1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh ninh bình

126 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 184,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diệnkhác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,… Từ những phân tích trên, trong Luận văn này khái niệm nguồn nhân lực đượ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Tr-ờng đại học khoa học xã hội

Hà Nội, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Tr-ờng đại học khoa học xã hội

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: TS Lờ Văn Minh

Hà Nội, năm 2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lược sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

3.2 Nội dung nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống 4

5.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 4

5.3 Phương pháp toán và thống kê du lịch 4

5.4 Phương pháp điều tra thực địa 4

5.5 Phương pháp so sánh đối chiếu 5

5.6 Phương pháp chuyên gia và dự báo 5

6 Những đóng góp cơ bản của luận văn 5

7 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch 6

1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 9

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực du lịch 22

1.1.4 Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển du lịch 29

1.2 Kinh nghiệm về phát triển nhân lực du lịch 33

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 33

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam 37

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho du lịch tỉnh Ninh Bình 41

Tiểu kết chương 1: 43

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH 44

2.1 Một số nét khái quát về du lịch Ninh Bình 44

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44

2.1.2 Tài nguyên du lịch 48

Trang 4

2.2 Một số kết quả hoạt động du lịch 53

2.2.1 Công tác quy hoạch du lịch 53

2.2.2 Đầu tư phát triển du lịch 55

2.2.3 Dịch vụ kinh doanh du lịch 61

2.2.4 Công tác phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá du lịch 64

2.2.5 Kết quả kinh doanh du lịch 66

2.3 Thực trạng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực Ninh Bình 67

2.3.1 Quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực 67

2.3.2 Chất lượng nguồn nhân lực 69

2.3.3 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực 72

2.3.4 Đào tạo nhân lực trong ngành du lịch 73

2.4 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình 76

2.4.1 Công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực 76

2.4.2 Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ du lịch 79

2.5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch 80

2.5.1 Những kết quả đạt được 80

2.5.2 Những hạn chế, nguyên nhân 81

Tiểu kết chương 2: 82

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁPPHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH NINH BÌNHGIAI ĐOẠN 2013 - 2020 84

3.1 Một số định hướng phát triển du lịch và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 84

3.1.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 84

3.1.2 Định hướng phát triển nguồn nhân lực 85

3.2 Một số giải pháp chủ yếu 87

3.2.1 Kiện toàn tổ chức và nhân sự phụ trách công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch 87

3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển nhân lực du lịch 92

Tiểu kết chương 3 : 98

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

1 Kết luận 99

2 Đề xuất, kiến nghị 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. APEC: Asia Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn hợp tác Châu Á– Thái Bình Dương)

2. Bộ VH,TT&DL: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

3. EU: European Union (Liên minh Châu Âu)

4. LĐ: lao động

5. GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

6. ISO: International Labor Organization (tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế)

7. NNl: nguồn nhân lực

8. UBND: Ủy Ban nhân dân

9. UNESCO: United Nationas Educational Scientific Cultural

Organization (Tổ chức giáo dục, khoa học và Văn hóa của Liên hiệpquốc)

10 TP: thành phố

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Dân cư, mật độ dân số Ninh Bình năm 2013 45

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế Ninh Bình phân theo lĩnh vực kinh tế 47

Bảng 2.3: Tổng hợp cơ sở lưu trú tỉnh Ninh Bình (2009 – 2013) 57

Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh du lịch tỉnh Nình Bình (2009 – 2013) 67

Bảng 2.5: Tổng hợp lao động trong ngành du lịch tỉnh Ninh Bình 68

Giai đoạn (2009 – 2013) 68

Bảng 2.6 : Kế hoạch đào tạo nhân lực hàng năm 75

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu Lao động tham gia các loại hình dịch vu du lịch 69 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu Lao động phân theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ 70

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên trong luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, quản lý và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Văn Minh - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này.

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo phòng Nghiệp Vụ Du lịch

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi được tham gia học tập và nghiên cứu.

Mặc dù bản thân đã hết sức nỗ lực cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo

và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày

Tác giả luận văn

Phạm Duy Phong

Trang 9

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện.Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưatừng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin hoàntoàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ninh Bình có tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn hóa) vô cùng đa dạng

và phong phú Trong những năm qua Du lịch Ninh Bình đã bước đầu pháttriển và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Ngành Du lịch đã được Tỉnh

ủy, UBND tỉnh định hướng là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Du lịch pháttriển sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của địa phương, cảithiện về cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ lựclượng lao động, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển, góp phần làmchuyển dịch cơ cầu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ

Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước thì đến nay du lịch Ninh Bình phát triển chưa thực sựtương xứng với tiềm năng Những thành tựu đã đạt được trong thời gian quachỉ là kết quả bước đầu, chưa toàn diện, chưa vững chắc và còn nhiều hạnchế Lực lượng sản xuất còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ, trình độ chuyênmôn hóa chưa cao; các yếu tố về chính sách, pháp luật còn đang trong quátrình xây dựng và hoàn thiện, đôi khi chưa theo kịp với sự phát triển của hoạtđộng thực tiễn Bộ máy nhân sự quản lý ngành và nhất là nguồn nhân lực dulịch tại các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực du lịch hiện đã bộc lộ nhiều nhữngkhiếm khuyết cần được khắc phục Đây là một trong những điều kiện tiênquyết, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển du lịch thực sự trởthành ngành kinh tế mũi nhọn như Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 20 đề ra

Để giải quyết yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành Du lịch,việc phân tích, đánh giá về thực trạng và công tác phát triển nguồn nhân lực

du lịch, xác định những điểm mạnh, ưu thế cần phát huy, đồng thời tìm ranhững vấn đề còn hạn chế, yếu kém, nhằm đề xuất những giải pháp thiết thực,khả thi, góp phần nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêucầu cả về số lượng, chất lượng và có cơ cấu phù hợp là một việc làm cần thiết

Vì vậy, đề tài “Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình” là rất quan

Trang 11

trọng và cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn nhằm giải quyết những vấn đề tồnđọng nêu trên.

2 Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu

Hiện nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ,chi tiết về các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình Tuynhiên trong những năm qua Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch Ninh Bình nay là

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình cũng đã có thống kê và đưa ragiải pháp để phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2005 - 2010

Tuy nhiên, trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng có nhiềucông trình nghiên cứu về nhu cầu nguồn nhân lực du lịch ở cấp địa phương (ví

dụ đề tài luận văn “Phát triển đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại Quảng Ninh”của tác giả Bùi Thị Thúy Hằng… Đối với ngành du lịch cả nước, Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch đã chủ trì xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

du lịch Việt Nam đến năm 2020 Theo đó, đã xác định nhu cầu (về số lượng,trình độ đào tao, cơ cấu chuyên môn nghiệp vụ…) về nguồn nhân lực du lịchcho cả nước, từng vùng du lịch trọng điểm và một số địa phương có ngành dulịch phát triển Đây cũng là cơ sở quan trọng để các tỉnh, thành phố trong cảnước xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch cho địa phươngmình

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là đề xuất các giải pháp khả thi,góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực du lịch cả về số lượng, chấtlượng, cơ cấu lao động du lịch, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch tỉnh NinhBình nhanh và bền vững

3.2 Nội dung nghiên cứu

Để giải quyết được mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứunhững nội dung chính sau:

Trang 12

- Tổng quan các vấn đề về phát triển du lịch nói chung và nguồn nhân lực du lịch nói riêng, trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn ở Ninh Bình.

