1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tập san Thông báo Khoa học và Công nghệ: Số 1/2016

111 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 9,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập san Thông báo Khoa học và Công nghệ: Số 1/2016 trình bày các nội dung chính sau: Phân tích một số đặc trưng biến dạng của đất, thực nghiệm xác định ảnh hưởng của độ ẩm đến một số đặc trưng cường độ của bê tông xi măng, phương pháp nghiên cứu tổn thất và lãng phí thời gian làm việc trong xây dựng,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 2

Chịu trách nhiệm xuất bản

Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

24 Nguyễn Du, TP Tuy Hòa, Phú Yên

Trang 3

8 Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tổ chức toạ

đàm “Nâng cao chất lượng đào tạo” năm 2016

63 Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo thông tư 200/2014/TT – BTC

ThS Vương Thị Thùy Dương

9 Sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Trung đạt

giải cao trong cuộc thi Olympic Toán học sinh viên

10 Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tổ chức

thành công Hội nghị khoa học “Những tiến bộ trong

xây dựng và kiến trúc – ACEA 2016

83 Thực trạng về tổ chức dạy và học tiếng Anh tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung – Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

ThS Nguy ễn Thị Kim Cúc

11 Khóa học giao lưu xưởng thiết kế “Nghệ thuật kiến

trúc gạch trong công trình xây dựng” cùng với

chuyên gia TS Derham Groves từ ĐH Melbourne

89 Tác động của toàn cầu hóa trong việc hình thành các giá trị đạo đức đối với sinh viên hiện nay

ThS Nguyễn Tấn Dũng

12 Tiếp đón Thứ trưởng Bộ GD&TT CHDCND Lào

Kongsy Sengmany và đoàn đại biểu đến thăm và

làm việc tại Trường ĐHXD Miền Trung

94 Thực trạng tổ chức và tham gia hoạt động ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

ThS Nguyễn Nguyên Khang

13 Trường ĐHXD Miền Trung tổng kết khóa học dự bị

Tiếng Việt cho LHS Lào

100 Vai trò của thư viện đại học trong giai đoạn đào tạo theo tín chỉ

CN Hoàng Thị Kim Vân

13 Cuộc thi Nữ sinh viên duyên dáng Miss MUCE 2016 TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 104 Khai mạc Ngày Hội đọc sách với chủ đề “Sách và văn

HỌC BỔNG DU HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

23 Thực nghiệm xác định ảnh hưởng của độ ẩm đến

một số đặc trưng cường độ của bê tông xi măng

Nguyễn Quốc Huy 104 Thông báo Chương trình tài trợ NCCB trong khoa học

tự nhiên và kỹ thuật năm 2016 (đợt 1)

28 Neo trong đất (ground anchor): cấu tạo, phân loại,

nguyên lý hoạt động và cơ sở lý thuyết tính toán neo

ThS Lê Trường Sinh

105 Thông báo nhận hồ sơ chương trình hợp tác Vương quốc Anh – Indonesia – Thái Lan – Việt Nam (RCUK- DIPI-TRF-NAFOSTED) năm 2016

41 Phương pháp nghiên cứu tổn thất và lãng phí thời

gian làm việc trong Xây dựng

52 Chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Yên: Nhìn

từ mô hình tăng trưởng Solow

ThS.NCS Võ Xuân Hội

107 Học bổng bậc Tiến sĩ của IMT School for Advanced Studies Lucca, Ý, 2016 -2017

Trang 4

STUDENT’S SCIENTIFIC RESEARCHS

STUDENT’S EXCELLENT PROJECTS

News and Events (short news)

Trang 5

của đất nước năm 2016, chuẩn bị kỷ niệm

41 năm ngày giải phóng miền nam thống

nhất đất nước, năm đầu tiên thực hiện

nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ XII Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD)

Miền Trung long trọng tổ chức kỷ niệm 40

năm thành lập Trường Thay mặt toàn thể

cán bộ, viên chức, sinh viên nhà trường –

cho phép tôi xin được gửi tới quí vị đại

biểu, khách quý, các cựu cán bộ viên

chức, cựu học sinh – sinh viên lời thăm

hỏi và lời chào mừng tốt đẹp nhất

Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền

Nam 30 tháng 4 năm 1975, đất nước

hoàn toàn thống nhất, non sông Việt Nam

đã liền một dải, đất nước bắt đầu vào một

kỷ nguyên mới của hòa bình và phát triển;

Bộ Xây dựng chủ trương thành lập các

trường Trung học Xây dựng ở phía Nam để

đào tạo cán bộ trung học kỹ thuật xây

dựng và kinh tế nhằm cung cấp nguồn

nhân lực lao động có kỹ thuật cho các tỉnh

phía Nam đẻ tái thiết sau chiến tranh, và

lần lượt từ đây bốn trường trung học xây

dựng ở khu vực phía Nam đã ra đời đó là

Trường Trung học Xây dựng (THXD) số 5

ở thị xã Hội An, thành phố Đà Nẵng, tỉnh

Quảng Nam; Trường THXD số 6 ở thị xã

Tuy Hòa, tỉnh Phú Khánh; Trường THXD

số 7 ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí

Minh; Trường THXD số 8 ở thị xã Vị

Thanh, tỉnh Hậu Giang

Trường THXD số 6 được thành lập

theo quyết định số 85/QĐ-TCCB ngày 14

tháng 2 năm 1976 của Bộ Xây dựng Ngày

đầu mới thành lập, Trường được UBND

tỉnh Phú Khánh khi đó cấp cho khu đất

rộng trên 8 ha ở thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay Khu đất ven biển toàn cát trắng, trên đó có một số công trình xây dựng tạm phục vụ cho căn cứ của lực lượng quân sự chế độ cũ đã bị bỏ hoang

Cơ sở vật chất ban đầu có 02 căn nhà cũ ở

số 47 đường Độc Lập được sửa chữa thành nhà làm việc, 6 căn nhà không mái không cửa được sửa chữa làm nhà ở cho cán bộ,

3 căn nhà lợp fibroximang được cải tạo làm lớp học, một số nhà lợp tôn cũ được dùng làm kho và nhà ở sinh viên Điều kiện sinh hoạt khi đó vô cùng khó khăn; điện một tuần chỉ được cung cấp có 3 tối, nước phải tự đào giếng để có nước sinh hoạt hàng ngày, ăn thường xuyên phải độn khoai mì và ngô Những năm 1979-

1980 thầy và trò Nhà trường còn phải khai hoang tận xã Hòa Hội, nông trường Sơn Thành để trồng mỳ để cải thiện khẩu phần

ăn, nhưng không khí dạy và học vẫn vô cùng phấn khởi

Ban đầu đội ngũ cán bộ, giáo viên khi đó chỉ khoảng 30 người, chủ yếu là cán bộ miền Nam đi tập kết về và từ miền Bắc điều động vào Sau một thời gian xây dựng cơ sở vật chất, ổn định bộ máy tổ chức, đến cuối năm 1976, Nhà trường đã bắt đầu chiêu sinh và đào tạo thành công khóa đào tạo sơ cấp gồm các lớp Họa viên, Kỹ thuật Xây dựng, Kế hoạch, Vật

tư, Lao động tiền lương; kịp thời đáp ứng nhu cầu cán bộ cho các địa phương Cũng trong năm học đầu tiên 1976 - 1977, vào tháng 2 năm 1977 Nhà trường đã bắt đầu tuyển sinh đào tạo các lớp Trung cấp Kiến trúc, Kỹ thuật Xây dựng Từ đó liên tục suốt 25 năm (1976 - 2001) từ ngôi trường Trung học Xây dựng số 6, tại địa chỉ 24

Trang 6

2

đường Nguyễn Du, đã đào tạo biết bao

thế hệ cán bộ trong lĩnh vực Kiến trúc,

Xây dựng, Kinh tế Xây dựng, Cấp thoát

nước, Vật liệu Xây dựng, Lao động tiền

lương, Kế toán xây lắp để đáp ứng nguồn

nhân lực cho các tỉnh Trung Bộ, Tây

Nguyên cũng như cả nước Họ đã từng có

mặt trên khắp các công trường xây dựng

lớn thời ký đó như thủy điện Yaly, thủy

điện sông Hinh, v.v… Trong khoảng thời

gian 25 năm đó, Trường THXD số 6 đã

đào tạo hơn 6 ngàn cán bộ Trung cấp Xây

dựng, liên kết với Đại học Kiến trúc Hà Nội

và Đại học Xây dựng đã đào tạo hơn 03

ngàn Kiến trúc sư, Kỹ sư xây dựng Dân

dụng và Kỹ sư Cầu đường Không những

vậy, Nhà trường còn nhanh chóng xây

dựng được cơ sở vật chất, nhà xưởng,

phòng thí nghiệm, phòng máy tính, đa

dạng hóa ngành nghề đào tạo đặc biệt

xây dựng được đội ngũ cán bộ vững mạnh

về chuyên môn, yêu nghề Đây là nền

tảng để Nhà trường phát triển một cách

vững chắc, làm cơ sở cho sự phát triển

nâng cấp trường lên Cao đẳng, Đại học

trong thời gian sau này

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX

của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày

19 đến ngày 24 tháng 4 năm 2001 đã

thông qua các văn kiện quan trọng, trong

đó có Chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội 2001 - 2010 với mục tiêu tổng quát

là: “…Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém

phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật

chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân,

tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ

bản trở thành một nước công nghiệp theo

hướng hiện đại Nguồn lực con người,

năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu

hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an

ninh được tăng cường ” Điều này đòi hỏi

giáo dục, đào tạo phải đổi mới để đáp ứng

với yêu cầu phát triển của đất nước Căn

cứ vào tình hình mới, nhiệm vụ mới Tập

thể lãnh đạo và cán bộ viên chức của

Trường THXD số 6 đã chú trọng đến công

tác xây dựng, phát triển đội ngũ giảng

viên cả về số lượng và chất lượng, nhất là

giảng viên có trình độ sau đại học Đổi

mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học để người học có kiến thức thực tế, khi ra trường nhanh chóng bắt kịp với thực tế sản xuất Đồng thời các nguồn thu từ đào tạo và lao động sản xuất, Nhà trường đã đầu tư để xây dựng mở rộng cơ

sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo của Nhà trường Chính nhờ hướng đi đúng đắn đó, với sự

nỗ lực vượt bậc của tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên mà Nhà trường đã trưởng thành, đánh dấu một mốc phát triển mới

Ngày 23 tháng 5 năm 2001 Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định

số 3069/QĐ-BGD&ĐT-TCCB về việc thành lập Trường Cao đẳng Xây dựng

số 3 trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Xây dựng số 6 Đây được đánh dấu là chặng đường phát triển thứ hai của Nhà trường, chuyển từ đào

tạo Trung học chuyên nghiệp sang đào tạo Cao đẳng Khi đó đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường (thời điểm đầu năm 2001)

là 97 người, giáo viên có 77 người Trong

đó có 13 Thạc sỹ, 7 Kiến trúc sư, 31 Kỹ sư Xây dựng, 28 cử nhân các ngành Ngay sau khi ở vị thế của một trường Cao đẳng, Nhà trường đã xác định chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường bằng “Đề

án phát triển Trường Cao đẳng Xây dựng

số 3 giai đoạn 2001-2010” Lãnh đạo Nhà trường đã đề ra 05 giải pháp quan trọng trong chặng đường đầu tiên của trường Cao đẳng đó là:

- Tích cực đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên;

- Phát huy cơ sở vật chất đã được Bộ Xây dựng đầu tư mới như nhà lớp học, xưởng thực hành, các phòng thí nghiệm chuyên ngành, đồng thời tiếp tục đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị dạy học;

- Mở rộng quy mô và ngành nghề đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng;

- Phát triển nguồn lực tài chính để cải thiện đời sống cán bộ, giáo viên và để đầu

tư cơ sở vật chất

- Tập trung chỉ đạo đào tạo khóa Cao đẳng đầu tiên đảm bảo chất lượng cao nhất, bắt đầu từ khâu tuyển sinh, xây

Trang 7

3

dựng chương trình đào tạo, đổi mới

phương pháp đào tạo, gắn kết giữa học lý

thuyết và thực hành

Thực tế đã cho thấy kết quả đào tạo

của các lớp Cao đẳng Xây dựng, Cao đẳng

Kế toán niên khóa 2001 - 2003 đã đáp

ứng tốt yêu cầu của xã hội Ban đầu Nhà

trường chỉ đào tạo hai mã ngành Cao

đẳng với gần 100 sinh viên (SV), đến năm

2010 số ngành đã nâng thành 8 với quy

mô tuyển sinh gần 1000 SV chính quy

hàng năm Bên cạnh đó Nhà trường tiếp

tục liên kết đào tạo với ĐH Kiến trúc Hà

Nội, ĐH Kiến trúc TP Hồ Chí Minh, Đại

học Xây dựng Hà Nội, ĐH Nha Trang để

cung cấp nguồn nhân lực trình độ Đại học

cho Miền Trung và Tây Nguyên; đồng thời

qua đó Nhà trường cũng học tập kinh

nghiệm tổ chức đào tạo và giảng dạy bậc

đại, tranh thủ bồi dưỡng cán bộ để chuẩn

bị tiềm lực cán bộ đáp ứng như cầu phát

triển trong tương lai Chỉ tính trong 10

năm đào tạo bậc Cao đẳng (2001 – 2011)

Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 đã đào

tạo gần 7000 cử nhân cao đẳng các ngành

như: Công nghệ kỹ thuật xây dựng công

trình, Công nghệ kỹ thuật giao thông,

Công nghệ kỹ thuật tài nguyên nước, Vật

liệu xây dựng, Kế toán xây lắp, Quản lý

xây dựng Về đội ngũ cán bộ của trường

cũng có những bước đột phá về chất

lượng và số lượng Trong tổng số 187 cán

bộ viên chức, có 145 người là giảng viên,

trong đó có 04 tiến sĩ, 37 thạc sĩ, số còn

lại đều tốt nghiệp đại học từ các trường

ĐH có uy tín trên toàn quốc

Từ năm 2009, căn cứ vào khả năng

thực tế của Nhà trường và nhu cầu đào

tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, có

tư duy khoa học và kỹ năng nghề cao,

đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp

hóa – hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là

khu vực Miền Trung và Tây nguyên,

Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 đã được

Bộ Xây dựng đưa vào quy hoạch nâng cấp

thành trường Đại học giai đoạn 2010 -

2015 Thực hiện chỉ đạo của Bộ Xây dựng,

Nhà trường đã tiến hành xây dựng Đề án

nâng cấp trường lên Đại học Trong quá

trình xây dựng đề án, Nhà trường đã được

Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tỉnh ủy Phú Yên, UBND tỉnh Phú Yên, các tỉnh khu vực Miền Trung, Tây Nguyên và các bộ, ban, ngành của Trung ương và địa phương đặc biệt quan tâm tạo mọi điều kiện về thủ tục, về đât đai, về đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và đội ngũ; các trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh, Đại học Xây dựng, Đại học Giao thông, Đại học Thủy lợi, Đại học Nha Trang đã nhiệt tình giúp

