1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục bảo tồn và phát huy ban sắc văn hoá dân tộc cho cộng đồng người dao ở huyện hải hà, quảng ninh

141 354 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” dưới sự hướng dẫn của PGS.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TẠ HỮU TUẤT

GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO

Ở HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TẠ HỮU TUẤT

GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO

Ở HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Quang Sơn

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Giáo dục bảo tồn và phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Quang Sơn là công

trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu đã có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiên cứu nào khác

Tác giả

Tạ Hữu Tuất

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Ngô Quang Sơn,

người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm

lý – Giáo dục học, trường ĐHSP Hà Nội, các đồng chỉ cùng công tác tại đơn vị…., gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng

do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy, cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Tạ Hữu Tuất

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bảo tồn và phát huy : BT & PH

Bản sắc văn hóa dân tộc : BSVHDT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp mới của luận văn 5

9 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Ở Việt Nam 10

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 15

1.2.1 Giáo dục 15

1.2.2 Văn hóa và bản sắc văn hóa 16

1.2.3 Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 18

1.2.4 Cộng đồng 19

1.2.5 Cộng đồng dân cư 23

1.3.Một số đặc điểm của người Dao 23

1.4 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao 26

1.5 Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 34

1.5.1 Mục tiêu của giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 34

1.5.2.Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 35

Trang 7

1.5.3 Các lực lượng tham gia giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa

dân tộc cho cộng đồng người Dao 37

1.5.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 38

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 39

Kết luận chương 1 42

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO

Ở HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 43

2.1 Khái quát về huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 43

2.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên của huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 43

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 43

2.1.3 Dân tộc Dao trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 44

2.2 Khái quát về quá trình điều tra khảo sát thực trạng 48

2.2.1 Mục đích khảo sát 48

2.2.2 Nội dung khảo sát 48

2.2.3 Đối tượng khảo sát 49

2.2.4 Phương pháp khảo sát 49

2.2.5 Công cụ khảo sát 49

2.2.6 Tiến hành khảo sát 49

2.2.7 Phương pháp xử lí số liệu: Sử dụng các công thức toán học 49

2.3 Thực trạng giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 50

2.3.1 Nhận thức về giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 50

2.3.2 Nội dung giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 54

2.3.3 Các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 55

Trang 8

2.3.4 Phương tiện giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho

cộng đồng người Dao 57

2.3.5 Lực lượng giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 58

2.3.6 Đồng bào người Dao tham gia quá trình giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 63

2.3.7 Kết quả giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 65

2.3.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 66

2.4 Đánh giá chung về thực trạng 69

2.4.1 Ưu điểm 69

2.4.2 Hạn chế 69

Kết luận chương 2 71

Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO Ở HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 72

3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay 72

3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 76

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 76

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 77

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 78

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 78

3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 79

3.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống 79

3.3 Biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 80

Trang 9

3.3.1 Biện pháp 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho cộng đồng người Dao về tầm quan trọng của công tác giáo dục bảo

tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 80

3.3.2 Biện pháp 2: Hoàn thiện các cơ chế, chính sách về công tác giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 81

3.3.3.Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp và hình thức giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 82

3.3.4 Biện pháp 4: Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 84

3.3.5 Biện pháp 5: Khôi phục và duy trì các hoạt động biểu diễn văn nghệ dân gian, các trò chơi dân gian trong lễ hội; định kỳ tổ chức các liên hoan, hội thi, hội diễn, giao lưu văn hóa cho cộng đồng 85

3.3.6 Biện pháp 6: Nâng cao hiệu quả phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 86

3.3.7 Biện pháp 7: Tăng cường đầu tư cho công tác giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 87

3.3.8 Biện pháp 8: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 89

3.3.9 Biện pháp 9: Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 90

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 91

3.5 Khảo nghiệm về các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 95

3.5.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 95

3.5.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 109

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức về mức độ quan trọng của việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 50 Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức về sự cần thiết của hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 51 Bảng 2.3 Nhận thức về mục tiêu của hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 52 Bảng 2.4 Thực trạng thực hiện các nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Dao cho học sinh các trường DTNT 54 Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 55 Bảng 2.6.Thực trạng phương tiệngiáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 57

giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 58

giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 59

tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao .60

sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao 62 Bảng 2.11 Đánh giá về đồng bào người Dao trong quá trình giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 63 Bảng 2.12 Đánh giá của cán bộ các ban, ngành, đoàn thể; CBQL,giáo

viên,phụ huynh và học sinh các trường DTNT 65 Bảng 2.13.Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Dao cho học sinh các trường DTNT 67 Bảng 3 Mức độcần thiết của các biện pháp 97

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển Văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Nó là một trong những nhân tố quan trọng, hướng dẫn hoạt động của con người hướng tới Chân, Thiện, Mỹ Văn hóa còn biểu hiện trình độ văn minh của dân tộc và là bản sắc của từng tộc người Mỗi một dân tộc có bản sắc văn hóa riêng Bản sắc văn hóa được xem là chứng minh thư, là thẻ căn cước của từng dân tộc

Hiện nay, nước ta đang trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới – nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy, một yêu cầu quan trọng trong thời kì CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là phải biết chọn lọc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc ở Việt Nam Điều 5 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có ghi

rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất

của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số” [18]

Đồng bào người Dao là dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ khá lớn về dân số ở tỉnh Quảng Ninh nói chung và huyện Hải Hà nói riêng Dân tộc Dao có nền văn hóa

từ lâu đời và mang bản sắc dân tộc khá độc đáo Bản sắc văn hóa dân tộc (BSVHDT) Dao vừa quyện chặt với tín ngưỡng tôn giáo, vừa mang tính quần chúng rộng rãi, có sức mạnh to lớn chi phối mọi hoạt động của đồng bào Dao

Trang 12

Ngày nay trong cuộc sống hiện đại, mọi công việc đều đòi hỏi phải nhanh, buộc người ta phải chọn lựa cách ăn mặc bớt cầu kỳ, khiến cho người Dao, nhất là lớp trẻ thường có xu hướng theo văn hoá người Kinh, tuy phát huy được nhiều mặt tốt, nhưng lại khiến cho văn hoá người dân tộc mờ dần Nhiều cô gái người Dao ngày nay đã không biết vấn tóc kiểu truyền thống của dân tộc mình như thế nào Bên cạnh đó, nhiều phong tục khác của người Dao như lễ cưới hỏi, lễ cấp sắc, lễ thanh minh, lễ cầu trời, lễ ăn lúa mới cũng sẽ dần dần mai một nếu như không có cách khôi phục…Việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của một dân tộc là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần có sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lí, các lĩnh vực xã hội trong đó có giáo dục