- Xác định vị trí, vai trò quan trọng của nguồn nhân lực du lịch trong sựphát triển du lịch tỉnh Ninh Bình

- Thực trạng phát triển du lịch và nguồn nhân lực du lịch, và hoạt độngphát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình Phân tích đánh giá những mặttích cực và những điểm còn hạn chế cần khắc phục

- Định hướng về yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch: về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động du lịch tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình,tập trung vào các nhóm giải pháp về: tổ chức bộ máy, nhân sự làm công tácphát triển nguồn nhân lực du lịch; cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triểnnguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013 - 2020; nâng cao nănglực các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh; duy trì và mở rộng hợp tác quốc tế vềphát triển nguồn nhân lực của Tổng cục Du lịch cũng như của tỉnh

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các yếu tố về số lượng, chất lượng, cơ cấu laođộng du lịch, chủ yếu tập trung vào lao động du lịch trực tiếp; hoạt động pháttriển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình thời gian qua; phát hiện những điểmmạnh, những yếu tố tích cực cần phát huy cũng như những khó khăn, bất cậpcần được giải quyết; đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực phù hợpvới yêu cầu phát triển ngành Du lịch Ninh Bình hiện nay

4.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Phạm vi lãnh thổ tỉnh Ninh Bình

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố liên quan đếnnguồn nhân lực du lịch, tập trung vào lực lượng lao động trực tiếp của ngành

du lịch Ninh Bình; công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực du lịch và đềxuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch

Trang 13

- Về thời gian: các tài liệu thứ cấp đưa vào nghiên cứu, phân tích đượcthu thập trong thời gian từ 2000 - 2013; Các tài liệu, số liệu sơ cấp được thuthập từ 2009 - 2013 Các giải pháp đưa ra để thực hiện trong giai đoạn từ

2013 đến 2020, tạo cơ sở phát triển đến 2030

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương phápluận cho quá trình phân tích, kết luận các vấn đề nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống

Đây là phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nghiêncứu các đối tượng có mối quan hệ đa chiều và nhiều biến động trong khônggian như ngành du lịch nói chung và nguồn nhân lực du lịch nói riêng

5.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

Phương pháp này hết sức cần thiết cho việc thực hiện các đề tài nghiêncứu về du lịch Để có được một lượng thông tin đầy đủ cần tiến hành thu thậpthông tin, dữ liệu từ các nguồn khác nhau

5.3 Phương pháp toán và thống kê du lịch

Đây là phương pháp không thể thiếu được trong các đề tài nghiên cứukhoa học Những thông tin, số liệu có liên quan đến hoạt động du lịch, đếnnguồn nhân lực du lịch trên địa bàn sẽ được thu thập, thống kê làm cơ sởcho việc xử lý, phân tích, đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra của

đề tài

5.4 Phương pháp điều tra thực địa

Phương pháp này có mục đích cơ bản là điều tra nhằm bổ sung hoặckiểm tra tình hình thực tế những thông tin cần thiết cho quá trình phân tích,

xử lý số liệu khi thực hiện đề tài

Ngoài ra, các thông tin thu thập trên thực tế giúp người nghiên cứu có

sự đánh giá khách quan, qua đó sẽ tổng hợp được các ý kiến, quan điểm đadạng nhằm đề ra các giải pháp có hiệu quả nhất

Trang 14

5.5 Phương pháp so sánh đối chiếu

Sử dụng phương pháp này sẽ giúp cho người nghiên cứu có sự nhìnnhận tổng quan về tình hình hoạt động du lịch và sự phát triển của nguồn nhânlực du lịch của Ninh Bình với một số địa phương khác của Việt Nam

5.6 Phương pháp chuyên gia và dự báo

Phương pháp dự báo được áp dụng trong đề tài nhằm tiên đoán nhữngviệc sắp xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu

đã thu thập được Các yếu tố cần dự báo là nguồn nhân lực du lịch của NinhBình trong thời gian tới

- Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển

du lịch và nguồn nhân lực du lịch, từ đó vận dụng sáng tạo vào địa bàn tỉnh

Ninh Bình

- Đánh giá tổng hợp các nguồn lực phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch nói chung và phát triển nguồnnhân lực du lịch nói riêng của tỉnh Ninh Bình, từ đó rút ra những thành công

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch và nguồn

nhân lực du lịch

Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình.Chương 3: Một số định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực

du lịch tỉnh Ninh Bình

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VÀ NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch

1.1.1.1 Du lịch và ngành du lịch

Du lịch là một hiện tượng xã hội, liên quan đến hoạt động nghỉ ngơicủa con người cũng như các hoạt động kinh tế phục vụ mục đích đó Trongquá trình phát triển của xã hội loài người, nội dung của khái niệm du lịchkhông ngừng được mở rộng Thuở ban đầu, du lịch chỉ được hiểu đơn thuần làcác chuyến đi xa ra khỏi nơi cư trú để thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết vềthế giới xung quanh Sau này khi các chuyến đi với các mục đích khác nhauđược kết hợp với nhu cầu du lịch thì khái niệm trên không còn bó hẹp và đãđược gắn liền với tên các hoạt động như du lịch thể thao, du lịch tôn giáo, dulịch thăm thân, du lịch nghỉ dưỡng

Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biếnkhông chỉ ở những nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nội dung du lịchvẫn chưa thống nhất trong một định nghĩa

Do hoàn cảnh thời gian, khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiêncứu khác nhau, người ta đưa ra khá nhiều định nghĩa về du lịch Theo Tiến sỹ

Berner – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định: “Đối

với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [12

tr.7] Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa về du lịch được mọingười công nhận Thực tế cho thấy các tác giả David Weaver và MartinOpperman, trong tác phẩm “Tourism Management”, đã đúng khi cho rằng:Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu những người nghiên cứu và các tổ chức

đã đưa ra một định nghĩa phù hợp và cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa

về du lịch mà mọi người có thể thống nhất

Trang 16

Ở Việt Nam, khái niệm về du lịch mà Luật Du lịch đã được Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7 khóa

IX xác định dưới đây là khái niệm có tính khoa học và tính pháp lý, đồng thời

nó được xây dựng xuất phát từ nhu cầu của người đi du lịch và người quản lý

du lịch, vì vậy nó phù hợp với yêu cầu nghiên cứu của đề tài: “Du lịch là các

hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [25, tr 20].

Khi du lịch phổ biến hơn, số lượng du khách gia tăng, nhiều cơ sở lưutrú, vận chuyển, lữ hành… ra đời đáp ứng các nhu cầu khác nhau của dukhách Đến nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng quần chúng Đáp ứngnhu cầu to lớn và đa dạng này không còn là hoạt động của các doanh nghiệpriêng lẻ mà chúng gắn bó chặt chẽ tạo nên một hệ thống các doanh nghiệp,hình thành ngành kinh doanh du lịch Ngành du lịch là một hệ thống kỹ thuật,kinh tế - xã hội có mục tiêu là khai thác các tài nguyên, sử dụng các phươngtiện nhân lực, vật lực tạo nên những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các nhu cầukhác nhau của du khách trong quá trình thực hiện chuyến đi

1.1.1.2 Khách du lịch và phân loại khách du lịch

a Khách du lịch: Có nhiều định nghĩa về du khách, nhưng do hoàn cảnh thực

tế, dưới lăng kính khác nhau của các học giả, các định nghĩa được đưa ra

không phải hoàn toàn như nhau Có những ý kiến cho rằng "Du khách là

người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình" [12, tr.16], nhưng có nhiều

người lại nhấn mạnh thêm việc rời khỏi nơi cư trú của mình "không phải theo

đuổi mục đích kinh tế" [12, tr.17] Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của

ngành du lịch thì chính các thương gia, trong quá trình mở rộng quan hệ làm

ăn buôn bán của họ là một đối tượng phục vụ quan trọng của ngành du lịch

Từ những nhận định trên, ta nhận thấy du khách là những người từ xatới và có mục đích thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết và phục hồi sức khoẻ.Khái niệm về du khách được ghi trong Luật Du lịch là khái niệm có tính khoa

Trang 17

học và pháp lý phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Khách du lịch là

người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [25, tr 20].

b Phân loại khách du lịch: Trên cơ sở khái niệm khách du lịch nêu trên ta có

thể phân loại khách du lịch như sau:

+ Phân loại theo vùng địa lý: khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế:

- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoàithường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam [25, tr.40]

- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ởnước ngoài vào Việt Nam du lịch hoặc người Việt Nam, người nước ngoài cưtrú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch [25, tr 40]

+ Phân theo hình thức đi du lịch:

- Khách du lịch đi theo tour (trọn gói, hoặc tour mở)

- Khách du lịch tự do (không theo tour)

+ Phân loại theo thời gian ở:

- Khách lưu trú

- Khách không lưu trú

+ Phân loại theo mục đích chuyến đi:

- Khách tham quan: là loại khách đến chỉ với mục đích tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hóa

- Khách du lịch kết hợp với mục đích khác như: học tập, nghiên cứu, công tác, hội họp, thể thao, chữa bệnh, nghỉ dưỡng

Với cách phân loại theo bốn tiêu chí cơ bản trên đã thể hiện được đặctrưng của từng loại khách, có thể làm cơ sở cho các nhà quản lý, nhà kinhdoanh du lịch xác định và phân khúc thị trường khách, từ đó có những địnhhướng và chiến lược phù hợp để sử dụng, khai thác tài nguyên du lịch mộtcách hiệu quả và bền vững

Trang 18

1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

1.1.2.1 Khái niệm

* ) Khái niệm về nguồn nhân lực

Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân lực (human resaurces; manpower) đãđược sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm 80của thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con người, phản ánh sự đánh giá lạivai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển

Nguồn lực con người được hiểu là tổng hòa của các mối quan hệ thốngnhất giữa năng lực, thể lực, trí lực, văn hóa và tính năng động, nhạy bén củacon người trong một xã hội [5]

Khái niệm nguồn nhân lực có nguồn gốc từ bộ môn kinh tế học và kinh

tế chính trị, được gọi một cách truyền thống là lao động - một trong bốn yếu

tố của sản xuất Sự xuất hiện của thuật ngữ nguồn nhân lực thể hiện sự côngnhận của phương thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con người.Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực Có định nghĩatiếp cận theo hướng coi nguồn nhân lực là nguồn lực với yếu tố vật chất, tinhthần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển chung của các tổchức Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực conngười của các tổ chức có quy mô, loại hình, chức năng khác nhau, có khảnăng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sựphát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực và thế giới

Xem xét con người từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bản nhấttrong xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin coi nguồn lực con người là lực lượng sảnxuất hàng đầu của nhân loại, là phương tiện chủ yếu để sản xuất hàng hóa,dịch vụ

Lý luận về vốn con người xem xét nhân tố con người với tư cách là mộtyếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội vàcòn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn cho sự phát triểncủa nó

Trang 19

Với cách tiếp cận này, Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực làtoàn bộ vốn con người gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,… mà mỗi

cá nhân sở hữu và được xem là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chấtkhác như: vốn tiền, vốn công nghệ, vốn tài nguyên thiên nhiên,… và họ cũngcho rằng việc đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư

và được coi là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững [5]

Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Nhân lực là sức người dùng trong sảnxuất” Ở đây, nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người,bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất,thái độ và phong cách làm việc

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người Nguồn lực đó được xem xét ởhai khía cạnh Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồnlực Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khácnhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác Thứ hai, nguồnnhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân Với tư cách là mộtnguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người cókhả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện

ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định

Với cách hiểu như vậy, nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàmnhững người trong độ tuổi lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chấtlượng, mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn, gồm toàn bộ trình độ chuyênmôn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tươnglai Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là phương tiệnhữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững

Nguồn nhân lực cũng được nhìn nhận về khía cạnh số lượng, không chỉnhững người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động Nguồnnhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địaphương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó; nguồn lực conngười được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao

Trang 20

gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất), tức là không chỉ bao hàm sốlượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực hiện tại, mà còn bao hàm của nguồncung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốcgia, khu vực và thế giới.

Nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khácnhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định Nguồn nhânlực là toàn bộ vốn kiến thức, kỹ năng và sức người cần đầu tư vào công việc

để đạt được thành công

Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, nhưng cácđịnh nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là:

- Số lượng nguồn nhân lực: được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về

quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực Sự phát triển về số lượngnguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tếcông việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổchức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân

- Chất lượng nhân lực: là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như

trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ, của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực

- Cơ cấu nguồn nhân lực: đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét

đánh giá về nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diệnkhác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,…

Từ những phân tích trên, trong Luận văn này khái niệm nguồn nhân lực

được hiểu như sau: nguồn nhân lực là một phạm trù mang tính tổng hợp để

chỉ tổng thể tiềm năng lao động của con người để làm ra của cải vật chất cho

xã hội Nguồn nhân lực sẽ được thể hiện qua các tiêu chí về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực tham gia vào nền sản xuất xã hội.

Ngày nay, trong hoạt động kinh tế và quản trị kinh doanh, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng: rủi ro của mọi rủi ro là rủi ro về nguồn nhân lực Vì vậy

Trang 21

nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thànhbại của tổ chức Bất kể một tổ chức nào dù mạnh hay yếu thì yếu tố con ngườivẫn là yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất Trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, cácthay đổi là cần thiết trong lực lượng lao động của mỗi quốc gia nhằm địnhhướng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân thấy được vàđịnh hướng sự phát triển nguồn nhân lực của mình và từ đó đáp ứng các cơhội và thách thức do hội nhập quốc tế mang lại.

*) Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn lực con người, hoặc phát triển NNL, hoặc phát triểnnguồn tài nguyên con người là những khái niệm hình thành và phát triển trênthế giới, dựa trên quan điểm mới về phát triển và về vị trí con người trong sựphát triển

Phát triển NNL theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập có tổchức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thayđổi về hành vi nghề nghiệp cho người LĐ được thực hiện bởi doanh nghiệp.Phát triển NNL cũng được hiểu cơ bản là gia tăng giá trị cho con ngườitrên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực, làm cho con ngườitrở thành những người lao động có những năng lực mới và cao, đáp ứng đượcnhững yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế, xã hội

Khái niệm phát triển NNL cần được hiểu đầy đủ hơn trong quản lýnguồn nhân lực, bao gồm 3 mặt phải quản lý: phát triển nguồn nhân lực; sửdụng nguồn nhân lực; nuôi dưỡng môi trường cho nguồn nhân lực

Quan điểm phát triển NNL lại được Đảng đề cập trong Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI Đó là: Đảng ta đã xác định chiến lược pháttriển kinh tế xã hội từ 2011 - 2020 trong đó, đồng thời xác định một trong ba

khâu đột phá quan trọng là: “Phát triển nhanh NNL, nhất là NNL chất lượng

cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng chiến lược phát triểnNNL, chiến lược phát triển con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là

Trang 22

động lực của sự phát triển Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảngđều nhằm quán triệt tư tưởng chăm lo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố conngười, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam.

Tóm lại, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa chung nhất mà

trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đưa ra khái niệm: Phát triển

nguồn nhân lực là tổng thể các chính sách, biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực và nhân lực, đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất nhân lực của nguồn LĐ

để phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.