đỡ, hỗ trợ đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sỹ tham gia giảng dạy cho trường Chính vì vậy, năm 2011 sau một thời gian chuẩn bị, được sự chỉ đạo của Bộ Xây dựng và sự ủng hộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 28 tháng 7 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số

1276/QĐ-TTg về việc thành lập Trường đại học Xây dựng Miền Trung trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Xây dựng số 3 với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành xây dựng và các ngành khác phục vụ cho

sự phát triển kinh tế xã hội các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên và cả nước Đây bắt đầu là chặng đường phát triển thứ 3 của Nhà trường

Đến nay tuy mới 5 năm đào tạo trình độ Đại học nhưng Nhà trường đã thể hiện sự quyết tâm, chủ động trong việc hội nhập với các trường ĐH trong nước và quốc tế Năm 2012, Nhà trường mới chỉ có

02 mã ngành Đại học với số lượng tuyển sinh 400 SV/năm Nhưng đến năm 2015 Nhà trường đã có 6 mã ngành Đại học với

số lượng gần 1000 sinh viên/năm Bên cạnh đó, được sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà trường vẫn tuyển sinh cho 11 mã ngành Cao đẳng Về mô hình đào tạo, Nhà trường áp dụng mô hình đào tại tín chỉ như đa phần các trường Đại học, Cao đẳng trên toàn quốc

Về loại hình đào tạo, Nhà trường có cả hai loại hình đó là chính quy và phi chính quy

Về bậc đào tạo có đào tạo đại học, đào tạo cao đẳng và Nhà trường cũng bắt đầu tham gia liên kết đào tạo sau đại học Về

Trang 8

4

cơ sở vật chất hiện nay tại thành phố Tuy

Hòa, tỉnh Phú Yên, Nhà trường có 18 ha

đất, hơn 80 phòng học đáp ứng cho quy

mô từ 5000 đến 7000 SV, có 3 phòng

thực hành máy tính, 2 phòng Lab học

ngoai ngữ, 6 phòng thí nghiệm chuyên

ngành, 3000m2 nhà xưởng thực hành và

nhiều công cụ hỗ trợ giảng dạy hiện đại

khác Về đội ngũ cán bộ cơ hữu có 246

người, có 200 cán bộ giảng dạy, trong đó

có 2 PGS, 19 TS, 15 NCS, 92 thạc sỹ và

42 người đang theo học thạc sỹ Về chất

lượng đào tạo, riêng đối với bậc Cao đẳng

đã được khẳng định trong 15 năm qua,

với 95% sinh viên ra trường có việc làm,

đối với bậc đào tạo Đại học đến năm 2017

các em mới ra trường nhưng với tỷ lệ học

khá giỏi hiện nay là 39%, trung bình là

42% nên Nhà trường tin tưởng rằng xã

hội sẽ tiếp tục đón nhận và đánh giá cao

chất lượng đào tạo của Trường ĐHXD Miền

Trung như các thế hệ trước đây mà Nhà

trường đã đào tạo Về học công nghệ và

hợp tác quốc tế, 5 năm qua trường đã

triển khai 8 đề tài và dự án kinh tế sự

nghiệp cấp bộ, gần 200 đề tài cấp trường

tập chung cho biên soạn giái trình tài liệu

phục vụ giảng dạy đại học, trên 100 đề tài

khoa học sinh viên Mặc dù về địa lý

không thuận lợi như các trường ở các

thành phố lớn, nhưng 2 kỳ hội thảo quốc

gia và quốc tế do Nhà trường phối hợp tổ

chức đã thu hút trên 300 học giả, các nhà

khoa học trong nước và quốc tế về dự đã

nói lên sự cố gắng hội nhập của Trường

ĐHXD Miền Trung vào dòng chảy giáo dục

nước nhà và khu vực Năm 2015, Nhà

trường cũng đã cấp 10 suất học bổng hỗ

trợ cho SV Lào sang học

Để xứng đáng là trường Đại học kỹ

thuật, đa ngành định hướng ứng dụng, là

trung tâm đào tạo đội ngũ cán bộ khoa

học kỹ thuật ngành Xây dựng có trình độ

Cao đẳng, Đại học và Sau Đại học, là cơ

sở bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học

và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực

xây dựng có uy tín, phục vụ đắc lực cho

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước và có vai trò đặc biệt quan trọng

trong việc phát triển kinh tế xã hội ở khu

vực Miền Trung và Tây Nguyên như Chiến

lực phát triển Trường đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 thì trong giai đoạn tới Nhà

trường tập trung mọi nguồn lực để thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là: Xây dựng đội ngũ cán bộ

giảng dạy: Đến năm 2020 Trường ĐH Xây dựng Miền Trung phấn đấu có 15% cán bộ giảng dạy đạt trình độ Tiến sĩ như theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhà trường tạo điều kiện để ưu tiên cử cán bộ

đi đào tạo ở nước ngoài bằng các chương trình học bổng theo đề án 911, học bổng dạng hiệp định với các nước học bổng từ các nguồn hỗ trợ khác Chú ý đào tạo và bỗi dưỡng cán bộ khoa học cho các ngành như: Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Kiến trúc công trình và Quy hoạch, Xây dựng cầu đường, Xây dựng công trình thuỷ, Kỹ thuật môi trường, Kỹ thuật tài nguyên nước, Kinh tế xây dựng, Quản lý

đô thị, Vật liệu xây dựng, Công nghệ thông tin, Năng lượng Đây là các ngành

mà Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Xây dựng Bên cạnh đó Nhà trường sẽ chú trọng để khai thác thế mạnh của một trường ĐH nằm ở ven biển do đó phải đào tạo cán bộ kỹ thuật nhằm phục vụ cho khai thác tài nguyên biển và phát triển kinh tế biển, đây cũng là một trong những trọng tâm trong chiến lược phát triển Nhà trường

Hai là: Nâng cao chất lượng đào tạo

bằng các giải pháp cụ thể và đồng bộ như: Nâng cao chất lượng thi tuyển và xét tuyển; hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu học tập, thư viện (thư viện truyền thống và thư viện điện tử); cập nhật các tiến bộ khoa học cho nội dung các bài giảng; đổi mới phương pháp truyền đạt kiến thức – từ diễn thuyết sang đối thoại; tăng giờ thực hành, thực tế; tăng giờ tự học có trợ giảng cho sinh viên; đổi mới công tác thi học phần để đánh giá đúng khả năng của người học và đảm bảo công bằng trong thi và kiểm tra; tăng cường công tác đánh giá chất lượng đào tạo

Trang 9

5

(đánh giá trong và đánh giá ngoài) theo

các tiêu chí quốc gia và quốc tế và đặc

biệt thông qua ý kiến của các nhà tuyển

dụng

Ba là: Để đáp ứng nhu cầu của

người học và cung cấp cho xã hội nguồn

nhân lực đa dạng và các dịch vụ khoa học

kỹ thuật, Nhà trường sẽ tiếp tục mở mã

ngành đào tạo mới và các viện nghiên

cứu: Hiện nay trường đã có 8 mã ngành

Đại học và 11 mã ngành Cao đẳng dự kiến

sẽ nâng tổng số mã ngành đào tạo Đại

học là 15 ngành, Cao đẳng là 15 trong giai

đoạn 2020-2025; đào tạo trình độ sau đại

học 10 mã ngành, thành lập một số viện

nghiên cứu chuyên ngành như: Viện

Nghiên cứu Hóa và Môi Trường Miền

Trung; Viện Quy hoạch và Kiến trúc Miền

Trung; Viện Kinh tế và Quản lý xây dựng

Miền Trung; Viện nghiên cứu và chuyển

giao công nghệ Xây dựng Miền Trung…

Các viện nghiên cứu sẽ có vai trò đặc biệt

trong nghiên cứu các vấn đề đặc thù của

khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên ảnh

hưởng đến kiến trúc, xây dựng, môi

trường; đồng thời các viện là các đơn vị

làm các dịch vụ tư vấn và chuyển giao

công nghệ, tăng nguồn tài chính cho Nhà

trường để đảm bảo cơ chế tự chủ

Bốn là: Để tăng cường hiệu quả

công tác lãnh đạo và phát huy dân chủ

trong Nhà trường, thời gian tới Nhà trường

sẽ hoàn thiện hệ thống quản trị theo mô

hình quản trị đại học của các nước tiên

tiến Theo lộ trình, Nhà trường sẽ thực

hiện việc thành lập Hội đồng trường theo

quyết định số 70/2014/QĐ-TTg về việc

ban hành Điều lệ trường đại học Hội đồng

Trường có quyền hạn đặt ra các mục tiêu,

chiến lược và vai trò giám sát hoạt động

của Nhà trường và của Hiệu trưởng Hiệu

trưởng có trách nhiệm thực hiện chiến

lược, mục tiêu cụ thể và có trách nhiệm

giải trình trước Hội đồng Trường Bên

cạnh đó các bộ máy tham mưu giúp việc

sẽ được cơ cấu gọn nhẹ, tin học hoá quản

lý để tăng cường hiệu quả công tác và

tính minh bạch trong việc thực hiện nhiệm

vụ, thực hiện quy trình quản lý theo ISO,

tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các Khoa, Viện, Trung Tâm và các Bộ môn Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện cán bộ giỏi để động viên khích lệ, nhận diện cán bộ yếu kém để kèm cặp, bồi dưỡng hoặc chấm dứt hợp đồng nếu không hoàn thành nhiệm vụ

Năm là: Mở rộng hợp tác nghiên

cứu khoa học và quan hệ quốc tế: Nghiên cứu khoa học (NCKH) là công việc có tầm quan trọng đặc biệt trong giảng dạy đại học NCKH không những để giải quyết vấn

đề đang đòi hỏi của thực tế sản xuất, giảng dạy mà bản thân NCKH đã rèn tính cẩn thận, tính khoa học, tính trung thực cho giảng viên và sinh viên Hướng tới năm 2020, ĐH Xây dựng Miền Trung đăng

ký từ 3 đến 5 đề tài cấp nhà nước, từ 10 đến 15 đề tài cấp Bộ tập trung ở các lĩnh vực thế mạnh như: Kiến trúc bản địa Trung Bộ và Tây Nguyên; Xây dựng công trình đáp ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu; Vật liệu cho công trình ven biển; Xử

lý môi trường…

Để nghiên cứu khoa học của Trường tiếp cận với trình độ khu vực và quốc tế thì hợp tác quốc tế trong NCKH là sự lựa chọn tối ưu Mục tiêu của Trường trong những năm tới là tăng cường hợp các với các trường có cùng khối ngành đào tạo trong khu vực ASEAN và các nước có tiềm lực khoa học công nghệ mạnh như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Pháp, Úc để có những sản phẩm khoa học nghiên cứu mang tính đột phá, giúp Nhà trường có đủ

uy tín để đảm nhận các nhiệm vụ mà Bộ

và Ngành giao Từ năm 2016, Nhà trường đưa vào hoạt động Quỹ thúc đẩy hợp tác quốc tế trong NCKH trị giá mỗi năm 1 tỷ đồng, Quỹ sẽ mời các nhà khoa học quốc

tế đến trường để tham gia nghiên cứu cùng các giảng viên trong trường với mục đích để có sản phẩm NCKH đủ điều kiện công bố trên các tạp chí uy tín quốc tế Ngoài ra các hội thảo khoa học quốc gia

và quốc tế sẽ được tổ chức định kỳ 2 năm/1 lần để tạo diễn đàn trao đổi thông tin và công bố các kết quả nghiên cứu mới

Trang 10

6

trong các lĩnh vực Kiến trúc, Xây dựng,

Môi trường

Năm nhiệm vụ trọng tâm kể trên sẽ

được triển khai mạnh mẽ và đồng bộ

Nhất định trong thời gian tới, Trường

ĐHXD Miền Trung sẽ là điểm sáng trong

giáo dục đại học và là địa chỉ tin cậy đào

tạo nguồn nhân lực cho ngành Xây dựng,

là cơ sở cho các hoạt động khoa học và

chuyển giao công nghệ trong khu vực

Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Lịch sử của Trường Đại học Xây

dựng Miền Trung là sự hình thành, phát

triển nối tiếp của Trường Trung học Xây

dựng số 6 (1976 - 2001), sau đó là

Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 (2001 -

2011) và đến nay là Trường Đại học Xây

dựng Miền Trung (2011 - đến nay) Với

quá trình hình thành nói trên, Trường

ĐHXD Miền Trung đã có lịch sử 40 năm

xây dựng và phát triển Trải qua 40 năm

hoạt động, nhiều thế hệ nhà giáo và học

sinh- sinh viên đã cùng nhau viết nên lịch

sử của một ngôi trường giàu truyền thống

với thành tích rất đáng trân trọng và tự

hào trong lịch sử đào tạo của Nhà trường

nói riêng của ngành Giáo dục nói chung

Nhìn lại chặng đường 40 năm đã

qua, mỗi cán bộ, giáo viên, công nhân

viên chức và học sinh, sinh viên của Nhà

trường đều cảm thấy rất hạnh phúc và tự

hào vì đã phấn đấu bền bỉ, cống hiến hết

sức mình cho sự tồn tại và phát triển của

nhà trường, giữ vững uy tín và danh tiếng

của một ngôi trường với 25 năm liên tục,

vững vàng là trường trung cấp chuyên

nghiệp hàng đầu trong khối giáo dục

chuyên nghiệp; 10 năm là trường cao

đẳng mạnh, có uy tín của Bộ Xây dựng và

hôm nay đã và đang bắt đầu một giai

đoạn mới đào tạo ở bậc đại học Là nơi đã

đào tạo và liên kết đào tạo cho đất nước

trên 20.000 cán bộ trình độ đại học, cao

đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có chất

lượng cao và đã trở thành một địa chỉ đào

tạo có uy tín trong khu vực Miền Trung và

Tây Nguyên

Những thành quả trên là công sức

của cả tập thể Đảng uỷ, Lãnh đạo nhà

trường, các tổ chức đoàn thể quần chúng: Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh và của mỗi cán bộ, giáo viên, công nhân viên và HSSV Điều này đã được Đảng, Nhà nước

và các cấp bộ, ngành ghi nhận và tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý Nhà trường đã được tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhì (2011), Huân chương Độc lập hạng Ba (2006), Huân chương Lao động hạng Nhất (2001) Huân chương Lao động hạng Nhì (1995)

và Huân chương Lao động hạng Ba (1990), 01 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (1990), 03 Cờ thi đua của Chính phủ (2006, 2008, 2013) và nhiều

cờ thưởng, bằng khen của các cấp, các ngành Về cá nhân: có 01 cá nhân được tăng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì, 10 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, 119 cán bộ, giáo viên được tặng thưởng các loại Huân, Huy chương khác; 05 thầy, cô giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, 12

cá nhân được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 35 cá nhân đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp ngành

từ sự chỉ đạo về tập trung trí tuệ, tìm tòi, vận dụng sáng tạo những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước vào công tác đào tạo Động viên toàn thể các lực lưượng trong Nhà trường với tinh thần luôn sẵn sàng và vươn tới nhận nhiệm vụ