Trong những năm qua, với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, của Tỉnh, huyện, của các tổ chức và cá nhân địa phương, công tác giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT của cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, chẳng hạn, nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT của cộng đồng người Dao, những giá trị BSVHDTvề ngôn ngữ; tập quán tín ngưỡng; luật tục, phong tục; lễ hội; trang phục trang sức; trò chơi dân gian; nhà cửa kiến trúc; sinh hoạt văn hóa nghệ thuật trình diễn được bảo tồn và phát triển Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy trong những năm gần đây, văn hoá của người dân tộc Dao ở địa phương cứ bị mai một dần Chính vì vậy, việc nghiên cứu lí luận, thực trạng và đề ra các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát triển BSVHDT cho cộng đồng người Dao là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục

bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” để tiến hành nghiên cứu

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao và khảo sát thực trạng giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, trên

cơ sở đó, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao trên địa bàn nghiên cứu

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc (BSVHDT) của người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay

4 Giả thuyết khoa học

Công tác giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh đã đạt được một số kết quả nhất định song còn nhiều bất cập

Nếu nghiên cứu cơ sở lí luận, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp mang tính khoa học và hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao tại địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về giáo dục bảo tồn và

phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

5.3 Đề xuất biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Về nội dung nghiên cứu

Do điều kiện thời gian có hạn, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu về giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

6.2 Về khách thể khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 20 chuyên gia thuộc lĩnh vực tâm lí học, Giáo Dục học, 30 cán bộ giáo dục, 50 cán bộ các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn, 100 đồng bào người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

6.3 Về thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1.Các phương pháp nghiên cứu lý luận

7.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Luận văn phân tích

và tổng hợp các tài liệu, lý luận liên quan, bao gồm:

- Lí luận về giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng

người Dao

- Các văn kiện, văn bản chỉ đạo, điều hành công tác giáo dục bảo tồn và

phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao

- Các công trình khoa học, các bài báo đã được công bố

7.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Luận văn sử

dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa kiến thức để sắp xếp phân loại các nghiên cứu về giáo bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng

người Dao

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra

Đề tài xây dựng phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở

Trang 15

huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

7.2.2 Phương pháp quan sát

Quan sát các hình thức biểu hiện hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy

BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

7.2.3 Phương pháp chuyên gia

Trực tiếp làm việcvới một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi) trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu: Tâm lí học và Giáo dục học.Đặc biệt xin ý kiến về các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

7.2.4 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

Đề tài xem xét lại những kết quả thực tiễn giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, những kết luận khoa học bổ ích, những ưu điểm cần học hỏi và phát triển; làm cơ sở để đề xuất các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.h

7.3 Các phương pháp xử lí thông tin

Thông tin được xử lí bằng toán học thống kê, đồ thị và biểu đồ

8 Đóng góp mới của luận văn

Hệ thống hóa các vấn đề lí luận về giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao

Phát hiện thực trạng giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Đề xuất các biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung nghiên cứu được cấu trúc theo 3 chương sau đây:

Trang 16

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT

cộng đồng người Dao

Chương 2: Thực trạng giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho

cộng đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Biện pháp giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT cho cộng

đồng người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC

VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Người Dao cư trú ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng đông nhất là ở Trung Quốc, nên những nghiên cứu về dân tộc này ở Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu Tính đến đầu thế kỉ XXI, các học giả Trung Quốc đã công bố

243 công trình nghiên cứu, sưu tầm về người Dao (1) Chỉ trong thập niên đầu thế kỉ XXI, tỉnh Quảng Tây và Vân Nam đã xuất bản 17 công trình tiêu biểu nghiên cứu về người Dao Tuy nhiên, trong số đó lại có rất ít công trình nghiên cứu về gia đình và văn hóa gia đình người Dao Các tác phẩm mang

tính dân tộc như Dao tộc của Hoàng Ngọc và Hoàng Phương Bình, Lịch sử

văn hóa dân tộc Dao của Từ Tổ Tường, Bàn về văn hóa truyền thống dân tộc Dao của Hoàng Đình Quang, Văn hóa truyền thống dân tộc Dao của Tạ Minh

Học và Ngọc Thời Giai, Phong tục chí dân tộc Dao của Lưu Bào Nguyên…

chỉ đề cập đến gia đình người Dao ở mức độ miêu tả, sơ lược, ít nói đến sự biến đổi của gia đình và văn hóa gia đình

Các chuyên khảo như Dân tộc Dao thôn Bàn của Hồ Khởi Vọng và Phạm Hồng Quý, Xã hội người Dao quần trắng của Ngọc Thời Giai, Tộc

người Dao Lam Điền ở thôn Na Hồng của Hoàng Quý Quyền, Văn hóa lịch

sử người Dao đỏ của Túc Vệ Hồng đã đề cập nhiều đến nguồn gốc lịch sử,

dân số, kinh tế, văn hóa của người Dao, nhưng cũng nêu một cách rất sơ lược

về tổ chức và văn hóa gia đình Một số nghiên cứu những năm gần đây ở Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm đến biến đổi kinh tế, xã hội của người Dao Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về biến đổi của người Dao mang tính

bao quát chung ở Trung Quốc như Lịch sử văn hóa dân tộc Dao và hiện đại

Trang 18

hóa của Mao Thù Phàm, Sự thay đổi của văn hóa dân tộc Dao của Ngọc Thời

Giai chỉ đề cập tới gia đình ở mức độ sơ lược, như một số biến đổi về cấu trúc, chức năng, một vài yếu tố trong quan hệ

Bên cạnh các công trình nghiên cứu chung về người Dao, đã xuất hiện

nhiều chuyên khảo có đề cập đến biến đổi gia đình như: Sự thay đổi thôn

Bản của Quách Duy Lợi, Thôn xóm hài hòa ở vùng núi Đại Thạch: Sự thay đổi về kinh tế, xã hội, văn hóa người Dao Bố Nỗ ở Quảng Tây của Đàm Chủ

Nguyên, Sự thay đổi của người Dao Hoa Lam của Phụng Hằng Cao, Sự

chuyển dịch mưu sinh và sự thay đổi về văn hóa ở các thôn xóm người Daocủa Trần Hồng Tăng Các công trình có đề cập đến biến đổi của gia đình

và văn hóa gia đình, nhưng chủ yếu là về chức năng, cấu trúc Vấn đề quan hệ gia đình cũng được một số tác phẩm đề cập, nhưng văn hóa gia đình và biến đổi văn hóa gia đình chưa được nghiên cứu, hoặc chỉ mới ở mức độ gợi mở Một vấn đề liên quan đến gia đình người Dao cũng được nhiều học giả

quan tâm là hôn nhân tộc người Tiêu biểu là chuyên khảo Phong tục yêu

đương, hôn nhân người Dao Trung Quốc của Lý Triệu Long và Quá Trúc, đã

nghiên cứu khá sâu sắc, toàn diện các phong tục, tập quán yêu đương, hôn nhân của các nhóm Dao ở Trung Quốc nói chung Tiếp sau công trình này, nhiều bài nghiên cứu về tập quán và biến đổi hôn nhân của người Dao ở các