1.1.2.3 Các đặc điểm nguồn nhân lực du lịch

Ngành du lịch là ngành có liên quan đến nhiều ngành và nhiều lĩnh vựckhác nhau và mang tính chất khác nhau – tuy nhiên nó chỉ bao gồm một sốlĩnh vực kinh doanh nhất định, do các công ty hoặc các doanh nghiệp kinhdoanh du lịch đảm nhận Do đó, nếu xét trên mức độ trực tiếp họăc gián tiếpcủa từng loại lao động đến hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, các đơn

vị sự nghiệp và mỗi doanh nghiệp, lao động trong lĩnh vực kinh doanh du lịchđược chia làm 3 nhóm chính sau:

+ Nhóm lao động chức năng quản lý nhà nước về du lịch: Nhóm này có

vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia

và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch Họ đạidiện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dulịch kinh doanh có hiệu quả; kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh

+ Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch: Đây là bộ phận

có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về ngành du lịch, có chứcnăng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việcphát triển nguồn nhân lực ngành du lịch, tác động lớn đến chất lượng và sốlượng của nguồn nhân lực ngành du lịch hiện tại và trong tương lai

Trang 23

+ Nhóm lao động chức năng kinh doanh: Nhóm lao động này chiếm số

lượng đông đảo nhất trong hoạt động của ngành du lịch và cần được nghiêncứu kỹ lưỡng nhất

Nhóm lao động chức năng kinh doanh có một số đặc điểm riêng là:

- Cơ cấu độ tuổi trẻ, tỷ lệ lao động nữ cao hơn so với lao động nam:xuất phát từ tính đặc thù của ngành du lịch đòi hỏi phải có lực lượng lao động

có sức khoẻ, trẻ trung và nhanh nhẹn, nên hình thành lực lượng lao động có

cơ cấu độ tuổi trẻ Nhiều lĩnh vực phục vụ khách du lịch như lễ tân, bàn, bar,buồng đòi hỏi có sự duyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ Vìvậy, tỷ lệ lao động nữ thường cao hơn lao động nam

- Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu: Có sự phân bố không đồngđều theo lãnh thổ và các nghiệp vụ du lịch Xuất phát từ tính định hướng tàinguyên rõ nét của ngành du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra tại cáckhu, điểm du lịch, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và được đầu tư đồng

bộ về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Vì vậy, phần lớn lao động đã quađào tạo đều làm việc tại những khu du lịch, trung tâm du lịch lớn, ở nhữngkhu vực còn lại thường thiếu lao động

Trong ngành du lịch có nhiều công việc với yêu cầu lao động giản đơn,không đòi hỏi phải đào tạo ở trình độ cao mới thể hiện được, dẫn đến tìnhtrạng tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học khá cao Ngược lại,

ở những bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, những người lao độngthường được trang bị đầy đủ các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, giao tiếp

và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữ tương đối cao

- Có sự biến động mạnh về số lượng theo thời gian trong năm: Do ảnhhưởng của tính thời vụ du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra sôi độngtrong một thời gian nhất định của năm (còn gọi là mùa cao điểm), vào thờiđiểm cao điểm của mùa du lịch, các doanh nghiệp thường phải tuyển dụngthêm các lao động thời vụ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, phục vụ khách

Trang 24

của mình Đến mùa thấp điểm, doanh nghiệp du lịch chấm dứt hợp đồng laođộng với những lao động thời vụ.

Lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp du lichlại được chia thành 4 nhóm cơ bản với vai trò và đặc trưng khác nhau trongquá trình hoạt động kinh doanh du lịch:

- Lao động quản lý chung;

- Lao động thuộc bộ phận quản lý chức năng;

- Lao động đảm bảo điều kiện kinh doanh du lịch;

- Lao động trực tiếp tham gia vào các quá trình kinh doanh du lịch;

a Đặc điểm lao động quản lý chung:

Lao động quản lý chung trong lĩnh vực kinh doanh du lịch được hiểu đó

là những người đứng đầu (người lãnh đạo) thuộc các đơn vị kinh tế cơ sở:doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, hãng lữ hành du lịch, vận tải (đó làtổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc ) Lao động của người lãnh đạotrong lĩnh vực kinh doanh du lịch có những điểm riêng biệt, bởi đối tượng,công cụ và sản phẩm lao động của họ có tính đặc thù

Một là: lao động của người lãnh đạo trong các hoạt động kinh doanh dulịch là loại lao động trí óc đặc biệt Sản phẩm mà họ làm ra chính là nhữngquyết định Quyết định của cán bộ lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du lịch

có tác động quan trọng để mang lại hiệu quả kinh doanh, nâng cao hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp du lịch Quyết định đúng hoặc sai, chất lươngcao hay thấp hoàn toàn phu thuộc vào trình độ năng lực của người lãnh đạo

Như vậy, ra quyết định và tổ chức thực hiện ra quyết định thể hiện rõnét nhất đặc điểm lao động trí óc của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinhdoanh du lịch Đặc điểm này đòi hỏi lao động của người lãnh đạo phải là laođộng được đào tạo chu đáo, phải có bằng quản lý, phải qua các lớp quản lý về

du lịch phải thương xuyên học hỏi từ hoạt động thực tiễn

Hai là, lao động của người lãnh đạo trong kinh doanh du lịch là loại laođộng tổng hợp Tính tổng hợp của lao động lãnh đạo biểu hiện ở chỗ nó vừa

Trang 25

là lao động quản lý vừa là lao động giáo dục, lao động chuyên môn, vừa là laođộng của các hoạt động xã hội khác.

Quan hệ của doanh nghiệp du lịch vô cùng đa dạng và phức tạp Đó làmột xã hội thu nhỏ, chồng chéo vô số các mối quan hệ Với tư cách là laođộng quản lý, người lãnh đạo chịu trách nhiệm điều hoà các mối quan hệ trên.Điều hoà và cân đối càng giỏi, chứng tỏ năng lực quản lý càng cao Vì chỉ cầnmột trục trặc một mối quan hệ sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ dây chuyền kinhdoanh

Với tư cách là nhà giáo dục, đạo đức, lao động của người lãnh đạo làthuyết phục và hướng dẫn, là tấm gương cho mọi người trong tổ chức làmviệc và biết làm việc một cách trật tự có ngăn nắp Cán bộ lãnh đạo trong lĩnhvực kinh doanh du lịch đòi hỏi ngày càng phải có một bản lĩnh chính trị vữngvàng và phẩm chất đạo đức tốt Đó là sự trung thành, trân trọng những truyềnthống tốt đẹp của dân tộc Là sự am hiểu đường lối chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, quán triệt những đường lối, chủ trương chính sách đótrong công việc điều hành của mình Sống đúng đạo lý của dân tộc Luôn giữgìn sự trong sáng của nhân cách, bắt nhịp và tiếp thu những giá trị văn hoánhân loại

Với tư cách là một nhà chuyên môn lao động của nhà lãnh đạo là laođộng của người tìm kiếm nhân tài, sử dụng người giỏi, tổ chức và điều hànhcông việc một cách trôi chảy cho mục đích kinh doanh có hiệu quả cao Cán

bộ lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du lịch cần phải có một trình độchuyên môn nhất định về nguồn lực phát triển du lịch, đặc biệt nguồn lựcthiên nhiên và nguồn lực nhân văn

Với tư cách là nhà hoạt động xã hội, người lãnh đạo trong kinh doanh

du lịch còn tham gia hoạt động kinh tế - xã hội khác trong đơn vị và theo yêucầu của địa phương, ngành và đất nước (các tổ chức đoàn thể quần chúng, cáchiệp hội khoa học, kinh tế, kinh doanh, chính trị, thể thao, văn hoá )

Trang 26

Đặc trưng lao động trí óc, lao động tổng hợp nói răng lao động lãnh đàotrong lĩnh vực kinh doanh du lịch là loại lao động phức tạp, có ảnh hưởng tớinhiều người, có khi đến cả dân tộc Do đó, người lãnh đạo trong lĩnh vực kinhdoanh du lịch phải có một tiềm năng kiến thức tương ứng và khả năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn.

b Đặc điểm lao động thuộc các bộ phận quản lý chức năng:

Lao động thuộc các bộ phận quản lý chức năng bao gồm: lao độngthuộc phòng kế hoạch đầu tư và phát triển; lao động thuộc phòng tài chính kếtoán (hoặc phòng kinh tế); lao động thuộc phòng vật tư thiết bị, phòng tổnghợp; lao động thuộc phòng quản lý nhân sự vv Nhiệm vụ chính của lao độngthuộc các bộ phận này là tổ chức hạch toán kinh doanh, tổ chức bộ máy quản

lý doanh nghiệp, tổ chức lao động, tổ chức các hoạt động kinh doanh, hoạchđịnh quy mô và tốc độ phát triển doanh nghiệp