ở mức cao hơn, hết lòng vì học sinh thân yêu, gắn bó và quyết tâm xây dựng Nhà trường với tất cả tâm huyết của mình Đây chính là yếu tố quyết định giúp cho Nhà trường đào tạo cho đất nước, cho ngành hàng vạn sản phẩm quý, đó là đội ngũ những người thợ giỏi, những cán bộ

kỹ thuật và những nhà quản lý đã và đang công tác, giữ nhiều chức vụ trọng trách ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trên khắp mọi miền của Tổ quốc

thành tích trên đây của Nhà trường, không thể tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo và tạo điều kiện hết sức quý báu của Đảng

Trang 11

7

và Nhà nước, của Bộ Xây dựng, Bộ Giáo

dục & Đào tạo, của tỉnh Phú Khánh trước

đây và tỉnh Phú Yên hiện nay, của các sở

ban ngành, đoàn thể tỉnh Phú Yên và

thành phố Tuy Hòa, của các cơ quan, các

doanh nghiệp, các trường bạn và tất cả

các đơn vị có mối quan hệ giúp đỡ Trường

trong những năm qua

Những thành tích và kinh nghiệm

xây dựng Nhà trường trong 40 năm qua

không chỉ là niềm tự hào của các thế hệ

chúng ta hôm nay, mà còn là nền tảng

vững chắc tạo đà cho các thế hệ mai sau

tiếp tục phát huy

Lãnh đạo và toàn thể cán bộ, giáo

viên, công nhân viên và HSSV Nhà trường

tuy đã cố gắng và đạt nhiều thành tích tốt

đẹp, song cũng còn những khó khăn, trở

ngại cần phải khắc phục, quyết tâm phấn

đấu xây dựng Nhà trường trở thành

trường đại học chuẩn, có uy tín và đẳng

cấp trong khu vực Nhiệm vụ trước mắt là

tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy đáp ứng

với yêu cầu nhiệm vụ mới, triển khai đồng

bộ các giải pháp nâng cao chất lượng đào

tạo ở các bậc học; Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Kiên quyết

“Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục”, “Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo” và “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn”; triển khai Đề án chiến lược phát triển Nhà trường giai đoạn

2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, tiếp tục xây dựng đội ngũ giảng viên ngang tầm nhiệm vụ mới Đây cũng chính

là mục tiêu và phương hướng hành động

mà tất cả cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức và học sinh, sinh viên Nhà trường sẽ quyết tâm thực hiện trong thời gian tới

Phát huy truyền thống đạt được 40 năm qua, xác định rõ định hướng và mục tiêu nhiệm vụ trong thời gian tới, chắc chắn, Trường ĐHXD Miền Trung sẽ tiếp tục phát triển bền vững, đóng góp nhiều hơn nữa trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Trang 12

8

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

tổ chức toạ đàm “Nâng cao chất lượng

đào tạo” năm 2016

Ngày 03/4/2016, Trường Đại học

Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung đã tổ chức

toạ đàm “Nâng cao chất lượng đào tạo”

năm 2016 Tham dự toạ đàm có sự hiện

diện của PGS.TS Vũ Ngọc Anh - Bí thư

Đảng uỷ, Hiệu trưởng Nhà trường, quý

thầy trong Ban giám hiệu, quý thầy/cô

lãnh đạo các đơn vị, toàn thể giảng viên

Nhà trường

Phát biểu chỉ đạo toạ đàm, Hiệu

trưởng Vũ Ngọc Anh đã đánh giá tổng

quát chất lượng dạy và học của Nhà

trường trong thời gian qua, đồng thời nêu

lên những tồn tại, khó khăn trong công

tác quản lý chất lượng đào tạo của Trường

ĐHXD Miền Trung Hiệu trưởng đề nghị

các giảng viên, cán bộ viên chức đề xuất

các ý kiến đóng góp tích cực nhằm nâng

cao chất lượng đào tạo của Nhà trường

trong thời gian tới, đáp ứng được yêu cầu

và nhu cầu nguồn nhân lực có chuyên

môn cao và kỹ năng mềm tốt cho xã hội

hiện nay

PGS.TS Vũ Ngọc Anh - Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng

Nhà trường phát biểu chỉ đạo

Chương trình toạ đàm “Nâng cao

chất lượng đào tạo” đã nhận được nhiều

báo cáo tham luận từ ban giám hiệu, lãnh

đạo các đơn vị và những đóng góp quý

báu của quý thầy/cô - những người trực

tiếp gắn bó với công tác đào tạo nguồn

nhân lực Các ý kiến đóng góp chủ yếu

tập trung vào các nội dung chính như:

thay đổi chương trình và phương pháp

giảng dạy theo đúng hệ thống tín chỉ; cơ

sở vật chất, trang thiết bị dạy học với sự phát triển và đòi hỏi ngày càng cao của quá trình dạy học đại học; chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên; giáo dục đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng mềm cho sinh viên (SV); phân bổ thời gian thực hành, thực tập của SV; các giải pháp thu hút và thúc đẩy sinh viên học tập chủ động, tích cực, tham gia các hoạt động hội, nhóm; các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phù hợp với tình hình kinh tế,

xã hội và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, mở rộng hợp tác quốc tế,…

Trước đó, toạ đàm đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp của SV về nâng cao chất lượng đào tạo Các ý kiến tập trung chủ yếu vào kiến nghị việc trang bị thêm cơ sở vật chất hỗ trợ việc tự học, thực hành thực tế, đi lại giữa 02 cơ sở của Nhà trường, cũng như việc bố trí lại giờ học khoa học và hợp lý hơn Các bạn SV cũng kiến nghị Nhà trường tăng thêm lịch tham quan các công trình thực tế, bổ sung các phương tiện dạy học; nhiều ý kiến khác quan tâm đến việc gia tăng các bài tiểu luận, báo cáo chuyên đề để nâng cao kỹ năng thuyết trình của sinh viên, thay đổi phương pháp giảng dạy mang tính tương tác hơn giữa giảng viên và sinh viên,…

Chung kết cuộc thi “Thiết kế mô hình cầu đường” lần 1 – 2016

Ngày 9/4/2016 vừa qua, được sự cho phép Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Cầu Đường đã tổ chức cuộc thi “Thiết kế mô hình cầu đường” lần 1 năm 2016 nhằm tạo sân chơi cho toàn thể sinh viên yêu thích sáng tạo và mong muốn rèn luyện kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp

Trải qua 3 tháng phát động cuộc thi với 17 đội thi gồm 70 sinh viên tham gia thiết kế các mô hình cầu đường, qua vòng

sơ loại Ban tổ chức đã chọn ra được 7 tác

TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN

Trang 13

9

phẩm xuất sắc nhất vào vòng chung kết

Kết thúc vòng thi chung kết, đội G5 (MS:

MH02) đã xứng đáng giành giải Nhất; giải

Nhì thuộc về đội Kiến lửa (MS: MH06),

giải Ba về đội Ngũ Quỷ (MS: MH01), Giải

Khuyến khích về đội XDMT (MS: MH12),

đội Bình Phú Khánh (MS: MH09), đội Sáng

tạo trẻ (MS: MH05), đội F5 (MH16) và

Giải phụ “Tác phẩm có ý tưởng táo bạo

nhất” cho đội Nghĩ Khác Biệt

Cuộc thi “Thiết kế mô hình cầu

Sinh viên thuyết trình tác phẩm dự thi

Sinh viên Trường Đại học Xây dựng

Miền Trung đạt giải cao trong cuộc thi

Olympic Toán học sinh viên năm 2016

Olympic Toán học sinh viên là một

kỳ thi toán học được tổ chức hàng năm

bởi Hội Toán học Việt Nam Kỳ thi là một

sân chơi trí tuệ bổ ích dành cho các bạn

sinh viên yêu toán khắp cả nước Thông

qua kỳ thi, phong trào học toán của sinh

viên trong các trường đại học, cao đẳng,

học viện được đẩy mạnh, nhiều sinh viên

giỏi toán được phát hiện và bồi dưỡng;

từ đó, chất lượng dạy và học toán ở các

trường được nâng cao, góp phần quan

trọng vào việc nâng cao khả năng tư

duy, tiếp thu các môn chuyên ngành cho

sinh viên

Kỳ thi Olympic Toán học sinh viên

nhận được sự hưởng ứng của rất nhiều

trường đại học, cao đẳng cũng như các học viện trong toàn quốc Tại kỳ thi lần thứ 24 tổ chức tại Quy Nhơn, ngày 11-17/04/2016, hơn 80 trường, với khoảng

700 sinh viên, đã tham dự Trường Đại học Xây Dựng Miền Trung cũng cử đoàn gồm 7 sinh viên tham dự kỳ thi

Với những nỗ lực cao nhất của mình, đoàn đã giành được 2 giải ba môn Đại số, một kết quả đầy khích lệ cho lần tham dự thứ 2 của trường ta

Sinh viên đạt giải: Phan Tấn Hải (lớp D12X4) và

Không khí sôi động trong đêm khai mạc

Trang 14

10

TS Trịnh Hồng Việt – Phó Hiệu trưởng và

giảng viên, sinh viên Kiến trúc

Đoàn Trường Đại học Xây dựng Miền

Trung tham gia với 25 sinh viên (SV) và

05 giảng viên do TS.KTS Trịnh Hồng Việt

- Phó Hiệu trưởng Nhà trường làm trưởng

đoàn Sau 04 ngày tham gia sôi nổi với

các cuộc thi và hoạt động tham quan,

Festival Sinh viên Kiến trúc toàn quốc lần

10 đã bế mạc vào đêm 20/4/2016 Một

Festival thành công và chất lượng

Đây là lần đầu tiên Trường Đại học

Xây dựng Miền Trung tham gia Festival

sau 04 năm đào tạo ngành Kiến trúc Lần

đầu ra biển lớn với nhiều bỡ ngỡ nhưng

với tinh thần quyết tâm, đoàn kết, tinh

thần học hỏi giao lưu cùng nhau tiến bộ,

đoàn Festival của trường đã đạt được kết

quả đáng khích lệ với 07 giải và nằm

trong Top 10/22 toàn đoàn

Đoàn sinh viên tham gia diễu hành xe đạp đôi và

“Kiến vận động”

Tác phẩm thi “Ý tưởng sắp đặt – tái chế” của đội FES

Trường ĐHXD Miền Trung với

chủ đề “Tạo sinh” đạt giải Ba

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tổ chức thành công Hội nghị khoa học

“Những tiến bộ trong xây dựng và kiến trúc – ACEA 2016

Hội nghị khoa học ACEA 2016 diễn ra tại Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung từ ngày 22 đến 23 tháng 4 năm 2016

là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt nhằm chào mừng kỷ niệm 40 năm thành lập Trường ĐHXD Miền Trung và cũng là dịp để các nhà khoa học, các chuyên gia, các nghiên cứu viên… có cơ hội trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu, công bố những kết quả khoa học mới nhất và các thông tin hữu ích đến toàn thể đại biểu dự hội nghị

Trước khi hội nghị diễn ra, Ban tổ chức

đã nhận được gần 85 bài báo gửi đến tham

dự từ 34 trường Đại học, Viện nghiên cứu và Doanh nghiệp trong nước và quốc tế Trong

số đó có 51 bài được chọn đăng Tạp chí Xây dựng Số 3-2016 và cùng với số còn lại đã được đăng trong kỷ yếu hội nghị Tại hội nghị, gần 60 bài báo đã được chọn để báo cáo tại sự kiện Trong đó, có 3 bài báo cáo trước phiên khai mạc và phiên tổng thể và

57 bài báo cáo trong 12 tiểu ban chuyên đề:

Kỹ thuật công trình xây dựng (6 tiểu ban), Kiến trúc - Quy hoạch (3 tiểu ban), Địa Kỹ thuật (2 tiểu ban), Kết cấu – Công nghệ vật liệu mới (2 tiểu ban) Các báo cáo đã được thức hiện và diễn ra liên tục từ 7 giờ 30 đến

17 giờ 10 trong ngày 22 tháng 4 năm 2016 Buổi chiều ngày 23/4/2016, Ban tổ chức hội thảo ACEA 2016 tổ chức cho các đại biểu về tham dự chuyến tham quan các kiến trúc, thắng cảnh đặc trưng tại địa phương: Nhà thờ Mằng Lăng, ghành Đá Dĩa, tháp Nhạn

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn - Thứ trưởng Bộ Xây

dựng phát biểu chỉ đạo

Tham dự tại phiên khai mạc và phiên tổng thể có hơn 150 đại biểu là chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, học viên nghiên cứu của các trường Đại học, Viện nghiên

