1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thông báo Khoa học và Công nghệ: Số 2/2016

141 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 8,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông báo Khoa học và Công nghệ: Số 2/2016 trình bày các nội dung chính sau: Nghiên cứu tính toán, thiết kế và thí nghiệm dàn thép, ứng dụng VBA trong Excel để tính toán cốt thép nhà cao tầng sử dụng nội lực từ SAP 2000, các phương pháp xác định cường độ và biến dạng của nền đất yếu, phương pháp tính khả năng chịu lực còn lại của cấu kiện bê tông cốt thép bị ăn mòn,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 2

151 Phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp bảo

vệ bờ hạ lưu sông tam giang, tỉnh Phú Yên

TS Trần Thị Quỳnh Như

109 Tiếp Giáo sư Youn Seok-Goo, Đại học

Khoa học và Công nghệ Quốc Gia Seoul

(Hàn Quốc) đến thăm và làm việc

161 Rủi ro dự án đầu tư xây dựng

ThS Vương Thị Thùy Dương

110 Tổ chức chương trình giao lưu văn nghệ

Chào tân sinh viên 2016

171 Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

ThS Nguyễn Thị Cúc

111 Tổ chức Lễ chào cờ, phát động quyên góp

ủng hộ đồng bào các tỉnh miền Trung và

Lễ ký cam kết giữ gìn an ninh trật tự, an

toàn giao thông, phòng chống tội phạm,

tệ nạn xã hội và thực hiện nếp sống văn

113 Phương pháp tính khả năng chịu lực còn

lại của cấu kiện bê tông cốt thép bị ăn

KS Nguyễn Văn Tân

196 Benefits and stories of culture shock

MA Mang Tran Thu Thuy

ThS Nguyễn Thành Đạo

136 Cơ sở lý thuyết và phương pháp xác định

điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước trong

nhà

KS Đào Xuân Trà

207 Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức yêu nước cho cách mạng Việt Nam giai đoạn 1924 – 1930

ThS Nguyễn Thị Thu Trang

141 Một số giải pháp giúp tiết kiệm năng

lượng trong công trình xây dựng

ThS Lê Đức Tâm

Trang 3

229 Nghiên cứu tính toán, thiết kế và thí

236 Ứng dụng VBA trong Excel để tính toán

242 Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tổ chức lễ

kỷ niệm 34 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2016)

HỌC BỔNG ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

241

TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN

Hội nghị phổ biến văn bản quy phạm pháp

luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan đến

công tác thí nghiệm, kiểm định và quan

Trang 4

đào tạo năm học 2015 - 2016 vừa qua,

đồng thời báo cáo dự thảo kế hoạch giáo

dục đào tạo năm học mới 2016 - 2017

đến toàn thể cán bộ giảng dạy, vào ngày

22/06/2015, Trường Đại học Xây dựng

Miền Trung đã tổ chức Hội nghị kế hoạch

đào tạo năm học 2015 - 2016

Toàn cảnh hội nghị

Tham dự và chỉ đạo hội nghị có

PGS.TS Vũ Ngọc Anh - Hiệu trưởng Nhà

trường, quý thầy trong Ban Giám hiệu,

lãnh đạo các đơn vị và toàn thể cán bộ

giảng dạy trong toàn trường

Hội nghị đã nhận được nhiều ý kiến

góp ý của cán bộ giảng dạy về kế hoạch

và chương trình đào tạo cho năm học

2016 - 2017 nhằm đáp ứng yêu cầu ngày

càng nâng cao của công tác giảng dạy

cũng như chất lượng giảng dạy

PGS.TS Vũ Ngọc Anh - Hiệu trưởng Nhà

trường phát biểu chỉ đạo

Cũng trong chiều ngày 22/6/2016,

Nhà trường đã tổ chức tổng kết công tác

phục vụ lễ kỷ niệm 40 năm thành lập

Trường và trao giấy khen cho các tập thể,

cá nhân đã có thành tích đóng góp cho Lễ

kỷ niệm diễn ra thành công tốt đẹp

Ban Giám hiệu Nhà trường trao giấy khen cho các cá nhân, tập thể có thành tích trong công tác phục vụ lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Trường ĐHXD Miền Trung

Tiếp Giáo sư Tsuyoshi Imai, Đại học Yamaguchi (Nhật Bản) đến thăm và làm việc tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Ngày 30/6/2016, Ban Giám hiệu Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung và lãnh đạo một số đơn vị trong trường đã có buổi tiếp đón và làm việc với Giáo sư (GS.) Tsuyoshi Imai đến từ Nhật Bản GS Tsuyoshi Imai hiện là Trưởng Bộ môn Xây dựng và Kỹ thuật Môi trường, Trường Khoa học và Công nghệ tiên tiến (trực thuộc Trường ĐH Yamaguchi)

GS Tsuyoshi Imai chụp ảnh lưu niệm cùng Ban Giám hiệu, lãnh đạo các đơn vị

và một số giảng viên

Tại buổi làm việc, Ban Giám hiệu Nhà trường và GS Tsuyoshi Imai đã trao đổi các thông tin cơ bản của hai trường và nội dung hợp tác trong tương lai giữa Nhà

TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN

Trang 5

trường và Trường Đại học Yamaguchi và

các trường thành viên Trên cơ sở về các

lĩnh vực đào tạo giống nhau và nhiều

giảng viên hiện nay của Trường Đại học

Xây dựng Miền Trung đã và đang thực

hiện nghiên cứu sinh tại Trường Đại học

Yamaguchi, PGS.TS Vũ Ngọc Anh mong

muốn thúc đẩy thực hiện hợp tác về

nghiên cứu trong các lĩnh vực xây dựng,

cầu đường, thiết kế kiến trúc, kỹ thuật

môi trường… giữa hai đơn vị; trao đổi

giảng viên và sinh viên ưu tú thông qua

các chương trình ngắn hạn, chương trình

hè; phối hợp tổ chức hội thảo, hội nghị

khoa học trong lĩnh vực liên quan; tổ chức

các chương trình tham quan, giao lưu học

hỏi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm

giảng dạy giữa giảng viên hai Nhà

trường,…

GS Tsuyoshi Imai giới thiệu một số thông

tin về Trường ĐH Yamaguchi và Khoa Xây

dựng và Kỹ thuật Môi trường

Trước đó, Giáo sư đã được đoàn cán

bộ Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

dẫn đi thăm cơ sở vật chất, các phòng thí

nghiệm tại cơ sở chính và cơ sở B của Nhà

trường

Tiếp Giáo sư Youn Seok-Goo, Đại học

Khoa học và Công nghệ Quốc Gia Seoul

(Hàn Quốc) đến thăm và làm việc

Ngày 22/8/2016, nhân chuyến công

tác tại Hà Nội và nhận lời mời của Hiệu

trưởng Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD)

Miền Trung (MUCE), Giáo sư (GS.) Youn

Seok-Goo thuộc Trường Đại học Khoa học

và Công nghệ Quốc Gia Seoul –

SeoulTECH (Hàn Quốc) đến thăm và trao

đổi các nội dung hợp tác trong tương lai

giữa MUCE và SeoulTECH Chuyến viếng

thăm của GS Youn là cơ hội để Nhà

trường nói chung, cũng như sinh viên và cán bộ giảng viên nói riêng có cơ hội tiếp cận khoa học và công nghệ giáo dục tiên tiến, cũng như cơ hội tìm hiểu các cơ hội

du học tại Trường SeoulTECH cũng như đất nước Hàn Quốc

GS Youn Seok-Goo chụp ảnh lưu niệm cùng Ban Giám hiệu, lãnh đạo các đơn vị

và một số giảng viên

Tại buổi làm việc, PGS.TS Vũ Ngọc Anh thể hiện mong muốn thúc đẩy thực hiện hợp tác về nghiên cứu trong các lĩnh vực xây dựng, cầu đường, thiết kế kiến trúc, kỹ thuật môi trường… giữa hai đơn vị; trao đổi giảng viên và sinh viên ưu tú thông qua các chương trình ngắn hạn, chương trình hè; phối hợp tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học trong lĩnh vực liên quan; tổ chức các chương trình tham quan, giao lưu học hỏi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy giữa giảng viên hai Nhà trường,… GS Youn Seok-Goo cũng bày tỏ mong muốn sẽ kết nối và giúp đỡ làm cầu nối để hai trường sớm thực hiện các thủ tục tiếp theo như đã trao đổi trong biên bản ghi nhớ hợp tác và các chương trình liên kết cụ thể được trao đổi trong chuyến thăm và làm việc tại Trường ĐHXD Miền Trung của Giáo sư

GS Youn Seok-Goo giới thiệu một số thông tin về Trường Đại học Khoa học

và Công nghệ Quốc Gia Seoul

Trang 6

110

GS Youn Seok-Goo thăm cơ sở thực hành

và thí nghiệm của Nhà trường

Tổ chức chương trình giao lưu văn

nghệ Chào tân sinh viên 2016

Tiếp nối các hoạt động chào đón tân

sinh viên khóa 2016 nhập học vào tháng

9/2016, tối ngày 8/9/2016, Đoàn Thanh

niên và Hội Sinh viên Trường Đại học Xây

dựng (ĐHXD) Miền Trung đã phối hợp tổ

chức chương trình giao lưu văn nghệ Chào

tân sinh viên khóa 2016

Chương trình thu hút sự tham gia

của hơn 500 sinh viên khóa 2016 nhập

học đợt 1 và các sinh viên đang theo học

các hệ Cao đẳng, Đại học của Nhà trường

Hoạt động chào đón tân sinh viên

được Nhà trường tổ chức thường niên

nhằm thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo

Nhà trường và đặc biệt là các sinh viên

đang theo học đối với các tân sinh viên,

giúp các em gần gũi hơn với các hoạt

động giải trí, giao lưu, sinh hoạt ngoại

khóa trong môi trường học tập mới tại

Nhà trường

Câu lạc bộ (CLB) Âm nhạc, câu lạc

bộ Guitar, Khiêu vũ, Vovinam và đặc biệt

là hai bạn Nguyễn Thị Bích Phương - Hoa

khôi MUCE và bạn Phan Thị Tuyết Nhi - Á

Khôi MUCE năm 2016 đã đem đến các tiết

mục hát, múa, nhảy hiphop và trình diễn

võ thuật đặc sắc và hấp dẫn

Tiết mục biểu diễn võ thuật của CLB

Vovinam

Tiết mục Chào tân sinh viên của CLB Guitar

Tiết mục của CLB Khiêu vũ

Tiết mục múa của Hoa khôi MUCE 2016

Cũng trong chương trình giao lưu, Nhà trường đã tổ chức trao học bổng khuyến khích học tập cho các tân sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; trao phần thưởng cho Thủ khoa đầu vào năm 2016; trao bằng khen của Trung ương Đoàn, Hội cho các cá nhân và tập thể đạt thành tích trong đạt thành tích trong công tác Đoàn, phong trào thanh niên năm học 2015 –

2016 và trong 15 năm hoạt động Tiếp sức mùa thi và trong năm 2016

Hiệu trưởng Vũ Ngọc Anh, Đại diện CT CP

ĐT XD Cầu đường Sài Gòn và Đại diện CN Bách Khoa Shop trao HB khuyến khích học tập cho các tân sinh viên có hoàn cảnh

khó khăn

Trang 7

Thầy Phan Văn Huệ - Phó Hiệu trưởng Nhà

trường và ông Dương Tấn Dũng – Đại diện

Chi nhánh Bách Khoa Shop trao phần

thưởng cho Thủ khoa đầu vào năm 2016

Hiệu trưởng Vũ Ngọc Anh và đồng chí Lê

Thị Thanh Bích – PBT Tỉnh Đoàn, CT Hội

đồng đội tỉnh Phú Yên trao bằng khen của

TƯ Đoàn, Hội cho các cá nhân và tập thể

đạt thành tích trong công tác Đoàn và

phong trào thanh niên NH 2015 - 2016

Đồng chí Ngô Thị Thanh Danh – UV BCH

Tỉnh Đoàn, Phó Trưởng Ban Thanh thiếu

nhi trường học trao bằng khen của TƯ

Đoàn và cho các cá nhân và tập thể

đạt thành tích trong hoạt động Tiếp sức

mùa thi 15 năm và năm 2016

Tổ chức Lễ chào cờ, phát động quyên

góp ủng hộ đồng bào các tỉnh miền

Trung và Lễ ký cam kết giữ gìn an

ninh trật tự, an toàn giao thông,

phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội

và thực hiện nếp sống văn hóa học

đường

Sáng ngày 24/10/2016, Trường ĐHXD Miền Trung đã tổ chức chào cờ tháng 10/2016 với nội dung chính: báo cáo tổng kết tình hình học tập và rèn luyện của học sinh – sinh viên (HSSV), thực hiện “Tuần văn hóa học đường” chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, tổ chức Lễ ký cam kết giữ gìn an ninh trật

tự, an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và thực hiện nếp sống văn hóa học đường năm học 2016 –