Điểm nổi bật trước hết của lao động thuộc các bộ phận quản lý chứcnăng là ở chỗ phải có khả năng phân tích các vấn đề đã và đang hoặc sắp sảy

ra trong doanh nghiệp của mình, hoặc các vấn đề đã, đang và sẽ sảy ra do tácđộng của biến số vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng tới nhiệm vụ của mìnhhoặc của doanh nghiệp

Điểm nổi bật nữa của lao động thuộc bộ phận quản lý chức năng có khảnăng “tổng hợp” tốt Mặc dù việc “phân tích” tình hình và nghiệp vụ của mỗilao động không giống nhau, nhưng kết quả cuối cùng của việc “phân tích” đóphải cung cấp được “thông tin” cho lãnh đạo xử lý, từ đó người lãnh đạo mới

đề ra được quyết định đúng đắn trong kinh doanh Do đó, để có được nhữngthông tin này, mỗi lao động thuộc các bộ phận quản lý chức năng đồng thờiphải có khả năng biết “tổng hơp” vấn đề Bản tổng hợp vấn đề đòi hỏi phảichính xác, có giá trị thực tiễn và có thể dùng để làm tham mưu cho lãnh đạo

Để có cơ sở và khả năng “phân tích - tổng hợp” vấn đề có chất lượngcao, đòi hỏi mỗi lao động quản lý chức năng phải được đào tạo một cách chuđáo, mỗi lao động ở đây ngoài những kiến thức chuyên môn được đào tạo

Trang 27

theo đúng chuyên ngành thì cần phải có những kiến thức hiểu biết về các lĩnhvực kinh doanh du lịch Không những thế lao động phải có tính năng động cókhả năng thích nghi và nghị lực tốt; cần biết lắng nghe ý kiến của nhiềungười, tìm tận gốc mọi nguyên nhân gây thất bại khi giải quyết công việc,điều đó đòi hỏi lao động ở đây phải có tính kiên trì, làm đến nơi đến chốn.

c Đặc điểm lao động thuộc khối bảo đảm điều kiện kinh doanh du lịch:

Lao động thuộc khối đảm bảo điều kiện kinh doanh du lịch, được hiểu

đó là những người không trực tiếp cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho dukhách Nhiệm vụ chính của họ là cung cấp những nhu yếu phẩm, phương tiệnlàm việc cho những lao động thuộc các bộ phận khác của doanh nghiệp Laođộng thuộc nhóm này có: nhân viên thường trực bảo vệ; nhân viên làm vệsinh môi trường; nhân viên phụ trách công tác sửa chữa điện nước; nhân viêncung ứng hàng hóa; nhân viên tạp vụ vv trong các công ty, khách sạn hoặccác doanh nghiệp kinh doanh du lịch

Mặc dù không trực tiếp phục vụ và cung cấp sản phẩm du lịch chokhách du lịch, nhưng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đòi hỏi bộ

phận lao động này có những điểm nổi bật sau đây:

Một là, luôn trong tình trạng sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ Hai là, có những quyết định kịp thời, giải quyết tốt mọi công việc hàng

ngày cũng như những việc đột xuất

Ba là, năng động và linh hoạt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

d Đặc điểm lao động trực tiếp kinh doanh du lịch:

Lao động trực tiếp kinh doanh du lịch được hiểu đó là những lao độngtrực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ

và phục vụ cho du khách Nhóm lao động này rất đông đảo thuộc nhiều ngànhnghề khác nhau và đòi hỏi phải tinh thông nghề nghiệp Trong khách sạn có:lao động thuộc nghề lễ tân; nghề buồng; nghề nấu ăn; nghề bàn và pha đồuống; Trong kinh doanh lữ hành có: lao động làm công tác điều hành chươngtrình du lịch, marketing du lịch và đặc biệt có lao động thuộc nghề hướng dẫn

Trang 28

du lịch vv ; Trong ngành vận tải chuyển khách du lịch có lao động thuộcnghê điều khiển phương tiện vận chuyển vv Các nghề trên lại được chi tiếthóa thành từng việc cụ thể phân công cho từng chức danh nghề nghiệp khácnhau và tuỳ theo quy mô to, nhỏ của các công ty và doanh nghiệp kinh doanh

du lịch mà có thể thêm bớt lao động ở vị trí này hoặc ở vị trí khác, hoặc bố trímột người kiêm nhiều việc

- Lao động chế biến các món ăn: Việc nấu ăn phục vụ khách du lịch nóiriêng và cho khách nói chung hoàn toàn không đơn giản Để các món ăn trangtrí đẹp mắt, đòi hỏi người đầu bếp phải có kiến thức về thẩm mỹ, kiến thức sửdụng gia vị, kiến thức về cân bằng âm - dương trong ăn uống và đặc biệt phải

có kỹ năng về cắt tỉa, thái, gọt: rau, củ, quả để trình bày món ăn Món ăn bưng

ra phục vụ có mùi thơm do đó đòi hỏi người đầu bếp phải biết kỹ thuật tẩmướp… Đó là chưa kể để thành một đầu bếp giỏi là rất khó vì trong nghề chếbiến món ăn còn nhiều nghiệp vụ như: các món ăn theo từng nước, món ăntheo dân tộc, tôn giáo, theo sức khoẻ

- Lao động thuộc nghề phục vụ ăn uống (phục vụ bàn): Người ngoàinghề có cảm tưởng đây là một việc đơn giản không cần phải học Nhưngtrong thực tế, việc chế biến món ăn đã khó thì việc phục vụ cho khách thưởngthức các món ăn ngon và có ấn tượng thì lại càng khó hơn Về mặt nghềnghiệp, đòi hỏi người phục vụ phải biết được những kiến thức cơ bản về trìnhbày món ăn sao cho phù hợp với các món ăn và đồ uống sẽ phục vụ cho kháchnhư: Biết cách phục vụ các món ăn, đồ uống với các thao tác cơ bản gọi tắt là:bưng, bê, gắp, rót; Biết cách phục vụ các loại tiệc khác nhau vv… Người tathường gọi nhân viên phục vụ nhà hàng như những diễn viên trên sân khấu,làm sao phải biểu diễn phong cách phục vụ của mình một cách thành thụcnhất, ấn tượng nhất và đẹp nhất Mặc dù lao động của họ rất nặng nhọc nhưng

họ phải biết dấu những cảm xúc của mình để phục vụ khách một cách thậntrọng nhất với chất lượng cao nhất

Trang 29

- Lao động thuộc nghề pha chế và phục vụ đồ uống (phục vụ bar): Hiệnnay, ở nước ta nghề này chưa được phát triển vì điều kiện kinh tế còn eo hẹp.Đây là một nghề phục vụ cho những người giàu và sành ăn uống, đối với họ

“uống không phải để say mà là để thưởng thức” Do vậy, những người làmnghề này phải có kiến thức về đồ uống: tự nhiên, pha chế; đồ uống có cồn và

đồ uống không có cồn; đồ uống có cồn nhẹ, trung bình và nặng…

- Lao động thuộc nghề lễ tân: Nhân viên lễ tân là người mở đầu cuộctiếp xúc với khách du lịch bằng việc giới thiệu các điều kiện phục vụ (giátrong lưu trú, ăn uống, giá các “tour”, tình trạng buồng giường…) cho tới khiđạt được thỏa thuận tiếp nhận khách hay phục vụ khách Muốn đạt sự thỏathuận tiếp nhận, nhân viên lễ tân phải có nghệ thuật thuyết phục khách hàng

Để có công nghệ phục vụ hoàn hảo đòi hỏi lao động nghề lễ tân phải được đàotạo rất bài bản có được thái độ nhã nhặn lịch sự khi cần thiết, phong cách đóntiếp lịch lãm, nói năng phải mềm mỏng Họ phải có kiến thức về nghề lễ tân,

về thị trường, về thanh toán quốc tế, về cách đón tiếp và phục vụ khách, vềyêu cầu của khách đối với các dịch vụ và hàng hóa không những của kháchsạn mà còn cả trên thị trường