Trang 15

11

cứu, Doanh nghiệp trong nước và quốc tế

Về phía lãnh đạo Bộ Xây dựng, có TS KTS

Nguyễn Đình Toàn, thứ trưởng Bộ Xây dựng,

có TS Nguyễn Trung Thành - Vụ trưởng Vụ

KHCN & Môi trường Phía đơn vị bảo trợ

thông tin, có TS Hà Minh – Phó Tổng thư ký

hội kết cấu và công nghệ xây dựng Việt Nam

(VASECT), Phó TGĐ Công ty CONINCO Phía

đơn vị đồng tổ chức Trường Đại học Xây

dựng, có PGS TS Phạm Duy Hòa – Hiệu

trưởng/ Đồng Trưởng BTC, GS.TS Phan

Quang Minh – Phó Hiệu trưởng và các thầy

cô của Trường Đại học Xây dựng Về phía

Trường ĐHXD Miền Trung, có PGS.TS Vũ

Ngọc Anh – Hiệu trưởng Nhà trường/Đồng

Trưởng BTC và các thầy trong BGH, lãnh đạo

các đơn vị và thầy cố giáo trong Nhà trường

Đến tham dự Hội thảo, còn có PGS TS

Nguyễn Quốc Thông – Phó Chủ tịch Hội Kiến

trúc sư Việt Nam

Quý đại biểu tham dự Hội nghị khoa học ACEA 2016

Báo cáo tại các Tiểu ban Kỹ thuật

Qua 2 ngày làm việc của Hội nghị, hầu

hết các báo cáo đã được trình bày, trao đổi

thẳng thắng và cởi mở trong không khí ấm

cúng Hội nghị kết thúc thành công và mang

lại nhiều hình ảnh tốt đẹp đối với các đại

biểu tham dự Sau hội thảo, Ban tổ chức sẽ

lựa chọn những bài báo chưa được đăng

trong Tạp chí Xây dựng sẽ được phản biện

và đăng trong Tạp chí của Hội Kết cấu và

Công nghệ Xây dựng Việt Nam

Khóa học giao lưu xưởng thiết kế

“Nghệ thuật kiến trúc gạch trong công trình xây dựng” cùng với chuyên gia TS Derham Groves từ ĐH Melbourne

Diễn ra từ ngày 24 - 28/4/2016, Khóa học giao lưu xưởng thiết kế “Nghệ thuật kiến trúc gạch trong công trình xây dựng” do Ban giám hiệu Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung chỉ đạo Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế phối hợp với TS Derham Groves (Đại học Melbourne, Úc) tổ chức, thu hút sự tham gia của các giảng viên (GV), sinh viên (SV) của Khoa Đào tạo Nghề, Khoa Kiến trúc, Khoa Xây dựng, là một sự kiện chuyên đề nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 40 năm thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung Nội dung khóa học bao gồm: Tham quan kiến trúc đặc trưng, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng tại địa phương; nghe báo cáo chuyên đề về “Kiến trúc gạch trong công trình xây dựng” của TS Derham Groves; các sinh viên được chia nhóm và lựa chọn phương án thiết kế tác phẩm xây dựng bằng gạch, thảo luận và thi công xây dựng dưới sự hướng dẫn của

TS Derham Groves và TS Trịnh Hồng Việt - Phó Hiệu trưởng Nhà trường Khóa học diễn ra liên tục trong 5 ngày, có 6 tác phẩm được thực hiện

Kết thúc khóa học giao lưu, các bạn sinh viên được cấp chứng nhận tham gia khóa học và tích lũy được một số kỹ năng cho ngành nghề trong khi còn ngồi trên ghế giảng đường Đại học

Cũng nằm trong hoạt động của sự kiện, sáng ngày 28/4/2016, Ban giám hiệu Nhà trường có buổi gặp gỡ với TS Derham Groves tại phòng khánh tiết của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung Tại buổi gặp mặt, PGS.TS Vũ Ngọc Anh – Hiệu trưởng Nhà trường đã thay mặt Ban giám hiệu và toàn thể cán bộ, GV cám ơn

TS Derham đã nhận lời mời tham dự Hội thảo khoa học ACEA 2016, lễ Kỷ niệm 40 năm thành lập trường và phối hợp tổ chức

Trang 16

12

khóa học xưởng thiết kế “Nghệ thuật kiến

trúc gạch trong công trình xây dựng”

PGS.TS Vũ Ngọc Anh và một số cán bộ lãnh đạo

gặp gỡ trao đổi với TS Derham Groves

Đồng thời, PGS.TS Vũ Ngọc Anh

cũng mong muốn TS Derham tạo cầu nối

để các giảng viên Trường ĐH Melbourne

(Úc) và giảng viên Trường ĐHXD Miền

Trung có nhiều hoạt động hợp tác, giao

lưu chuyên môn thông qua phối hợp tổ

chức các hội thảo khoa học quốc tế, các

dự án nghiên cứu khoa học và mong

muốn các Giáo sư của trường ĐH

Melbourne tạo điều kiện hướng dẫn cho

các học viên sau đại học là giảng viên của

Trường ĐHXD Miền Trung trong tương lai

Một số phương án thiết kế của các nhóm tham gia

Một số phương án thiết kế của các nhóm tham gia

Tiếp đón Thứ trưởng Bộ GD&TT CHDCND Lào Kongsy Sengmany và đoàn đại biểu đến thăm và làm việc tại Trường ĐHXD Miền Trung

Nhân chuyến công tác tại Việt Nam, Đoàn đại biểu của Bộ Giáo dục và Thể thao nước CHDCND Lào do Thứ trưởng Kongsy Sengmany dẫn đầu đã đến thăm và làm việc với lãnh đạo Nhà trường vào ngày 29/02/2016 Đi cùng với Thứ trưởng Kongsy Sengmany có

Champasak, Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Báo chí giáo dục (thuộc Bộ Giáo dục và Thể thao Lào) và các trợ lý

Tham dự buổi làm việc, về phía Nhà trường có PGS.TS Vũ Ngọc Anh - Bí thư đảng ủy, Hiệu trưởng; Ban Giám hiệu; lãnh đạo các đơn vị trong Nhà trường Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Kongsy Sengmany, Hiệu trưởng Vũ Ngọc Anh và Hiệu trưởng các trường đại học của Lào đã trao đổi các nội dung mong muốn hợp tác như: trao đổi giảng viên và sinh viên; liên kết đào tạo đại học và sau đại học cho giảng viên và sinh viên; liên kết

mở các lớp đào tạo ngắn hạn; hỗ trợ các khóa nghiên cứu khoa học hoặc bồi dưỡng trình độ ngắn hạn; hỗ trợ thiết bị thí nghiệm, học tập; tổ chức hội thảo/ hội nghị quốc tế; giao lưu văn hóa - thể thao,… Cuối buổi làm việc, Thứ trưởng Kongsy Sengmany và Đoàn cán bộ được dẫn tham quan cơ sở vật chất và các phòng thí nghiệm khoa học của Nhà trường tại cơ sở 1 và 2

Thứ trưởng Kongsy Sengmany và đoàn đại biểu chụp ảnh lưu niệm cùng Ban Giám hiệu ĐHXD Miền Trung

Trang 17

13

Trường ĐHXD Miền Trung tổng kết

khóa học dự bị Tiếng Việt cho LHS Lào

Nhằm giúp các sinh viên quốc tế có

thể tiếp thu được nội dung đào tạo, đáp

ứng yêu cầu ngôn ngữ trước khi bước vào

học chính thức tại Nhà trường, Trường

ĐHXD Miền Trung đã phối hợp với Trường

ĐH Phú Yên mở khóa học tiếng Việt cho

10 em du học sinh Lào kể từ tháng

11/2015, do các giảng viên của Trường

ĐH Phú Yên giảng dạy Đến nay, các em

đã chính thức hoàn thành các nội dung

của khóa học Chiều ngày 25/5/2016,

Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền

Trung đã tổ chức Tổng kết và trao Chứng

nhận hoàn thành khóa học tiếng Việt cho

Lưu học sinh (LHS) Lào

Buổi tổng kết đã thành công tốt đẹp

Các bạn lưu học sinh sẽ về nước nghỉ hè

và chuẩn bị cho học kỳ mới sắp đến

Một số hình ảnh trong buổi tổng kết

Cô Võ Thị Ngọc Hoa - Phó Trưởng Khoa KHXH&NV,

Trường ĐH Phú Yên – trao chứng nhận hoàn thành

khóa học

Quý thầy/cô chụp ảnh lưu niệm cùng các bạn

lưu học sinh Lào

Cuộc thi Nữ sinh viên duyên dáng

Miss MUCE 2016

Tối ngày 14/4/2016, Trường Đại học

Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung đã tổ chức

cuộc thi Nữ sinh viên duyên dáng Trường

ĐHXD Miền Trung, Miss MUCE 2016

Cuộc thi quy tụ hơn 20 nữ sinh viên của tất cả các lớp từ các khoa đang học tập tại Nhà trường Trải qua vòng thi sơ khảo vào ngày 19/3/2016, Ban Giám khảo vòng sơ khảo đã chọn ra được 12 thí sinh xuất sắc, ấn tượng và xứng đáng nhất vào vòng chung kết diễn ra vào tối ngày 14/4 tại sân trường giảng đường A2 Trải qua thời gian gần 01 tháng tập luyện và chuẩn

bị các tiết mục phần thi tài năng, 12 thí sinh đã sẵn sàng toả sáng trong đêm chung kết

Tại vòng chung kết, 12 thí sinh sẽ tham gia các phần thi bao gồm: trình diễn

áo dài, thi tài năng, trình diễn trang phục

dạ hội; sau đó 5 thí sinh xuất sắc nhất được chọn thi phần thi ứng xử để chọn ra

nữ sinh viên xuất sắc nhất cho danh hiệu

Á khôi 1 và 2, Hoa khôi Miss MUCE 2016

và các giải phụ: Trình diễn trang phục áo dài xuất sắc nhất, Trình diễn áo dạ hội xuất sắc nhất, Tài năng nhất

Trải qua các phần thi, Ban giám khảo đã chọn ra được những nữ sinh viên duyên dáng, tài năng và ứng xử thông minh, khéo léo nhất Kết quả như sau: + Giải Trình diễn trang phục áo dài xuất sắc nhất và Trình diễn trang phục dạ hội xuất sắc nhất: Nguyễn Thị Bích Phương SBD: 004

+ Giải Tài năng nhất: Phan Thị Tuyết Nhi SBD: 029

+ Giải Ứng xử xuất sắc nhất: Trần Thị Thái Thảo SBD: 019

và 3 giải quan trọng nhất:

+ Á khôi 1: Trần Thị Thái Thảo SBD: 019 + Á khôi 2: Phan Thị Tuyết Nhi SBD: 029 + Hoa khôi Miss MUCE 2016: Nguyễn Thị Bích Phương SBD: 004

Một số hình ảnh nổi bật trong đêm chung kết

Thầy Phạm Văn Tâm – Phó Hiệu trưởng thường trực, thầy Trịnh Hồng Việt – Phó Hiệu trưởng và các nhà tài trợ trao vương miện và các phần tài trợ cho Hoa khôi Miss MUCE 2016 Nguyễn Thị Bích Phương (SBD:

004)

Trang 18

Nền móng là một trong các yếu tố quan

trọng nhất đảm bảo ổn định công trình xây

dựng, do đó việc lựa chọn giải pháp, tính toán,

thiết kế, xử lý sự cố công trình cần được

nghiên cứu kỹ Do vậy, khi mà đâu đó còn xảy

ra sự cố về lún nhà, nứt đường, trượt lở mái

dốc, sập cầu… thì không những kiến thức và kỹ

năng Địa Kỹ thuật có vấn đề mà trách nhiệm

Địa Kỹ thuật cũng không thể xem nhẹ Để hạn

chế những nguy hại có thể xảy ra cho công

trình xây dựng, cần đào tạo, trang bị đồng bộ

và thống nhất các tiêu chuẩn – quy phạm và

tài liệu kỹ thuật chuyên môn cao, sao cho

ngang tầm với khu vực và quốc tế trong tiến

trình hội nhập kinh tế quốc tế

Việc ước lượng độ lún và biến dạng của nền

móng công trình là vấn đề hết sức quan trọng

đối với người kỹ sư Vì vậy, trong giai đoạn

khảo sát thiết kế công trình, công tác khảo sát,

phân tích các đặc trưng biến dạng của đất và ý

nghĩa của chúng là một trog những công tác

Các hạt đất hình thành các kết cấu dạng hạt (chặt hoặc rời) cho đất hạt thô (sỏi, sạn, cát), dạng tổ ong, dạng bông cho đất hạt mịn (bột, sét) Do đó, khung hạt đất khi chịu tải do trọng lượng bản thân hoặc tải ngoài sẽ bị biến dạng, được gọi là biến dạng của đất Biến dạng của đất nền tùy thuộc loại khoáng, loại hạt, loại kết cấu hạt, lịch sử hình thành, lịch sử chịu tải… thông qua các đặc trưng vật lý như: độ rỗng, tỷ trọng đất…

Biến dạng của đất gồm hai thành phần: Biến dạng khung hạt thường ứng với tải nhỏ và khi dỡ tải hình dạng khung hạt có thể phục hồi hình dạng ban đầu  biến dạng đàn hồi Khung hạt được sắp xếp lại (thay đổi liên kết khung kết cấu) làm giảm thể tích phần rỗng  biến dạng dẻo Lượng nước chứa trong lỗ rỗng của đất cũng như tính chất của loại nước trong đất cũng ảnh hưởng rất lớn lên sức chịu tải của kết cấu khung hạt

và đặc tính biến dạng của đất

Biến dạng của nền dưới tác động của tải trọng ngoài có thể xảy ra theo cả 3 phương, nhưng thông thường chúng ta quan tâm biến dạng theo phương đứng Tính biến dạng nén thể tích đất theo phương đứng được gọi là tính nén lún của đất, được xác định bằng khả năng giảm

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 19

15

thể tích lỗ rỗng trong một đơn vị thể tích

đất dưới tải trọng ngoài Trong trường hợp

xác định, chính sự giảm thể tích lỗ rỗng

liên quan tới khả năng làm chặt hơn các

hạt trong đất Quá trình này kéo theo sự

dịch chuyển tất yếu của các hạt đất…

2 Tính biến dạng của đất

Thực chất tính biến dạng của đất là

sự giảm thể tích lỗ rỗng hay sự dịch

chuyển và sắp xếp lại các hạt đất dưới tác

dụng của tải trọng ngoài, đồng thời chúng

trở nên gần nhau hơn, chặt chẽ hơn Do

đó, đôi khi người ta còn gọi biến dạng này

là biến dạng thể tích

Thật vậy, đất càng chặt hay càng

bền sẽ bị biến dạng càng ít, ngược lại đất

càng yếu và xốp càng bị biến dạng nhiều

khi chúng chịu tác dụng của tải trọng

ngoài như nhau

Để dự đoán tính biến dạng do nén

chặt đất dưới tác dụng của tải trọng

ngoài, ngoài các trị số ứng suất gây biến

dạng, cần phải phân tích thêm một số chỉ

tiêu đặc trưng cho tính nén lún của đất

như: Quan hệ giữa hệ số rỗng (e) với tải

trọng ngoài (P): e=f(P); Hệ số nén lún a;