địa phương khác nhau đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành như: Sự

phát triển biến đổi hôn nhân nguyên thủy người Dao của Hoàng Phương Bình

chế độ hôn nhân dân tộc Dao của Đàm Đình Sinh đăng Nghiên cứu dân tộc Quý Châu, Từ gà không lấy vịt đến thông hôn tộc tế - phân tích nguyên nhân thay đổi tập tục nội hôn dân tộc dao Đại Dao Sơn của Lương Mậu Xuân

nhân kỳ lạ độc đáo đăng Khoa kỹ phong, Bên trong và mở rộng: ảnh hưởng của lao động ra ngoài làm việc đối với thông hôn trong vòng tròn của người

Trang 19

Dao - lấy đồn huyện Điền Đông Quảng Tây làm ví dụ của Vĩ Mỹ Thần

đăng Học báo học viện dân tộc Quảng Tây

Người Dao ở Trung Quốc (qua những công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc) của Diệp Đình Hoa là công trình mang tính tổng hợp, hệ

thống hóa lại quá trình nghiên cứu về người Dao ở Trung Quốc Công trình đã trình bày yếu tố văn hóa vật chất, phong tục tập quán, văn hóa và cơ cấu xã hội Tác giả đã dành ra một mục để trình bày khái quát về cấu trúc và một số phong tục tập quán liên quan đến gia đình

Công trình nghiên cứu điểm Tộc Dao thôn Điền của Hoàng Quý

Quyền cũng dành một chương để bàn về hôn nhân và gia đình của người Dao Trong công trình, gia đình được tác giả đặt trong mối nhân quan

với nhà Việc trình bày không gian nhà cửa đã phần nào phản ánh về quan

hệ giữa gia đình với tổ tiên, với thế giới thần linh, thể hiện cái nhìn của người Dao về khái niệm gia đình

Nghiên cứu về gia đình mang tính chuyên khảo có Phương thức sinh

hoạt gia đình của người Dao hiện nay ở vùng Nam Hồ Nam - Bắc Quảng Tây của Tôn Thu Vân hay Luận Dao tộc truyền thống văn hóa của Diêu

Thuấn, Trung Quốc thiểu số dân tộc biên tả tổ của tập thể tác giả Các công

trình này nghiên cứu khá sâu về phương thức sinh hoạt gia đình truyền thống

và một số thay đổi hiện nay, đề cập cụ thể đến vấn đề cấu trúc, quy mô, hôn nhân gia đình Tuy nhiên, vấn đề văn hóa gia đình và những biến đổi của nó chưa được nghiên cứu sâu

Qua phân tích, có thể thấy số lượng công trình nghiên cứu về người Dao rất phong phú Vấn đề gia đình, văn hóa gia đình đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu chung về người Dao ở Trung Quốc và công trình nghiên cứu điểm ở những chiều cạnh như cấu trúc, quan hệ, các yếu tố văn hóa, một cách sơ lược, mang tính chất gợi mở Tuy nhiên, số lượng công trình chuyên khảo nghiên cứu về gia đình, văn hóa gia đình người Dao

Trang 20

khá ít ỏi, chưa sâu sắc và toàn diện Đặc biệt, vấn đề biến đổi văn hóa gia đình người Dao ở vùng du lịch chưa được đề cập tới Đây vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu về gia đình người Dao ở Trung Quốc.Hiện nay một số nhà nghiên cứu đang tập trung nghiên cứu công tác Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Dao, đây là hai vấn đề luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội) Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) như: Kiến trúc xây dựng nhà cửa, trang phục, dân ca, trò chơi dân gian, lễ hội, cưới hỏi… của dân tộc người Dao

1.1.2 Ở Việt Nam

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp chiếm đóng ở vùng nào cũng đều tổ chức viết địa chí vùng đó Trong những tài liệu về địa chí, các tác giả có đề cập vài nét về địa bàn cư trú của người Dao Sau này, A.Bônifacy

xuất bản một loạt công trình về người Dao như Mán Quần cộc, Mán Quần

trắng, Mán chàm hoặc Lam Điền, Mán tiểu bản hay đeo tiền… Đây có thể coi

là những công trình nghiên cứu đầu tiên của học giả phương Tây về người Dao ở Việt Nam Các nghiên cứu của A.Bônifacy đã miêu tả sinh động về trang phục, nhà cửa, kinh tế, tổ chức xã hội, văn học, nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng của người Dao Tác giả có đề cập tới gia đình người Dao nhưng hết sức sơ lược, chủ yếu là nói về cơ cấu gia đình và tục nhận con nuôi

Từ những năm 50 thế kỉXX đến nay, tổng số công trình viết về người Dao ở Việt Nam khá nhiều Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 200 công trình sách, bài báo viết về người Dao đăng trên tạp chí chuyên ngành Gia đình và văn hóa gia đình của người Dao được đề cập đến trong nhiều tác phẩm ở các chiều cạnh khác nhau như: cấu trúc, các quan hệ ứng xử, phong

Trang 21

tục, tập quán, nghi lễ, giá trị… nhưng còn ở mức sơ lược Số công trình viết

về gia đình người Dao chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chưa có chuyên khảo nghiên cứu

về văn hóa gia đình và biến đổi văn hóa gia đình người Dao

Các quan hệ và ứng xử trong gia đình người Dao được đề cập trong

nhiều công trình nghiên cứu Tuy giữa các nhóm ngành Dao khác nhau và người Dao ở các địa phương khác nhau có đặc điểm riêng, nhưng cấu trúc,

quan hệ gia đình truyền thống được phản ánh trong công trình Người Dao ở

Việt Nam của tập thể tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung,

Nguyễn Nam Tiến là cơ bản, tương đối thống nhất Đây là công trình nghiên cứu toàn diện về mọi mặt đời sống văn hóa, kinh tế của người Dao thời kỳ trước đổi mới Vấn đề gia đình và văn hóa gia đình cũng được trình bày ở các mặt cấu trúc, quan hệ, phân công lao động và một số phong tục như nhận con nuôi, tập quán hôn nhân

Theo các nghiên cứu, gia đình người Dao là gia đình nhỏ, phụ hệ, gồm

có một cặp vợ chồng, các con và có thể có thêm ông, bà Chủ gia đình thường

là người cha, có vai trò lớn nhất trong sản xuất, thờ cúng tổ tiên, quan hệ với người ngoài Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình chịu sự chi phối mạnh mẽ của tính chất phụ hệ và thứ bậc Sự phân công lao động trong gia đình theo giới và theo lứa tuổi Đàn ông thường làm những công việc nặng, phụ nữ và trẻ em làm công việc nhẹ Tuy nhiên, ngoài công việc đồng áng, người phụ nữ phải gánh vác các công việc gia đình như chăm sóc con cái, thêu thùa may vá, chăn nuôi, nên địa vị của họ trong gia đình được coi trọng Tuy nhiên, người đàn ông vẫn đóng vai trò trụ cột trong việc sản xuất, kiến thiết nhà cửa, quan hệ xã hội Về cơ bản, quan hệ gia đình người Dao truyền thống có nhiều điểm tương đồng với người Dao ở Trung Quốc