2017 và phát động quyên góp ủng hộ đồng bào các tỉnh miền Trung khắc phục hậu quả do thiên tai lũ lụt vừa qua

Sau khi nghe báo cáo tình hình học tập - rèn luyện cũng như công tác vệ sinh, phòng tránh dịch bệnh khu vực học tập và

ký túc xá, thầy Phạm Văn Tâm – Phó Hiệu trưởng thường trực đã phát động hoạt động thi đua chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 năm nay

Thầy Phạm Văn Tâm – Phó Hiệu trưởng thường trực đã phát động thi đua chào mừng 20/11

Tiếp đó, PGS.TS Vũ Ngọc Anh – Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Nhà trường đã kêu gọi toàn thể cán bộ giảng viên – viên chức và HSSV toàn trường phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, cùng nhau sẻ chia và ủng hộ nhân dân miền Trung vượt qua giai đoạn khó khăn và khắc phục hậu quả do cơn bão số 7

Hiệu trưởng Vũ Ngọc Anh phát động ủng hộ đồng bào các tỉnh miền Trung

Trang 8

112

Ban Giám hiệu, đại biểu khách mời và trưởng

các đơn vị tham gia ủng hộ

Đại diện các lớp HSSV tham gia ủng hộ

Cũng trong chương trình chào cờ,

Nhà trường đã tổ chức ký kết cam kết giữ

gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông,

phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và

thực hiện nếp sống văn hóa học đường

năm học 2016 – 2017 của Nhà trường và

toàn thể các lớp HSSV đang theo học tại

Nhà trường Đại diện Ban Giám hiệu, Công

đoàn, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên và lớp trưởng các lớp đã ký vào bảng cam kết thực hiện tốt các nội dung của cam kết đã đề ra

Thầy Phạm Văn Tâm – Phó Hiệu trưởng thường trực, đại diện Ban Giám hiệu ký bảng cam kết

Lớp trưởng các lớp tham gia ký kết bảng

cam kết

Trang 9

PHƯƠNG PHÁP TÍNH KHẢ NĂNG CHỊU LỰC CÒN LẠI CỦA

CẤU KIỆN BÊ TÔNG CỐT THÉP BỊ ĂN MÒN

ThS Nguyễn Bá Sáu

Khoa Đào tạo nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Ăn mòn cốt thép đã được xác định là

nguyên nhân phổ biến gây hư hỏng kết cấu bê

tông cốt thép trên toàn thế giới Sự xâm nhập

của các chất Clorua có từ nước biển, nước

mưa, nước ngầm, hơi nước, v.v gây ăn mòn

trong kết cấu bê tông cốt thép, dẫn đến cấu

kiện bong tróc lớp bê tông bảo vệ, làm giảm

diện tích cốt thép chịu lực, mất mát lực bám

dính giữa bê tông và cốt thép ảnh hưởng đến

khả năng chịu lực của cấu kiện Bài báo này

giới thiệu một phương pháp tính khả năng chịu

lực còn lại của kết cấu bê tông cốt thép bị ăn

mòn bởi sự xâm nhập của chất Clorua có từ

nước biển, khi xuất hiện vết nứt

sự xâm nhập của chất Clorua có từ nước biển, nước mưa, nước ngầm, hơi nước, v.v gây ăn mòn trong kết cấu BTCT đã được xác định là nguyên nhân phổ biến nhất trên toàn thế giới Ở Việt Nam, vấn

đề nghiên cứu ăn mòn và bảo vệ công trình đã được tiến hành từ những năm

1970 cho đến nay các kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế còn hạn chế, dẫn đến tuổi thọ của nhiều công trình xây dựng trong môi trường biển còn thấp so với yêu cầu

2 Một số hình ảnh cấu kiện bê tông cốt thép bị ăn mòn

Với những cấu kiện BTCT bị ăn mòn

dễ phát hiện vì chúng luôn xuất hiện vết nứt chạy dọc thanh thép chủ, khi gõ vào

bê tông nghe có tiếng bộp hoặc xuất hiện lớp rỉ sét màu vàng chạy dọc theo vết nứt khi đục vị trí bị nứt lớp bê tông có thể vỡ từng mảng lộ cốt thép dọc bị rỉ sét ra ngoài (hình 1)

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 10

114

a) Cầu thang nhà dân dụng bị ăn mòn b) Sàn nhà dân dụng vỡ lớp bê tông bảo vệ

c) Bong tróc lớp bê tông

bảo vệ trụ cầu

d) Vết nứt móng cọc do

ăn mòn cốt thép

Hình 1 Cấu kiện bê tông cốt thép bị ăn mòn

3 Quá trình thấm ion Cl - vào bê tông

gây ăn mòn cốt thép

Cốt thép trong BTCT được bảo vệ

chóng lại sự ăn mòn là nhờ có tính kiềm

cao của vật liệu sử dụng Trong môi

trường có tính kiềm cao cốt thép bị ôxy

hóa tạo thành một lớp màng mỏng thụ

động bền chắc trên bề mặt cốt thép thì

cốt thép trong bê tông được bảo vệ không

bị ăn mòn

Thông thường vật liệu dùng chế tạo

bê tông không bị nhiễm mặn có hàm

lượng ion Cl¯ ban đầu vào khoảng 0,1÷0,4

kG/m3 bê tông (thấp hơn giới hạn có thể

gây ăn mòn cốt thép là 0,6 kG/m3) Nếu

không có tích tụ thêm ion Cl¯ từ môi

trường bên ngoài vào và độ pH của bê

tông luôn được duy trì ở giá trị không thấp

hơn 11,5 thì cốt thép trong bê tông được

bảo vệ ở trạng thái thụ động, chúng

không bị phá hủy và ăn mòn

Trên thực tế bê tông không hoàn

toàn đặc chắc, cấu trúc bê tông tồn tại các

lỗ rỗng mao quản có thể cho các chất khí,

nước và hơi ẩm thấm vào Đó chính là

đường thấm ion Cl¯, O2, H2O và chất xâm

thực khác từ môi trường bên ngoài vào bê

tông Theo thời gian độ pH của bêtông có thể bị giảm do bị cacbonat hóa là một hiện tượng chung với mọi công trình BTCT Khi bê tông tiếp xúc với môi trường không khí hoặc nước chứa khí CO2 Các sản phẩm của quá trình cacbonat hóa làm thay đổi cấu trúc của bê tông, làm giảm

độ chống thấm dẫn tới sự ăn mòn cốt thép Sản phẩm ăn mòn lần lượt được hình thành dưới các dạng Fe3O4, Fe(OH)2, Fe(OH)3.3H2O,… Kèm theo quá trình này

là sự tích tụ sản phẩm ăn mòn trên bề mặt kim loại có thể tích gấp 5 đến 7 lần

so với ban đầu Chính sự trương nở thể tích này đã gây ra nội ứng suất phá vỡ lớp

bê tông bảo vệ và làm giảm tiết diện cốt thép[3]

Quá trình ăn mòn cốt thép diễn ra theo hai giai đoạn[6] (hình 2): Trong giai đoạn mồi (I) và Điểm A tương ứng với thời điểm cốt thép bị mất lớp màng bảo vệ thụ động trên bề mặt cốt thép bị phá vỡ bởi

Cl- hoặc CO2 Trong giai đoạn phát tán (II) Phản ứng điện – hóa xảy ra với sự có mặt của ôxy, nước và nhiệt độ thích hợp, khi tỷ lệ ăn mòn đạt ngưỡng dẫn đến sự hình thành các vết nứt, sau đó bắt đầu

Trang 11

phá huỷ lớp bê tông điểm B Ở cuối giai

đoạn B, nếu ăn mòn không bị phát hiện

và kết cấu không được tiến hành sửa chữa

nó có thể sụp đổ do giảm khả năng chịu

tải

Hình 2 Sơ đồ phát triển ăn mòn của cốt thép

theo thời gian

4 Xác định các tham số tính toán

Việc xác định các tham số tính toán khá phức tạp nó phụ thuộc vào loại kết cấu, cấp độ bền, loại xi măng, các loại phụ gia được sử dụng, loại cốt thép, điều kiện tự nhiên nơi xây dựng công trình, v.v Mối quan hệ giữa các nhân tố kể trên với các tham số tính toán, được xây dựng dựa trên các kết quả khảo sát, thí nghiệm thực tế từ đó tìm ra được các số thiệu cụ thể để đưa vào tính toán

4.1 Tính diện tích cốt thép bị ăn mòn 4.1.1 Quan hệ giữa diện tích cốt thép mất mát do ăn mòn và dạng ăn mòn

Hình 3 Diện tích thép bị ăn mòn đều (hình a)

và ăn mòn điểm (hình b)

Ăn mòn cốt thép trong bê tông có

thể là ăn mòn đều (uniform) hoặc ăn mòn

điểm (pick)[5] (Hình 3)

Công thức (1) mô tả mối liên hệ

giữa diện tích đường kính cốt thép ban

đầu ( o ), đường kính cốt thép còn lại ()

gọi là ΔA s0 tương ứng với độ sâu ăn mòn

 = 0,01 nếu cốt thép đặt phía trên

so với hướng đổ bê tông;

 = 0,0125 nếu cốt thép đặt phía

dưới so với hướng đổ bê tông

Trang 12

s so

(6) Trong đó:

Ăn mòn cốt thép luôn gây ra ảnh

hưởng bất lợi kép đối với kết cấu BTCT

Làm giảm tiết diện cốt thép và làm mất

(hoặc giảm) khả năng bám dính giữa cốt

thép và bê tông làm cho lực kéo từ cốt

thép không chuyền sang được bê tông và

ngược lại [7]:

τ ăn mòn = τ o ăn mòn (1- D) (9)

- Trường hợp không bị ăn mòn thì D

= 0, khi đó không có mất mát lực dính do

ăn mòn và τăn mòn = τo ăn mòn

- Trường hợp ăn mòn quá mức thì

D=1, khi đó lực dính bị mất toàn bộ do ăn

A - là diện tích lớp bê tông bảo vệ ban đầu (mm2);

a bv

A - là diện tích lớp bê tông bảo vệ còn lại (mm2);

D - là hệ số được xác định theo

công thức (10)

Trong trường hợp ăn mòn quá mạnh làm bong tróc lớp bê tông bảo vệ Thì diện tích tiết diện tính theo diện tích thực tế

(A tt) qua kết quả khảo sát ở hiện trường

5 Ví dụ tính toán 5.1 Bài toán 1 (cấu kiện chịu uốn): Dầm

có kích thước tiết diện như hình 4:

Hình 4 Tiết diện mặt cắt ngang dầm

Trang 13

Bê tông B20; cốt thép CII; c=30mm

Dầm ăn mòn điểm do môi trường nước biển và bị nứt Kết quả khảo sát đo được các

vết nứt (w):

- Vị trí thép số 1: w 1 = 0,5mm; w 2= 1mm;

- Vị trí thép số 3: w 3= 1mm;

- Cường độ bê tông đo được ở hiện trường (số liệu đã được xử lý đưa vào tính toán)

R b(còn lại) = 11,5Mpa; Tiết diện bê tông thay đổi không đáng kể do vết nứt còn bé

Tính khả năng chịu lực giới hạn của dầm chưa ăn mòn (M gh) và khả năng chịu lực

giới hạn còn lại của dầm bị ăn mòn (M gh(còn lại))

Trong đó: w 1 ; w 2 ; w 3 : Kích thước các vết nứt đo được tại hiện trường

b Tính khả năng chịu lực giới hạn của dầm chưa ăn mòn[1]