Hệ số biến đổi thể tích mv; Chỉ số nén Cc;

Chỉ số nở Cs; Hệ số cố kết Cv; Áp lực tiền

cố kết pc; Module tổng biến dạng của đất

E0; Module biến dạng không thoát nước

của đất Eu; Hệ số Poisson của đất 

3 Phân tích một số đặc trưng biến

dạng của đất

Khi có những lớp đất trải dài chịu tác

động của những tải thẳng đứng, rộng khắp,

lớp đất bị nén theo phương trục z Để mô

phỏng trạng thái đất trên, người ta nén đất

trong một dụng cụ có tên là máy nén không

nở hông hoặc máy nén cố kết như hình 1

Hình 1 Sơ đồ thí nghiệm nén cố kết bằng thiết

bị nén không nở hông

Thí nghiệm nén cố kết nhằm mục

đích nghiên cứu quá trình cố kết theo lý thuyết Terzaghi Thí nghiệm xác định độ lún do quá trình thoát nước lỗ rỗng trong

một mẫu đất dưới tải trọng thẳng đứng

3.1 Thiết bị thí nghiệm

Mẫu đất được lấy vào trong một dao vòng bằng thép không rỉ, cứng, có đường kính khoảng 70mm, chiều cao khoảng 20mm Dao vòng chứa mẫu đất được đặt trong một hộp nén với hai tấm đá thấm

ốp phía trên và dưới Mẫu đất được bão hòa hoàn toàn trong quá trình thí nghiệm trong điều kiện ngập nước

3.2 Chuẩn bị mẫu

Cắt một khúc đất, trong hộp mẫu nguyên dạng lấy ra trong hộp tôn hoặc nhựa, rồi dùng dao vòng nén ấn từ từ cắt vào trong mẫu Vừa ấn, vừa gọt xung quanh cho đến khi mẫu đất lọt vào dao vòng Công việc cần thực hiện nhẹ nhàng, cẩn thận sao cho không làm xáo động mẫu Dùng con dao sắc cắt phẳng đất ở hai mặt dao vòng Dao vòng và lõi đất được cho vào hộp nén và lắp đặt vào vị trí trong máy nén Lắp đặt và hiệu chỉnh đồng hồ đo độ lún về vị trí 0

3.3 Tiến hành thí nghiệm

Khi hộp mẫu đã được lắp đặt vào trong vị trí, ta tiến hành chất tải bằng các quả cân vào hệ thống cánh tay đòn ứng với cấp áp lực đầu tiên dự kiến Hộp cho ngập nước, đồng hồ bấm giây được khởi động và bắt đầu đọc chuyển vị lún theo khoảng thời gian cho đến khi ổn định lún Chọn cấp áp lực thí nghiệm, trọng lượng các quả cân được lựa chọn sao cho đạt được các cấp áp lực tăng dần như sau: P= 0.125 – 0.5 – 1 – 2 – 4 – 8 – 16 – 32 (kG/cm2)

Chọn sơ đồ thời gian đo, ứng với mỗi cấp tải trọng, các số đọc của đồng hồ đo chuyển vị sẽ được ghi nhận ứng với các thời điểm như sau: t= 6’’ – 15’’ – 30’’ – 45’’ – 1’ – 2’ – 4’ – 8’ – 15’ – 30’ – 1h – 2h – 3h – 5h – 8h – 24h…

Đọc các số đo tiếp tục cho đến khi mẫu cố kết hoàn toàn dưới một cấp áp lực, thường là 24h hay 48h Sau đó gia tải cấp tải trọng tiếp theo Số lượng và giá trị

Trang 20

16

của các cấp tải trọng sẽ phụ thuộc vào

loại đất và phạm vi của ứng suất dự kiến

ở hiện trường Sau khi gia tải đến cấp tải

trọng cuối cùng, sau khi quá trình cố kết

hồn tồn đạt được thì tiến hành dỡ tải

theo một hay vài giai đoạn

4 Các thơng số thu nhận được từ thí

nghiệm nén cố kết

4.1 Quan hệ giữa hệ số rỗng e và tải

trọng ngồi P

Khi dưới tác dụng của tải trọng nén

một trục khơng nở hơng tự do thì biến

dạng thể tích tương đối bằng biến dạng

dọc tương đối:

0

h V

(1) Trong đĩ :

V0, h0: thể tích, chiều cao ban đầu

của mẫu tương ứng

Hạt Đất

P=0Khí

V

V V h V

V h

e e h h S

0.40 0.45 0.50 0.55 0.60 0.65 0.70 0.75 0.80

là hệ số nén Hệ số nén a về trị số bằng tan của gĩc nghiêng với trục ngang của đường cong nén lún trong khoảng áp lực

đã cho

p

e tg

2 1p p

e e a

(4) Module tổng biến dạng E0, module khơng thốt nước Eu, hệ số Poisson  và

hệ số nén tương đối mv (a0)

2 0

Trang 21

17

thời gian (hay còn gọi là quá trình cố kết)

Do đó, trong phân tích biến dạng sử dụng

module đàn hồi cần phân biệt chúng ở hai

trạng thái:

Module đàn hồi không thoát nước

(Eu): khi áp dụng cần kết hợp với hệ số

Poisson không thoát nước (u) Module

này biểu hiện là tỷ số giữa ứng suất và

biến dạng của đất, sao cho thời gian gia

tải tức thì để nước trong đất không thể

thoát ra ngoài, nghĩa là hiện tượng cố kết

không xảy ra

Module đàn hồi thoát nước (E0): khi

áp dụng thông số này cần kết hợp với hệ

số Poisson ở trạng thái thoát nước ()

Module này được sử dụng trong

phân tích lún của nền móng khi tải trọng

tác dụng diễn ra trong thời gian đủ dài để

nước trong lỗ rỗng của khối đất có thể

thoát ra hết (nghĩa là quá trình cố kết đã

hoàn tất)

Absi đã chứng minh biểu thức quan

hệ giữa hai loại module nêu trên theo biểu

thức sau, khi đất được giả thiết là đàn hồi

u u

(7)

Hình 4 Đường biểu diễn ứng suất biến dạng

tương đối ở các trạng thái

Chỉ số nén Cc, chỉ số nở Cs, hệ số

nén lún av

Vẽ lại quan hệ giữa hệ số rỗng e và

ứng suất nén  (hay p) trên đồ thị bán

logarit như trong hình 5

1.00 1.20 1.40 1.60 1.80 2.00 2.20

1 2

2 1 c

p log p log

e e C

và dẻo của đất nền

Với đất cố kết bình thường thì độ lún càng tăng khi trị số Cc càng lớn Các khoảng giá trị sau được dùng để đánh giá cho mức độ nén lún của đất nền

+ Cc< 0.02  Đất hầu như không nén lún + 0.02<Cc< 0.05  Đất nén lún rất ít + 0.05<Cc< 0.1  Đất nén rất ít

+ 0.1<Cc< 0.2  Đất nén lún trung bình + 0.2<Cc< 0.3  Đất nén lún khá mạnh + 0.3<Cc< 0.5  Đất nén lún mạnh + Cc> 0.5  Đất nén lún rất mạnh

Chỉ số nở Cs (chỉ số nén lại) được xác định ở phần đường cong dỡ tải và được xác định theo công thức:

2 1

1 2 s

p log p log

e e C

C 435 0 a

c

p

p log h e 1

C S

(11) Công thức tính độ nở theo quan hệ

Trang 22

18

e-logp:

1 2

1

s

p

p log h e 1

C S

(12)

Hệ số cố kết Cv

Thông thường sử dụng hai phương

pháp để xác định hệ số Cv, tùy theo loại

đất, đó là phương pháp Taylor và phương

pháp Casagrande

Phương pháp Casagrande (Hình 6):

Hình 6 Biểu đồ thí nghiệm cố kết thấm theo

phương pháp Casagrande

Từ các kết quả đo biến dạng nén lún

của mẫu đất dưới mỗi cấp áp lực ở các

thời gian khác nhau, vẽ đường cong cố kết

trong tọa độ biến dạng nén (h) và logarit

của thời gian (logt, phút) Ở phần đầu

đường cong, lựa chọn các điểm tương ứng

với thời gian t1 (thường chọn t1= 15’’) và

t2= 4t1

Gọi hiệu số của số đọc chiều cao

mẫu ở thời điểm t1 và 4t1 là s, chiều cao

mẫu lúc đặt gia tải (ứng với mức độ cố kết

U= 0) là chiều cao mẫu ở thời điểm t1

cộng với s

Giao điểm giữa tiếp tuyến của đường

cong tại điểm uốn và đường tiếp tuyến ở

phần cuối của đường cong được xem là

điểm U100 (ứng với mức độ cố kết U=

100%) Đường trung bình của U0 và U100

chính là đường U50 cắt đường cong thí

nghiệm tại điểm t50

Hệ số cố kết Cv được xác định theo

công thức:

50

2 50 v

t

H 197 0

C 

(13) Phương pháp Taylor (Hình 7):

Hình 7 Biểu đồ thí nghiệm cố kết thấm theo

phương pháp Taylor

Từ các kết quả đo biến dạng nén lún của mẫu đất dưới mỗi cấp áp lực ở các thời gian khác nhau, vẽ đường cong cố kết trong tọa độ biến dạng nén (h) và căn số bậc hai của thời gian ( t , phút)

Vẽ đường thẳng phù hợp với những điểm ban đầu của đường cong (thường trong khoảng 50% lượng nén đầu tiên) và kéo dài đoạn thẳng lên phía trên, đường này cắt trục tung (t = 0) tại điểm U0 (ứng với mức độ cố kết U = 0) Từ điểm U0 vẽ đường thẳng thứ hai có hoành độ mọi điểm bằng 1.15 hoành độ của các điểm tương ứng trên đường thẳng thứ nhất Giao điểm giữa đường này và đường cong thí nghiệm là điểm U90 (ứng với mức độ

cố kết U= 90%) Từ điểm này xác định giá trị thời gian t90

Hệ số cố kết Cv được xác định theo công thức:

90

2 90 v

t

H 848 0

C 

(14)

Áp lực tiền cố kết pc. Đây là áp lực tối đa mà lớp đất đã bị

cố kết trong quá trình lịch sử hình thành Thông thường, kết quả thí nghiệm thể hiện trên đường cong e-logp áp lực được phân thành hai nhánh khác biệt Áp lực tiền cố kết pc(c) được xác định trên biểu

đồ đường cong (hình 8)

Giá trị áp lực tiền cố kết pc có thể đánh giá mức độ cố kết của đất nền, ở độ sâu đang xét, thông qua việc so sánh với

áp lực cột đất tại đó 0

Tỷ số tiền cố kết OCR được định nghĩa bằng tỷ số giữa ứng suất tiền cố kết

Trang 23

19

pc và ứng suất hữu hiệu do trọng lượng

bản thân của các lớp đất bên trên tác

động tại điểm lấy mẫu

, cp

p OCR 

(15) OCR= 1: đất cố kết thường

OCR >1: đất cố kết trước

OCR <1: đất kém cố kết hoặc chưa

đạt đủ quá trình cố kết do trọng lượng bản

thân các lớp bên trên

Hình 8 Đường cong e-logp của thí nghiệm nén

cố kết

Xác định ứng suất tiền cố kết pcbằng phương pháp Casagrade

Chọn điểm A có bán kính chính khúc

bé nhất trên đường cong cố kết e-logp

Vẽ đường tiếp tuyến tại A với đường cong e=logp

Vẽ đường song song với trục hoành tại A

Vẽ đường phân giác của góc hợp bởi hai đường trên

Kéo dài phần tuyến tính của đường nén nguyên thủy, giao điểm của đường này và đường phân giác ta sẽ được điểm ứng với ứng suất tiền cố kết pc

Như vậy, đất có một lịch sử về quá trình chịu áp lực và những biến đổi mà đất phải chịu trong một thời gian rất dài và những thay đổi này được lưu trữ trong cấu trúc của đất

Các nguồn gốc của tiền cố kết có thể liệt kê trong bảng sau:

Cơ chế của tiền cố kết Tác giả công bố

Những biến đổi tổng ứng suất do:

Giảm áp lực do trọng lượng bản thân các lớp đất bên trên

Những kiến trúc xưa

Tan băng

Casagrande

Những biến đổi ứng suất nước lỗ rỗng do:

Sự thay đổi mực nước ngầm

Bjerrum (1967, 1972) Những biến đổi của môi trường như sự thay đổi độ pH, sự

Những sự biến đổi hóa học do phong hóa, do lượng mưa,

do sự ciment hóa tự nhiên và do sự trao đổi ion tự nhiên Bjerrum (1967)

Tính toán cố kết theo thời gian:

A

Trang 24

20

Hình 9 Biến thiên áp lực nước lỗ rỗng theo thời gian và theo chiều sâu trong quá trình cố kết

Lý thuyết Terzaghi cho phép xác định

thời gian cố kết trên cơ sở một số giả thiết

Với áp lực nước lỗ rỗng biến đổi theo thời

gian t và chiều sâu z, tính theo phương

trình tích phân do Terzaghi thành lập

Một lớp đất dính được xem là đồng

nhất, có chiều sâu vô hạn, chịu tải trọng

đồng đều trên toàn bề mặt chịu nén:

2 2

vz

u C t

u: biến đổi áp lực nước lỗ rỗng

a

) e 1 ( k C

(17) Lời giải của phương trình trong các

trường hợp đơn giản nhất, với các điều

kiện giới hạn sau:

u= 0 tại bất kỳ thời điểm t, tại vị trí

S

) ABDCMA (

S

U 

(18) Nếu hệ số nén lún av không đổi trong phạm vi bề dày lớp phân tích thì độ

cố kết được thể hiện qua công thức:

) t ( S

) t ( S U

(19) Trong đó:

S(t): độ lún ở thời gian t

S(t): độ lún ở thời gian vô cùng

Tv là yếu tố thời gian không thứ nguyên, liên quan đến thời gian t, bề dày lớp đất H và hệ số cố kết Cv thông qua công thức:

2 v vH

t C

T 

(20) Công thức trên lấy bề dày H cho trường hợp đất nền thoát nước một chiều

và H/2 cho trường hợp đất nền thoát nước hai chiều

Sử dụng yếu tố thời gian Tv, với phương pháp tính toán gần đúng, ta có thể xác định được độ cố kết U với các trường hợp sau:

Trang 25

21

v

2 vC

H T

Độ lún do hiện tượng cố kết sơ cấp

dựa trên lý thuyết phân tán áp lực nước lỗ

rỗng thặng dư từ tải trọng công trình tác

động vào nền đất sét bão hòa nước

Độ lún thứ ba là do biến dạng thứ

cấp của đất nền, sau quá trình phân tán

nước lỗ rỗng thặng dư hoàn toàn (cố kết

sơ cấp), dưới một ứng suất hữu hiệu

không đổi Thành phần này thường được

gọi là độ lún do hiện tượng nén thứ cấp,

dựa vào đoạn tuyến tính bên dưới của

đường cong e-logt, ở cấp tải từ p1 đến p2

của thí nghiệm nén cố kết mẫu đất Công

thức tính độ lún này có dạng:

) t log ( H e 1

ep: hệ số rỗng tương ứng với điểm

đầu của đoạn tuyến tính dưới của đường

cong e-logt, suy ra từ đường e-logt

C: chỉ số nén thứ cấp được định

nghĩa bởi phần nén thứ cấp của đường

cong e-logt như sau:

t log

e C

hệ số rỗng e Dựa trên nguyên lý này, chúng ta có thể cải tạo đất bằng phương pháp đầm nén đất Đây là một trong những phương pháp cải tạo tính chất xây dựng của đất hiệu quả và phổ biến rộng rãi Kết quả của phương pháp là làm giảm

hệ số rỗng, nâng cao module biến dạng và sức chống cắt của đất, làm giảm tính thấm nước (hệ số thấm k), nâng cao tính

ổn định, làm giảm chiều cao mao dẫn khi chúng ta làm tăng độ chặt của đất

Khi tính toán thiết kế, chúng ta phải lựa chọn các chỉ tiêu cơ lý phù hợp với thời điểm tính toán như: tình trạng gia tải, vận tốc cắt, nén, điều kiện thoát nước, đặc trưng thấm và các trạng thái

ổn định khác của đất nền Kết quả thí nghiệm nén đơn và nén ba trục với các tốc độ khác nhau trên cùng một loại đất cho thấy: với vận tốc nén lớn hơn thì giá trị module biến dạng thu nhận được cũng lớn hơn Giá trị module biến dạng trong điều kiện thí nghiệm không thoát nước lớn hơn giá trị module biến dạng trong điều kiện thí nghiệm thoát nước Trong thí nghiệm nén cố kết thời gian cho một cấp tải trọng ít hơn, vận tốc nén lớn hơn thì giá trị của module biến dạng cũng lớn hơn

Chúng ta đã được biết áp lực tiền cố kết là mẫu đất ở độ sâu đó đã chịu một áp lực cố kết pc (c) trong quá khứ trước khi xây dựng Lý do đất có thể đã bị nén ép dưới áp lực lớn của chuyển động địa chất, hoặc đã bị cố kết dưới bề dày đất lớn hơn nhiều lần so với chiều sâu hiện tại rồi lại

bị bào mòn tạo nên điều kiện hiện tại Khi lấy mẫu lên mặt đất là mẫu đã trả về áp lực nén  = 0 Khi thí nghiệm, các áp lực

Trang 26

22

từ 0 đến 0 (áp lực cột đất) mới chỉ là trả

lại áp lực nén đến điều kiện tự nhiên hiện

tại Nén đến pc (áp lực tiền cố kết) mới chỉ

là trả lại áp lực nén đã xảy ra trong quá

khứ trước đây Do đó, đối với đất dưới cố

kết (c<0), ta thấy dù không có phụ tải

thì đất cũng sẽ tự lún Đất cố kết thường

(c0), độ lún xảy ra khi có thêm phụ tải

vì (+0)>c và đối với đất quá cố kết (c>0) khi tính lún thì độ lún chỉ xảy ra khi (+0)> c Khi (+0)<c, về nguyên tắc là không gây ra lún thêm Nếu

có, ở đây chỉ tính lún từ 0 đến (+0) Khi đó tính lún không lấy chỉ số Cc mà lấy chỉ số CR

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Trường Sơn, 2009 “Bài giảng địa chất công trình”

2 Bùi Trường Sơn, 2009 “Thổ chất và công trình đất”

3 Châu Ngọc Ẩn, 2009 “Cơ học đất” NXB Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh

4 K.H.Head, 1994 “Soil laboratory testing, volume 2, Permeability, shear strength and compressibility”

5 Tiêu chuẩn xây dựng TCVN 9362-2012; TCVN 4195:2012; TCVN 4196:2012; TCVN 4197:2012; TCVN 4198:2012; TCVN 5747:1993; ASTM D2487

Trang 27

23

THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ ẨM ĐẾN MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƯỜNG ĐỘ CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG

Nguyễn Quốc Huy

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Trần Thế Truyền Bùi Thanh Tùng Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt

Bài báo trình bày các kết quả thực nghiệm xác

định ảnh hưởng của độ ẩm trong bê tông đến

một số đặc trưng cường độ của bê tông, gồm:

cường độ chịu nén, cường độ chịu ép chẻ và

cường độ chịu kéo khi uốn Thí nghiệm được

tiến hành trên các mẫu bê tông có cường độ

danh định f’ c = 25MPa (ký hiệu C25) và f’ c =

40MPa (ký hiệu C40) Kết quả thí nghiệm cho

thấy ảnh hưởng đáng kể của độ ẩm trong bê

tông đến các đặc trưng cường độ của bê tông

Abstract

This article presents experimental results to

determine the effect of concrete moisture on

typical mechanical characteristics of concrete

including compressive strength, split strength

and flexural strength Two types of concrete

with compressive strength 25 MPa (named

C25) and 40 MPa (named C40) are used to

fabricate specimens The result shows the

significant effects of concrete moisture on

Một số nghiên cứu đã công bố đề cập về ảnh hưởng của độ ẩm đến cường độ bê tông [4], [5], [6], [7] cho thấy độ ẩm ảnh hưởng đáng kể đến ứng xử cơ học của bê tông Trong bê tông luôn tồn tại nước trong cấu trúc rỗng; dưới tác động của tải trọng sẽ gây ra áp lực tác động vào nước trong các lỗ rỗng và truyền vào cấu trúc phân tử bê tông gây ra các thay đổi về ứng xử cơ học Các trạng thái về độ ẩm trong bê tông (trạng thái bão hòa, trạng thái khô hoàn toàn hoặc trạng thái không bão hòa) ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất cơ học của bê tông

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ảnh hưởng của độ ẩm đến các đặc trưng cơ học của bê tông chưa được đề cập nhiều

Do đó, việc đánh giá tác động của độ ẩm đến các đặc trưng cơ học của bê tông sử dụng trong xây dựng công trình là cần thiết Bài báo này giới thiệu các kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của độ ẩm trong bê tông đến: cường độ chịu nén, cường độ chịu ép chẻ và cường độ chịu kéo khi uốn của bê tông Kết quả nghiên

Trang 28

24

cứu sẽ là cơ sở quan trọng cho các tính

toán ứng xử của kết cấu bê tông cốt thép

có xét đến độ ẩm trong bê tông

2 Công tác thí nghiệm

2.1 Cơ sở lập đề cương thí nghiệm

Đề cương thí nghiệm được thành lập

trên cơ sở các tiêu chuẩn Việt Nam hiện

hành như: TCVN 7572:2006, TCVN

3120:1993 Ngoài ra, còn căn cứ vào các

kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của độ

ẩm đến các đặc trưng cơ lý cở bản của bê

tông đã công bố trên thế giới Các thí

nghiệm được thực hiện tại Phòng thí

nghiệm Cơ học đất – Vật liệu Xây dựng và

kết cấu công trình (LAS-XD154)

2.2 Chuẩn bị mẫu thí nghiệm

Bê tông thí nghiệm là bê tông

thường có cường độ chịu nén danh định:

f’c = 25MPa và f’c = 40MPa được thiết kế với thành phần cấp phối hạt và chất kết dính tương ứng (Bảng 1) Cường độ của các mẫu thí nghiệm được xác định từ cường độ nén trung bình các mẫu kiểm chứng Đối với mẫu kiểm chứng, xác định cường độ chịu nén danh định mỗi cấp bê tông bằng cách đúc 9 mẫu thí nghiệm: 3 mẫu có thành phần BTXM tương ứng với cấp bê tông thiết kế; 3 mẫu có thành phần BTXM tương ứng với cấp bê tông thiết kế bớt 10% xi măng; 3 mẫu có thành phần BTXM tương ứng với cấp bê tông thiết kế thêm 10% xi măng; Tải trọng lớn nhất gây phá hủy các mẫu được ghi nhận để kiểm chứng và điều chỉnh thành phần BTXM cho phù hợp với 2 cấp

bê tông thiết kế

Bảng 1: Thành phần BTXM đúc mẫu có cường độ 25MPa và 40MPa

Thành phần cấp phối bê tông C25 (tính cho 1m 3 bê tông)

Thành phần cấp phối bê tông C40 (tính cho 1m 3 bê tông)

Các dạng mẫu sử dụng trong thí

nghiệm gồm: Các mẫu hình lập phương

kích thước 10x10x10(cm) để xác định

cường độ chịu ép chẻ và cường độ chịu

nén của bê tông; Các mẫu dầm chữ nhật

chịu uốn kích thước 10x10x40(cm) để xác định cường độ chịu kéo khi uốn của bê tông; Các mẫu hình trụ kích thước 10x20(cm) để xác định cường độ chịu nén của bê tông

Hình 1 Chế tạo và phân loại mẫu thí nghiệm Các thiết bị, máy móc thí nghiệm

được sử dụng bao gồm: Máy nén mẫu; Lò

sấy đến 250oC; Máy thử uốn; Các giá đỡ mẫu thí nghiệm; Thước lá kim loại; Các

Trang 29

25

khuôn đúc mẫu và các thiết bị cần thiết

khác

2.2 Quy trình thí nghiệm

Sau khi đúc, mẫu được bảo dưỡng ở

điều kiện chuẩn trong 28 ngày (các mẫu

được ngâm nước ngay sau khi tháo ván

khuôn) Sau 28 ngày ngâm nước, các mẫu

thử được lấy ra và cân khối lượng rồi chia

10oC/1h Việc nung các mẫu dừng lại khi

độ mất mát khối lượng sau 1 ngày đêm nhỏ hơn 1% Khối lượng các mẫu được ghi lại theo nhiệt độ nung nhằm đánh giá mức

độ bay hơi của nước trong bê tông ở các nhiệt độ khác nhau Sau khi nung, mẫu thử được làm nguội đến 45oC và duy trì đến khi thí nghiệm

a) Sấy mẫu b) Thí nghiệm nén mẫu lập phương và mẫu trụ

a) Thí nghiệm uốn mẫu b) Thí nghiệm ép chẻ mẫu

Hình 2 Sấy mẫu thí nghiệm và tiến hành các thí nghiệm

3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM

3.1 Kết quả thí nghiệm cường độ chịu nén

Số liệu khảo sát sự thay đổi cường độ chịu nén của bê tông theo độ ẩm của mẫu bê tông được thể hiện trong biểu đồ hình 3

Hình 3 Biểu đồ ảnh hưởng của độ bão hòa nước đến cường độ chịu nén

Trang 30

26

Kết quả thí nghiệm cho thấy, cường

độ chịu nén của bê tông tăng dần khi độ

ẩm tăng, nhưng khi độ ẩm trong cấu kiện

đạt khoảng 85% đến khi bão hòa hoàn

toàn thì cường độ chịu nén của bê tông

giảm Cường độ chịu nén nhỏ nhất khi độ

ẩm trong bê tông đạt trạng thái bão hòa

hoàn toàn Kết quả này khá tương đồng

với kết quả thí nghiệm của M Albert

GIRAUD và M Abdelhafid KHELIDJ [6]

Hiện tượng này theo quan điểm chủ quan

của nhóm nghiên cứu có thể giải thích như

sau: Khi độ ẩm trong bê tông tăng dần,

chưa đến ngưỡng bão hòa, cấu trúc rỗng

trong bê tông tồn tại hai pha lỏng và khí;

Khi nén mẫu, pha khí bị ép giảm thể tích,

pha lỏng chiếm chỗ một phần pha khí, sức

căng bề mặt của nước được phát huy làm

cho cường độ của mẫu bê tông tăng; Ở

trạng thái độ ẩm đạt khoảng 85%, nước

chiếm gần hết thể tích các lỗ rỗng Khi

nén mẫu ở trạng thái này, áp lực nén tác

động lên cấu trúc bê tông không chỉ có lực

nén thí nghiệm mà còn một phần áp lực

nén do nước trong lỗ rỗng tiếp nhận tác

động ngược trở lại Áp lực do nước tiếp

nhận này lớn hơn so với sức căng bề mặt

tạo ra nên làm gia tăng áp lực lên cấu trúc

bê tông, do đó làm giảm khả năng chịu

nén của bê tông

3.2 Kết quả thí nghiệm cường độ chịu

ép chẻ

Số liệu khảo sát thay đổi cường độ

chịu ép chẻ của bê tông theo độ ẩm của

mẫu bê tông được thể hiện trong biểu đồ

hình 4

Hình 4 Biểu đồ ảnh hưởng của độ bão hòa

nước đến cường độ chịu ép chẻ

Kết quả thí nghiệm cho thấy, ảnh hưởng của độ ẩm đến cường độ chịu ép chẻ là không lớn Kết quả này khá phù hợp với kết quả thí nghiệm của Xudong Chen [5] Hiện tượng này có thể giải thích như sau: Ở trạng thái gần bão hòa, các lỗ rỗng trong bê tông bị nước hoàn toàn chiếm chỗ, vì vậy khi ép chẻ mẫu dưới ảnh hưởng do sức căng bề mặt của nước làm cho cường độ chịu kéo khi bửa của bê tông tăng; Ở trạng thái khô hoàn toàn, khi ép chẻ mẫu thì chỉ có cấu trúc của bê tông chịu nên cường độ chịu kéo tương đối lớn; Còn ở trạng thái trung gian, các lỗ rỗng vừa có nước vừa có không khí, việc

ép chẻ mẫu phần nào tác động áp lực vào nước và thể khí này, làm tăng thêm áp lực vào cấu trúc bê tông, dẫn đến suy giảm cường độ chịu ép chẻ của bê tông