Nghiên cứu về phong tục, tập quán, nghi lễ liên quan đến gia đình là

chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứucủa nhiều học giả, với số lượng công trình phong phú Tín ngưỡng, phong tục thờ cúng tổ tiên của gia đình người

Trang 22

Dao đã được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu dân tộc chí, văn hóa dân gian về người Dao Có một số ít công trình đi sâu nghiên cứu chỉ riêng vấn đề

này, tiêu biểu là Một số hình thức thờ cúng và tết trong gia đình người Dao

Tiền ở tỉnh Bắc Kạn của Lý Hành Sơn Tác giả đã giới thiệu một số hình thức

thờ cúng và tết trong gia đình người Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn như cúng ma bếp, cúng ma thổ công, lễ cấp sắc, lễ tết trong gia đình như tết Nguyên đán, tết thanh minh, tết tháng 5 âm lịch, tết tháng 7 âm lịch, lễ cúng cơm mới, cúng hồn lúa Ngoài ra, tín ngưỡng gia đình cũng được chọn làm chủ đề nghiên cứu

của đề tài, khóa luận, ví dụ như Tín ngưỡng dân gian của người Dao ở huyện

Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu của Tẩn Lao U Tác giả đã tìm hiểu tổng thể các lĩnh

vực kinh tế, văn hóa, xã hội của người Dao, sự thể hiện tín ngưỡng dân gian qua các mặt nông nghiệp, thờ cúng tổ tiên, sinh hoạt lễ hội cộng đồng…

Các nghi lễ, phong tục tập quán theo chu kỳ đời người của người Dao như trong sinh đẻ, nuôi con, nghi lễ trưởng thành (cấp sắc), cưới xin, tang ma cũng trở thành đề tài được nhiều tác giả nghiên cứu Bên cạnh các công trình mang tính tổng hợp về các nghi lễ, phong tục tập quán theo chu kỳ đời người

có liên quan đến gia đình, thì một số nghiên cứu lại đi sâu vào một trong những yếu tố trên

Nghiên cứu về tập tục sinh đẻ, chăm sóc sức khỏe và nghi lễ liên quan

đến việc sinh đẻ có: Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em người Dao ở xã Địch

Quả, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ của Nguyễn Thị Minh Nguyệt,Tập quán trong sinh đẻ và nuôi dạy trẻ nhỏ của người Dao xã Tu Lý, huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình của Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Tập quán sinh đẻ và nuôi dạy con cái của người Dao với việc chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em hiện nay ở xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, Quảng Ninh của Nguyễn Đình Hiếu Bên

cạnh những công trình nghiên cứu về tập tục sinh đẻ, nuôi dạy con cái thì vấn

đề văn hóa người Dao với kế hoạch hóa gia đình cũng được đề cập trong nghiên cứu của Trần Minh Hằng, Đào Huy Khuê Những ghi chép về tập tục

Trang 23

sinh đẻ và nuôi dạy con cái trong các nghiên cứu này cũng thể hiện văn hóa gia đình người Dao ở các phương diện văn hóa sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục con cái

Nghiên cứu về phong tục cưới xin của người Dao, tiêu biểu có công trình của tác giả Trần Hữu Sơn viết về đám cưới người Dao Tuyển Ngoài việc miêu tả các nghi lễ, tác giả đã phân tích một số thành tố nghệ thuật như

âm nhạc, trang trí, thơ ca đám cưới của nhóm Dao Tuyển Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu đã gắn vấn đề tìm hiểu hôn nhân với gia đình

như: Tìm hiểu hôn nhân và gia đình của người Dao ở xã Yên Lạc, huyện

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng của Vũ Thị Hồng, Đào Quang Vinh, Nguyễn Thị

Minh Nguyệt, Hôn nhân và gia đình của người Dao ở xã Yên Lạc, huyện

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng của Đào Quang Vinh Một số nghiên cứu đã đề

cập đến biến đổi hôn nhân và gia đình người Dao như: Hôn nhân và gia đình

của người Dao Quần Chẹt - Truyền thống và biến đổi (nghiên cứu trường hợp

ở xóm Mạ, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình) của Vũ Tuyết Lan, Nghi

lễ hôn nhân của người Dao di cư thôn Hợp Thành, xã Ea Mdroh, huyện C M’gar, tỉnh Đăk Lăk của Lê Thị Thỏa Các công trình đã tìm hiểu một số đặc

điểm chủ yếu trong hôn nhân, gia đình, tập tục, nghi lễ liên quan đến hôn nhân, gia đình và sự biến đổi của nó trong tình hình hiện nay Bên cạnh các tập tục trong sinh đẻ, cưới xin thì tục cấp sắc và tang ma cũng có một số

nghiên cứu mang tính chuyên sâu như Lễ cấp sắc của người Dao Lô

Gang của Phan Ngọc Khuê, Nghi lễ ma chay của người Dao Đỏ ở xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai của Hà Thị Thuận

Bên cạnh đó, một số tác giả lại đề cập đến văn hóa gia đình trong các nghiên cứu về phân bố không gian mặt bằng nhà ở Tiêu biểu trong số đó là nghiên cứu của Phạm Minh Phúc, Chu Quang Cường… Các công trình đều nghiên cứu phân bố không gian mặt bằng sinh hoạt, cách thức tổ chức không gian sinh hoạt trong gia đình để tìm hiểu các mối quan hệ trong gia đình và xã

Trang 24

hội, chỉ ra những biến đổi của các mối quan hệ gia đình được phản ánh qua cách thức tổ chức không gian mặt bằng nhà ở

Các giá trị gia đình cũng là một phần của văn hóa gia đình người Dao

Đó là những truyền thống, chuẩn mực văn hóa được coi là tốt đẹp, giàu tính nhân văn Cho đến nay, chưa có chuyên khảo nghiên cứu về vấn đề này, nhưng giá trị gia đình người Dao cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu chung và nghiên cứu về văn hóa tộc người này Ngay từ công trình chuyên khảo đầu tiên về người Dao ở Việt Nam, các giá trị gia đình truyền thống đã

đề cập Gia đình người Dao là phụ hệ nhưng không phải gia trưởng hoàn toàn

mà tương đối bình đẳng Các thành viên trong gia đình thương yêu đùm bọc lẫn nhau không phân biệt con trai, con gái hay con đẻ, con nuôi Quan hệ vợ chồng hòa thuận, bố mẹ ít đánh mắng con cái Gia đình người Dao có truyền thống giáo dục con cái, đề cao việc học hành Ngay từ nhỏ, các bé trai đã được cho đi học chữ Dao, các bé gái theo mẹ học thêu thùa, may vá Người Dao có một kho tàng sách cổ phong phú, trong đó các bài ca giáo lý răn dạy lẽ sống cho con người chiếm một số lượng lớn Tác giả Trần Hữu Sơn đã nghiên cứu và tập hợp thành cuốn sách Những bài ca giáo lý Trong số đó có nhiều bài răn dạy đạo làm con phải tròn chữ hiếu, vợ chồng phải hòa thuận… Đó là những chuẩn mực, giá trị đạo đức gia đình tốt đẹp còn nguyên giá trị trong gia đình người Dao đến nay