- Lao động thuộc nghề phục vụ buồng: Người ta nói, “đón tiếp là nơibán hàng còn nhà buồng là nơi giao nhận sản phẩm” Khách chê bai về giá cả,tiện nghi rồi bỏ đi là lỗi ở lễ tân không khôn khéo, nhưng khi khách chấp nhậnlấy phòng, nếu ở không toại nguyện vì vệ sinh kém chất lượng, ga, gối khôngthay đúng kỳ lại là lỗi của nhân viên phục vụ buồng Tiêu chuẩn mà mỗikhách du lịch đánh giá một buồng tốt hay xấu hoàn toàn phụ thuộc vào cánhân mỗi nhân viên phục vụ buồng Nhân viên buồng bao giờ cũng phải thựchiện các chức trách của mình là: làm vệ sinh thường xuyên và định kỳ buồngngủ dành cho khách và toàn bộ những khu vực trong phạm vi tổ buồng; chăm

lo sự nghỉ ngơi của khách, phục vụ đầy đủ những dịch vụ bổ sung do kháchyêu cầu trong quá trình họ lưu trú… Vì vậy, để thực hiện được các chức năng

đó trong quá trình phục vụ buồng nhân viên cần lịch sự, nhẹ nhàng, chu đáo,

Trang 30

không quấy rầy khách, không để các động tác thừa, không “nhòm ngó” linhtinh mỗi khi khách gọi một thứ nào đó Nhân viên phải bày tỏ sự quan tâm,chú ý của mình làm cho khách có cảm tưởng rằng: Người phục vụ có thiệncảm và rất quan tâm đến mình, mình đã gặp được những nhân viên du lịchvừa lành nghề vừa tốt bụng.

- Trong kinh doanh lữ hành: Theo quan niệm hiện đại, người ta xemnhững người thiết kế, xây dựng chương trình du lịch (tour du lịch) là nhữngngười viết kịch bản Trong kịch bản thể hiện rõ chương trình này sẽ thực hiệntrong bao nhiêu ngày, mỗi ngày bao nhiêu giờ và qua bao nhiêu điểm; ở mỗiđiểm bao nhiêu giờ; trong các điểm đó đòi hỏi người hướng dẫn phải thuyếtminh cho khách những gì; các điểm tham quan trong ngày được thiết kế phảitính đến nhu cầu của khách về nghỉ ngơi, ăn uống, tham quan, giải trí, chụpảnh lưu niệm, mua sắm…

Người điều hành chương trình du lịch là những đạo diễn, căn cứ vàođối tượng khách, hoàn cảnh khách quan và chủ quan, thời gian, thời tiết,người đạo diễn chương trình điều hành và gây ấn tượng sâu sắc nhất chokhách

Người hướng dẫn viên là người thực hiện công việc hướng dẫn theo

“kịch bản” và theo yêu cầu của đạo diễn Thời gian làm việc của họ là thờigian đi cùng với khách du lịch Vì vậy, lao động không được thực hiện theogiờ giấc cố định; về khối lượng công việc: Lao động hướng dẫn viên du lịchrất phức tạp bao gồm cả công việc trực tiếp phục vụ khách du lịch và côngviệc chuẩn bị trước đó như nâng cao bổ sung nghiệp vụ, xây dựng tuyến thamquan mới…

Lao động của hướng dẫn viên du lịch mang tính đơn điệu và phải chịuđựng cao về tâm lý, họ liên tục tiếp xúc với khách du lịch do vậy họ cần phải

có tâm lý ổn định, sẵn sàng trả lời do khách đặt ra

Trang 31

Do đó, một chương trình du lịch hấp dẫn và chất lượng cũng như bộphim hay một vở kịch phụ thuộc rất lớn vào vai trò người viết kịch bản, đạodiễn, diễn viên.

- Lao động thuộc nghề vận chuyển khách du lịch: Lao động thuộc nghềnày ngoài những chức năng nhiệm vụ có tính chất chung giống như của vậnchuyển phục vu dân sinh, phục vụ kinh tế, trong kinh doanh du lịch còn cónhững yêu cầu riêng Quy trình phục vụ vận chuyển trong du lịch đòi hỏi chấtlượng dịch vụ tổng hợp cao, vì ngoài việc di chuyển ra, trong quy trình phục

vụ có thêm các dịch vụ theo yêu cầu ngay trên xe, hay trên tuyến đường đi màkhông phải đơn thuần theo sự thuê bao hay thuê vận chuyển như mua bán,giải trí, giới thiệu tư vấn thông tin… Vì vậy trong quá trình vận chuyển ngườilái phương tiện vận chuyển phải có trình độ hiểu biết về văn hóa, có phongcách giao tiếp tế nhị; tinh thần phục vụ phải tận tình, ý thức bảo quản phươngtiện luôn tốt, sạch đẹp; phải nhạy bén, nhanh nhẹn để có thể đối phó kịp thờivới những trường hợp đột xuất xảy ra, để giải quyết được nhanh chóng (chậmthời gian, sự cố dọc đường, bỏ quên khách…) tránh những bực dọc của kháchxảy ra

Xã hội càng phát triển, sự chuyên môn hóa công việc ngày càng lớn vàcũng từ đó đòi hỏi người lao động phải có những kỹ năng chuyên sâu trongtừng lĩnh vực Nhận thức đúng đắn về vấn đề này sẽ đem lại sự phát triểnnhanh hơn, chất lượng hơn

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực du lịch

1.1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được đặt trong mối tổng hòa các quan hệ xã hội và quan

hệ sản xuất nên quá trình phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triểnnguồn nhân lực ngành du lịch nói riêng chịu sự tác động của nhiều yếu tốkhác nhau của xã hội Nguồn nhân lực cũng chính là sản phẩm của xã hội cóvăn hóa, thể chế chính trị, trình độ khoa học kỹ thuật khác nhau Các yếu tốchính có thể kể đến như sau:

Trang 32

- Trình độ phát triển của giáo dục đào tạo: Giáo dục đào tạo là yếu tố

cấu thành quan trọng của phát triển nguồn nhân lực Chất lượng của giáo dụcđào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, thông qua giáodục đào tạo các quốc gia hình thành nguồn nhân lực của mình với trình độ đàotạo, cơ cấu ngành nghề phù hợp với yêu cầu phát triển Trình độ phát triển củađào tạo nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của nhân lực ngành dulịch

- Các chính sách kinh tế - xã hội, kế hoạch, quy hoạch, liên kết trong phát triển của tỉnh: Các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước như: chính

sách giáo dục đào tạo; chính sách tuyển dụng, sử dụng lao động, lao động tiềnlương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động đều có tác động trực tiếp đếnnguồn nhân lực

Chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước không chỉ tạo điều kiện pháttriển nguồn nhân lực mà còn hạn chế các tác động tiêu cực đến sự phát triểncủa nguồn nhân lực thông qua những công cụ điều tiết vĩ mô Chính sách pháttriển du lịch của Nhà nước tác động đến sự phát triển du lịch, trong đó chínhsách đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến sự pháttriển lao động ngành du lich

- Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và trình độ, khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành: Sự phát triển về cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để

phát triển kinh tế Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn với nội dung “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăngnhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch

vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội, quy hoạch và phát triển nông thôn, tổ chức lại sản xuất

và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, vănminh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân nôngthôn”, theo đó là quá trình phân công lại lao động - xã hội, góp phần nâng cao

Trang 33

chất lượng nguồn nhân lực nói chung và chất lượng nguồn nhân lực du lịchnói riêng.