- Tổng diện tích cốt thép: A s = 3ϕ28 =3×615,7= 1847mm2

30 44 2

c Kiểm tra khả năng chịu lực giới hạn còn lại của dầm bị ăn mòn

- Tính diện tích cốt thép ăn mòn cần thiết để tạo vết nứt:

b - Bề rộng tiết diện chữ nhật; c – bề dày lớp bê tông bảo vệ

- Tiết diện dầm còn lại khi xuất hiện vết nứt: (Vết nứt còn bé, kích thước tiết diện

dầm không thay đổi)

Trang 14

5.2 Bài toán 2 (cấu kiện chịu nén): Cột có tiết diện chữ nhật nén đúng tâm, cấu tạo cốt

thép như hình 5 (Giả thiết bỏ qua sự lệch tâm sau khi cốt thép bị ăn mòn)

Hình 5 Tiết diện mặt cắt ngang Cột

Bê tông B20; cốt thép CII; c = 30mm Chiều dài tính toán cột l0 = 3,6m Cột ăn mòn điểm do môi trường nước biển và bị nứt Kết quả khảo sát đo được vết nứt (w):

- Vị trí thép số 1 và 3: w 1 = 0,5mm; w 3= 1,5mm;

- Vị trí thép số 6 và số 7: w 6 = 1mm; w 7= 1,5mm

- Cường độ bê tông đo được ở hiện trường (số liệu đã được xử lý đưa vào tính toán)

R b(còn lại) = 11,5Mpa; Tiết diện bê tông thay đổi không đáng kể do vết nứt còn bé

Tính khả năng chịu lực giới hạn của cột chưa ăn mòn (N gh) và khả năng chịu lực giới

hạn còn lại của cột bị ăn mòn (N gh(còn lại))

 Kết quả tính toán

a Số liệu

- Tra bảng phụ lục [2]: B20 có R b = 11,5MPa; CII có R sc = 280MPa;

- Tổng các vết nứt: w = w 1 +w 3 +w 6 +w 7 = 0,5+1,5+1+1,5 = 4,5mm;

Trong đó: w 1 ; w 3 ; w 6; w 7 – Kích thước các vết nứt đo được tại hiện trường

b Tính khả năng chịu lực giới hạn cột chưa ăn mòn [1]

- Tổng diện tích cốt thép: A st = 4ϕ18 = 4×254,5 = 1018mm2

- Diện tích cột ban đầu: A = b.h = 200×300 = 60000mm2

- Diện tích bê tông: A b = A-A st = 60000–1018 = 58982mm2

- Xét uốn dọc:

+ Tính bán kính quán tính:

min min

+ Tính hệ số:  1, 028 0, 0000288  2 0,0016 =0,82

Trang 15

c Kiểm tra khả năng chịu lực giới hạn còn lại của cột bị ăn mòn

- Tính diện tích cốt thép ăn mòn cần thiết để tạo vết nứt:

Trong đó: Bê tông bảo vệ ban đầu:Abv o  2 b c  2(200 30)   12000 mm2

- Diện tích tiết diện còn lại:

A (còn lại))= AAbv oAbv a  60000 12000   7980  55980 mm2

- Diện tích bê tông còn lại:

A b(còn lại) = A (còn lại) - A st(còn lại) = 55980 – 919 = 55061mm2

- Kích thước cột còn lại khi xuất hiện vết nứt (Vết nứt còn bé kích thước không thay đổi):

Ăn mòn là một hiện tượng phổ biến

trong kết cấu BTCT Ăn mòn làm giảm

tiết diện cốt thép, bong lớp bê tông bảo

vệ dẫn đến quá trình ăn mòn diễn ra

nhanh hơn làm giảm khả năng chịu lực

của cấu kiện Những công trình xây dựng

trong môi trường xâm thực biển, tuổi thọ

phụ thuộc vào thời gian thẩm thấu ion Cl

-, khi lượng ion Cl- đạt ngưỡng ăn mòn thì

có thể coi đó là giới hạn tuổi thọ của cấu kiện Phương pháp tính mà chúng tôi giới thiệu trong bài báo này, hoàn toàn có thể

áp dụng tính toán khả năng chịu lực còn lại của các công trình bị ăn mòn từ đó đưa ra những khuyến cáo về tải trọng sử

Trang 16

120

dụng còn lại giúp nhà quản lý có biện

pháp cải tạo, sữa chữa nhằm hạn chế sự

rủi ro cho người và công trình

Để áp dụng thành công phương

pháp tính cần phải thực hiện phân loại bê

tông, phân loại cốt thép tuỳ theo đặc tính

của vật liệu và phân vùng xây dựng, dựa

vào điều kiện tự nhiên khảo sát hiện

trường theo dõi, quan trắc, thí nghiệm,

đo đạc các số liệu nhằm thiết lập các bảng tra các tham số tính toán cho mỗi loại bê tông sử dụng ở các khu vực khác nhau Đây là cơ sở quan trọng để đưa vào kiểm tra tính toán lại khả năng chịu lực của cấu kiện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Xây Dựng, 2006 Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép – Tiêu chuẩn thiết kế (TCXD 356:2005), Hà Nội [2] GS.TS Nguyễn Đình Cống, 2013 Tính toán thực hành cấu kiện bê tông cốt thép, NXB Xây dựng, Hà Nội [3] TS.Nguyễn Mạnh Phát 2007 Lý thuyết ăn mòn và chống ăn mòn bê tông cốt thép trong xây dựng, NXB

Xây dựng, Hà Nội

[4] Ngoc Anh VU, 2007 Requalification du Comportement Mécanique de Poutres en Béton Précontraint Dégradées par Corrosion des Armatures passives et actives, Thèse de Doctorat, INSA de Toulose

[5] Alonso C., Andrade C., Rodriguez J., Diez J.M 199.) “ Factors controlling cracking of concrete afected by

reinforcement corosion ”, Materials and Structures, 31, pp 435-441

[6] Rodriguez J., Ortega L.M., Casal J., Diez J.M., 1996a “Corrosion of reinforcementand service life of

concrete structures”, Seventh Conference on Durability of Building Materials and Components, vol.1, Stockholm, esditespar C Sjostrom, pp 117-126

[7] Tuutti K., 1982 Corrosion of steel in concrete, Swedish Cement and Concrete Researche Institute, Ed., Stockholm

[8] Therry VIDAL, 2003 Requalification des structures dégradées par corosion desarmatures, Thèse de Doctorat, INSA de Toulouse

Trang 17

RÔ BỐT ÉP CỌC TRONG XÂY DỰNG MÓNG CÔNG TRÌNH

KS Nguyễn Văn Tân

Phòng Quản trị và Thiết bị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Hiện nay, quá trình xây dựng diễn ra

càng mạnh mẽ, các công trình ngày càng quy

mô và các phương án móng nông không đáp

ứng được khả năng chịu tải của công trình do

đó giải pháp móng cọc được sử dụng để giải

quyết vấn đề nền móng cho công trình Phần

móng của công trình đóng vai trò quan trọng

và chiếm giá thành cao cho công trình nên việc

sử dụng phương án móng và điều kiện thi công

hợp lý sẽ tiết kiệm cho công trình và tăng khả

năng chịu tải cho móng Hiện nay, có nhiều

phương án thi công móng cọc trong đó có

phương án đóng cọc, ép cọc Việc sử dụng các

máy móc trong thi công cọc để thay thế

phương án thi công truyền thống sẽ đem lại

hiệu quả kinh tế cho công trình

và nhanh nhạy của máy Máy sử dụng lực tĩnh mạnh được sinh ra bởi dầu áp lực cao

để đưa cọc vào trong đất một cách dễ dàng mà không gây chấn động mạnh Mọi thao tác của máy như: nâng cọc, chuyển, giữ bàn kẹp, di chuyển máy đều được thực hiện bằng thủy lực Máy có thể nén được nhiều loại cọc có hình dáng và kích thước khác nhau: cọc vuông, cọc tròn, cọc thép chữ H, tùy thuộc vào yêu cầu kỹ thuật Máy có thể ép được cọc vuông 600x600, cọc tròn 600

Chất lượng của cọc ép luôn được đảm bảo vì trong quá trình ép sẽ kiểm tra cọc Tỷ lệ thành công của cọc là 100% Cọc sẽ đạt được chất lượng cao và giảm được nhiều chi phí sản xuất So với các phương pháp ép khác hoặc trong quá trình đóng cọc thì rô bốt ép cọc cho cọc đạt được chất lượng cao hơn rất nhiều, máy này là thiết bị hữu ích nhất cho các

dự án lớn và cấp bách Hoạt động của máy êm và phạm vi làm việc của máy rộng vì nó hoàn toàn được điều khiển bằng thủy lực và có thể tự di chuyển được trên công trường, lực ép cọc được tạo ra là rất lớn Một đặc điểm rất quan trọng của máy mà có nhiều người quan tâm đó là máy có thể ép được cọc nghiêng từ 0o đến 5o Điều này rất quan trọng vì trong thực tế hiện nay việc ép cọc nghiêng là rất khó khăn

Trang 18

122

Hình 1 Rô bốt ép cọc Hình 2 Ép cọc bằng đối trọng

So với phương pháp ép cọc truyền

thống việc sử dụng rô bốt ép cọc tĩnh thủy

lực có những ưu điểm nổi trội sau:

+ Khi thi công không chấn động,

không ô nhiễm, ít tiếng ồn, không làm rạn

nứt công trình xung quanh Khi thi công ở

khu vực tập trung nhiều công trình kiến

trúc nó sẽ phát huy hết những đặc tính ưu

việt này, thể hiện nó đúng là loại thiết bị

thi công lý tưởng cho phương pháp bảo vệ

thành phố

+ Quá trình ép cọc: Trên máy có lắp

đặt đồng hồ đo thể hiện rõ trở lực ép cọc,

phân đoạn thông số áp lực, cung cấp số

liệu kỹ thuật đáng tin cậy cho công nhân

thao tác

+ Thời gian thi công ngắn, hiệu suất cao, độ ép liên tục tốt, nối cọc dễ dàng, hiệu suất cao hơn hẳn so với các loại máy

ép cọc khác, là lựa chọn hiệu quả cho việc thi công các công trình có quy mô diện tích lớn, thời gian thi công gấp

+ Chất lượng thi công tốt, tỷ lệ cọc hoàn thành cao, cọc chịu áp lực thấp, số lượng cọc bị hỏng ít So với máy đóng cọc kiểu búa hay loại chấn động thì giá thành làm cọc tiền chế thấp hơn 30%

2 Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của

rô bốt ép cọc 2.1 Cấu tạo chung

Hình 3 Cấu tạo tổng thể rô bốt ép cọc

1 Sàn máy; 2 Dầm đặt đối trọng gia tải; 3 Gối đỡ dầm gia tải; 4 Chân đế di chuyển ngang;

5 Cơ cấu ép chính; 6 Gân tăng cường cho gối đỡ dầm gia tải;7 Chân đế di chuyển dọc;

8 Xi lanh di chuyển ngang; 9.Cụm cơ cấu di chuyển ngang; 10 Xi lanh nâng hạ máy;

Trang 19

2.2.1 Cấu tạo cơ cấu ép cọc

Cơ cấu ép cọc của máy gồm hệ

xilanh ép cọc làm nhiệm vụ đẩy bàn kẹp

hướng xuống dưới Quá trình đó các bàn

kẹp đã kẹp chặt cọc và đưa cọc vào sâu trong lòng đất Lực ép yêu cầu của xilanh

là đủ để đưa cọc vào trong đất nhẹ nhàng

và đảm bảo yêu cầu thiết kế

Q1 Q2

vừa làm nhiệm vụ kéo bàn cọc chuyển

động lên xuống vừa ép cọc, hai xilanh còn

lại dùng để tăng lực dìm cọc khi cọc xuống

sâu trong lòng đất

Xi lanh ép cọc gồm có hai cặp làm

việc đồng thời, trong đó có một cặp vừa

làm nhiệm vụ ép cọc và vừa làm nhiệm vụ

kéo bàn kẹp đi lên

Từ cấu tạo của cơ cấu ép cọc, quy

trình hoạt động của nó được mô tả qua 6

bước và thể hiện như trên hình 7

Bước 4: Các xilanh ép duỗi để ép

bàn ép xuống đưa cọc vào sâu trong lòng đất

Bước 5: Các xilanh kẹp co lại nhả

má kẹp

Bước 6: Xilanh ép co lại hết hành

trình để đưa bàn ép đi lên kết thúc một chu trình ép Các bước tiếp theo lặp lại tương tự như bước 2 đến bước 6