Qua tổng quan nghiên cứu vấn đề có thể rút ra một số kết luận sau:

- Dân tộc Dao và văn hóa dân tộc Dao là vấn đề đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước

- Giáo dục bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Dao chưa được quan tâm đúng mức, số lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều

Trang 25

- Theo hiểu biết của tác giả, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu

nào về “Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng

người Dao ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Giáo dục

Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đường tinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục là nuôi, là săn sóc về mặt thể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người

về cả ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất Theo phương Tây thì Education vốn xuất phát từ chữEducare của tiếng La tinh Động từEducare là dắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khả năng tiềm tàng Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh “Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ” [29]

Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy

đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội” [Nguyễn Lân (2002),

Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, Nxb Từ điển Bách khoa]

Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích

và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu

tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh tế xã hội” [22]

Trang 26

Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người

Như vậy: Giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục

Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục để hình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục

Giáo dục không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh, Video,…) với các hình thức đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục với người được giáo dục

1.2.2 Văn hóa và bản sắc văn hóa

1.2.2.1 Văn hóa

ớTrong nghiên cứu về văn hóa nhiều học giả cho rằng văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) nói chung bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần Theo

nghĩa rộng nhất của nó, văn hóa bao gồm những sáng tạo về vật chất và tinh

thần của con người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan Những tri

thức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của văn hóa Văn hóa không tự hạn chế vào một số biểu hiện của đời sống tinh thần Nó là toàn bộ cuộc sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng

Trang 27

người Như vậy, có thể khẳng định rằng: tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa

Văn hóa tinh thần cũng được hiểu theo hai nghĩa cơ bản rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị, những hoạt

động tinh thần của con người Taylor cho rằng “Văn hóa hiểu theo nghĩa

rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác

mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” Tiêu

biểu cho cách hiểu này là A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh thần chỉ là

tổng hợp những giá trị tinh thần là phiến diện Văn hóa tinh thần như là

sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ

và sử dụng những giá trị tinh thần”

Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu

ấn tinh thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái

niệm văn hóa của UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “tổng thể

sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [23]

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của mình Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là sự hóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ

xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại

Trang 28

1.2.2.2 Bản sắc văn hóa

Thuật ngữ “bản sắc” (Identité) chỉ tính chất, màu sắc riêng

1.2.3 Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Bảo tồn là giữ lại không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái… Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn

Trang 29

Phát huy trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản văn hóa trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm; đồng thời, phát huy cũng

đã bao hàm cả hoạt động khai thác, tuy nhiên, nếu sử dụng từ khai thác thay cho phát huy di sản văn hóa thì sẽ bị hiểu là quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng

Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là quá trình tác động hình thành và phát triển cho mỗi người những tri thức và niềm tin tương ứng về các giá trị truyền thống đặc sắc, độc đáo riêng có của dân tộc, giúp họ có thái độ, tình cảm đúng đắn, biết thực hiện những hành động trong việc bảo tồn

và phát huy những giá trị tích cực của văn hóa truyền thống trong quá trình phát triển của dân tộc mình

1.2.4 Cộng đồng

1.2.4.1 Khái niệm

Cộng đồng (Community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/ cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các khác” Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là

“cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng xã, quận huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật, cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người – cộng đồng người Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người

Trang 30

cảm thấy có tính cội nguồn Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ

và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng

lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều nghĩa khác nhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học…

Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong cộng đồng

Nhà xã hội học người Mỹ J Fichter trong tác phẩm “Những khái niệm cơ bản của Tâm lí học xã hội” [13] cho rằng cộng đồng bao gồm

bốn yếu tố sau đây:

- Sự tương quan mật thiết giữa các cá nhân (mặt đối mặt)

- Sự liên hệ về mặt xúc cảm, tình cảm giữa các cá nhân trong quá trình thực hiện vai trò xã hội và các nhiệm vụ được giao

- Sự dâng hiến về mặt tinh thần đối với những giá trị mà tập thể cho là cao cả

- Sự đoàn kết, hợp tác giữa cá nhân với người khác và với tập thể

Theo quan điểm Mác - xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của

họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động

Trang 31

Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác xít là quan niệm rất rộng,

có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt động”, là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng” “giá trị” chung… Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ

Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là mọi phức hợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể, được xác định về mặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, mà tồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn

Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực hiện các chức năng như một thể thống nhất

Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác với nhau; 2/ họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó

1.2.4.2 Phân loại cộng đồng

Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại cộng đồng theo những dấu hiệu khác nhau Trong một số tài liệu, người ta lại chia cộng đồng theo 2 nhóm như sau [24]:

- Nhóm cộng đồng theo địa vực: thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã, quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả địa cầu của chúng ta Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thành phố, theo quy mô xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy mô thôn xóm, khu dân cư (nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn cộng đồng

Trang 32

- Nhóm cộng đồng theo nền văn hóa: nhóm này bao gồm: cộng đồng theo hệ tư tưởng, văn hóa, tiểu văn hóa, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số… Nhóm này cũng có thể bao gồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc như cộng đồng người khuyết tật, cộng đồng người cao tuổi

- Nhóm cộng đồng theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thức như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chính thức chặt chẽ hơn như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xã hội… từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặc trong phạm vi quốc gia cho đến phạm vi quốc tế

Cũng có thể phân loại cộng đồng theo đặc điểm khác biệt về kinh tế -

Như vậy, cộng đồng là một đơn vị hành chính, kinh tế - xã hội có tính độc lập tương đối so với các cộng đồng khác trong một quốc gia Trong mỗi cộng đồng có các thành viên cộng đồng là các cá nhân hoặc gia đình đang sinh sống trên địa bàn, có những tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức xã hội

mà các thành viên cộng đồng tham gia sinh hoạt trên địa bàn dân cư, các tổ chức kinh tế, dịch vụ mà thành viên cộng đồng tham gia làm việc (cũng có thể thành viên không làm việc ở đó)

Trang 33

Ở Việt Nam ngày nay, các tổ chức chính trị - xã hội đó có thể là các tổ chức trong khối Mặt trận tổ quốc xã phường: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường/ xã; Hội/ Chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội người cao tuổi; Hội/ chi hội Cựu chiến binh; Hội nông dân (đối với địa bàn nông thôn); tổ chức tôn giáo (nếu có)… Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân; một số tổ chức kinh tế địa phương: Hợp tác xã nông nghiệp; Hợp tác xã thủ công, Doanh nghiệp… Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn có Trạm Y tế xã/ phường; bệnh viện, trường học; tổ chức Đảng, chi bộ Đảng

1.3 Một số đặc điểm của người Dao

Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc anh em đang sống trên lãnh thổ Việt Nam Trước kia các dân tộc anh em quen gọi người Dao là Mán nhưng nay Dao là tên gọi chính thức của một tộc danh, ngoài ra còn có những tên gọi khác: Kim Miền, Kim Mùn (người rừng)[37]