Trình độ phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển dulịch và đến lượt mình, trình độ phát triển du lịch sẽ quyết định đến số lượng,chất lượng và xu thế phát triển của nguồn nhân lực ngành du lịch

- Tốc độ gia tăng dân số: Ở những nước đang phát triển, quy mô dân số

lớn, tốc độ gia tăng cao chính là lực cản đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế vàphát triển nguồn nhân lực Tốc độ gia tăng dân số cao gây sức ép lên các cơ sở

hạ tầng xã hội, ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách xã hội của nhànước, trong đó có chính sách về giáo dục đào tạo và phát triển nguồn

nhân lực Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số ở mức hợp lý

- Các nhân tố tác động từ bên ngoài:

+ Toàn cầu hoá

Toàn cầu hóa là một tất yếu của hoạt động kinh tế quốc tế, quá trình toàncầu hoá đã thúc đẩy cuộc chạy đua phát triển nguồn nhân lực tại các quốc gia,khu vực trên thế giới Toàn cầu hóa đã làm cho các nền kinh tế phát triểnnhanh chóng hơn và trở thành một thị trường toàn cầu, tương tác và phụ thuộclẫn nhau, cạnh tranh gay gắt với nhau Khả năng cạnh tranh được quyết địnhbởi năng lực tạo ra giá trị tăng thêm của các sản phẩm, dịch vụ và các quátrình hoạt động của mỗi quốc gia và của từng doanh nghiệp Đóng góp chủyếu vào điều này phụ thuộc vào kiến thức và các kỹ năng của lực lượng laođộng Trên thực tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo và các kỹ năng của lựclượng lao động là vũ khí cạnh tranh quan trọng trong thế kỷ XXI

Quá trình toàn cầu hóa đã tác động rất lớn tới nông nghiệp, nông thôn vànông dân Việt Nam Đô thị hóa một cách cấp tốc, dồn nén sẽ ẩn chứa nhiềuthách thức đối với sự phát triển: việc thu hồi đất của nông dân trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đô thị hóa đã làm nảy sinh tình trạng thấtnghiệp, tiêu cực trong công tác quản lí sử dụng đất đai gây hiệu ứng xã hội

Trang 34

bất thuận, ô nhiềm môi trường Một bộ phận lớn lao động bị mất đất đã chyểnsang hoạt động trong lĩnh vực du lịch Hầu hết lao động này chưa được quađào tạo, không có trình độ chuyên môn về du lịch đã làm cho chất lượng sảnphẩm du lịch không được đảm bảo Đây cũng chính là sức ép trong việc đàotạo và phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của cả nước nói chung

và của tỉnh Ninh Bình nói riêng

+ Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin

và truyền thông

Tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra những thay đổilớn trong các tổ chức và xuất hiện cách thức thực hiện công việc mới Nhiềungành nghề mới, công nghệ mới và phương thức quản lý mới xuất hiện, đòihỏi người lao động phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng mới để đảmnhận các công việc mới Những biến đổi trong các tổ chức cũng làm thay đổivai trò của người lao động, họ có nhu cầu trong việc ra quyết định và thực sựcần thiết trong việc mở rộng hơn các kỹ năng làm việc Người nhân viên cần

bổ sung nhiều hơn các kỹ năng so với trước đây làm việc với cấp bậc tổ chứcchậm thay đổi Những điều này làm thay đổi mạnh mẽ về chất đối với nguồnnhân lực

+ Xu thế thay đổi về cách thức đi du lịch và các nhu cầu trong khi đi dulịch

Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông được cải thiện vượt bậccho phép khách du lịch rút ngắn thời gian đi lại, tiếp cận đến nhiều điểm đến

du lịch, tạo nên xu thế khách du lịch rút ngắn thời gian lưu trú tại mỗi điểm dulịch và thực hiện nhiều chuyến đi du lịch đến các điểm đến du lịch khác nhautrong thời gian trong năm

Các dịch vụ du lịch được chia thành 2 nhóm chính là nhóm dịch vụ chính(gồm ăn uống và lưu trú) và nhóm dịch vụ bổ sung (tham quan, tìm hiểu, vuichơi giải trí, chăm sóc sức khoẻ, tham gia các hoạt động thể thao, văn hoá - xãhội ) Cùng với xu thế đi du lịch nhiều lần trong năm thì khách du lịch ngày

Trang 35

càng có nhu cầu nhiều hơn với các dịch vụ thuộc nhóm dịch vụ bổ sung.Những thay đổi của “cầu du lịch” đã làm thay đổi “cung du lịch” và qua đótác động trực tiếp, làm thay đổi sự phát triển của nguồn nhân lực ngành dulịch.

1.1.3.2 Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển du lịch

Định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch đã được Nghịquyết đại hội IX của Đảng đã xác định “ Phát triển du lịch thực sự trở thànhmột ngành kinh tế kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạtđộng trên cơ sở khai thác lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thốngvăn hóa, lịch sử đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh dulịch quôc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch khu vực” Đến Nghị quyếtTrung ương 8 khóa XI về về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

đã có quan điểm chỉ đạo “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sựnghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tưphát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội” Để đưa du lịch Việt Nam thực sự trở thành ngành kinh tếmũi nhọn, việc phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng Từ đó tathấy được mối quan hệ mật thiết giữa phát triển nguồn nhân lực và phát triển

du lịch theo chiều hướng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định phầnnhiều đến việc phát triển ngành kinh tế du lịch ở mỗi một địa phương, mộtđơn vị hay một doanh nghiệp du lịch

Để nhận biết được mối quan hệ đó ta sẽ đặt mối quan hệ giữa phát triểnnguồn nhân lực và phát triển du lịch, cụ thể:

- Nhân lực du lịch có tác động lớn đến sự phát triển của ngành du lịch:

Du lịch là ngành phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tố con người so với các ngànhkinh tế khác, do vậy việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành đòihỏi những yêu cầu cao và khắt khe, lao động trong ngành du lịch ngoài việcphải có chuyên môn nghiệp vụ cao còn đòi hỏi phải có những kỹ năng giaotiếp, thuyết phục được những nhóm khách hàng khác nhau Việc làm hài lòng

Trang 36

khách hàng không chỉ đòi hỏi người lao động có kỹ năng nghề nghiệp cao về

kỹ thuật thực hiện công việc mà còn ở chỗ gây được sự tín nhiệm, niềm tincao với khách hàng Năng lực và phẩm chất của đội ngũ trong ngành du lịch

có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc khai thác có hiệu quả cũng như bảotồn lâu dài các nguồn tiềm năng du lịch của đất nước tạo ra những sản phẩm

du lịch đặc sắc, có chất lượng, hấp dẫn khách Đội ngũ này cũng thể hiện khảnăng tiếp thu kinh nghiệm du lịch quốc tế, cũng như khả năng tham gia vàoquá trình hội nhập quốc tế về du lịch Phát triển nguồn nhân lực du lịch cũng

là nhằm đảm bảo cho du lịch nước nhà phát huy nội lực, nắm bắt cơ hội, vượtqua những thách thức trong thế kỉ 21 Đây chính là quá trình cụ thể hoá yêucầu về nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đấtnước

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là chất lượng đội ngũ này, những ngườilàm công tác quản lý Nhà nước, quản lý doanh nghiệp du lịch hiện nay chưađồng đều về trình độ, năng lực và một số lớn chưa qua đào tạo về quản lýchuyên ngành (hiện nay có khoảng 18000 cán bộ quản lý, lao động có trình độđược đào tạo chuyên ngành du lịch có bằng cấp chỉ chiếm gần 20% số laođộng toàn ngành, lao động có trình độ đại học và trên đại học chỉ đạt 3,1 %).Trên thực tế, nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp du lịch hiện nay chủ yếu dựavào năng lực và kinh nghiệm tự thân mà chưa được đào tạo có hệ thống.Trong khi đó đội ngũ này lại thực sự là động lực cho sự phát triển của mỗidoanh nghiệp du lịch nói riêng, của ngành du lịch Việt Nam nói chung Cán

bộ quản lý doanh nghiệp phải được bồi dưỡng thường xuyên (dưới nhiều hìnhthức) về tri thức quản lý hiện đại và việc bồi dưỡng này phải nhanh chóngđem lại hiệu quả Bên cạnh đó, những người trẻ tuổi được đào tạo chính quy,

có năng lực và phẩm chất của người quản lý cần được chú ý đưa vào đội ngũcán bộ quản lý nhà nước và đặc biệt là cán bộ quản lý doanh nghiệp du lịch

Nhìn chung, chất lượng đội ngũ lao động trực tiếp trong ngành du lịchhiện nay còn thấp Khách du lịch ngày càng đa dạng về cơ cấu, đặc biệt là nhu

Trang 37

cầu và trình độ học vấn ngày càng tăng Ở tất cả các doanh nghiệp lữ hành,đội ngũ hướng dẫn viên còn thiếu và còn hạn chế về năng lực Số lượnghướng dẫn viên được cấp thẻ cho đến nay chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại

và trong những năm tới Đội ngũ này phải được đào tạo chính quy để có cảnăng lực ngoại ngữ và kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mới có thể thực hiệnđược vai trò đặc biệt của họ trong du lịch

- Nhân lực du lịch sẽ làm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:

Nước ta đang trong quá trình chuyên đổi từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kếhoạch hóa tập trung sang một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, thực hiện mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Một trong nhữngđiều kiện để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả là việc nâng cao trình

độ của đội ngũ lao động Đó chính là việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao

để đảm đương những nhiệm vụ đặt ra trong quá trình hội nhập

Bên cạnh đó, du lịch là ngành kinh tế mang tính quốc tế cao, đặc biệt là

du lịch quốc tế Quá trình hội nhập du lịch quốc tế tạo cho chúng ta nhiều cơhội, song cũng gặp không ít những thách thức do chất lượng nguồn nhân lực

du lịch thấp, sự tụt hậu về đào tạo, xuất phát từ chính quá trình chuyển đổigây ra: khác nhau về kiến thức, chương trình, phương pháp đào tạo và do khácnhau cả về tư duy Quá trình hội nhập quốc tế ngành Du lịch cũng là quá trìnhcạnh tranh quốc tế gay gắt, do đó yêu cầu về chất lượng lao động và chấtlượng đào tạo nhân lực ngày càng cao, quy mô phải được mở rộng để tươngxứng với mục tiêu chiến lược du lịch đã đề ra, khai thác tối đa tiềm năng củaquốc gia và cơ hội quốc tế

Với ý nghĩa cơ bản nêu trên cho thấy nguồn nhân lực phục vụ chongành du lịch không chỉ quan trọng mà là yếu tố rất quan trọng trong hoạtđộng đặc thù của ngành du lịch trong bối cảnh hiện tại cũng như định hướngtrong tương lai Do đó trong thời gian tới cần phải có những giải pháp tích cực

để phát triển nguồn nhân lực cho du lịch nước nhà để đưa du lịch thực sự trởthành một ngành kinh tế mũi nhọn

Trang 38

1.1.4 Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển du lịch

1.1.4.1 Vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, và là một trong những nguồnlực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội Vai trò đó bắt nguồn từvai trò của yếu tố con người

a Con người là động lực của sự phát triển

Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy Pháttriển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực, tàilực… song chỉ có con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, nhữngnguồn lực khác muốn phát huy được cũng chỉ có thể phát huy được thông quanguồn lực con người Vì vậy, nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những nănglực của con người được huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó lànội lực con người Trong phạm vi xã hội đó là một trong những nguồn nội lựcquan trọng cho sự phát triển Đặc biệt đối với những nước có nền kinh tế đangphát triển như nước ta dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành mộtnguồn nội lực quan trọng nhất Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực

to lớn cho sự phát triển

b Con người là mục tiêu của sự phát triển

Phát triển kinh tế - xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ conngười, làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng vănminh Nói khác đi, con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinhthần của xã hội như vậy nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất vàtiêu dùng Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ tiêudùng, song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sảnxuất, định hướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoátrên thị trường Nếu trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hóanào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó

và ngược lại

Trang 39

Nhu cầu con người ngày càng phong phú, đa dạng và thường xuyêntăng lên, nó bao gồm nhu cầu vầt chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng vàchủng loại hàng hóa ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó tác động tớiquá trình phát triển kinh tế - xã hội.

1.1.4.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển du lịch

Phát triển nguồn nhân lực du lịch là những hoạt động nhằm tăng cường

số lượng và nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của lực lượng lao động

đã, đang và sẽ làm việc trực tiếp trong ngành du lịch, bao gồm: lao động trongcác cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành

từ trung ương đến địa phương, lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồmđội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ trong cáckhách sạn - nhà hàng, công ty lữ hành, vận chuyển du lịch , lao động làmcông tác đào tạo nghiệp vụ du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấpchuyên nghiệp, cao đẳng và đại học

Nguồn nhân lực là nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và đối với ngành du lịch nói riêng.Vai trò đó được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất: phát triển nguồn nhân lực quyết định đến sự phát triển của

các nguồn lực khác Trong ngành kinh tế nói chung và trong ngành du lịch nóiriêng, so với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực có vai trò nổi bật ở chỗ: nókhông bị cạn kiệt đi trong quá trình khai thác và sử dụng Ngược lại, nguồnnhân lực có khả năng tái sinh và phát triển nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sửdụng hợp lý Xét trong ngành du lịch, có thể thấy rằng: du lịch là một ngànhđòi hỏi nguồn nhân lực lớn với nhiều loại trình độ khác nhau do tính chất, đặcđiểm của ngành có mức độ cơ giới hóa thấp và đối tượng phục vụ là kháchhàng với nhu cầu rất đa dạng Chất lượng dịch vụ được cung cấp cho kháchhàng không chỉ phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng, tay nghề của người lao động

mà còn phụ thuộc vào thái độ làm việc của họ Chính điều này đã làm cho yếu

tố con người trở thành nguồn lực cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

Trang 40

của ngành Do đó, ở hầu hết các quốc gia hiện nay, đều đặt con người vào vịtrí trung tâm của sự phát triển và đề ra các chính sách, biện pháp nhằm pháttriển có hiệu quả nguồn nhân lực quan trọng này.

Thứ hai: Nguồn nhân lực quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp Trong ngành du lịch, sự đánh giá chất lượng dịch vụcủa khách hàng thường chịu ảnh hưởng rất lớn của quá trình giao tiếp giữakhách hàng với nhân viên phục vụ Mỗi cử chỉ, hành động, lời nói của nhânviên tạo ra cho khách hàng một cảm nhận, một đánh giá về chất lượng phục

vụ Thái độ, kỹ năng phục vụ của nhân viên nhà hàng chỉ bộc lộ rõ trong quátrình khách tiêu dùng sản phẩm, khó ngăn ngừa trước được việc không hoànhảo của sản phẩm Đặc trưng này chứng tỏ rằng, chất lượng nguồn nhân lựctác động trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng vàchất lượng dịch vụ của ngành du lịch nói chung Điều này càng nhấn mạnhvai trò của việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động trực tiếptrong ngành du lịch

Thứ ba: Con người là mục tiêu của sự phát triển, là nguồn lực góp phần

đáng kể vào việc làm tăng tổng GDP của xã hội Phát triển kinh tế - xã hội suycho cùng là đạt được những mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc sốngcon người ngày càng tốt hơn, xa hội ngày càng văn minh Nói cách khác,trong ngành du lịch khách hàng chính là người tiêu dùng sản phẩm du lịch,song nhu cầu tiêu dùng của khách hàng lại tác động mạnh mẽ tới việc cungứng sản phẩm đó, định hướng phát triển thông qua quan hệ cung cầu trên thịtrường Nếu thị trường nhu cầu của một loại hàng hóa dịch vụ nào đó tăng lên,lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ đó và ngượclại Như chính nhu cầu tiêu dùng của khách hàng đã tác động gián tiếp đến thịtrường lao động, tức là tác động tới nguồn lực con người Nhu cầu du lịchngày càng phát triển đã thu hút một lượng lớn lao động trực tiếp phục vụtrong ngành, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:56

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w