Trang 20

124

2.2.2 Cơ cấu kẹp cọc

Quá trình ép cọc được thực hiện

trước tiên bởi sự làm việc của các bàn kẹp

cọc Bàn kẹp cọc gồm có 8 xilanh kẹp đặt

bố trí vuông góc với nhau Do lực ép cọc lớn nên yêu cầu các xilanh kẹp phải có lực kẹp tương đương để có thể giữ được cọc trong suốt quá trình ép xuống đất

650

30x30

Hình 8 Cơ cấu kẹp cọc

1 Tai lắp xi lanh ép; 2 Khớp cầu; 3 Bánh xe dẫn hướng;

4 Bề mặt hộp kẹp; 5 Má kẹp bên trong; 6 Má kẹp bên ngoài

2.2.3 Cơ cấu di chuyển

Máy được di chuyển bằng hệ thống

thủy lực, nhờ các xilanh và các bánh xe

nằm trong các chân đế dưới máy Toàn bộ

máy sẽ di chuyển một cách nhẹ nhàng bởi

sức đẩy của các xilanh Như vậy lực đẩy của

xilanh phải thắng được lực cản trong quá

trình di chuyển Cơ cấu gồm có 8 xilanh

thủy lực và 4 cụm bánh xe di chuyển

Quá trình di chuyển của máy:

- Sự di chuyển của máy đầu tiên phải kể đến quá trình làm việc của cơ cấu nâng hạ máy Cơ cấu nâng của máy bao gồm các xilanh nâng hạ máy và các dầm của máy Các dầm của máy gồm có hai dầm chính và hai dầm phụ Hai đầu của hai dầm chính gắn với bốn xilanh, đầu của pittông nâng hạ liên kết với bốn bánh xe

Trang 21

- Khi pittông đẩy ra hoặc co vào thì

thân máy sẽ được nâng lên hay hạ xuống

Hệ thống bánh xe đó được chạy trên các

tấm chân đế Trong mỗi tấm chân đế có

hai xilanh di chuyển (nằm theo chiều dọc)

và dẫn động các bánh xe Các bánh xe di

chuyển mang theo toàn bộ thân máy di

chuyển theo Các bánh xe chạy trên các

ray nằm trong các chân đế và có thể chạy

trong chân đế để kéo chân đế theo trong

quá trình chuyển động

- Các xilanh nằm dọc trong chân đế

được gắn khớp với các bánh xe Đầu của

pittông có liên kết khớp với chân đế để di

chuyển máy và cũng để di chuyển chính

chân đế

Quá trình di chuyển theo chiều dọc:

Máy di chuyển theo chiều dọc nhờ

hai cặp chân đế nằm dọc theo hai bên

máy Hành trình di chuyển theo chiều

dọc máy là 3,0 m Đó cũng chính là

hành trình của hai xilanh nằm trong hai

chân đế này Khi bắt đầu di chuyển, đầu

tiên các xilanh nâng hạ máy co lại hết

hành trình Như vậy hai chân đế nằm

ngang sẽ được co lên theo các xilanh

nâng hạ Lúc này các xilanh nằm trong

các chân đế dọc sẽ hoạt động, chúng

đẩy ra hết hành trình của xilanh Như

vậy toàn bộ máy được đẩy tới trước cùng

với hai chân đế ngang máy nhờ các cụm

bánh xe di chuyển chạy trên các ray

nằm trong chân đế Khi các xilanh dọc

hết hành trình thì các xilanh nâng hạ bắt

đầu đẩy ra và từ từ hạ hai chân đế

ngang xuống Khi 2 hai chân đế ngang

chạm đất, các xylanh nâng hạ nâng hai

chân đế dọc máy được nâng lên khỏi

mặt đất Lúc này các xilanh nâng hạ

dừng lại, tiếp theo các xilanh dọc trong

chân đế sẽ co lại Quá trình co lại này sẽ

kéo theo các cụm bánh xe di chuyển

theo Như vậy lúc này các chân đế dọc

sẽ trượt trên các cụm bánh xe di chuyển

và tiến về phía trước Sau đó các xilanh

nâng hạ lại co lại và bắt đầu một bước di

chuyển mới Quá trình này cứ lặp đi lặp

lại và làm cho máy di chuyển được tới vị

trí mong muốn theo chiều dọc (phía trước hoặc phía sau)

Quá trình di chuyển theo chiều ngang:

Quá trình di chuyển theo chiều ngang giống như quá trình di chuyển theo chiều dọc nhưng khác là hành trình của các xylanh là 0,8m và các chân đế này bị hạn chế hành trình bởi hai chân đế

nằm dọc

2.2.4 Cơ cấu cần trục cấp cọc

Cần trục dùng để nâng, hạ cọc bê tông cốt thép có tiết diện vuông hoặc tròn, chiều dài cọc ≤ 15m Quá trình hoạt động của cần gồm ba cơ cấu: Cơ cấu nâng, cơ cấu quay và cơ cấu thay đổi tầm với Cần trục thay đổi chiều dài cần bằng cách co duỗi cần, dùng cơ cấu bánh răng - thanh răng, để cố định cần

có các chốt giữ

Cấu tạo của cần trục gồm 4 cơ cấu chính: Cơ cấu quay, Cơ cấu nâng hàng, Cơ cấu co duỗi cần, cabin điều khiển

3 Kết luận

Bài viết cung cấp cấu tạo và sự làm việc của rô bốt ép cọc bằng thủy lực

Trang 22

126

Cấu tạo của máy khá phức tạp với

rất nhiều bộ phận chi tiết, quy trình hoạt

động là sự phối hợp đồng thời của nhiều

cơ cấu Bài viết này tác giả mong muốn

cung cấp thông tin về loại máy ép cọc

mới cũng như nguyên tắc làm việc của

máy là cơ sở giúp người đọc có thêm sự

lựa chọn trong việc chọn phương án thi công móng và mang dạng áp dụng máy móc mới vào thi công nền móng công trình nhằm khai thác sức mạnh của máy móc đem lại hiệu quả to lớn về mặt kỹ thuật và kinh tế cho công trình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nghiên cứu giải pháp thi công cho cọc ống ly tâm ứng suất trước bằng rô bốt ép cọc, Luận văn cao học của

Khúc Văn Ngân

[2] http://hn-sunward.en.alibaba.com/

[3] http://vicin.com.vn/ep-coc-robot/

[4] http://epcocbetongohanoi.net/

Trang 23

CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ VÀ BIẾN

DẠNG CỦA NỀN ĐẤT YẾU

ThS Võ Thanh Toàn

Khoa Cầu đường, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Việt Nam được biết đến là nơi có nhiều

đất yếu, đặc biệt lưu vực sông Hồng và sông

Mê Kông Nhiều thành phố và thị trấn quan

trọng được hình thành và phát triển trên nền

đất yếu với những điều kiện hết sức phức tạp

của đất nền, dọc theo các dòng sông và bờ

biển Thực tế này đã đòi hỏi phải hình thành và

phát triển các công nghệ thích hợp và tiên tiến

để xử lý nền đất yếu

Trong thực tế xây dựng, có rất nhiều

công trình bị lún, sập hư hỏng khi xây dựng

trên nền đất yếu do không có những biện pháp

xử lý phù hợp, không đánh giá chính xác được

các tính chất cơ lý của nền đất Do vậy việc

đánh giá chính xác và chặt chẽ các tính chất cơ

lý của nền đất yếu (chủ yếu bằng các thí

nghiệm trong phòng và hiện trường) để làm cơ

sở và đề ra các giải pháp xử lý nền móng phù

hợp là một vấn đề hết sức khó khăn, nó đòi hỏi

sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức khoa học và

kinh nghiệm thực tế để giải quyết, giảm được

tối đa các sự cố, hư hỏng công trình khi xây

có tính biến dạng lớn, hầu như bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn (thường e > 1), module biến dạng thấp (E0 ≤ 50 kg/cm2), lực dính c theo kết quả cắt nhanh không thoát nước ≤ 0.15 kg/cm2, góc nội ma sát

từ 00 đến 100 hệ số sức kháng cắt không đáng kể,…

Ngoài ra có thể định nghĩa nền đất yếu theo sức kháng cắt không thoát nước

Su và trị số xuyên tiêu chuẩn N như sau: Đất rất yếu: Su ≤ 12.5kPa hoặc N≤2 Đất yếu: Su ≤ 25kPpa hoặc N ≤ 4 Như vậy nếu không áp dụng các giải pháp xử lý thích hợp thì việc xây dựng công trình trên nên đất yếu sẽ rất khó khăn hoặc không thực hiện được

2 Nguyên nhân làm nền đất yếu

Đất yếu trong định nghĩa của là đất

có độ bền cơ học, thủy lực không cao, dễ

bị biến dạng khi gặp tải trọng Như vậy tác nhân làm ra đất yếu có thể qui về ba nhóm chính

2.1 Do kết cấu

Nguyên nhân này thường gặp ở các điều kiện địa chất đất sỏi, đá cuội, đá tảng Các phần tử đất đá gối lên nhau không chắc chắn, ở một số tải trọng nhất định, công trình lún ít do đất biến dạng không nhiều, ở các tải trọng lớn hơn xảy ra đứt gãy hoặc lún lệch làm công trình đổ sập như đập Malpasset ở Pháp hoặc do yếu tố thay đổi về kết cấu

Trang 24

128

chịu lực của vùng như sập một vài mỏ

khai thác đá ở Việt Nam trong những

năm gần đây có thể tính một phần là do

yếu tố này Cũng có trường hợp đất sét

tạo gối nước trong lòng đất, công trình

đặt lên làm nền đất biến dạng từ từ,

hoặc khoan cọc móng tại vùng địa chất

bên cạnh, dẫn tới nứt ra những khe

ngang làm nước thoát đi, độ lún biến đổi

đột ngột, một số nhà cao tầng ở thành

phố Hồ Chí Minh có thể tính một phần là

vì lí do này mà lún sập

2.2 Do độ ẩm

Nguyên nhân này thường gặp ở đất

cát và đất sét, nước trong đất tồn tại

dưới hai dạng chủ yếu là tự do và liên

kết Đây là các tác nhân chính gây ra

hiện tượng đàn hồi thủy lực và tính nén

của đất Các nhân tố này gây ra sự khó

khăn lớn trong thi công, cản trở việc lắp

đặt và sử dụng thiết bị gia cố Hiện tượng

này phổ biến ở các vùng đồng bằng ven

sông, ven biển, các vùng rừng lâu năm

và là yếu tố chính đối với các công trình

thi công trên biển

2.3 Do đặc tính sinh hóa

Nguyên nhân này thường gặp ở các

điều kiện địa chất đã được gia cố Trải qua

thời gian, do các tác động sinh hóa, như

phản ứng hóa học trong thành phần của

chất gia cố với nước, hoạt động của sinh

vật và vi sinh vật, đất đã được gia cố trở

nên yếu đi Đây là một vấn đề tương đối

khó khăn đối với các công trình sử dụng

biện pháp hóa học để gia cố đất như xi

măng, thủy tinh,…

3 Phân biệt nền đất yếu và một số

loại đất yếu thường gặp

Đất mềm yếu nói chung là loại đất

có khả năng chịu tải nhỏ (áp dụng cho đất

có cường độ kháng nén quy ước dưới 0,50 daN/cm2), có tính nén lún lớn, hệ số rỗng lớn (e>1), có mô-đun biến dạng thấp (Eo<

50 daN/cm2), và có sức kháng cắt nhỏ Khi xây dựng công trình trên đất yếu mà thiếu các biện pháp xử lý thích đáng và hợp lý thì sẽ phát sinh biến dạng thậm chí gây hư hỏng công trình Nghiên cứu xử lý đất yếu có mục đích cuối cùng là làm tăng

độ bền của đất, làm giảm tổng độ lún và

độ lún lệch, rút ngắn thời gian thi công và giảm chi phí đầu tư xây dựng

3.1 Cách phân biệt nền đất yếu

Cách phân biệt nền đất yếu ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều có các tiêu chuẩn cụ thể để phân loại nền đất yếu