3.3 Kết quả thí nghiệm cường độ kéo uốn

Số liệu khảo sát thay đổi cường độ kéo uốn của bê tông theo độ ẩm của mẫu

bê tông được thể hiện trong biểu đồ hình 5

Hình 5 Biểu đồ ảnh hưởng độ bão hòa nước

đến cường độ kéo uốn Kết quả thí nghiệm cho thấy, ảnh hưởng đáng kể của độ ẩm đến cường độ kéo uốn Hiện tượng này theo quan điểm của nhóm nghiên cứu có thể giải thích như sau: Ở trạng thái gần bão hòa, nước chiếm gần hết thể tích các lỗ rỗng, khi kéo uốn mẫu dưới ảnh hưởng do sức căng

bề mặt của nước làm cho cường độ kéo uốn của bê tông tăng; Ở trạng thái khô hoàn toàn, khi kéo uốn mẫu thì chỉ có cấu trúc của bê tông chịu và không có nước trong lỗ rỗng nên giảm trọng lượng tác dụng lên mẫu thí nghiệm, nên cường độ

Trang 31

27

kéo uốn tương đối lớn; Còn ở trạng thái

trung gian, các lỗ rỗng vừa có nước vừa

có không khí, sức căng bề mặt không đủ

lớn trong khi trọng lượng tác động lên

mẫu kéo uốn tăng, dẫn đến suy giảm

cường độ kéo uốn của mẫu thí nghiệm

4 Kết luận

Hàm lượng độ ẩm trong bê tông ảnh

hưởng đáng kể đến cường độ chịu nén

cũng như cường độ chịu ép chẻ và cường

độ chịu kéo khi uốn của bê tông Các thí

nghiệm được tiến hành đã giúp đánh giá

ảnh hưởng của độ ẩm đến các đặc trưng

cơ lý cơ bản của BTXM thông thường trong xây dựng tại Việt Nam ở cấp 25MPa và 40MPa Một số quy luật thay đổi về các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của BTXM theo độ ẩm

đã được thiết lập Qua đó góp phần làm rõ việc đánh giá toàn diện ảnh hưởng của độ

ẩm đến các chỉ tiêu cơ lý của BTXM Kết quả này là một cơ sở tham khảo bước đầu cho việc phân tích ứng xử các kết cấu bê tông cốt thép có xét đến hàm lượng độ

ẩm trong bê tông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Xây dựng, 1993 Bê tông nặng – Phương pháp xác định cường độ nén Tiêu chuẩn Việt Nam 3118:1993

2 Bộ Xây dựng, 1993 Bê tông nặng - Phương pháp xác định cường độ kéo khi uốn Tiêu chuẩn Việt Nam

3119:1993

3 Tiêu chuẩn Việt Nam 3120:1993, 1993 Phương pháp thử cường độ kéo khi bửa Bộ Xây dựng

4 Guang Li, 2004 The effect of moisture on the tensile strength properties of concrete Master of Engineering,

University of Florida

5 Jikai Zhou, Wanshan Huang & Xudong Chen, December 2012 Effect of moisture content on compressive and

split tensile strength of concrete, Indian Journal of Engineering & Materials Sciences Vol.19, pp.427-435

6 M Albert GIRAUD, M Abdelhafid KHELIDJ, 2005 Modelisation du comportement hydromecanique d’un

mortier sous compression et dessiccation Thèse de doctorat Université des Sciences et Technologies de Lille

7 Samir N Shoukry, Gergis W William, Brian Downie, Mourad Y Riad, 2009 Effect of moisture and temperature on the machanical properties of concrete, Proceeding of the SEM Annual Conference June USA

Trang 32

28

NEO TRONG ĐẤT (GROUND ANCHOR): CẤU TẠO, PHÂN

LOẠI, NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ SỞ

LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN NEO

Th.S Lê Trường Sinh

Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Hiện nay phương pháp giằng chống

tường vách hố đào sử dụng neo trong đất được

sử dụng khá phổ biến trong các công trình dân

dụng ở Việt Nam Nhưng ở nước ta chưa có

tiêu chuẩn thiết kế, thi công và giám sát neo

trong đất cho công trình dân dụng Tác giả

tổng hợp, giới thiệu về cấu tạo, nguyên lý hoạt

động và cơ sở lý thuyết tính toán sức chịu tải

của neo trong đất theo một số tiêu chuẩn đã

được sử dụng( Tiêu chuẩn Anh: BS 8081:1989;

Tiêu chuẩn Trung Quốc: CECS 22-1990)

Từ khóa

Neo trong đất, ground anchor

1 Neo trong đất (Ground anchor) 1.1 Lịch sử phát triển của neo trong đất

Neo trong đất là một loại thanh chịu kéo kiểu mới, một đầu thanh liên kết với kết cấu công trình hoặc tường cọc chắn đất, đầu kia neo chặt vào trong nền đất để chịu lực nâng lên, lực kéo nhổ, lực nghiêng lật hoặc áp lực đất, áp lực nước của tường chắn, nó lợi dụng lực neo giữ của tầng đất để duy trì ổn định của công trình

Qua một số công trình đã sử dụng

hệ thống tường neo trong đất, cho thấy giá thành sử dụng tường neo trong đất thấp hơn xấp xỉ 1/3 lần so với sử dụng kết cấu tường chắn thông thường Hơn nữa,

hệ thống được neo thường có thời gian thi công nhanh hơn và không cần làm đường tạm Neo trong đất thường được sử dụng

để thay thế các kết cấu chống đỡ tường chắn như thép, bê tông, gỗ

Neo trong đất được sử dụng ở đập Cheurfas, Algeria để neo bể chứa nước vào năm 1938 Sau chiến tranh thế giới thứ 2, neo trong đất được ứng dụng rộng rãi hơn trong các lĩnh vực: ổn định mái đào, ổn định mái dốc và chống sạt lở, gia

cố đập… Năm 1958 lần đầu tiên neo trong đất được sử dụng để giữ ổn định tường chắn đất trong thi công hố móng sâu Sau lần ứng dụng thành công năm 1958, neo trong đất đã cho thấy được nhiều ưu điểm nên được nhiều nước tiếp tục nghiên cứu phát triển, đưa ra các quy trình thiết kế và hoàn thiện công nghệ thi công

Ở Việt Nam, công trình đầu tiên sử dụng kỹ thuật neo trong đất đã được Bachy Soletanche Vietnam (Pháp) thực hiện thành công ở Tòa tháp VietcomBank tại 184 Trần Quang Khải, Hà Nội vào

Trang 33

29

năm 1977 Tường vây sử dụng neo trong

đất được sử dụng để thi công 3 tầng

hầm dự án Trung tâm điều hành và

Thông tin viễn thông Điện lực Việt Nam

có diện tích 14.000 m2 tại số 11 phố Cửa

Bắc, TP Hà Nội vào năm 2008 Tòa tháp

Keangnam Landmark Tower cao nhất

Việt Nam, tại Lô 6 đường Phạm Hùng,

Hà Nội, do Samwoo Geotech(Hàn Quốc)

thi công tháng 5/2008, tường bê tông

cốt thép liên tục trong đất dày 80cm và

hai tầng neo trong đất có sức chịu tải từ

35-40 tấn được sử dụng để thi công 2

tầng hầm của tòa tháp này Cọc ximăng

- đất trộn sâu được xem xét thiết kế làm

giải pháp ổn định hố đào (kết hợp một

phần với neo trong đất) cho 2 tầng hầm

của chung cư cao tầng Thương mại –

Dịch vụ LUGIACO ở số 70 đường Lữ Gia,

P.15, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh

Gần đây nhất Công ty Samwoo Vietnam

cũng sử dụng phương án tường cọc BTCT

kết hợp neo ứng suất trước (ƯST) để thi

công 4 tầng hầm công trình Trung tâm

Thương mại Đà Lạt (Dalat Center) tại

thành phố Đà Lạt

1.2 Phân loại neo trong đất

Neo trong đất có thể phân loại dựa

theo cách liên kết với nền đất, cách lắp

đặt, phương pháp phun vữa, công dụng,

phương pháp căng kéo Cơ bản chúng ta

có thể phân chia như dưới đây:

Hình 1.1 Phân loại neo trong đất

Theo mục đích và thời gian sử dụng,

neo có thể chia thành neo tạm thời và neo

cố định:

(1) Neo tạm thời là loại neo có thể

tháo ra sau khi kết cấu có khả năng tự

chịu lực

(2) Neo cố định được sử dụng lâu hơn tùy thuộc vào thời gian tồn tại của công trình, nó sẽ tham gia vào quá trình chịu lực chung của công trình

Theo cách lắp đặt và hoạt động của neo

có thể chia thành neo thường và neo ƯST: (3) Neo thường: Là loại neo mà trong quá trình lắp đặt thanh lõi neo không được căng ứng suất trước Đối với neo này, lõi neo có độ giãn đáng kể khi tải trọng tác dụng, do vậy chuyển dịch của đầu neo sẽ tương đối lớn khi sức chịu tải của neo được huy động tối đa Cấu tạo lõi neo: thường là một thanh thép cường độ cao [4]

(4) Neo ƯST: Là loại neo mà khi lắp đặt lõi neo cáp đã được căng ứng suất trước Để giảm bớt sự chuyển dịch của đầu neo tới mức có thể chấp nhận được, neo đất thường được tạo ứng suất trước bằng cách kéo trước neo đất về phía kết cấu Cấu tạo neo ƯST: lõi neo là một bó cáp cường độ cao được căng ứng suất trước khi lắp đặt [4]

1.3 Ứng dụng của neo trong đất

1.3.1 Neo ổn định tường chắn khi thi công hố đào

Neo trong đất kết hợp với tường chắn bằng cọc chống và ván lát ngang hoặc bê tông phun, tường bê tông cốt thép, tường vây cọc ván… tạo thành hệ thống tường chắn ổn định mái đất phục vụ công tác đào đất thi công các công trình ngầm: tầng hầm các tòa nhà, bể nước ngầm, nhà ga tàu điện ngầm đặt trong lòng đất, bãi đổ xe ngầm… Ưu điểm của

hệ thống này là không chiếm mặt bằng thi công, thời gian thi công nhanh

Hình 1.2 Neo ổn định tường chắn khi thi công đào đất khách sạn Pico Calheta – Bồ Đào Nha

2007 [9]

Trang 34

30

1.3.2 Ổn định tường chắn khi thi công

đường đào

Hệ thống tường neo thường được sử

dụng để ổn định mái dốc cho thi công đào

đường qua vách núi có mái dốc lớn, mở

rộng lòng đường,…

Hình 1.3 Neo ổn định tường chắn khi thi công

đào đất công trình đường tàu điện ngầm xuyên

núi Alpine, Thụy Sĩ 2003 [9]

1.3.3 Ổn định và chống sạt lở mái dốc

Neo trong đất thường được sử dụng

kết hợp với tường, dầm ngang, khối bê

tông để ổn định mái dốc và chống sạt lở

Neo trong đất cho phép đào sâu để xây

dựng các đường cao tốc mới Neo trong

đất còn sử dụng để ổn định các khối đất

đá phía trên mái dốc và ổn định mặt

trượt Các dầm ngang và khối bê tông

được sử dụng để truyền tải trọng từ neo

vào đất tại bề mặt mái dốc để giữ ổn định

mái dốc ngay vị trí đào Việc lựa chọn sử

dụng dầm ngang hay các khối bê tông

phụ thuộc các điều kiện kinh tế, mỹ quan,

duy tu bảo dưỡng trong quá trình khai

thác sử dụng

Hình 1.4 Neo đất giữ ổn định mái dốc và

chống sạt lở tại Degendamm Australia [7]

1.3.4 Chống lật, chống đẩy nổi

Các neo cố định thường được sử

dụng để chống lại lực đẩy nổi Lực đẩy nổi

được tạo ra do áp lực thủy tĩnh hay do kết

cấu mất ổn định và bị lật đổ Các kết cấu

xây dựng thông thường chống lại lực đẩy nổi bằng tải trọng tĩnh của chính bản thân kết cấu

Ưu điểm của việc chống lại lực đẩy nổi bằng neo trong đất là khối lượng bê tông sàn ít hơn so với dùng phương pháp tải trọng tĩnh

Tuy nhiên cách này cũng tồn tại một

số nhược điểm:

- Sự thay đổi tải trọng trong neo có thể làm kết cấu bị lún xuống hoặc nâng lên; - Khó thi công chống thấm;

- Ứng suất trong sàn thay đổi nhiều

Hình 1.5 Hệ thống neo trong đất chống lực đẩy nổi tuyến hầm đường bộ Burnley Tunnel ở

Melbourne, Australia [7]

1.4 Cấu tạo neo trong đất

Về cơ bản cấu tạo của neo trong đất bao gồm phần đầu neo, đoạn tự do và đoạn neo giữ:

Hình 1.6 Mặt cắt điển hình neo trong đất

1.4.1 Lõi neo

Là bộ phận có khả năng truyền tải trọng kéo từ phần bầu neo đến đầu neo Lõi neo có thể là cáp nhiều sợi hoặc thép thanh, được gia công từ thép cường độ cao.Với lõi neo dạng cáp chiều dài của neo không bị hạn chế, còn với lõi neo là thanh thép ta có thể kéo dài được bằng cách dùng các hộp nối cường độ cao thích hợp

Trang 35

31

Lõi neo được phủ 1 lớp chống ăn

mòn đặc biệt (thường chủ yếu có gốc

bitum), sau đó được bọc trong các ống

polyethylene (PE) không thấm nước trong

nhà máy, điều đó giúp dây neo hạn chế

được sự ăn mòn trong quá trình cất trữ,

vận chuyển và sử dụng

Mật độ lõi neo thép trong lỗ neo cần

phải được khống chế không vượt quá 15%

diện tích diện tích lỗ khoan đối với dây cáp

nhiều sợi song song và 20% diện tích lỗ

khoan đối với dây cáp đơn, thanh thép

hoặc dây cáp nhiều sợi loại sần thích hợp,

nhằm mục đích giảm thiểu hiện tượng

bong [1]

Hình 1.7 Lõi neo làm bằng thanh thép [9]

Hình 1.8 Lõi neo làm bằng cáp [9]

Vật liệu chế tạo cơ cấu đệm/định

tâm phổ biến hay dùng bằng nhựa chất

(a)

(b) Hình 1.10 (a), (b) Chi tiết đầu neo với lõi neo

bằng dây cáp [9]

Với lõi neo làm bằng dây cáp, tải trọng kéo từ các tao cáp truyền vào chốt nêm thông qua ma sát rồi truyền qua quả neo  bản đỡ  bệ đỡ (thường dưới dạng các khối bê tông hay dầm gân thép hình)  các kết cấu chính

Với lõi neo làm bằng thanh thép, tải trọng kéo từ thanh thép truyền vào ê-cu

Trang 36

32

neo giữ nằm hoàn toàn ngoài phạm vi mặt

trượt giới hạn của khối đất phía sau tường

chắn Trong đoạn tự do lõi neo được bao

ngoài để chống ăn mòn

1.4.4 Đoạn neo giữ

Đoạn neo giữ hay còn gọi là bầu

neo, được bao bọc bằng vữa XM và truyền

tải trọng từ neo vào đất đá xung quanh

Trong phần bầu neo, lõi neo được bóc lớp

vỏ bọc để liên kết với vữa XM

Bầu neo có nhiều hình dạng khác

nhau tùy thuộc vào từng điều kiện địa

chất, có 4 loại bầu neo đã được nghiên

cứu và áp dụng [1]:

- Bầu neo kiểu A: được thi công

khoan lỗ với ống vách, không mở rộng

bầu neo, phun vữa xi măng và rút ống

vách từ từ Kiểu này được dùng rất phổ

biến trong đá và rất ổn định đối với đất

đắp dính cứng Sức kháng nhổ phụ thuộc

vào ma sát bên tại giao diện đất/vữa

- Bầu neo kiểu B: được phun vữa áp

lực thấp (áp lực phun vữa tiêu biểu Pi

1000 kN/m2) Với kiểu neo này vữa xi

măng thấm qua các lỗ rỗng hoặc nứt nẻ

tự nhiên của đất làm tăng đường kính bầu

neo Kiểu neo này dùng phổ biến nhất

trong đá yếu nứt nẻ và trong các lớp hạt

thô, nhưng cũng rất phổ biến trong đất rời

hạt mịn Ở đây các loại vữa xi măng

không đi qua các lỗ rỗng nhỏ nhưng dưới

áp lực vữa làm chặt đất cục bộ sau khi

khoan và làm tăng đường kính có hiệu

tăng cường sức kháng cắt Sức kháng chịu

nhổ phụ thuộc chủ yếu vào sức kháng cắt

bên thực tế, nhưng cũng có thể kể đến

thành phần sức kháng mũi khi tính toán

sức chịu tải giới hạn

Hình 1.12 Bốn loại bầu neo đã và đang được

áp dụng [1]

- Bầu neo kiểu C: được phun vữa áp lực cao (Pi > 2000 kN/m2) Dưới áp lực cao, vữa xi măng sẽ len lỏi qua các nứt nẻ

tự nhiên, lỗ rỗng lớn nhỏ của khối đất tạo

ra chùm rễ vữa  làm tăng đường kính của bầu neo Khi thi công các neo kiểu C người ta thường tiến hành phun vữa nhiều lần để tăng khả năng chống nhổ của bầu neo, thường phun lần thứ hai sau khi vữa phun lần thứ nhất đã sơ ninh Kiểu neo này áp dụng phổ biến trong đất rời hạt mịn Thiết kế dựa trên cơ sở giả thiết về ứng suất không đổi dọc theo bầu neo

- Bầu neo kiểu D: được khoan lỗ bằng một máy khoan chuyên dụng có khả năng tạo một loạt chỗ mở rộng theo hình chuông hoặc theo hình bầu Khi thi công thường phun trước vữa xi măng, hóa chất trong đất bao quanh bầu neo, bơm dung dịch khoan polime vào lỗ khoan khi khoan tạo bầu Kiểu neo này được sử dụng phổ biến nhất trong đất dính từ chặt đến cứng Sức chịu nhổ phụ thuộc vào ma sát bên

và sức chịu ở mũi mặc dù đối với các bầu đơn hoặc có bầu rộng sức chống giữ của đất có thể được huy động chủ yếu bằng sức chống ở mũi

Vữa xi măng dùng để tạo bầu neo thường dùng vữa nguyên chất (vữa không

có cấp phối) Loại vữa xi măng cát cũng

có thể sử dụng cho các lỗ khoan có đường kính lớn Máy trộn vữa tốc độ cao thường được sử dụng để đảm bảo sự đồng nhất giữa vữa và nước tỷ lệ theo khối lượng nước/xi măng trong khoảng từ 0,40 đến 0,55 Xi măng loại I thường được sử dụng với cường độ nhỏ nhất vào thời điểm tạo ứng suất là 21 MPa Tùy vào đặc điểm của công trình các phụ gia có thể được sử dụng để tăng độ sụt cho vữa Các chất phụ gia không yêu cầu sử dụng, nhưng hiệu quả hơn nếu sử dụng phụ gia siêu dẻo khi bơm vữa ở nhiệt độ cao và chiều dài bơm lớn

1.5 Các hệ thống tường neo

Một ứng dụng phổ biến của neo trong đất trong các công trình dân dụng là tường neo được sử dụng nhằm ổn định

Trang 37

33

mái đào và ổn định mái dốc Các tường

neo này bao gồm tường hẫng không trọng

lực với một hoặc nhiều tầng neo trong

đất Các loại tường hẫng không trọng lực

gồm các bộ phận thẳng đứng có thể liên

tục hoặc không liên tục được khoan hoặc

đóng xuống dưới đáy cao độ đào Tường

hẫng không trọng lực chịu lực bằng sức

kháng cắt, độ cứng chống uốn của thành

phần theo phương đứng và sức kháng bị

động của đất dưới cao độ đào Sức chịu tải

của tường neo dựa vào các thành phần

này và sức chịu tải ngang của neo để

chống lại áp lực ngang (đất, nước, động

đất,…) tác dụng vào tường

Phân loại tường neo ƯST thường

được sử dụng như sau:

- Tường cừ bê tông cốt thép liên tục;

- Tường bê tông cốt thép không liên

tục (cọc chống và bê tông cốt thép lát

mặt)

Chuyển vị và mô men uốn của

tường ổn định mái đào là hàm số của

cường độ đất và độ cứng của tường Độ

cứng của tường phụ thuộc vào độ cứng

kết cấu tường (EI) và khoảng cách theo

phương đứng của các hàng neo (L)

Tường cọc ván thép và tường gồm hệ

thống cọc chống, ván lát ngang được

xem là hệ thống tường mềm Tường gồm

các cọc chèn nhau, tường cọc bê tông

cốt thép liên tục, tường cọc bê tông cốt

thép không liên tục được xem là các hệ

thống tường cứng

1.5.1 Tường cọc chống đứng và ván

lát ngang

Tường cọc chống và ván lát ngang

được sử dụng đầu tiên ở Đức vào những

năm cuối thế kỉ 19 và nhanh chóng được

sử dụng rộng rãi ở Châu Âu Tường gồm 2

bộ phận chính: cọc chống chịu toàn bộ tải

trọng do lực xô ngang của đất và ván lát

ngang chịu tải trọng do áp lực đất ở giữa hai cọc chống

Tường neo cọc chống đứng bằng thép hình và ván lát ngang bằng gỗ để giữ ổn định hố đào Cọc chống đứng là thép hình có tiết diện ngang hình chữ I, giằng ngang bằng thép hình có tác dụng phân bố lực neo cho các cọc chống đứng liền kề

ép thành hàng chèn nhau Cừ thép còn có thể ngăn không cho nước thấm qua

Hình 1.14 Tường neo cừ thép (Nguồn Murphy

International Ltd)

1.5.3 Tường cọc bê tông cốt thép

Trang 38

34

Tường gồm các cọc bê tông cốt thép

liền kề nhau thường được sử dụng trong

các điều kiện địa chất không có xảy ra

hoặc có thể kiểm soát được hiện tượng

mất đất và thấm nước Tường gồm các

cọc liền kề có thể là kết cấu tạm phục vụ

thi công hoặc tham gia chịu lực với kết

cấu cuối cùng

Các cọc bê tông có thể liên kết theo

nguyên tắc cứng – mềm (thông dụng) hay

cứng – cứng Các cọc bê tông mềm được

thi công trước, sử dụng hỗn hợp bê tông

mềm và không có cốt thép Các cọc cứng

được thi công sau và chèn vào các cột

mềm ở cả 2 mặt Các cọc cứng sử dụng

kết cấu bê tông cốt thép Các cọc cứng

tạo nên cường độ và độ cứng của kết cấu

tường Cũng giống như tường gồm các cọc

liền kề, tường gồm các cọc chèn vào nhau

có thể dùng làm kết cấu tạm phục vụ thi

công hoặc tham gia chịu lực với kết cấu

cuối cùng

Hình 1.15 Tường neo cọc bê tông cốt thép liền

kề làm kết cấu tạm phục vụ công tác đào đất

tại dự án Dalat Center (Nguồn Samwoo

Geotech CO Ltd)

1.5.4 Tường cọc xi măng - đất trộn

sâu

Cọc ximăng - đất trộn sâu là phương

pháp cải tạo đất nền nhằm tăng cường độ

khống chế chuyển vị và giảm tính thấm

[9] Mũi khoan nhiều trục và guồng trộn

được sử dụng để thi công các cọc chồng

lên nhau và được tăng cường độ bằng việc

trộn xi măng với đất Phương pháp này

được sử dụng để chống đỡ hố đào bằng

cách tăng cường độ chịu cắt của đất, ngăn

ngừa phá hoại do trượt, giảm tính thấm

và chống lại hiện tượng trồi bề mặt

Hình 1.16 Tường neo cọc xi măng – đất trộn sâu (Nguồn Samwoo Geotech CO Ltd)

1.5.5 Tường cừ bê tông cốt thép trong đất (tường barrette)

Tường cừ bê tông cốt thép trong đất

có thể dùng làm kết cấu tạm phục vụ thi công hoặc tham gia chịu lực cùng kết cấu cuối cùng Khi tường cừ tham gia chịu lực với kết cấu cuối cùng sẽ kinh tế hơn và việc thi công sẽ nhanh hơn Tường cừ bê tông cốt thép trong đất có độ cứng lớn hơn so với hệ thống tường cọc chống và ván lát ngang, tường cừ ván thép Nó được sử dụng để giảm độ lún, chuyển vị ngang của đất và kết cấu liền kề trong suốt quá trình thi công, đặc biệt là trong

Trang 39

35

hệ thống văng ngang nên có thể thi công

đào đất bằng cơ giới

- Chống được vách đất với độ ổn

định và độ an toàn cao, có thể thi công

được những hố đào rất sâu mà không phụ

thuộc vào kết cấu của tầng hầm

- Neo kết hợp với tường chắn mềm

làm phân bố lại nội lực trong kết cấu

tường, do đó có thể giảm kích thước,

chiều sâu của thép trong tường chắn

* Nhược điểm:

- Cần các thiết bị thi công chuyên

dụng, đội ngũ kỹ thuật thi công chuyên

nghiệp có nhiều kinh nghiệm

- Nền đất yếu thì khó áp dụng, chiều

sâu neo lớn khó thi công

- Khi sử dụng neo phải dùng đất của

các công trình lân cận do đó cần phải

được sự cho phép của đơn vị chủ quản

công trình này

2 Cơ sở lý thuyết tính toán neo trong đất

Trong các công trình dân dụng, neo

được sử dụng phổ biến nhất là để giằng

giữ ổn định tường chắn vách hố đào sâu,

chủ yếu là neo ƯST Trong mục này, tác

giả tìm hiểu cơ sở lý thuyết, cách tính

toán neo ƯST cho tường chắn hố đào Tập

trung vào 2 loại neo được sử dụng phổ

biến nhất là neo kiểu A và neo kiểu B

2.1) Nếu lưng tường chắn dưới tác động

của áp lực đất mà làm cho lưng tường

dịch chuyển như hình vẽ, khi đó thể đất

sau lưng tường đạt đến trạng thái cân

bằng giới hạn, tức trạng thái chủ động

Rankine [2] Lấy một phân tố đất ở độ sâu

z, chỗ lưng tường thì ứng suất theo

phương đứng của nó là z z

là ứng suất chính lớn nhất 1

, ứng suất theo phương ngang x

là ứng suất chính nhỏ nhất 3

, cũng tức là áp lực đất chủ động

tính toán pa Lấy 3  pa

,1  z

thay vào công thức ta sẽ được công thức tính

2

1 2

(3)Đối với đất tính sét: khi z = 0, từ công thức (2), biết pa   2 c Ka

tức là xuất hiện vùng lực kéo Cho pa trong công

Trang 40

36

thức 2.2 bằng 0, có thể giải được độ cao

của vùng chịu kéo là:

2

o

a

c h

K

(4)

Vì giữa đất lấp và lưng tường không

thể chịu ứng suất kéo, do đó trong phạm

vi lực kéo sẽ xuất hiện khe nứt, khi tính

áp lực đất chủ động lên lưng tường sẽ

không xét đến tác động của vùng lực kéo

lớp (Hình 2.2) vẫn có thể theo công thức

(1) và công thức (2) để tính áp lực đất

chủ động nhưng phải chú ý trên mặt ranh

giới của các lớp đất, do chỉ tiêu cường độ

chịu cắt của 2 lớp đất là khác nhau, làm

cho phân bố của áp lực đất có đột biến

Phương pháp tính như sau:

Khi bề mặt đất phía sau tường chắn

có tải trọng phân bố đều liên tục q tác động, khi tính toán có thể cho ứng suất đứng z

ở độ sâu z tăng thêm một trị q Thay  z trong công thức (1), (2) bằng

(  z q) sẽ được công thức tính áp lực đất

chủ động khi có siêu tải trên mặt đất:

Hình 2.3 Áp lực đất chủ động khi có siêu tải

quanh bờ hố móng

Đất tính cát: pa  (  zq K ) a

(6) Đất tính sét:

c q K h

2.2 Hệ số an toàn khi tính toán neo

Hệ số an toàn của một neo là tỉ số giữa tải trọng giới hạn và tải trọng thiết

kế Sau đây là quy định về hệ số an toàn trong tính toán neo theo quy phạm của một số nước:

Quy định về hệ số an toàn trong tính toán neo trong quy phạm ngành của hội tiêu chuẩn hóa xây dựng Trung Quốc (CECS 22-1990) [6] được trình bày trong bảng 2.1:

Ngày đăng: 31/10/2020, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w