Tổ tiên của người Dao xưa kia sinh ra từ lưu vực sông Hoàng Giang trở xuống phía Nam Trung Quốc Người Dao có mặt ở nước ta vào giữa thế kỉ XVII vào những thời điểm khác nhau cho đến đầu thế kỉ XX Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lễ của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ Ngoài các đặc điểm chung ra, các nhóm người Dao về nguồn gốc, số phận lịch sử thì mỗi nhóm Dao lại có những sắc thái riêng Người Dao không chỉ có nhiều nhóm nhỏ mà mỗi nhóm lại có nhiều tên gọi khác nhau, thông thường mỗi tên gọi thường bắt nguồn từ một quá khứ lịch sử

Người Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và ruộng nước Ngoài lúa họ còn trồng màu Nông cụ sản xuất thô sơ nhưng kỹ thuật canh tác

Trang 34

đã có nhiều tiến bộ Một số nghề thủ công đã phát triển như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu

Thức ăn của người Dao chủ yếu là măng, rau, thỉnh thoảng có thịt cá

Họ nuôi nhiều lợn, gà nhưng chủ yếu dùng trong những ngày ma chay, cưới xin, lễ tết Nhà có 3 loại khác nhau: nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, nhà đất (nhà trệt)

Làng của người Dao được xây dựng ở gần các con nước hoặc những nơi

có nguồn nước dễ dẫn nước về nhà, có các loại hình nhà khác nhau Nguyên vật liệu làm nhà bằng các loại cây rừng, tre, gỗ, buông, luồng lớp bằng phên nứa hoặc cỏ gianh

Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và thông qua tên đệm để xác định dòng họ, vai vế của người đó trong quan hệ dòng họ

Dưới chế độ phong kiến xưa kia, người Dao phải sống trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu vì điều kiện canh tác và cư trú là khác nhau Xã hội người Dao bị kìm hãm kém phát triển, có sự chênh lệch giữa các vùng miền, giữa các nhóm người Dao với nhau Bọn thực dân phong kiến lợi dụng chính sách “chia để trị” rất thâm độc và tàn ác, đặt ra bộ máy cai trị người Dao để gây chia rẽ, mâu thuẫn giữa những người cùng dân tộc với nhau

Bên cạnh bộ máy cai trị, đế quốc phong kiến hà khắc, xã hội người Dao lại còn tồn tại một số tàn dư của tổ chức công xã nông thôn từ thời xa xưa do

đó cũng làm hạn chế sự phát triển của toàn xã hội Trong sử thi của người Dao có nói: Cộng đồng của dân tộc Dao có 12 họ nhưng trong thực tế thì số

họ nhiều hơn, mỗi một họ lại có những kiêng kỵ riêng biệt như dùng lễ vật để cúng tổ tiên cũng khác nhau, những người cùng trong họ cấm không được quan hệ hôn nhân với nhau Song ngày nay, sự cấm kỵ này đã phai nhật dần, chỉ còn cấm những người cùng một chi họ với nhau là tuyệt đối không được

có quan hệ hôn nhân với nhau Mỗi chi lại có nhiều tông tộc, đứng đầu mỗi

Trang 35

tông tộc là tộc trưởng, có hệ thống tên đệm riêng, được sử dụng tên đệm cho mỗi chi hộ như một chu kỳ khép kín

Gia đình của người Dao là một gia đình nhỏ phụ quyền, chủ gia đình là người cha hoặc con trai trưởng (khi cha già yếu người con này được quyết định mọi công việc trong nhà Tuy nhiên, các thành viên khác nhau trong gia đình cũng được tham gia góp ý kiến, đề xuất những việc quan trọng như: dựng vợ gả chồng, làm nhà mới, di chuyển chỗ ở, tìm nương rẫy mới )

Xã hội truyền thống của người Dao là hôn nhân một vợ, một chồng, cô dâu cư trú hẳn bên nhà chồng Sao khi làm lễ cưới vẫn mang màu sắc gả bán, chú rể phải ở rể có thời hạn, hoặc ở rể vĩnh viễn Những nghi thức thủ tục từng bước được diễn ra trong hôn lễ vẫn khá phổ biến và tồn tại trong xã hội người Dao hiện nay

Người Dao còn bị ảnh hưởng nhiều bởi tôn giáo – tín ngưỡng nguyên thủy, nhất là Tam giáo và Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến

xã hội người Dao

Xưa kia, người Dao mặc dầu phải sống trong điều kiện có nhiều khó khăn, vất vả, nhưng vốn là dân tộc biết chịu đựng những thử thách, gian nan, rất thiết tha yêu quê hương, mảnh đất mà họ đang sinh sống, trải qua bao thế

hệ, họ đã lao động, sáng tạo ra cả một kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian rất phong phú và đa dạng, làm giàu thêm đời sống tinh thần, thể hiện trong nhiều truyện cổ, nhiều bài hát dân ca

Từ ngày có Đảng, có cách mạng tháng Tám mới đưa cuộc sống của người Dao thoát ra khỏi cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu, đến nay đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đã thu được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng hệ thống chính trị vững vàng, phát triển KT – XH vững mạnh, đóng góp đáng kể vào phong trào giữ gìn an ninh

vùng biên giới của Tổ quốc

Trang 36

1.4 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao

Trong kho tàng của văn hóa dân gian của Việt Nam, khi đồng bào dân tộc Dao có nhiều đóng góp đáng kể, thông qua đời sống tinh thần hết sức phong phú của bạn con Từ tập quán sinh sống, lao động sản xuất, cách thức bài trí nhà cửa, trang phục, cho đến hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ đều có những nét đặc trưng riêng mà chúng ta có thể nhận ra

Nhà ở của người Dao có ba loại nhà: nhà sàn, nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất; nhà ở bằng gỗ, tre, nứa rất chắc chắn, đơn giản nhưng được kết hợp khéo léo toát lên sự kín đáo, tế nhị của người Á Đông Kiểu nhà truyền thống của người Dao quần trắng là nhà sàn, thường được làm ba gian, cách chắp nối các cấu kiện bằng nguyên liệu rời Tuy nhiên, họ không phải dùng đinh trong quá trình lắp ghép nhà ở Kiểu nhà này chỉ có một cầu thang lên xuống, cầu thang

có số bậc lẻ; trong nhà thường có hai bếp Nhà người Dao đỏ làm nửa sàn nửa đất ở lưng chừng đồi Cách chọn hướng nhà thì cũng như các dân tộc khác Người Dao có tập quán mỗi khi có gia đình dựng nhà mới, người cùng làng sẽ đến tương trợ, giúp đỡ mọi công việc cho đến khi dựng nhà xong