Theo nguyên nhân hình thành: loại

đất yếu có nguồn gốc khoáng vật hoặc nguồn gốc hữu cơ

- Loại có nguồn gốc khoáng vật: thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở ven biển, vùng vịnh, đầm hồ, thung lũng

- Loại có nguồn gốc hữu cơ: hình thành từ đầm lầy, nơi nước tích đọng thường xuyên, mực nước ngầm cao, tại đây các loại thực vật phát triển, thối rữa phân hủy tạo ra các vật lắng hữu cơ lẫn với trầm tích khoáng vật

Phân biệt theo chỉ tiêu cơ lý (trạng thái tự nhiên): Thông thường phân biệt

theo trạng thái tự nhiên và tính chất cơ lý của chúng như hàm lượng nước tự nhiên,

tỷ lệ lỗ rỗng, hệ số co ngót, độ bão hòa, góc nội ma sát (chịu cắt nhanh) cường độ chịu cắt

Phân biệt đất yếu loại sét hoặc á sét, đầm lầy hoặc than bùn theo độ sệt

Một số chỉ tiêu phân biệt loại đất mềm yếu:

Bảng 3.1.Phân loại đất yếu dựa vào lượng nước, độ rỗng, cường độ chịu cắt

Chỉ tiêu Hàm lượng nước tự

nhiên (%) Độ rỗng tự nhiên

Cường độ chịu cắt (kPa)

Giá trị chỉ tiêu ≥ 35 và giới hạn lỏng ≥ 1,0 < 35

Trang 25

Bảng 3.2 Phân loại đất yếu dựa vào hệ số co ngót, độ bão hòa, góc ma sát trong

Chỉ tiêu

Loại đất

Hàm lượng nước tự nhiên (%)

Độ rỗng

tự nhiên

Hệ số co ngót (Mpa -1 )

Độ bão hòa (%)

Góc nội ma sát ( o ) (chịu cắt nhanh)

Đất sét > 40 > 1,2 > 0,50 > 95 < 5

Đất á sét

(Đất bột) > 30 > 0,95 > 0,30 > 95 < 5

3.2 Vị trí nền đất yếu

Nền đất yếu thường gặp ở khu vực

miền duyên hải (bãi bồi ven sông, biển)

hoặc ở các thung lũng thuộc vùng núi,…

có chung đặc tính là lượng nước tự nhiên

lớn (≥35%) độ lún cao, cường độ chịu cắt

thấp (< 35kPa), hệ số rỗng lớn (e ≥ 1,0)

và độ thoát nước kém,… khi xây dựng

công trình trên loại đất này dễ bị lún sụt

Từ các khu vực châu thổ Bắc bộ,

Thanh - Nghệ Tĩnh, ven biển Trung bộ, đến

đồng bằng Nam Bộ đều có những vùng đất

yếu Trong lĩnh vực nghiên cứu và xử lý

nền đường đắp trên đất yếu trên các tuyến

đường của Việt Nam, ngành GTVT đã có

nhiều cố gắng trong việc ứng dụng công

nghệ mới để xử lý hàng trăm km đường bộ

đắp trên đất yếu và đã thu được những kết

quả bước đầu đầy khích lệ

3.3 Các loại nền đất yếu thường gặp

Đất sét mềm: gồm các loại đất sét

hoặc á sét tương đối chặt, ở trạng thái

bão hòa nước, có cường độ thấp;

Bùn: Các loại đất tạo thành trong

môi trường nước, thành phần hạt rất mịn

(<200μm) ở trạng thái luôn no nước, hệ

số rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực;

Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn

gốc hữu cơ, được hình thành do kết quả

phân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm

lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%);

Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết

cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc

pha loãng đáng kể Loại đất này khi chịu

tải trọng động thì chuyển sang trạng thái

chảy gọi là cát chảy

Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc điểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập

4 Các phương pháp xác định cường

độ và biến dạng nền đất yếu 4.1 Các phương pháp thí nghiệm xác định sức kháng cắt của đất yếu

* Thí nghiệm nén đơn (Unconfined

compression test)

Cường độ chống nén của đất thường được xác định bằng cách nén đến phá hoại một mẫu trong điều kiện nở hông tự do Lực phá hoại khi nén mẫu chỉ tác dụng theo một hướng Do đó thí nghiệm này gọi

là nén một trục – nén đơn

Cường độ chống nén của đất ứng với lúc mẫu bị phá hoại, được thể hiện khi có sự tăng biến dạng tương đối một cách rõ rệt hoặc thấy rõ mẫu đất bị phá hoại bằng mắt Cường độ chống nén của đất cho phép đánh giá được sức chịu tải của nền tức là tải trọng cho phép để nền không bị phá hoại hoặc sức chịu tải của nền tức thời

Cường độ chống nén q u hay sức kháng nén đơn cực hạn của mẫu đất được tính theo công thức:

P max– Lực nén lớn nhất làm mẫu bị phá hoại (ghi nhận trên đồng hồ đo lực)

A – Diện tích tiết diện mẫu bị phá

hoại Tương quan giữa cường độ chống

Trang 26

130

nén q u và giá trị sức chống cắt

Sức chống cắt không thoát nước hay

lực dính không thoát nước

2

u u

q

c

(2) Trong đó: u = 0

Tùy theo tương quan giữa tốc độ

truyền lực nén và lực cắt, cùng điều kiện

thoát nước của mẫu đất khi thí nghiệm, có

thể phân biệt các phương pháp (sơ đồ)

chính sau đây để xác định sức chống cắt

Tiến hành thí nghiệm trên mẫu đất

có h=2cm, Ø=6.3cm

- Sơ đố cắt nhanh không cố kết (UU):

Sau khi mẫu thí nghiệm đặt vào hộp

cắt, cho tác dụng lực thẳng đứng N để xác

định cấp áp lực pháp tuyến đầu tiên σ1

Cho hộp cắt ngập nước và kiểm tra các

thiết bị đo

Tác động lực cắt ngang (T) chuyển

động với vận tốc cắt khoảng

1.25mm/phút và cho chuyển vị liên tục

trong khoảng 9mm Số đo ứng suất cắt

được đọc ở đồng hồ gắn với vòng ứng biến

theo từng khoảng chuyển vị bằng nhau

Phương thức tiến hành tương tự như

trên cho 3 mẫu đất thí nghiệm với các cấp

áp lực pháp tuyến khác nhau

Như vậy, ngay sau khi đặt ứng suất

pháp σ, áp lực nước lỗ rỗng thặng dư xuất

hiện trong mẫu đất và trong suốt quá

trình cắt nhanh áp lực nước lỗ rỗng thay

đổi nhưng không đo đạc được chúng

Từ kết quả thí nghiệm, ta xác định

được các thông số sức kháng cắt ở trạng

thái ứng suất tổng c u và φ u

- Sơ đồ cắt nhanh, cố kết (CU):

Quá trình chuẩn bị đến thí nghiệm

cắt là tương tự như trong thí nghiệm UU,

ngoại trừ các dao vòng mẫu thí nghiệm

cho cố kết trước theo từng cấp áp lực

pháp tuyến dự kiến trước khi tiến hành thí

nghiệm cắt Trong thí nghiệm này cũng

không đo được áp lực nước lỗ rỗng

Từ kết quả thí nghiệm, ta xác định được các thông số sức kháng cắt ở trạng

thái ứng suất tổngc cu và φ cu

- Sơ đồ cắt chậm, cố kết (CD):

Mẫu đất thí nghiệm được cố kết dưới

áp lực nén thẳng đứng cho đến khi kết thúc giai đoạn cố kết ban đầu Sau đó cắt mẫu với tốc độ dịch chuyển đủ chậm để nước có thể thoát ra Tùy theo loại đất và khả năng của thiết bị mà chọn vận tốc cắt cho phù hợp Sơ đồ thí nghiệm này có thể được xem như cắt ở trạng thái cố kết, thoát nước, cung cấp thông số ứng suất hữu hiệu

Từ kết quả thí nghiệm, ta xác định được trị số c’ và φ’

+ Thời gian thực hiện nhanh

- Khuyết điểm:

+ Máy cắt trực tiếp chỉ cắt theo một mặt phẳng ấn định trước, đôi khi mặt phẳng này chưa phải là mặt phẳng yếu nhất trong nền (đối với đất trầm tích không đồng nhất, mặt trượt là mặt xiên)

Do vậy kết quả c, φ tìm được theo thí nghiệm này không phản ánh trung thực ứng xử của nền

+ Sự phân bố ứng suất trên bề mặt cắt là không đều

Do vậy để có kết quả chính xác hơn

về hình ảnh của một mẫu đất khi làm việc trong phòng thí nghiệm giống như nền đất khi làm việc ở ngoài hiện trường, người ta

thường dựa vào thí nghiệm nén 3 trục

(triaxial compression test) thì sẽ tìm được

c, φ chính xác hơn Hơn nữa c, φ cũng được xác định theo 3 sơ đồ khác nhau phù hợp điều kiện thoát nước và tốc độ xây dựng công trình trong thực tế nhằm mục đích ứng dụng các thiết bị hiện đại trong nghiên cứu thí nghiệm xác định các thông

Trang 27

số phục vụ cho tính toán ổn định lâu dài

dụng rộng rãi nhất hiện nay bởi vì thí

nghiệm này mô hình hóa được đúng hơn

trạng thái ứng suất tự nhiên của mẫu đất

trong điều kiện thế nằm tự nhiên Thí

nghiệm được thực hiện trên mẫu đất hình

trụ có tỉ số giữa chiều cao và đường kính

bằng 2/1: kích thước mẫu thường là 100 x

50mm hoặc 76 x 38mm

Trong thực tế, sức kháng cắt của đất

thường được thực hiện theo 3 sơ đồ:

Thí nghiệm không cố kết, không

thoát nước đối với đất bão hòa, ký hiệu

UU

Đây là sơ đồ thí nghiệm đơn giản,

vận hành nhanh, giá thành rẻ và thông

dụng nhất của thí nghiệm nén ba trục Kết

quả sức kháng cắt thu được là ở trạng thái

ứng suất tổng

Những nguyên lý được trình bày sau

đây chỉ liên quan đến đất bão hòa Trong

suốt quá trình thí nghiệm, nước lỗ rỗng bị

khống chế không được thoát ra ngoài,

mẫu đất không được cố kết dưới các tải

trọng tác dụng lên nó Vì nước và cốt đất

hầu như không chịu nén và giả thiết trong

nước không chứa không khí nên trong quá

trình thí nghiệm mẫu không bị biến dạng

thể tích Khi thí nghiệm với đất bão hòa,

độ tăng nào đó của ứng suất tổng tạo nên

sự tăng tương ứng của áp lực nước lỗ rỗng

(Δu = Δσ) và vì thế không xảy ra sự tăng

ứng suất hiệu quả, tức là Δσ’=0 Khi đó ta

có: S u = c u và u = 0

Giá trị S u gọi là sức kháng cắt không

thoát nước của đất

Thí nghiệm cố kết, không thoát nước

đối với đất bão hòa, ký hiệu CU

Trong phương pháp thí nghiệm có cố

kết – không thoát nước, sau khi bơm nước

vào buồng nén và tăng áp tạo ứng suất

đẳng hướng σ c lên mẫu đất, áp lực nước

trong mẫu đất sẽ tăng lên một lượng bằng

với σ c, nếu mẫu đất là mềm và bão hòa

hoàn toàn Giữ yên áp lực trong buồng nén cho đến lúc áp lực nước lỗ rỗng thặng

dư bên trong mẫu phân tán hết (có cố kết), lúc này ứng suất hữu hiệu theo các phương như nhau và bằng với áp lực

buồng nén (σ 1 ’= σ 2 ’= σ 3 ’= σ c )

Sau đó giữ nguyên áp lực buồng nén, khóa van thoát nước tức là thể tích mẫu đất bão hòa nước không đổi thể tích,

gia tăng ứng suất thẳng đứngσ 1 cho đến lúc mẫu đất bị trượt, đo áp lực nước lỗ rỗng gia tăng u trong suốt quá trình tăng tải Vận tốc nén từ 1mm/phút đến 2mm/phút Trong quá trình áp ứng suất

lệch q=Δu = σ 1 - σ 3 = Δσ 1

- Mẫu đất là cát rời hoặc đất dính cố

kết thường (NC = normally consolidation),

nếu không thoát nước áp lực nước lỗ rỗng

Đặc trưng sức kháng cắt cố kết, thoát nước: c’ và φ’ được dùng trong tính

đó tăng tải trọng gây cắt Tốc độ tăng tải trọng gây cắt phải chậm đủ để đảm bảo rằng không xảy ra việc tăng áp lực nước

lỗ rỗng

Vận tốc cắt (nén) cực đại được suy

ra từ thời gian cố kết mẫu:

100

0 max

t b

Trang 28

132

ε f : Biến dạng tương ứng giai đoạn

sụp đổ theo các thí nghiệm trước (ε f=3%

cho sét cứng hoặc sét cố kết trước; ε f =

theo sơ đồ thí nghiệm này, ở trạng thái

ứng suất hữu hiệu với các thông số c’ và

φ’ riêng của mẫu

Thí nghiệm theo phương pháp CD

nhằm mô phỏng ứng xử của đất vào giai

đọan mà cố kết sơ cấp đã kết thúc

Các tham số sức chống cắt (c, φ)

được thí nghiệm theo cùng một sơ đồ dựa

vào máy cắt trực tiếp và máy nén 3 trục

có sự khác nhau nhưng không đáng kể

Trong đó góc ma sát φ được thí

nghiệm theo 2 sơ đồ khác nhau (CU) và

(CD) trên các lọai máy lớn hơn góc ma sát

của đất trong điều kiện không cố kết và

không thoát nước (UU) trên 100 tùy theo

tốc độ cắt hoặc nén

Lực dính của đất có khác nhau,

nhưng không nhiều

Khi các công trình đất đắp như

đường, đê, đập,… được đặt trưc tiếp trên

nền đất sét mềm và phải hoàn thành công

trong một đợt thi công thì nên chọn các

tham số sức chống cắt (c, φ) theo sơ đồ

(UU) Khi đợt đắp thứ 2 trở đi thì chọn các

tham số sức chống cắt (c, φ) theo sơ đồ (CU) hoặc (CD)

Nếu các công trình này được đắp trên nền đất sét mềm có gia cố bằng giếng cát hoặc bấc thấm kết hợp gia tải trước thì các tham số sức chống cắt (c, φ) được chọn để thiết kế phải theo sơ

đồ (CD)

Bảng tổng kết của Ladd, năm 1971,

về ứng dụng các phương pháp thí nghiệm khác nhau để tính sức chống cắt và sức chịu tải của đất nền dưới công trình

Ứng suất chống cắt tại chỗ có thoát nước sau khi đã cố kết

Đập đất với sự

thường trực

Ứng suất chống cắt của lõi đập có thoát nước, sau khi đã cố kết

Mái dốc tự nhiên hoặc mái đào của hố móng

Ứng suất chống cắt tại chỗ có thoát nước, sau khi đã cố kết

trên nền đất sét, sau khi lún

ổn định

Ứng suất chống cắt tại chỗ có thoát nước, sau khi đã cố kết

Bảng 4.2 Một số ứng dụng của phương pháp CU

Công trình và giai đọan làm việc

Đắp lớp đất tiếp theo sau khi đã cho nền

cố kết hoàn toàn với lớp đắp trước của

công trình đất đắp, hoặc gia tải từng cấp

trong gia tải trước

Ứng suất chống cắt tại chỗ không thoát nước, ngay sau khi đắp lớp sau và nền đã

cố kết hoàn toàn bởi tải của lớp đắp trước

Xả nước hồ chứa nhanh Lõi không thấm

của đập chưa kịp thoát nước trong quá

trình tháo đập

Ứng suất chống cắt lõi đập không thoát nước, trong lúc xả nhanh hồ chứa, sau khi lõi đã cố kết hoàn toàn trong sự thấm thường trực

Thi công nhanh công trình đất đắp trên

suờn dốc

Ứng suất chống cắt ngay sau khi gia tải không thoát nước, nền đã cố kết hoàn toàn bởi trọng lượng bản thân trước đó

Trang 29

Đập kích thước lớn khi thi công nhanh,

độ ẩm của lõi không kịp thay đổi

Ứng suất chống cắt không thoát nước của lõi sét đầm chặt của đập

Móng nông thi công nhanh trên nền sét Sức chịu tải phụ thuộc ứng suất chống

cắt không thoát nước

* Thí nghiệm cắt cánh hiện trường (Field

Vane test)

Ta đã biết, khả năng thoát nước của

lỗ rỗng của đất dính rất chậm nên trong

một số trường hợp tính toán nền móng,

đặc biệt nghiên cứu đất đắp trên nền đất

yếu, thì thí nghiệm theo sơ đồ UU (không

thoát nước, không cố kết) là thích hợp

Trong khi đó, việc xác định c u ở trong

phòng thí nghiệm không phải lúc nào cũng

thuận lợi, nhất là sét yếu và than bùn

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên,

người ta đề xuất một loại thí nghiệm,

không cần tiến hành lấy mẫu nguyên

dạng, có thể xác định nhanh chóng sức

kháng cắt không thoát nước của đất yếu

Phương pháp cắt cánh thường được sử

dụng trong các loại đất mềm yếu, khó có

khả năng lấy mẫu nguyên dạng để thí

nghiệm trong phòng như đất loại sét mềm

yếu, cát hạt nhỏ và mịn bão hòa nước, các

loại đất bùn và than bùn Hiện nay, ở

nước ta, khi thiết kế nền đất yếu, thiết kế

thi công cọc khoan nhồi, hố móng, người

ta thường sử dụng phổ biến các tài liệu thí

bằng thép, sau đó quay cánh cắt cho đến

khi đất bị cắt xoay tròn (phá hủy) xung

quanh trục của nó và đo mô-men xoắn

Đất bị cắt trong thời gian khá nhanh, nước

không kịp thoát ra ngoài nên thí nghiệm

được xem như là theo sơ đồ UU Ta tính

được ứng suất tiếp τ, từ đó có sức kháng

cắt không thoát nước S u (tức là c u) của đất yếu, do u = 0

M x: Mô-men giới hạn do ngọai lực tác dụng lên cần nối và cánh chữ thập

d : Đường kính cánh chữ thập

Thí nghiệm cắt cánh có độ tin cậy tương đối tốt Các sai sót có thể có do thí nghiệm cắt cánh thường là: cánh cắt quá dày, tỷ lệ chiều cao với bề rộng cánh không phù hợp, ma sát

4.2 Các phương pháp thí nghiệm xác định tính nén lún của đất yếu

Bên cạnh các tham số (c, φ) đặc trưng cho sức chống cắt của đất nền Tính nén lún của nền đất yếu còn được đặc trưng bởi các hệ số nén lún a hoặc chỉ số nén Cc; hệ số cố kết thẳng đứng Cv; mô-đun biến dạng E0

Sau đây là một số phương pháp thí nghiệm xác định mô đun biến dạng E của nền đất

Mô-đun biến dạng E cho biết khả năng chống lại tác dụng nén lún của tải trọng tác dụng

- Khi E càng nhỏ thì đất càng yếu và biến dạng lún lớn

- Khi E càng lớn thì đất tốt và biến dạng lún nhỏ E = 300 ÷ 5000kN/m2 (đất bùn yếu) đến 100000kN/m2 (đá gốc, đá tảng)

- Mô-đun đàn hồi là mô đun chỉ xét đến biến dạng đàn hồi

- Mô-đun biến dạng khi xét đến biến

Trang 30

134

dạng đàn hồi và biến dạng dư

* Thí nghiệm bàn nén hiện trường:

Khi xác định E trong phòng nghiệm

không phản ánh hoàn toàn đầy đủ tính

liên tục của đất (đất nền bị nở hông khi

chịu nén), để có giá trị E phù hợp với

trạng thái của khối đất tự nhiên, người ta

0,75m Đôi khi, bàn nén được tiến hành ở

đáy hố khoan với những bàn nén tròn

cùng đường kính lỗ khoan

Thí nghiệm bàn nén hiện trường là

tăng tải từng cấp lên bàn nén, đo chuyển

vị đứng của bàn nén ứng với từng cấp tải

trọng, cho đến khi đạt được tải trọng giới

hạn Pult (tải trọng ứng với giá trị đó,

chuyển vị đứng của bàn nén giảm dần về

giá trị ổn định Giá trị ổn định được chọn

khi trong khoảng thời gian 1 giờ độ lún

nhỏ hơn 0,2mm)

Từ kết quả bàn nén hiện trường, ta

vẽ đường cong quan hệ giữa ứng suất và

ν : hệ số Poisson

R : bán kính bàn nén

Δp: biến thiên cấp áp lực trong pha

đàn hồi

Δs: biến thiên độ lún, tương ứng

khoảng cấp áp lực nêu trên

* Phương pháp nén cố kết (OCT):

Độ lún của đất yếu bão hòa nước,

dưới tác dụng của tải trọng, xảy ra hiện

tượng cố kết

Hiện tượng này có thể xác định trên thiết bị nén một trục không nở hông và thí nghiệm nén 3 trục Tuy nhiên, thí nghiệm nén 3 trục tiến hành khá phức tạp Thí nghiệm nén cố kết được tiến hành trên máy nén một trục nhằm xác định sự thay đổi chiều cao của một mẫu đất nguyên dạng trong một hộp hình trụ không cho phép biến dạng ngang và chịu áp lực thẳng đứng

Mẫu đất được lấy vào trong một dao vòng bằng thép không rỉ, cứng có đường kính 70mm, chiều cao 20mm Dao vòng,

có mẫu đất, được đặt trong một hộp nén với 2 viên đá bọt ốp trên và dưới Cả hộp được đặt chìm trong nước

Hộp mẫu được đặt trong hệ khung đặc biệt, có thể gia tải qua cánh tay cân, trên đó treo các quả cân có trọng lượng khác nhau Đo chuyển vị thẳng đứng mẫu đất bằng thiên vân kế gắn liền với khung Tiến hành chất tải theo cấp đầu tiên của cấp áp lực dự kiến (0,25 - 0,5 - 1,0 - 2,0 - 4,0 - 8,0 - 16,0 - 32,0 kg/cm2) Kết quả quan trắc được thể hiện dưới 2 dạng biểu đồ:

+ Biểu đồ quan hệ giữa hệ số rỗng – cấp áp lực

+ Biểu đồ quan hệ giữa chuyển vị - thời gian

Tại hai điểm bất kỳ trên đường cong nén lún ta có thể rút ra biểu thức:

) 1 ( 0

e H H

1

v

e E

Trang 31

Loại đất Mô đun biến dạng E (Mpa) Hệ số Poisson ν

đặc trưng cơ học (cường độ chống cắt và

các đặc trưng biến dạng) của chúng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bùi Trường Sơn, 2009 “Bài giảng địa chất công trình”

[2] Bùi Trường Sơn, 2009 “Thổ chất và công trình đất”

[3] Châu Ngọc Ẩn, 2009 “Cơ học đất” NXB Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh

[4] K.H.Head, 1994 “Soil laboratory testing, volume 2, Permeability, shear strength and compressibility”

[5] Tiêu chuẩn xây dựng TCVN 8868-2011; TCVN 4199-1995; TCVN 4200-2012; TCVN 9354-2012

Trang 32

136

`

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH

ĐIỂM BẤT LỢI CỦA MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC TRONG NHÀ

KS Đào Xuân Trà

Khoa Kỹ thuật Hạ tầng Đô thị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Khi tính toán thuỷ lực mạng lưới cấp

nước nói chung và mạng lưới cấp nước lạnh

trong nhà nói riêng, ta đều phải tính toán cho

trường hợp bất lợi nhất Trường hợp bất lợi

nhất của mạng được thiết lập khi mạng phải

chuyển tải lưu lượng nước lớn nhất với điểm

bất lợi của mạng được xác định

Không thể hoàn tất việc tính toán thuỷ

lực mạng lưới cấp nước khi chưa xác định được

điểm bất lợi của nó Nhưng việc xác định điểm

bất lợi của mạng lưới cấp nước nhiều khi lại rất

tốn thời gian mà vẫn có thể dẫn đến nhầm lẫn

Sau đây, trình bày cơ sở lý thuyết và

phương pháp xác định điểm bất lợi của mạng

lưới cấp nước lạnh trong nhà, hỗ trợ việc tính

toán thuỷ lực mạng lưới cấp nước hoàn tất

Áp lực cần thiết của mạng lưới cấp nước được xác định theo công thức sau đây:

