa nhiều, đuổi nước xuống khe

Thấy bão vé, thì quạt đi!

Nắng gắt, thì làm mây che

Cho mát nương, mát lúa

Tất cả, tất cả

Lúa thơm, thịt ngon

Chúng tôi dâng mời

Năm sau, mùa mới

Được lúa, được lcm, được gà

Lúa đầy cót,

Lợn chật chuồng

Gà đầy sân

Chúng tòi lại dâng mời

Chúng tôi cúng dâng lỗ mới

(Củng Díu Lèng hát ;

Trang 36

II N Ă M M Ớ I

Đ Ó N N Ă M M ỚI

Người Pu Péo quan niệm : Ai cũng vất vả bận rộn quanh năm chí đến Tết mới có dịp nghỉ ngơi đôi chút, nên Tết được coi là những ngày lễ lớn, trang trọng nhất, phải tổ chức đón mừng

Tết là đầu m ối của nhiều ý nghĩ: rằng, người ta đã qua được m ột chặng đường làm ăn, m ay có, rủi có buồn vui xcn lẫn: rằng, đáy là cơ hội hợp lý n hất và bắt buộc mọi thành viên trong gia đình tập trung đầy du để trò chuyện, thăm hỏi an ủi chúc m ừng nhau đầy ân tình m à có hiệu quá nhất

Con người sống được do có hai phần: xác và hồn Suốt năm người (xác) đi lại nhiều nơi, nên hồn cũng di nhiều Hổn có thể bị lạc hoặc bị giữ ứ m ột nơi nào đó Cho nên phái tổ chức lẽ chiêu hồn đổ hồn nào nhập vào xác ấy, con người lại toàn vẹn (hai phần); gia dinh được đầv đủ; rồi nhân dó câu môt năm mới cho mọi người trong nhà dcu gặp may man đều hạnh phúc

Ba nghi lè tuân tự ihco thời gian, không thể thicu được:

- Lẻ chiêu hổn: chiểu 29 tháng Chạp

- Đón giao ihừa: đêm 30 tháng Chạp

34

Trang 37

7 người Không làm lễ vào lúc sáng quá hoặc lúc tối quá Tốt nhất là vào lúc hoàng hôn Lúc ấy là vừa cuối ngày, sau một ngày làm lụng con người tất bật trở về, hồn đang lang ihang, cần tập trung về cả.

Lễ tiến hành trước cửa chính cúa nhà (xcm hình vẽ) Phía mặt trước nhà làm một đàn nhỏ Trước đàn nhỏ đặt một cái nong

D

2

Túi D

Trang 38

Dàn B: Lấy 9 đ<Ị>ạn vầu non, vót nhỏ đéu nhau bằng ngón

tay, 3 ngọn dài khoảng 60 cm, làm 3 thang dọc Bốn ngọn khoảng 50 cm làm 4 cột (dàn cao khoảng 40 cm) Hai ngọn dài khoảng 20 cm làm 2 thang ngang đỡ thang dọc Vầu phải sửa soạn sẵn Khi chưa dùng phải để nơi cao ráo, không cho người bước qua Gốc của 3 thang dọc đặt hướng

về đông Lấy lá dong hoặc lá chuối rừng rải lên dàn Đặt 10 nhúm cơm lên mặt dàn (cơm nếp hoặc cơm tẻ, không độn ngô) Trên cơm để 10 miếng thịt (mỗi m iếng bằng đốt tay)

Nong C: Đật dưới đất, phía trước dàn B Phía trên nong

36

Trang 39

(gần dàn B) để nắm cơm to (a) trên có miếng thịt to Rồi đến 4 hàng cơm nhỏ b, c, d, đ Hàng (b) có 8 nắm trên có 8

m iếng thịt, cúng các thần nam Các hàng tiếp theo cũng cúng thịt như vậy, theo số lượng như sau: hàng (c) 8 nắm cúng các thần nữ, hàng (d) 7 nắm cúng thần đất; hàng (đ) 5 nắm cúng gia tiên

Vật phẩm dâng cúng còn có gói cơm nhỏ dành cho hồn từng người trong nhà Người ta xúc 2 thìa cơm và một mẩu thịt chín hoặc m ột miếng trứng gà luộc, gói bầng lá chuối hoặc lá dong, buộc lại Xong lấy áo hay khăn (nếu đương sự

là nữ); áo hay mũ (nếu là nam) cuốn ngoài từng gói cơm dành cho đương sự đó, để nhận biết và kiểm cho dễ Tất cả các gói này cho vào túi D treo ở cột 1 của dàn B

Mọi việc bày biện xong cũng vừa lúc hoàng hôn xuống.Thầy cúng ngồi trước nong c Mặt thầy nhìn nong c, tức

là nhìn vào dàn B, cửa A Giọng cúng như lối khấn đều đều, không mang tính âm nhạc

Bài cúng gồm 2 phần:

Phẩn 1: Mời các thần về hưởng lộc Nhờ các thần gọi giúp

hồn các thành viên của gia đình, nhưng chủ yếu là cậy các thần bảo vệ hạnh phúc, sức khỏe và mùa màng của gia đinh

Phần 2: Mời các hổn gia tiên về hưởng lộc.

Không khí cầu cúng linh thiêng, người trong nhà bất cứ

ai không được nói to Đi lại phải thận trọng

Thầy cầm nén hương đang cháy, khấn:

Trang 40

Phần 1:

0 , các thần thành, tổ tiên ơi!{1)

ơ , thần Ihánh ở trên trời

Gia tiên ở khắp nơi(2)

- Ma (clòe cloọc) tượng trưng tính ác.

- Tổ tiên đã quá năm đời không cúng Lúc ấy tổ tiên thường ờ các cây

38

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w