Người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng

về phong tục tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ Trang phục của người phụ nữ Dao thường là áo, yếm, chân quấn xà cạp, cùng các đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu Trang phục của nam giới, thường

là chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực Tác giả Võ Mai Phương, Viện

bảo tàng Dân tộc Việt Nam, cho biết: Nhóm Dao Đỏ khi nhìn vào bộ quần áo

trang phục là có thể nhận thấy ngay vì màu sắc nổi bật là màu đỏ Màu đỏ chiếm hầu hết trăng phục của họ từ áo quần váy đến khắn, thắt lưng trên trang phục nữ thì màu đỏ chiếm màu chủ đạo Vậy khi nhìn Dao Đỏ là có thể nhìn nhận qua trang phục, hay như Dao Tiền thì là nhóm Dao duy nhất mặc váy trong 7 nhóm Dao Những nhóm khác thường mặc quần áo trên trang

Trang 37

văn đồng tiền Nhóm Dao quần chẹt (Sơn Đầu) ở có đặc điểm riêng biệt đó là đầu người phụ nữ cạo trọc và sơn đầu và họ dùng những khăn truyền thống Hay như nhóm Dao quần Trắng, nhóm dân tộc Dao này chỉ sử dụng quần màu trắng trong trang phục của họ

Đàn ông Dao trước đây để tóc dài búi sau gáy, hoặc để chỏm tóc trên đỉnh đầu Ngày nay, hầu hết đã cắt tóc ngắn Y phục thường gồm quần và áo ngắn,

áo dài Trang phục của phụ nữ phong phú hơn, giữ được nhiều nét trang trí hoa văn truyền thống Phụ nữ Dao để tóc dài Cô dâu trong ngày cưới đội mũ Dưới chế độ cũ, cưới xin gồm nhiều nghi lễ phức tạp Có hai hình thức ở rể: có thời hạn và vĩnh viễn Tuy nhiên phổ biến là sau lễ cưới, vợ về nhà chồng

Ma chay phản ánh nhiều tục lệ xa xưa Ở một vài vùng có tục hoả táng

cho người chết từ 12 tuổi trở lên Người Dao có nhiều tín ngưỡng về thần linh, ma quỷ, có một số tục lệ thờ cúng phức tạp và tốn kém Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và thông qua tên đệm để xác định dòng họ, vai vế của người đó trong quan hệ dòng họ Người Dao có nền văn hóa và lịch sử lâu đời Mặc dù cơ sở kinh tế nói chung còn thấp kém, nhưng tri thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học dân tộc cổ truyền Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá, gọi là chữ Nôm Dao

Trang phục của người phụ nữ Dao gồm: áo, yếm, xà cạp, cùng đồ trang

sức vàng bạc, khăn vấn đầu Đối với trang phục của nam giới thì rất đơn giản, đó là những chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực và thường cài 5 cúc Quần rất rộng đũng, có thể cử động trong mọi tư thế Cả nam, nữ và trẻ con người Dao đều thích đeo trang sức như vòng cổ, chân, tay Ngoài việc làm đẹp thì chúng còn mang giá trị nhân văn, tín ngưỡng Theo truyền thuyết

kể lại, người đeo trang sức bằng bạc thì sẽ trừ tà ma, tránh gió và thậm chí là

được thần linh phù hộ

Trang 38

Đối với việc cưới hỏi:

- Lễ ăn hỏi: Nhà trai mang gà, rượu, thịt sang nhà gái đưa đồng bạc trắng hoa xòe, tuỳ từng địa phương số tiền thách cưới là 1,20 hoặc 30 đồng

cô dâu về nhà chồng Từ khi ăn hỏi đến khi cưới khoảng 1 năm để cô gái phải thêu thùa quần áo cưới Để báo hỉ cho khách đến dự đám cưới, hai bên gia đình dùng vỏ quả bầu khô cắt ra từng viên nhỏ như hạt bầu nhuộm bằng màu hồng Người thân thường cho hai hạt (nghĩa là người được nhận hạt vỏ bầu này được mời thêm một người nữa, thường là vợ hoặc chồng) Bao nhiêu khách thì chuẩn bị bấy nhiêu hạt (việc dùng vỏ quả bầu cắt nhỏ để báo hỉ có liên quan đến sự tích chuyện nạn hồng thuỷ của người Dao

- Lễ cưới: Người Dao thường tổ chức cưới chủ yếu là bên nhà trai Bên nhà gái báo cho bên nhà trai số khách đến dự cưới là bao nhiêu (thường là 100

- 120 người) để nhà trai chuẩn bị cỗ và thịt ruợu cho thông gia nhà gái Số thịt rượu hồi cho khách sui gia mỗi người 1 kg thịt lợn, 1 chai rượu Ngày cưới, đoàn nhà gái đưa dâu sang nhà trai gọi chung là đoàn (săn cha), từ trẻ đến già

ăn mặc chỉnh tề theo trang phục truyền thống của dân tộc mình Sau khi ăn uống, đoàn đưa dâu đứng trước bàn thờ tổ tiên, hai ông quan lang hai bên thưa với tổ tiên việc cưới xin của gia đình và xin phép được đưa đón dâu sang nhà trai Cô dâu mặc trang phục ngày cưới, cổ và tay đeo vòng bạc Trên đầu trùm chiếc khăn đỏ to che kín mặt Trong khi làm lễ cô dâu quay mặt ra phía cửa Cô phù dâu bên cạnh có nhiệm vụ che ô cho cô dâu đi đường và phụ giúp

cô dâu trong quá trình hành lễ từ nhà gái sang nhà trai Trong đoàn săn cha có một người thổi Phằn tỵ (kèn) Trên đường đi qua các bản, người thổi kèn thổi các bài ca chào bản chào mường, mừng cưới theo điệu vui vẻ Đến nhà trai, đoàn săn cha dừng chân cách nhà trai một quãng Nhà trai đưa bàn ghế ra, thuốc, trà, rượu ra mời đoàn săn cha đang dừng chân (đợi giờ vào nhà) Đội nhạc lễ nhà trai gồm: trống, thanh la, kèn, hai chũm chọe gồm một to và một

Trang 39

nhỏ Trước khi ra cửa đón dâu, đội nhạc lễ thổi những bài ca mừng cưới vòng

ba lần trong nhà rồi ra ngoài đón đoàn săn cha nhà gái Người thổi kèn đôi bên thổi bài chào đón khách và đưa cô dâu cùng đoàn săn cha vào nhà

- Lễ cô dâu vào nhà: Người Dao quan niệm khi cô dâu đi đường có thể các loại ma, ngoại thần bám theo, nên trước khi vào nhà thầy Tào phải làm lễ trừ tà quỷ Cô dâu được phù dâu che ô và dắt vào trước cửa nhà, cô dâu vẫn quay mặt ra ngoài Nhà trai lấy một chậu nước trên chậu đặt một con dao, một đôi dày mới, chuẩn bị ba cành đào hoặc ba cọng gianh tươi (dùng để đuổi tà) Thầy miệng ngậm nước phép Tào làm phép đuổi tà thầy phù nước ra phía cửa đoạn cầm ba nhành đào phi từ trong nhà qua trên đầu cô dâu Xong động tác này, cô dâu bước vào nhà dừng trước chậu nước bỏ đôi hài cũ ra dơ chân qua trên chậu nước, con dao đặt trên chậu nước được bỏ ra, một em bé trai hoặc gái nhà trai rửa chân cho cô dâu và đi hài mới vào chân cho cô dâu Cô dâu được đưa vào buồng, chậu nước được bê vào đặt dưới gầm giường cô dâu để

đó ba ngày mới đổ đi Đêm đó, các cô gái, chàng trai đôi bên được dịp trổ tài hát Páo Dung Càng về khuya lời Páo Dung càng da diết, lũ trẻ mong mình lớn lên để được hát Páo Dung, người già như thấy mình trẻ lại, thần rừng, thần cây nghe nuốt lấy từng câu, cất vào lòng để rồi mai này nếu người Dao

có quên hát Páo Dung thần sẽ nhắc lại Đám cưới người Dao được tổ chức hai ngày hai đêm Khi đoàn săn cha nhà gái về, mỗi người được biếu một ki

lô gam thịt lợn và một chai rượu

Được ba hôm, sau ngày cưới, cô dâu cùng chú rể và đoàn nhà trai lại sang nhà gái làm Lễ lại mặt, đoàn gồm đôi vợ chồng trẻ, một số thanh niên nam nữ Nhà trai mang theo 20 ki lô gam thịt lợn (đã nấu chín), rượu, gạo mời cơm họ hàng bà con thân cận của nhà gái Đám cưới là một trong những sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Dao trong đó chứa đựng những giá trị về văn hoá, về lịch sử, giá trị về giáo dục

Trang 40

Người Dao có hai hình thức thờ cúng chính là cúng tổ tiên (Bàn Hồ) và

cúng Bàn Vương Trong cúng tổ tiên, người ta cúng đến 9 đời và bàn thờ tổ tiên đặt ở nơi tôn nghiêm nhất và họ cho rằng tổ tiên không ở thường trực trên bàn thờ mà chỉ ghé thăm họ vào ngày mồng một hoặc ngày rằm; cúng Bàn Vương là cúng một nhân vật huyền thoại Thờ Bàn Vương, không cần lập bàn thờ riêng mà khấn chung với tổ tiên, tông tộc trong các dịp lễ tết Người Dao tin rằng, Bàn Vương có liên quan đến số phận từng gia đình, từng tông tộc, nên có cúng bái tốt thì mọi người mới khoẻ mạnh, gia tộc mới hưng thịnh Tuy nhiên, hình thái tín ngưỡng vạn vật hữu linh giáo tồn tại rộng rãi ở người Dao Đó là quan niệm đa thần, vạn vật hữu linh - tức là vạn vật đều có linh hồn Vì vậy, người Dao tin là có thần gió, thần mưa, thần trông coi lúa gạo, hoa màu và thần chăn nuôi Người Dao có rất nhiều nghi lễ như lễ cúng nương, lễ cúng cơm mới, cúng thóc giống, cúng hồn gia súc, lễ cấp sắc khá phổ biến và rất quan trọng đối với người đàn ông Dao

Tết cổ truyền của người Dao diễn ra cùng dịp với Tết Nguyên đán của

người Việt, thường sớm hơn nửa tháng và kết thúc tương tự Vào những ngày giáp Tết (tháng 12 âm lịch), dân bản tập trung tại nhà trưởng bản hoặc một nhà nào đó theo phiên để cùng nhau tiến hành "Tết Nhảy" Từ bao đời nay, Tết nhảy đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc không thể thiếu của người Dao trong mỗi dịp tết đến, xuân về Để chuẩn bị cho "Tết Nhảy", các thanh niên trong làng phải tập các điệu múa, điệu nhảy và phải chuẩn bị gươm đao bằng gỗ để múa Trong "Tết Nhảy", mỗi người phải nhảy múa đến hàng trăm lượt trong tiếng chuông, tiếng trống giục giã Người tham dự Tết, nhảy múa liên tục cả ngày cả đêm, ai mệt thì ra, người khác sẽ thay thế "Tết Nhảy" của người Dao là tết của gia đình nhưng lại được cả bản coi như là tết của chung

"Tết Nhảy" của người Dao là nét sinh hoạt văn hóa mang tính tổng hợp của các loại hình nghệ thuật dân gian như nhảy múa, âm nhạc, ngôn ngữ tất cả

đã làm nên vũ điệu sắc màu độc đáo riêng của người Dao

Ngày đăng: 14/06/2017, 11:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bính (2000), Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2000
3. Viên Quốc Chấn (2001), Luận về cải cách giáo dục, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận về cải cách giáo dục
Tác giả: Viên Quốc Chấn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
4. Chính phủ Nước CHXHCNVN (2005), Nghị quyết số 05/2005/ NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ Về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, Nxb lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nxb lao động
Năm: 2005
5. Chính phủ Nước CHXHCNVN (2005), Quyết định số 112/2005/QĐ- TTg ngày 18/5/2005 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2005- 2010, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phê duyệt Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2005- 2010
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI", Nxb "Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb "Chính trị Quốc gia"
Năm: 2012
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ðảng cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ðảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
12. Nguyễn Tiến Đạt (2006), Kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới, NXB Giáo dục HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục HN
Năm: 2006
14. Phạm Minh Hạc (2001),Về phát triển toàn diện con người thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
15. Vũ Ngọc Hải - Trần Khánh Đức (2003), Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỉ XXI, NXB Giáo dục HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỉ XXI
Tác giả: Vũ Ngọc Hải - Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục HN
Năm: 2003
16. Vũ Ngọc Hải (2003), Đổi mới giáo dục và đào tạo nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI. Tạp chí Phát triển giáo dục số 4 (52) năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo dục và đào tạo nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Vũ Ngọc Hải
Năm: 2003
21. Đỗ Huy – Trường Lưu (1990), Bản sắc dân tộc của văn hóa, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc của văn hóa
Tác giả: Đỗ Huy – Trường Lưu
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1990
23. Thành Lê (2001), Văn hóa và lối sống, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và lối sống
Tác giả: Thành Lê
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
25. Lâm Tố Lộc (2001), Truyền thống nghệ thuật Việt Nam và sự phát triển của nó, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống nghệ thuật Việt Nam và sự phát triển của nó
Tác giả: Lâm Tố Lộc
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2001
26. Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành (2002), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành (2002)", NXB "Chính trị Quốc gia
Tác giả: Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB "Chính trị Quốc gia"
Năm: 2002
27. Trường Lưu (1996), Chủ nghĩa nhân văn và văn hóa dân tộc, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân văn và văn hóa dân tộc
Tác giả: Trường Lưu
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1996
28. Nguyễn Hữu Nhân (2004), Phát triển cộng đồng, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhân
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
30. Quốc hội Nước CHXHCNVN (2005), Luật giáo dục, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Tác giả: Quốc hội Nước CHXHCNVN
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
31. Raja. RoySingh (1994), Nền giáo dục cho thế kỉ XXI, những triển vọng của Châu Á – Thái Bình Dương, Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền giáo dục cho thế kỉ XXI, những triển vọng của Châu Á – Thái Bình Dương
Tác giả: Raja. RoySingh
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w