Hct = Hhh + Hđh + Hdđ + Hcb + Hd (m) Trong đó:

Hhh - Độ cao hình học đưa nước, tính từ điểm trích nước trong sơ đồ cấp nước (trục ống cấp nước ngoài phố) đến điểm bất lợi

Hđh - Tổn thất áp lực qua đồng hồ

đo nước (Hđh = S.Qtt2)

Hdđ, Hcb - Tổng tổn thất áp lực dọc đường, tổng tổn thất áp lực cục bộ trên tuyến ống bất lợi (Hcb = 30% Hdđ)

Hd - Áp lực dư cần có tại đầu vòi nước của thiết bị dùng nước tại điểm bất lợi (Hd = 2 - 4m cột nước)

Trong công thức trên, trừ thông số Hđh ra, thì các thông số còn lại (Hhh, Hdđ, Hcb, Hd) đều liên quan đến khái niệm điểm bất lợi hay tuyến ống bất lợi Tuyến ống bất lợi sẽ hoàn toàn được xác định khi ta xác định được điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước đó

Điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước được xác định dựa trên những cơ sở lý thuyết được trình bày dưới đây

2 Cơ sở lý thuyết về điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

Trang 33

2.1 Những yếu tố bất lợi của điểm

(điểm tiêu thụ nước)

Khi yêu cầu sử dụng nước tại các

điểm trên mạng lưới cấp nước là như

nhau, những yếu tố thuỷ lực xuất hiện

khiến cho điểm đó có khả năng phải

nhận giá trị áp lực thấp nhất, thì những

yếu tố thuỷ lực đó được gọi là những yếu

tố bất lợi của điểm Trong trường hợp

yêu cầu sử dụng nước tại các điểm trên

mạng lưới cấp nước là khác nhau, thì

cần phải xác định thêm một yếu tố thuỷ

lực khác nữa, đó là áp lực dư đòi hỏi tại

các điểm đó Như vậy, trong trường hợp

tổng quát, những yếu tố bất lợi của điểm

sẽ bao gồm:

2.1.1 Độ cao hình học đưa nước

(Hhh)

Độ cao hình học đưa nước của điểm,

được tính từ điểm trích nước trong sơ đồ

cấp nước, tức là từ trục ống cấp nước

ngoài phố đến điểm tính toán đó Điểm

nào có độ cao hình học đưa nước càng

lớn, thì điểm đó sẽ càng bất lợi

2.1.2 Tổng tổn thất áp lực dọc đường

(Hdđ)

Tổng tổn thất áp lực dọc đường

trong tuyến ống cấp nước, là một trong

những yếu tố quyết định áp lực đầu ra tại

điểm cuối của tuyến ống Điểm nào có

tổng tổn thất áp lực dọc đường trên tuyến

ống tính từ điểm trích nước tới nó mà

càng lớn, thì điểm đó sẽ càng bất lợi

2.1.3 Tổng tổn thất áp lực cục bộ

(Hcb)

Tương tự như trên, tổng tổn thất áp

lực cục bộ trong tuyến ống cấp nước, cũng

là một trong những yếu tố quyết định áp lực

đầu ra tại điểm cuối của tuyến ống Điểm

nào có tổng tổn thất áp lực cục bộ trên

tuyến ống tính từ điểm trích nước tới nó mà

càng lớn, thì điểm đó sẽ càng bất lợi

2.1.4 Áp lực dư đòi hỏi (Hd)

Trong trường hợp yêu cầu yêu cầu

sử dụng nước tại các điểm trên mạng lưới

cấp nước là khác nhau, điểm nào có áp lực

dư đòi hỏi càng lớn, thì điểm đó sẽ càng

bất lợi

Đối với mạng lưới cấp nước lạnh trong nhà, thì áp lực dư đòi hỏi của vòi tắm hoa sen là lớn nhất, từ 3 - 4 mét cột nước Còn của các thiết bị dùng nước khác chỉ cần từ 1.5 - 2.0 mét cột nước là đảm bảo yêu cầu

2.2 Nhận dạng điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

Với những yếu tố bất lợi của điểm đã nêu trên, dựa trên cơ sở lý thuyết tính toán thuỷ lực mạng lưới cấp nước, ta hiển nhiên thấy rằng: Điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước, là điểm có tổng đại số các giá trị của các yếu tố bất lợi đối với nó là lớn nhất, so với tổng tương ứng của bất

kỳ điểm tiêu thụ nước nào trong mạng lưới cấp nước đó Điều đó có nghĩa là, nếu một điểm X nào đó trong mạng lưới cấp nước mà là điểm bất lợi, thì điểm X đó phải thoả mãn điều kiện: Tổng đại số các giá trị của các yếu tố bất lợi đối với X là lớn nhất, so với tổng tương ứng của bất

kỳ điểm tiêu thụ nước nào trong mạng lưới cấp nước đó, tức là, tổng đại số của X: HX = HhhA-X + HdđA-X + HcbA-X + HdX (m) phải là lớn nhất, so với tổng tương ứng của bất kỳ điểm tiêu thụ nước nào trong mạng lưới cấp nước, với:

A : Điểm trích nước trong sơ đồ cấp nước

HhhA-X : Độ cao hình học đưa nước tính từ điểm A đến điểm X đó

HdđA-X , HcbA-X : Tổng tổn thất áp lực dọc đường, tổng tổn thất áp lực cục bộ trên tuyến ống A - X

HdX : Áp lực dư đòi hỏi tại điểm X đó Nhận dạng được điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước, sẽ là tiền đề quan trọng cho phương pháp xác định điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

3 Phương pháp xác định điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, phương pháp xác định điểm bất lợi của một mạng lưới cấp nước sẽ trở nên đơn giản, đó là: muốn tìm điểm bất lợi của mạng, ta chỉ việc lập tổng đại số (H) ở trên đối với mọi điểm tiêu thụ nước, sau đó đem so sánh

Trang 34

Điểm nào có tổng của nó lớn nhất, thì

điểm đó sẽ là điểm bất lợi

Tuy nhiên, để xác định điểm bất lợi

một cách nhanh chóng, ta cần phải chú ý

đến những điểm (điểm tiêu thụ nước) đặc

biệt trong mạng lưới cấp nước Trong

trường hợp thông thường, đối với mạng

lưới cấp nước lạnh trong nhà, thì những

điểm đặc biệt trong mạng là những điểm

sau đây:

- Những điểm tiêu thụ nước ở tầng

trên cùng, vì những điểm này có độ cao

hình học (Hhh) lớn hơn, so với các điểm

tiêu thụ nước ở các tầng phía dưới

- Những điểm tiêu thụ nước, là điểm

đầu mút của các tuyến ống ở tầng trên

cùng, vì những điểm này có chiều dài

tuyến ống so sánh lớn, do đó giá trị tổng

tổn thất áp lực dọc đường và tổng tổn thất

áp lực cục bộ (Hdđ , Hcb) sẽ lớn

- Những tiêu thụ nước có lắp đặt vòi

tắm hoa sen ở tầng trên cùng, vì những

điểm này có áp lực dư đòi hỏi (Hd) lớn

hơn so với các điểm tiêu thụ khác

Khi đã tìm được những điểm đặc biệt

trong mạng lưới cấp nước, ta chỉ việc lập

tổng (H) đối với từng điểm đặc biệt đó rồi

đem so sánh, điểm nào có tổng của nó lớn

nhất thì điểm đó sẽ là điểm bất lợi

Khi đã xác định được điểm bất lợi

của mạng lưới cấp nước, thì áp lực cần

thiết (Hct) của mạng lưới cấp nước đó sẽ

được xác định cụ thể theo điểm bất lợi Vì

Sau đây, trình bày tóm tắt ví dụ về

cách xác định điểm bất lợi của một mạng

lưới cấp nước lạnh trong nhà cụ thể

4 Ví dụ

Cho sơ đồ không gian mạng lưới cấp

nước lạnh của một ngôi nhà 2 tầng như

hình vẽ, với A là điểm trích nước Lưu lượng nước chảy qua từng đoạn ống đã xác định và chiều dài các đoạn ống được ghi trong bảng 01 Tổn thất áp lực qua đồng hồ đo nước giả thiết bằng 0.75m (Hđh = 0.75m)

Hãy xác định điểm bất lợi và từ đó tính

áp lực cần thiết của mạng lưới cấp nước

Bảng 1 Lưu lượng và chiều dài các đoạn ống

Đoạn ống

Lưu lượng Q(l/s)

Chiều dài l(m)

Trang 35

chảy trong các đoạn ống lấy theo giá trị

Kết quả tính toán thuỷ lực mạng lưới

cấp nước tại bảng 02 là cơ sở để xác định

điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước và từ

đó tính áp lực cần thiết của mạng

a Xác định điểm bất lợi của mạng lưới

cấp nước

- Tìm những điểm đặc biệt trong mạng

(điểm tiêu thụ nước)

hoa sen ở tầng trên cùng (tầng 2): Điểm

D Vậy điểm D lại được bổ sung

Như vậy, tổng hợp lại ta tìm được 03

điểm đặc biệt trong mạng là E, G, D

- Lập tổng HX = HhhA-X + HdđA-X+ HcbA-X +

Hd (m) đối với 03 điểm đặc biệt E, G, D,

với điểm X trong biểu thức lần lượt được

Hd = 2.0 m (không phải vòi tắm hoa sen)

Vậy đối với E:

Tổng HE = H hhA-E + H dđA-E + H cbA-E + H d (m)

b Xác định áp lực cần thiết của mạng lưới cấp nước

Khi đã xác định được điểm D là điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước, thì áp lực cần thiết (Hct) sẽ được xác định cụ thể theo điểm bất lợi D Vì thế, công thức xác định Hct của mạng, lúc này sẽ được viết như sau:

H ct = H hhA-D + H đh + H dđA-D+ H cbA-D + H dD (m) Thay số:

Hct = 5.9+0.75+0.98+0.29+3.0 = 10.92 (m) Giá trị Hct của mạng sẽ là cơ sở để triển khai tính toán các phần việc tiếp theo

5 Kết luận

Trang 36

Trong khuôn khổ của bài báo, tác

giả đã cố gắng trình bày tương đối ngắn

gọn cơ sở lý thuyết và phương pháp xác

định điểm bất lợi trong mạng lưới cấp

nước lạnh trong nhà cùng ví dụ tính toán

tóm tắt

Khi điểm bất lợi của mạng lưới cấp

nước đã được xác định, áp lực cần thiết

cung cấp cho mạng sẽ được tính toán cụ

thể để thoả mãn các yêu cầu của điểm bất

lợi đó Và nếu như, các yêu cầu của điểm bất lợi đó đã hoàn toàn được thoả mãn thì đương nhiên, yêu cầu của tất cả các điểm tiêu thụ nước khác trong mạng lưới cũng

sẽ được thoả mãn

Giá trị Hct của mạng lưới cấp nước đã tính toán, sẽ là cơ sở để người thiết kế xác định chiều cao thuỷ lực của bể chứa nước trên mái và từ đó, quyết định sơ đồ cấp nước tổng thể cho toàn công trình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trần Hiếu Nhuệ, Trần Đức Hạ, Đỗ Hải, Ứng Quốc Dũng và Nguyễn Văn Tín, 2002 Cấp thoát nước, NXB Khoa học Kỹ thuật

[2] TS Hoàng Huệ, 1993 Giáo trình Cấp thoát nước, NXB Xây dựng

[3] Trần Thị Mai, Trần Thị Sen và Nguyễn Đình Hải, 2004 Giáo trình Cấp thoát nước trong nhà, NXB Xây dựng [4] Nguyễn Văn Tín, Nguyễn Thị Hồng và Đỗ Hải, 2001 Cấp nước tập 1: Mạng lưới cấp nước, NXB Khoa học Kỹ

thuật

[5] Hoàng Đình Thu, 2005 Giáo trình Cấp thoát nước đô thị, NXB Hà Nội

[6] Viện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân Bộ Xây dựng, 1980 Giáo trình Cấp thoát nước trong nhà, NXB

Xây dựng

Trang 37

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG

TRONG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

KS Lê Đức Gia

Khoa Đào tạo Nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Xây dựng là một trong những ngành tiêu

thụ năng lượng rất lớn, ở hầu hết các giai đoạn

trong chu trình sống của công trình Bởi vậy,

trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, vấn

đề tiết kiệm năng lượng trong xây dựng cần

được tính đến ở mọi giai đoạn xây dựng

Từ khóa

Giải pháp, tiết kiệm năng lượng

Trong điều kiện hiện nay, khi biến đổi khí hậu xảy ra mạnh mẽ thì vấn đề tiết kiệm năng lượng không phải là chuyện của riêng ngành Xây dựng Đó là công việc chung của mọi ngành, nếu không chung tay góp sức thì kết quả rất hạn chế Tuy nhiên, theo số liệu của các nước tiên tiến, chỉ riêng tổng năng lượng tiêu thụ cho các công trình xây dựng đã chiếm đến 40% - 70% tổng năng lượng cung cấp cho

đô thị Từ thiết kế, thi công, khai thác sử dụng công trình đến sản xuất vật liệu xây dựng đều phải tiêu thụ năng lượng

Thông thường, tuổi thọ các công trình xây dựng rất lớn, trên 50 năm, do đó các công trình áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng về lâu về dài sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí… Theo tham khảo các công trình từ nhiều nước trên thế giới, để xây dựng những tòa nhà, công trình tiết kiệm năng lượng, chi phí xây dựng có thể tăng

từ 10% - 30% nhưng có thể mang đến mức tiết kiệm khoảng trên 20% chi phí năng lượng so với các công trình không áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng

09:2013/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình xây dựng

sử dụng năng lượng hiệu quả

QCVN 09:2013/BXD về “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả” do Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam soạn thảo, Vụ Khoa học Công nghệ

và Môi trường trình duyệt, Bộ Xây dựng ban hành theo Thông tư số15/2013/TT-BXD ngày 26 tháng 9 năm 2013 Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 09:2013/BXD thay thế Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam QCXDVN 09:2005 “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng

có hiệu quả” được ban hành theo Quyết

Trang 38

định số 40/2005/QĐ-BXD ngày

17/11/2005 của Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ

Xây dựng

Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN

09:2013/BXD được sự tham gia nghiên

cứu và góp ý của các chuyên gia quốc tế

do các tổ chức quốc tế tài trợ, bao gồm:

Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC –

International Finance Corporation), Cơ

quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID –

United States Agency for International

Development), Cục Năng lượng Đan Mạch

(Vương Quốc Đan Mạch)

Hòa nhập với xu hướng phát triển

thế giới, một số doanh nghiệp tại Việt

Nam đã đầu tư xây dựng các tòa nhà

thông minh, tiết kiệm năng lượng và thân

thiện với môi trường Khách sạn La Thành

- Hà Nội, Majestic, Continental, tòa nhà

Green Power, siêu thị Big C, Tòa văn

phòng FPT Đà Nẵng, Chung cư Nam Long

TPHCM,… là một vài ví dụ điển hình trong

những “tòa nhà xanh” tiêu biểu về việc

ứng dụng các giải pháp tiết kiệm năng

lượng hiệu quả

Các giải pháp tiết kiệm năng lượng

đơn giản được áp dụng như: tất cả hệ

thống điện, nước, điều hòa nhiệt độ, kiểm

soát an ninh, mạng,… của tòa nhà được

lập trình theo một hệ thống điều khiển tập

trung để vận hành tự động; hệ thống cảm

ứng tự điều chỉnh nhiệt độ của máy lạnh

trong phòng phù hợp với nhiệt độ ngoài

trời, tự động ngắt điện khi không có người

trong phòng, sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời, hay tận dụng ánh sáng mặt trời, thông gió tự nhiên,… và thực tế cho thấy, những giải pháp này đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm 15%–40% điện năng tiêu thụ mỗi năm

Năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 102 về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, trong đó có đề cập đến vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả trong các công trình xây dựng

Một tòa nhà TKNL dựa trên 3 yếu tố: thiết kế, công nghệ và quản trị năng lượng Tuy nhiên, tại Việt Nam, hầu như các công trình không đạt hiệu quả tòa nhà năng lượng vì 3 yếu tố này vẫn còn hạn chế

Hiện nay tại Việt Nam chưa thật sự

có được lực lượng tư vấn thiết kế như kiến trúc sư, thiết kế cơ điện, thiết kế hệ thống quản lý năng lượng,… đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiết kiệm năng lượng Lực lượng

tư vấn thiết kế của Việt Nam chưa có nhiều điều kiện để tiếp xúc với các chương trình đào tạo bổ sung, cập nhật kỹ năng thiết kế các công trình xanh, tiết kiệm năng lượng nên hiện nay, nhiều công trình, các chủ đầu tư thường phải thuê tư vấn thiết kế từ nước ngoài

* Giải pháp:

Dưới đây là một số giải pháp tiết kiệm năng lượng trong công tác thiết kế các công trình xây dựng

Không gian bê tông hóa xung quanh công trình xây dựng

1 Khai thác các điều kiện tự nhiên

Ngay từ bước đầu thiết kế, chọn số

liệu đầu vào (về bức xạ mặt trời, nhiệt độ

không khí, độ ẩm tương đối, gió…) để tận dụng khí hậu thiên nhiên và cảnh quan tự nhiên

Trang 39

2 Lựa chọn kiểu dáng, hình khối công

trình

Trong khâu thiết kế, việc chọn kiểu

dáng, hình khối nhà cao tầng không chỉ

thuần túy về phương diện thẩm mỹ kiến

trúc mà còn có tác dụng tiết kiệm năng

lượng trong quá trình xây dựng và vận

hành, sử dụng

Thứ tự ưu tiên, lựa chọn hình khối

nhà cao tầng để tiết kiệm năng lượng là

khối trụ tròn, khối đa diện đều, khối trụ

vuông, khối trụ chữ nhật rồi mới đến các

khối có hình thù lồi lõm phức tạp khác

3 Chiếu sáng tự nhiên

Thiết kế hệ thống cửa sổ nhằm tận

dụng ánh sáng tự nhiên để chiếu sáng cho

phòng cũng là một biện pháp hữu hiệu để

tiết kiệm năng lượng trong xây dựng Nên

chọn loại cửa sổ cao và hẹp thì sẽ tốt hơn

loại cửa thấp mà rộng (so với cùng một

diện tích của cửa) Cửa dễ dàng đóng mở

nhưng cũng đảm bảo yêu cầu che nắng

4 Sử dụng kính

Bề mặt kính trong các công trình

xây dựng không chỉ thụ động tiết kiệm

năng lượng tức là chỉ ngăn nhiệt từ ngoài

vào trong mà giảm thiểu truyền tải nhiệt

ra ngoài, kính còn có khả năng chủ động

thu năng lượng chuyển hóa thành dạng

năng lượng phục vụ sinh hoạt của tòa

nhà Sử dụng kính tiết kiệm năng lượng

phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở

Việt Nam

5 Sử dụng vật liệu xây dựng phù hợp,

thân thiện môi trường

Vật liệu xây dựng thân thiện với môi

trường có rất nhiều ưu điểm như giảm

trọng tải móng, cách âm cách nhiệt tốt,

tiết kiệm năng lượng

Gạch đất nung tác động lớn đến môi

trường, gây ô nhiễm nhiệt Vì vậy nên giảm

sử dụng gạch đất sét nung, chuyển sang

dùng gạch không nung với tỷ lệ 50 - 70%

Sử dụng các vật liệu tác dụng chống

thấm và chống nhiệt thích hợp góp phần

tiết kiệm năng lượng cho công trình

6 Sử dụng cây xanh

Không gian xung quanh công trình

được xanh hóa sẽ tạo môi trường không

khí thấp hơn, sạch hơn, mát hơn, ít phải

sử dụng điều hòa không khí và tiết kiệm điện năng một cách rõ rệt

7 Thiết kế hệ thống chiếu sáng

Sử dụng các thiết bị chiếu sáng tiết kiệm năng lượng hơn như: đèn LED, compact,…

Sử dụng hệ thống điều khiển thông minh giúp giảm hoặc cắt hẳn lượng chiếu sáng khi không cần thiết bằng các sensor, điều khiển tự động độ sáng của đèn theo ánh sáng ngoài trời hoặc tự tắt đèn khi không có người sử dụng

8 Thiết kế cấp nước

Sử dụng các thiết bị vệ sinh thế hệ mới có thể tiết kiệm được 20% lượng nước

sử dụng

Tận dụng nước mưa và nước thải như nước thải từ vòi sen, vòi rửa tay, máy giặt được xử lý và tái sử dụng cũng góp phần tiết kiệm năng lượng

Sử dụng bình nước nóng bằng năng lượng mặt trời kết hợp thêm hệ thống đun nóng dùng điện (hoạt động khi trời không nắng)

9 Hệ thống điều hòa không khí

Sử dụng thiết bị điều hòa không khí theo công nghệ biến tần inverter kết hợp với điều hòa không khí bằng năng lượng mặt trời

Xem xét sử dụng hệ thống điều hòa trung tâm với hệ thống cảm ứng tự điều chỉnh nhiệt độ trong phòng phù hợp với nhiệt độ ngoài trời

Ngày 28 tháng 10 năm 2016, tại Trường đại học Xây dựng Miền Trung, Vụ khoa học Công nghệ và Môi trường - Bộ Xây dựng kết hợp với Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tổ chức hội thảo Tập huấn Quy chuẩn 09:2013/BXD về các công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả - nội dung và kinh nghiệm thực tiễn áp dụng

Chủ trì buổi Hội thảo có PGS.TS Vũ Ngọc Anh Hiệu Trưởng Nhà trường, Bà Phạm Ngọc Linh Chuyên gia Tư vấn, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) giới thiệu chứng chỉ công trình xanh theo tiêu chuẩn EDGE của IFC-WB, Ông Poul Erik

Trang 40

Kristensen - Chuyên gia tư vấn kỹ thuật

của Tổ chức IFC-WB phân tích “”Tính toán

chi phí, lợi ích trong việc đầu tư công trình

xanh của quốc tế và thực tế áp dụng tại

Việt Nam” Về dự Hội thảo có Đảng ủy –

BGH, Trưởng các đơn vị, cán bộ giảng viên

và sinh viên quan tâm Đây là hoạt động

Khoa học & Công nghệ thường niên của

Nhà trường có tính lan tỏa trong công tác

hoạt động dạy và hoạt động học trong

Nhà trường, nhất là trường chuyên ngành

đào tạo Kiến trúc sư, Kỹ sư Xây dựng Sau

này họ là những hạt nhân áp dụng tiến bộ

kỹ thuật trong thết kế và thi công các

công trình Xanh đạt Tiêu chuẩn Khu vực

và Quốc tế

Tóm lại: Thực tế trên cho thấy làm

thế nào để hài hòa giữa nhân tạo và tự

nhiên nhằm bảo đảm sức khỏe con

người, giảm chi phí khi đưa công trình

vào sử dụng, giảm hiệu ứng nhà kính

chống biến đổi khí hậu, chính là bài toán

cần giải Công trình xây dựng tiết kiệm

năng lượng ra đời như một lời đáp tất

yếu và thỏa đáng cho bài toán bức bối của đô thị Công trình xanh tiết kiệm năng lượng được hiểu như việc để thiên nhiên tham gia vào hoạt động xây dựng, với mục tiêu làm giảm các xung đột chính giữa môi trường xây dựng nhân tạo với sức khỏe con người và môi trường thiên nhiên Đó là quy trình khép kín từ việc lựa chọn địa điểm xây dựng, đến thi công, thiết kế và vận hành dự

án Địa điểm xây dựng dự án cần gần vùng có sông nước, ao hồ để điều hòa khí hậu; quá trình thi công dự án vật liệu xây dựng bền vững, tường xây bao che dùng vật liệu không nung, vật liệu thân thiện với môi trường, vật liệu tái tạo,… lắp đặt thiết bị điện, nước theo giải pháp tiết kiệm, thiết kế không gian cần phóng khoáng, đảm bảo cung cấp ánh sáng và gió tự nhiên Một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua là sự đầu

tư vào diện tích mảng xanh Mảng xanh thiên nhiên giúp gia tăng tuổi thọ của con người

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam, 2013 QCVN 09:2013/BXD về “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả”

Ngày đăng: 31/10/2020, 16:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN