1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2017 2020

56 802 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 91,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là khó khăn rất lớncho công tác hội nhập của các cơ sở đào tạo chuyên ngành, hạn chế sức cạnh tranh.- Về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

ĐỀ ÁN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2017- 2020

Người thực hiện: Lâm Quang Hưng

Lớp: Cao cấp lý luận chính trị B11-16 (Khóa 2016-2017)

Chức vụ: Phó phòng

Đơn vị công tác: Phòng Quản lý Du lịch, Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình

Trang 3

Đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị “Phát triển nguồn nhân lực du

lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2017-2020” được hoàn thành là kết quả của một quá

trình học tập, nghiên cứu và vận dụng những tri thức được học trong chương trìnhCao cấp lý luận chính trị Kết quả này không chỉ là sự phấn đấu của bản thân mà còn

có sự trợ giúp của các thầy, cô Học viện chính trị khu vực I Hà Nội đã hết lòng tậntụy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tại Trường

Xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

- Các thầy, cô Học viện chính trị khu vực I Hà Nội, đặc biệt là giảng viên cốvấn thực hiện đề án đã tận tình hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học và nộidung đề tài

- Cán bộ, chuyên viên Phòng Quản lý Du lịch và các phòng ban chức năngcủa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình

- Ban lãnh đạo Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện cho tôi theo họckhóa học này

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đãhết lòng động viên tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành Đề án tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Lâm Quang Hưng

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lý do xây dựng đề án

Ninh Bình có tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn hóa) vô cùng đa dạng vàphong phú Trong những năm qua Du lịch Ninh Bình đã bước đầu phát triển và đạtđược nhiều thành tựu đáng khích lệ Ngành Du lịch đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnhđịnh hướng là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Du lịch phát triển sẽ góp phần thúcđẩy tăng trưởng kinh tế chung của địa phương, cải thiện về cơ sở hạ tầng, tạo công

ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động, thúc đẩy nhiều ngànhkinh tế khác phát triển, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệpsang công nghiệp, dịch vụ

Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước thì đến nay du lịch Ninh Bình phát triển chưa thực sự tương xứngvới tiềm năng Những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua chỉ là kết quả bướcđầu, chưa toàn diện, chưa vững chắc Lực lượng sản xuất còn nhiều hạn chế, thiếuđồng bộ, trình độ chuyên môn hóa chưa cao; các yếu tố về chính sách, pháp luật cònđang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, đôi khi chưa theo kịp với sự phát triểncủa hoạt động thực tiễn Bộ máy nhân sự quản lý ngành và nhất là nguồn nhân lực

du lịch tại các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực du lịch hiện đã bộc lộ nhiều nhữngkhiếm khuyết cần được khắc phục Đây là một trong những điều kiện tiên quyết,góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển du lịch thực sự trở thành ngànhkinh tế mũi nhọn như Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XX đề ra

Để giải quyết yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành Du lịch, việcphân tích, đánh giá về thực trạng và công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, xácđịnh những điểm mạnh, ưu thế cần phát huy, đồng thời tìm ra những vấn đề còn hạnchế, yếu kém, nhằm đề xuất những giải pháp thiết thực, khả thi, góp phần nhanhchóng phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu cả về số lượng, chất lượng

và có cơ cấu phù hợp là một việc làm cần thiết Xuất phát từ lý do trên, tôi lựa chọn

đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2017 -2020”

làm đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị

Trang 6

2 Mục tiêu của đề án

2.1 Mục tiêu chung

Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình đảm bảo về số lượng, cơcấu, chất lượng đáp ứng được các yêu cầu và đòi hỏi của ngành du lịch tỉnh NinhBình thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2020, nguồn nhân lực trong ngành du lịchtỉnh Ninh Bình phải đạt được:

- Số lượng: 22.000 lao động trong đó có 6.000 lao động trực tiếp

- Cơ cấu: lao động quản lý và nhân viên văn phòng 20%, nhân viên nghiệp

vụ và lao động khác chiếm khoảng 80% tổng số lao động ngành du lịch

- Chất lượng: Trong số 6.000 lao động trực tiếp có 15% lao động có trình độ

từ cao đẳng trở lên, lao động bậc trung cấp 35% và lao động qua đào tạo sơ cấp,dưới sơ cấp (đào tạo tại chỗ, truyền nghề hoặc huấn luyện ngắn hạn) 50%

3 Giới hạn của đề án

3.1 Giới hạn đối tượng: Phát triển nguồn nhân lực du lịch

3.2 Giới hạn về không gian: Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

3.3 Giới hạn về thời gian: Thực hiện từ 2017-2020

Trang 7

Du lịch : Luật Du lịch đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7 khóa IX xác định:“Du lịch là các hoạt động

có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” 1

Ngành du lịch : bao gồm những bộ phận, phân hệ có tính độc lập tương đối,

có quan hệ tác động tương hỗ lẫn nhau, cùng tồn tại trong môi trường du lịch, cùngtiến hành các hoạt động du lịch nhằm mục đích làm giầu và gia tăng phúc lợi ròngcho toàn xã hội Tập hợp tất cả các bộ phận, phân hệ đã nêu trên hình thành nênNgành kinh tế du lịch (gọi tắt là Ngành du lịch)

Khách du lịch : Theo Luật Du lịch:‘‘là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” 1

Khái niệm này được áp dụng cho cả khách du lịch quốc tế và khách du lịch trongnước và áp dụng cho cả khách du lịch trong ngày và khách du lịch dài ngày có nghỉqua đêm

1.1.1.2 Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Nhân lực là sức người dùng trong sản xuất” Ởđây, nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thểchất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cáchlàm việc

Từ những phân tích trên, trong Đề án này khái niệm nguồn nhân lực được

hiểu như sau: Nguồn nhân lực là một phạm trù mang tính tổng hợp để chỉ tổng thể

tiềm năng lao động của con người để làm ra của cải vật chất cho xã hội Nguồn

1 1 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội.

Trang 8

nhân lực sẽ được thể hiện qua các tiêu chí về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực tham gia vào nền sản xuất xã hội.

1.1.1.3 Đặc điểm nguồn nhân lực du lịch

Xét trên mức độ trực tiếp hoặc gián tiếp của từng loại lao động du lịch đượcchia làm 3 nhóm chính sau:

+ Nhóm lao động chức năng quản lý nhà nước về du lịch: Nhóm này có vai trò

quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địaphương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch Họ đại diện cho Nhà nước

để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệuquả; kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh

+ Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch: Đây là bộ phận có

trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về ngành du lịch, có chức năng đàotạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việc phát triển nguồnnhân lực ngành du lịch, tác động lớn đến chất lượng và số lượng của nguồn nhânlực ngành du lịch hiện tại và trong tương lai

+ Nhóm lao động chức năng kinh doanh: Nhóm lao động này chiếm số

lượng đông đảo nhất trong hoạt động của ngành du lịch và cần được nghiên cứu kỹlưỡng nhất

Nhóm lao động chức năng kinh doanh có một số đặc điểm riêng là:

- Cơ cấu độ tuổi trẻ, tỷ lệ lao động nữ cao hơn so với lao động nam: xuấtphát từ tính đặc thù của ngành du lịch đòi hỏi phải có lực lượng lao động có sứckhoẻ, trẻ trung và nhanh nhẹn, nên hình thành lực lượng lao động có cơ cấu độ tuổitrẻ Nhiều lĩnh vực phục vụ khách du lịch như lễ tân, bàn, bar, buồng đòi hỏi có sựduyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ Vì vậy, tỷ lệ lao động nữthường cao hơn lao động nam

- Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu: Có sự phân bố không đồng đềutheo lãnh thổ và các nghiệp vụ du lịch Xuất phát từ tính định hướng tài nguyên rõnét của ngành du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra tại các khu, điểm dulịch, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, cơ

sở vật chất kỹ thuật ngành Vì vậy, phần lớn lao động đã qua đào tạo đều làm việc

Trang 9

tại những khu du lịch, trung tâm du lịch lớn, ở những khu vực còn lại thường thiếulao động.

Trong ngành du lịch có nhiều công việc với yêu cầu lao động giản đơn,không đòi hỏi phải đào tạo ở trình độ cao mới thể hiện được, dẫn đến tình trạng tỷ lệlao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học khá cao Ngược lại, ở những bộ phậntiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, những người lao động thường được trang bị đầy

đủ các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, giao tiếp và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữtương đối cao

- Có sự biến động mạnh về số lượng theo thời gian trong năm: Do ảnh hưởngcủa tính thời vụ du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra sôi động trong mộtthời gian nhất định của năm (còn gọi là mùa cao điểm), vào thời điểm cao điểm củamùa du lịch, các doanh nghiệp thường phải tuyển dụng thêm các lao động thời vụ

để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, phục vụ khách của mình Đến mùa thấp điểm,doanh nghiệp du lịch chấm dứt hợp đồng lao động với những lao động thời vụ

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực du lịch

Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch chịu sự tác động của nhiều yếu tốkhác nhau của xã hội, trong đó các yếu tố chính có thể kể đến là:

- Trình độ phát triển của giáo dục đào tạo: Giáo dục đào tạo là yếu tố cấu

thành quan trọng của phát triển nguồn nhân lực Chất lượng của giáo dục đào tạoảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, thông qua giáo dục đào tạo cácquốc gia hình thành nguồn nhân lực của mình với trình độ đào tạo, cơ cấu ngànhnghề phù hợp với yêu cầu phát triển Trình độ phát triển của đào tạo nhân lực ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng của nhân lực ngành du lịch

- Toàn cầu hóa: Toàn cầu hóa là một tất yếu của hoạt động kinh tế quốc tế, quá

trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy cuộc chạy đua phát triển nguồn nhân lực tại các quốcgia, khu vực trên thế giới Toàn cầu hóa đã làm cho các nền kinh tế phát triển nhanhchóng hơn và trở thành một thị trường toàn cầu, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau,cạnh tranh gay gắt với nhau Khả năng cạnh tranh được quyết định bởi năng lực tạo

ra giá trị tăng thêm của các sản phẩm, dịch vụ và các quá trình hoạt động của mỗiquốc gia và của từng doanh nghiệp Đóng góp chủ yếu vào điều này phụ thuộc vàokiến thức và các kỹ năng của lực lượng lao động Trên thực tế, sự nghiệp giáo dục

Trang 10

và đào tạo và các kỹ năng của lực lượng lao động là vũ khí cạnh tranh quan trọngtrong thế kỷ XXI.

- Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông: Tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra những thay đổi lớn

trong các tổ chức và xuất hiện cách thức thực hiện công việc mới Nhiều ngànhnghề mới, công nghệ mới và phương thức quản lý mới xuất hiện, đòi hỏi người laođộng phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng mới để đảm nhận các công việcmới Những biến đổi trong các tổ chức cũng làm thay đổi vai trò của người laođộng, họ có nhu cầu trong việc ra quyết định và thực sự cần thiết trong việc mởrộng hơn các kỹ năng làm việc Người nhân viên cần bổ sung nhiều hơn các kỹnăng so với trước đây làm việc với cấp bậc tổ chức chậm thay đổi Những điều nàylàm thay đổi mạnh mẽ về chất đối với nguồn nhân lực

- Xu thế thay đổi về cách thức đi du lịch và các nhu cầu trong khi đi du lịch: Kết

cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông được cải thiện vượt bậc cho phép khách

du lịch rút ngắn thời gian đi lại, tiếp cận đến nhiều điểm đến du lịch, tạo nên xu thếkhách du lịch rút ngắn thời gian lưu trú tại mỗi điểm du lịch và thực hiện nhiềuchuyến đi du lịch đến các điểm đến du lịch khác nhau trong thời gian trong năm

1.2 Cơ sở chính trị, pháp ly

1.2.1 Cơ sở chính trị

Cơ sở chính trị để thực hiện đề án đó là những quan điểm, chủ trương, đườnglối của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, về phát triển du lịch và pháttriển nhân lực Kế thừa có chọn lọc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh cùng với các quan điểm của các nhà nghiên cứu quốc tế, Đảng ta đãxác định mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người và cho con

người Điều này được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng: “Công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu

tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Cùng với giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu để tăng trưởng nguồn nhân lực”.… “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa…”.

Trang 11

Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tiếp tục khẳng định: “…nguồn lực

con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.

Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế đã có những bước tiến đáng kể: kinh tếduy trì tốc độ tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bước đầuđược xây dựng, chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã bắt đầu được đẩymạnh; quan hệ đối ngoại, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao; chính trị

- xã hội ổn định,…đạt được nhiều thành tựu trên là nhờ sức mạnh tổng hợp từ nhiềuyếu tố: đường lối đúng đắn của Đảng, sự quản lý thống nhất theo pháp luật của Nhànước, sự điều hành năng động của Chính phủ,… Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng

định: “Tăng cường phát huy nội lực bằng cách phát triển nguồn nhân lực chủ yếu

cho giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” …”.

Quan điểm phát triển nguồn nhân lực lại được Đảng đề cập trong Văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đó là: Đảng ta đã xác định chiến lược phát triển

kinh tế xã hội 2011 - 2020 là “tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và

phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Để thực hiện

định hướng trên, chiến lược đề ra một trong năm quan điểm phát triển kinh tế - xã

hội 2011 – 2020 là: “mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con

người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”, đồng thời xác

định một trong ba khâu đột phá quan trọng là: “phát triển nhanh nguồn nhân lực,

nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”.

Trong văn kiện Đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳtrước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, pháttriển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểmcủa sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lựcViệt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dụcnước nhà “dậy người, dậy chữ, dậy nghề”

Từ những quan điểm trên, ngày 16/01/2017, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bíthư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển dulịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có nhấn mạnh về công tác phát triển

Trang 12

nguồn nhân lực du lịch là: “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về quản lý nhà

nước, quản trị doanh nghiệp và lao động nghề du lịch Chú trọng nâng cao kỹ năng nghề, ngoại ngữ và đạo đức nghề nghiệp cho lực lượng lao động ngành Du lịch”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng chiến lược phát triển nguồnnhân lực, chiến lược phát triển con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa làđộng lực của sự phát triển Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đềunhằm quán triệt tư tưởng chăm lo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, hướngtới mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam

1.2.2 Cơ sở pháp lý

- Luật Du lịch 2005 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005;

- Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chitiết thi hành một số điều của Luật Du lịch;

- Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam;

- Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 13/7/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộtỉnh Ninh Bình về việc phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định hướngđến năm 2030;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIX, XX, XXI;

- Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ về một số giảipháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới;

- Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 14/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăngcường công tác quản lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh, an toàn cho khách

du lịch;

- Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 02/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việctang cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy pháttriển du lịch;

- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030”;

- Quyết định số 3066/QĐ-BVHTTDL ngày 29/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịchgiai đoạn 2011-2020;

Trang 13

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đếnnăm 2030”;

- Quyết định số 2163/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Hồng vàduyên hải Đông Bắc đến năm 2020”;

- Quy hoạch phát triển tổng thể du lịch Ninh Bình đến năm 2010, định hướngđến năm 2015

Theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2011 – 2020 của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện nay, mỗi năm cả nước tuyển sinh khoảng22.000 học sinh, sinh viên du lịch (tăng 46,7% so với năm 2005), trong đó có 3.870sinh viên; 18.190 học sinh trung học chuyên nghiệp và học sinh trung cấp nghề dulịch; sơ cấp nghề và đào tạo du lịch dưới 3 tháng theo thống kê chưa đầy đủ ướckhoảng 5.000 học viên Số lượng học sinh, sinh viên tốt nghiệp hàng năm khoảng20.000 Đào tạo nghề sơ cấp và đào tạo ngắn hạn có xu hướng tăng Từ năm 2003một số trường đã bắt đầu đào tạo thạc sĩ nhưng quy mô còn hạn chế Hiện nay chưa

có cơ sở đào tạo tiến sĩ chuyên ngành du lịch với mã số riêng Tuyển sinh thạc sĩ vàtiến sĩ với các đề tài du lịch tăng nhưng quy mô còn hạn chế Nhìn chung, quy môtuyển sinh các chuyên ngành du lịch ở tất cả các bậc đào tạo ngày càng tăng Chấtlượng đào tạo có tiến bộ Ước tính có khoảng 70% sinh viên tốt nghiệp đại học, caođẳng du lịch và 80% học sinh tốt nghiệp trung cấp du lịch ra trường tìm được đúngnghề đào tạo, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công việc và làm việc cóhiệu quả, có khả năng tiếp tục tự đào tạo và hòa nhập với tập thể lao động và cộng

Trang 14

đồng Năm 2015, nhân lực làm việc trực tiếp trong ngành du lịch là 620 nghìnngười, với tốc độ tăng trưởng 6,2%/năm trong giai đoạn 2011 – 2015 Năm 2020ngành du lịch cần khoảng 870 nghìn lao động trực tiếp, tốc độ tăng trưởng tronggiai đoạn 2016 – 2020 khoảng 7%/năm với cơ cấu trình độ nhân lực theo dự báo sẽ

có 6.100 lao động trình độ trên đại học; 130.500 lao động trình độ đại học, caođẳng; trình độ trung cấp 113.100 người; trình độ sơ cấp, dưới sơ cấp (đào tạo tạichỗ, truyền nghề hoặc huấn luyện ngắn hạn) 620.300 người

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực của ngành du lịch nước ta, do nhiều nguyênnhân khác nhau, đến nay nguồn nhân lực du lịch vẫn còn một số hạn chế như:

- Chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng để góp phần quyết địnhtrong việc tạo ra các sản phẩm đa dạng, hấp dẫn du khách Tỷ lệ lao động được đàotạo còn ít, chất lượng lao động qua đào tạo chưa cao, kỹ năng nghề nghiệp, trình độngoại ngữ, phẩm chất của người lao động du lịch nước ta còn hạn chế (thiếu tácphong công nghiệp; tính kỷ luật, tính hợp tác còn thấp; chưa thực sự gắn với doanhnghiệp, ) dẫn đến chất lượng sản phẩm du lịch của Việt Nam vẫn còn thua kém sovới nhiều nước trong khu vực

- Phân bổ mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch còn bất hợp lý, chủ yếu ở cácthành phố lớn trong khi các vùng trọng điểm về du lịch như Tây Bắc, Đông Bắc,Tây Nam bộ, Tây Nguyên còn thiếu cơ sở đào tạo du lịch Do điều kiện khó khăn,học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học cơ sở ở các vùng này ít có điềukiện tiếp tục học cao hơn và học nghề du lịch tại các trường ngoại tỉnh

- Năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo còn hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật

và trang thiết bị của đa số cơ sở đào tạo còn thiếu, cũ kỹ, lạc hậu, không đồng bộ vàcòn khoảng cách khá xa so với các khách sạn, các khu nghỉ dưỡng cao cấp, công ty lữhành, vận chuyển Chương trình, giáo trình đào tạo chuyên ngành du lịch đang trongquá trình xây dựng và hoàn thiện, chưa cập nhật lý luận và thực tiễn, hiện mới có giáotrình bậc trung cấp, chưa có giáo trình tiêu chuẩn cho cao đẳng, đại học; đội ngũ giáoviên, giảng viên còn hạn chế về số lượng, chất lượng và cơ cấu, đặc biệt thiếu giáoviên tay nghề cao Đội ngũ giảng viên, giáo viên được đào tạo chính quy chuyênngành du lịch có trình độ và chuyên môn vững về du lịch chiếm tỷ lệ thấp (khoảng

Trang 15

30%) phần lớn còn lại không phải chuyên môn về du lịch Đây là khó khăn rất lớncho công tác hội nhập của các cơ sở đào tạo chuyên ngành, hạn chế sức cạnh tranh.

- Về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp kinh doanh

du lịch ở nước ta: số lượng không đều, nằm ở tình trạng vừa đủ, thiếu và thừa so vớiyêu cầu hoạt động kinh doanh Điều này do các doanh nghiệp tuyển người cầmchừng để tiết kiệm chi phí trước mắt mà chưa tính đến kế hoạch mở rộng kinhdoanh cho tương lai, lâu dài Đây là hạn chế về quản trị nguồn nhân lực, chất lượnglao động tốt chủ yếu là ở các doanh nghiệp đã có thời gian kinh doanh du lịch lâudài Còn các công ty cổ phần và các công ty trách nhiệm hữu hạn nguồn nhân lựcmới chỉ đáp ứng được bước đầu các nhiệm vụ kinh doanh

- Bộ máy quản lý nhà nước về phát triển nhân lực ngành du lịch chưa đủmạnh Vụ Đào tạo và Vụ Tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải kiêmnhiệm công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cả 3 khối ngành văn hóanghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch Nhiều địa phương, ngay cả địa phương trọngđiểm về du lịch chưa có bộ phận chuyên trách quản lý phát triển nhân lực du lịch

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dậy nghề du lịch ở các địa phương còn mỏng,thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao,biên chế còn hạn hẹp

- Chưa có chính sách dài hạn về cơ cấu đào tạo theo cấp trình độ và ngành,nghề; cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước cho đào tạo nhân lực chậm được đổi mới,cải tiến; định mức thấp nên không đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo.Chưa có chính sách thỏa đáng và hiệu quả để gắn kết cơ sở đào tạo với cơ sở sửdụng nhân lực

- Liên kết đào tạo nhân lực ngành du lịch theo nhu cầu xã hội chưa tốt Liênkết giữa 3 nhà (Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động) tuy đã khắc phụcđược một số hạn chế, bất cập nhưng vẫn còn rời rạc, chưa bài bản Thông tin dự báonhu cầu lao động, các chuẩn ngành, nghề đến các cơ sở đào tạo và doanh nghiệpchưa thường xuyên; cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tự tìm tòi là chính, nên khôngbiết đầy đủ nhu cầu đào tạo và nhu cầu nhân lực, làm cho cung không gặp cầu

Theo thống kê của ngành du lịch Ninh Bình, tính đến năm 2015, số lao độngtrực tiếp trong ngành là 3.900/16.500 lao động Số lượng lao động có trình độ

Trang 16

chuyên môn về du lịch bậc đại học, cao đẳng là 468 lao động chiếm 12%; trung cấp

và dạy nghề là 1.600 lao động chiếm 41%; Đào tạo trong các lĩnh vực khác (chưaqua đào tạo về du lịch) là 1.560 lao động chiếm 40%; Chưa qua đào tạo bất cứ lĩnhvực nào (lao động phổ thông) là 273 lao động chiếm 7% Số lao động có khả năng

sử dụng một trong ba ngoại ngữ phổ biến (Anh - Pháp - Trung) là 513 chiếm 13,2%

Từ năm 2002 đến nay, ngành du lịch Ninh Bình đã phối hợp với các cơ sở đàotạo lớn như trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia HàNội, trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, tổchức đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ lao động của đơn vị quản lýkhu, điểm du lịch, khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch trên địa bàn toàn tỉnh Đồngthời Sở Du lịch đã phối hợp với các cơ sở đào tạo và chính quyền địa phương - nơi cókhu, điểm du lịch - mở các lớp bổ túc kiến thức du lịch cộng đồng cho người laođộng tham gia làm dịch vụ du lịch (chụp ảnh, chèo đò, bán hàng lưu niệm, )

Mặc dù ngành du lịch Ninh Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo vàđào tạo lại lực lượng lao động trực tiếp trong ngành và bồi dưỡng kiến thức du lịchcho nhân dân địa phương tham gia làm du lịch, nhưng chất lượng đội ngũ lao động

du lịch vẫn còn yếu về chuyên môn và trình độ ngoại ngữ, chưa đáp ứng được nhucầu phục vụ các thị trường khách du lịch có khả năng chi trả cao, đặc biệt là thịtrường khách quốc tế Vấn đề cấp thiết đặt ra với du lịch Ninh Bình là phải cónguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, đủ tài, đủ tâm để làm du lịch Ninh Bìnhtừng bước hội nhập với khu vực và thế giới

2 Nội dung thực hiện của đề án

2.1 Bối cảnh thực hiện đề án

2.1.1 Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Ninh Bình

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tỉnh Ninh Bình nằm ở vùng cực Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, phíaBắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp 2 tỉnh Hoà Bình và Thanh Hoá, phía Đônggiáp tỉnh Nam Định, phía Nam giáp biển Đông Ninh Bình có diện tích tự nhiên hơn1.400 km², với bờ biển dài hơn 15 km Toàn tỉnh có 67.000 ha đất nông nghiệp,trong đó đất canh tác 55.000 ha; đất lâm nghiệp 13.000 ha; rừng tự nhiên 10.400 ha

và trên 20.000 ha diện tích núi đá với trữ lượng hàng chục tỷ m³ đá vôi; rừng núi

Trang 17

chiếm 22% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có hai tôn giáochính là Phật giáo và Thiên chúa giáo, 15% dân số theo đạo Thiên chúa

Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và vănhoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ vớivùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc Trên địa bàn tỉnh có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10;12A; 12B và đường sắt Bắc Nam chạy qua cùng hệ thống sông ngòi dày đặc như:sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, Sông Vân tạo thành mạng lướigiao thông thuỷ, bộ rất thuận tiện cho giao lưu phát triển kinh tế trong và ngoài tỉnh

Với địa hình đa dạng đã tạo cho Ninh Bình nhiểu nguồn tài nguyên thiênnhiên và danh lam thắng cảnh nổi tiếng: Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồnthiên nhiên đất ngập nước Vân Long, vùng ven biển Kim Sơn – Cồn Nổi, suối nướcnóng Kênh gà, nổi bật là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới – Quần thể Danhthắng Tràng An, Di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Đông Nam Á được UNESCOghi danh năm 2014 với nhiều điểm du lịch nổi tiếng như: Tràng An, Tam Cốc –Bích Động, Thung Nham, chùa Bái Đính, Cố đô Hoa Lư,

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Ninh Bình là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn củaViệt Nam, năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trongnhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc; năm 2010 thu ngân sách đạt 3.047 tỷ đồng, đưaNinh Bình trở thành tỉnh có mức thu khá trong cả nước Thế mạnh kinh tế nổi bậtcủa Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch

Cơ cấu kinh tế trong những năm qua có sự chuyển dịch tích cực theo hướngtăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và xây dựng (năm 2001 là 27,25%, đếnnăm 2010 là 47,69%), giảm mạnh tỷ trọng ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản(năm 2001 là 42,26%, đến năm 2010 còn 16,5%), ngành dịch vụ tăng nhẹ từ30,49% năm 2001 lên 35,82% năm 2010

Tuy đạt được tiến bộ nhưng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh chưa thật sựhợp lý, khu vực dịch vụ chưa phát huy được hết lợi thế và khả năng đáp ứng nhu cầucho sự phát triển kinh tế chung: Đến năm 2010, các hoạt động khách sạn và nhà hàng(có lợi thế về du lịch) mới chỉ đóng góp 2,45% GDP; hoạt động tài chính, tín dụngđóng góp 2,62% GDP; hoạt động khoa học công nghệ đóng góp 0,18% GDP

Trang 18

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển dịch của lao động trongcác ngành kinh tế: Lao động trong ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản chuyển dịchsang ngành Công nghiệp, Xây dựng và Dịch vụ Năm 2001, lao động trong ngànhNông, lâm nghiệp và thủy sản 314,5 nghìn người, chiếm 74,88% tổng lao động, đếnnăm 2010 còn 249,7 nghìn người (48,54%); ngành Công nghiệp và Xây dựng tăng

từ 59,1 nghìn người (14,07%) năm 2001, lên 161,5 nghìn người (31,4%) năm 2010

và ngành Dịch vụ tăng từ 46,4 nghìn người (11,05%) năm 2001 lên 103,2 nghìnngười (20,06%) năm 2010

Tổng số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trên tổng dân số, tăng

từ 502.863 người năm 2001 lên 562.110 người năm 2010, chiếm 62,41% dân số (tỷ

lệ này của cả nước là 64,9%); lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tăng

từ 420 nghìn người năm 2001 (chiếm 47% dân số) lên 514,4 nghìn người năm 2010,chiếm 57% dân số (của cả nước là 57,9%) Dân số Ninh Bình đang nằm trong thời

kỳ “dân số vàng” và còn kéo dài trong nhiều năm tiếp theo với tỷ lệ dân số trẻ trong

độ tuổi lao động cao và đảm bảo mức sinh thay thế, bình quân hàng năm có khoảng9.000 người bắt đầu tham gia vào lực lượng lao động của tỉnh, do đó cần có nhữnggiải pháp thích hợp phát huy lợi thế này để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế -

Lư, chùa Bái Đính, chùa Bích Động, nhà thờ đá Phát Diệm, đề Thái Vi, phát huylợi thế là mảnh đất thiêng, từng là kinh đô nhà nước phong kiến trung ương tậpquyền đầu tiên của Việt Nam với ba vương triều Đinh, Tiền Lê và nửa đầu nhà Lý,trải qua bao thằng trầm của lịch sử, được các thế hệ giữ gìn và phát huy làm phongphú thêm qua các thời kỳ Hiện nay, Ninh Bình có 1.499 di tích lịch sử văn hóa,trong đó có 2 di tích được công nhận cấp quốc gia đặc biệt, 77 di tích cấp quốc gia

và 263 di tích cấp tỉnh, nhiều đền, chùa, miếu, phủ, nhà thờ ở khắp các địa phươngtrong tỉnh

Trang 19

Ninh Bình cũng là nơi lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống (làng nghềthêu ren Ninh Hải, làng nghề cói Kim Sơn, làng gốm Bồ Bát, làng nghề đá NinhVân, ) và nhiều lễ hội độc đáo, đặc sắc với 255 lễ hội truyền thống mang đậm yếu

tố dân gian, đậm đà văn hóa vùng đất châu thổ sông Hồng Đây là những sản phẩm

có giá trị để phát triển dịch vụ du lịch Với tài nguyên du lịch đa dạng và phongphú, du lịch Ninh Bình có nhiểu khả năng kết nối Tour, tuyến với nhiều địa phươngtrong cả nước, có thể khai thác phát triển loại hình du lịch; du lịch văn hóa, lễ hội,tâm linh; du lịch nghỉ dưỡng; du lịch hội nghị, hội thảo,

2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch

Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy,UBND, HĐND tỉnh với nhiều chính sách phát triển, du lịch Ninh Bình đã có bướcphát triển khá nhanh, đang dần trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhândân, mở rộng các mối quan hệ, hợp tác của tỉnh, góp phần đưa hình ảnh và vị thếcủa Ninh Bình đi xa, được bạn bè trong nước và quốc tế biết đến

Du lịch Ninh Bình đã có bước phát triển mạnh mẽ, kết cấu hạ tầng du lịchđược quan tâm đầu tư, các khu, điểm du lịch được hình thành và phát triển, nhiềutuyến, điểm du lịch mới được đưa và khai thác hiệu quả như: Khu du lịch sinh tháiTràng An, khu tâm linh chùa Bái Đính, khu du lịch sinh thái vườn chim ThungNham, khu du lịch động Thiên Hà, tỉnh đã khuyến khích, kêu gọi, tư vấn cho cácnhà đầu tư, đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách vào lĩnh vực dịch vụ du lịch.Nhiều dự án triển khai tích cực, đúng tiến độ và đưa vào khai thác du lịch, tiêu biểunhư: Khách sạn Legend, The Vissai, The Reed, Hidden Charm, resortEmeralda, Tính đến hết tháng 12/2016 toàn tỉnh có 423 cơ sở lưu trú (tăng 294% sovới năm 2009) với 5.748 phòng nghỉ, tăng 242% so với năm 2009, trong đó có 4khách sạn được công nhận tiêu chuẩn 3 – 5 sao (năm 2009 chưa có khách sạn đạttiêu chuẩn 3 sao trở lên) và 6 khách sạn đầu tư theo tiêu chuẩn 3 – 5 sao đã hoànthiện đang đi vào vận hành thử

Ninh Bình là một trong số những địa phương thu hút số lượng lớn khách dulịch ở Việt Nam hiện nay Năm 2016 khách du lịch đạt 6,44 triệu lượt (tăng 192% sovới năm 2009), trong đó có 716 ngàn lượt khách quốc tế; doanh thu đạt 1.765 tỷ

Trang 20

đồng, tăng 603% so với năm 2009; tăng trưởng lượt khách bình quân năm giai đoạn

2009 – 2016 đạt 17,57%, doanh thu bình quân năm đạt 36,10%

2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình

2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình

2.2.1.1 Quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực

Phát triển mạnh mẽ của du lịch tỉnh Ninh Bình trong những năm qua cùngvới sự bùng nổ về các dịch vụ du lịch cũng như sự đầu tư của các đơn vị cá nhânvào các hoạt động kinh doanh phát triển du lịch nên đã kéo theo sự tăng trưởng rấtnhanh về số lao động tham gia trực tiếp cũng như gián tiếp Bên cạnh đó số ngườitham gia vào các hoat động gián tiếp thuộc các ngành nghề khác cũng là một con sốđáng kể có thể nhiều hơn gấp rất nhiều lần những người tham gia trực tiếp vào cáchoạt động du lịch ví dụ: những người làm công tác vận chuyển, chăn nuôi, nuôitrồng, những người làm nghề truyền thống, quà lưu niệm…

Tuy nhiên, theo thống kê của ngành du lịch thì những năm gần đây lượngngười tham gia lao động trực tiếp trong ngành du lịch có tăng nhưng tăng khôngnhiều, đối với lao động trực tiếp thì mỗi năm tăng bình quân trên 300 người, đây có lẽcũng là con số chưa đánh giá được chính xác tình hình phát triển của cả tỉnh Ta cóthể kiểm chứng năm 2012 toàn tỉnh Ninh Bình có 235 cơ sở lưu trú du lịch nhưng đếnnăm 2013 đã có 273 cơ sở lưu trú du lịch với số phòng tăng từ 3.628 phòng lên 4.102phòng Như vậy nếu với số lượng nguyên loại hình dịch vụ lưu trú ước gần 40 kháchsạn cũng đã tăng lên con số đáng kể có thể là trên dưới 200 người rồi

Bảng 2.1: Tổng hợp lao động trong ngành du lịch tỉnh Ninh Bình

Giai đoạn (2009 – 2013)

Số

TT Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Tăng trưởng BQ năm (%) 2009-2013

Tổng số lao động Người 7.500 8.550 10.100 11.000 12.000 12,47

1 Lao động trực tiếp " 1.359 1.892 2.201 2.300 2.640 18,06

2 Lao động gián tiếp " 6.141 6.658 7.899 8.700 9.360 11,11

(Nguồn Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình)

Trang 21

Theo nghiên cứu sơ bộ thì nguồn cung lao động cho các đơn vị sản xuất kinhdoanh dịch vụ hiện nay chủ yếu là người dân địa phương (chiếm 90 – 95%), còn lại

là lao động ngoài tỉnh Đây là một con số đáng mừng vì đã và đang góp phần giảiquyết được phần lớn khối lượng công ăn việc làm cho bà con trong tỉnh, đặc biệt lànhững đối tượng là bà con ở các khu, điểm du lịch bị mất đất nông nghiệp

Theo dự báo của Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 – 2020, lượngkhách du lịch quốc tế cũng như nội địa tăng bình quân hàng năm có thể đạt 22,5 –24%/năm, nhu cầu về nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này vào khoảng1.400 – 1.600 người/năm Đây sẽ là định hướng có phần sát thực hơn cho tất cả cáclao động cả trực tiếp lẫn gián tiếp

Xét một cách tổng thể thì hàng năm lao động trong ngành du lịch có xu hướngtăng đều Tính đến 31/12/2016 tổng số lao động trong ngành du lịch là 16.500 người(gồm 3.900 lao động trực tiếp và 12.600 lao động gián tiếp), tăng 10.000 lao động sovới năm 2009 Có thể nói, những năm gần đây, có sự tăng trưởng mạnh về số lượng laođộng trong ngành du lịch Ninh Bình Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng đó là dochính sách mở cửa, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinhdoanh du lịch và du lịch phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nghành kinh tếkhác của tỉnh phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, giải quyết công

ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, đồngthời góp phần tăng tổng GDP của xã hội

2.2.1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch

a Cơ cấu lao động theo từng loại hình dịch vụ

Ở bất kỳ loại hình kinh doanh nào thì chất lượng nguồn nhân lực cũng đượcphản ánh rõ nhất thông qua chỉ tiêu trong các nhóm lao động cấu thành ngành đó

Nó quyết định rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của mỗi đơn vị, cá nhân, doanhnghiệp kinh doanh Đối với ngành du lịch mà cụ thể ở tỉnh Ninh Bình có hai khuvực mà chiếm số lượng lao động nhiều nhất đó là dịch vụ lưu trú và các hoạt động ởkhu, điểm du lịch

Theo số liệu điều tra của Sở Du lịch, năm 2015 số lao động tham gia vào làm

du lịch tại các cơ sở lưu trú du lịch là: 2.675 người, số lao động được tham gia điềutra là 1.480 người, trong đó lao động có trình độ từ sơ cấp trở lên là 790 người

Trang 22

chiếm 53,4 % tổng số lao động tại các đơn vị kinh doanh lưu trú du lịch Số laođộng chưa qua đào tạo là 690 người chiếm tỷ lệ cao 46,6 % nên mức độ đáp ứngnhu cầu công việc có hạn, chưa đáp ứng được tốc độ phát triển của ngành trong giaiđoạn hiện nay, ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ du lịch

Tính đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh có 21 đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa

(chưa có doanh nghiệp lữ hành quốc tế) Đội ngũ lao động có trình độ từ trung cấp

du lịch trở lên chiếm 85% tổng số lao động của các đơn vị kinh doanh lữ hành;trong đó trình độ đại học chiếm 70%, chưa có đội ngũ hướng dẫn viên du lịch quốc

tế, hướng dẫn viên du lịch nội địa chiếm 28,4% tổng số lao động của các đơn vịkinh doanh lữ hành

Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, sốlượng lao động ít, hiệu quả kinh doanh thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao và nhậnthức của các đơn vị kinh doanh du lịch về đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho ngườilao động còn rất hạn chế, chưa khuyến khích được lao động có đào tạo đúng chuyênmôn nghiệp vụ vào làm việc cho đơn vị

Nhìn chung, lực lượng lao động du lịch còn thiếu cả về số lượng và chấtlượng, chưa đáp ứng với tình hình thực tế công việc; người lao động thiếu những kỹnăng cần thiết như: kỹ năng ngoại ngữ, chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến côngviệc đang làm Do nhận thức của các đơn vị kinh doanh du lịch về đào tạo chuyênmôn nghiệp vụ cho người lao động còn rất hạn chế chưa đẩy mạnh công tác đào tạotại chỗ hoặc xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp cho người lao động; đầu

tư kinh phí của các đơn vị cho lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch đối vớingười lao động còn thấp, chưa đáp ứng được với yêu cầu; tính mùa vụ trong hoạtđộng du lịch làm cho lao động du lịch thiếu ổn định, khó khăn cho công tác đào tạobồi dưỡng và chuyên môn hóa tại các doanh nghiệp

b Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Nguồn lao động du lịch có chất lượng cao của tỉnh hiện nay rơi vào khu vựcđơn vị sự nghiệp công Tính đến năm 2015 số lao động tham gia trong các đơn vị sựnghiệp công trên địa bàn tỉnh là 51 người chiếm 0,73 % tổng số lao động trực tiếptham gia hoạt động du lịch Lực lượng lao động trong các đơn vị sự nghiệp côngtrực thuộc Sở (Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch, Trung tâm Hỗ trợ khách du

Trang 23

lịch) là 30 người chiếm 58,8 % tổng số lao động của các đơn vị sự nghiệp Ngoài ratrên địa bàn tỉnh còn có 8 huyện, thành phố mỗi huyện, thành phố thành lập PhòngVăn hóa và Thông tin với tổng số 21 người quản lý và trực tiếp theo dõi về du lịchchiếm khoảng 41,2%

Số lao động có trình độ cao đẳng, đại học là 42 người chiếm 82,3 % so với laođộng thuộc các đơn vị sự nghiệp (trong đó chuyên ngành du lịch là 18 người chiếm35,3 %) Lao động có trình độ thạc sỹ là 6 người chiếm 11,8 % lao động thuộc cácđơn vị sự nghiệp (trong đó chuyên ngành du lịch có 4 người chiếm 7,8 %), do đóchưa phát huy tốt vai trò quản lý Nhà nước đối với các hoạt động du lịch tại địaphương, mức độ tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương về du lịch cònyếu, làm tốc độ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh còn hạn chế

Theo số liệu về nhu cầu lao động của ngành du lịch Ninh Bình, nhu cầu laođộng tăng trưởng hàng năm là khoảng 1.400 -1.600 lao động/năm trong khi con sốđáp ứng thực tế chỉ khoảng gần 400 lao động/năm Thực trạng trên cho thấy nhu cầurất lớn về lao động nói chung và lao động có trình độ cao nói riêng Tỷ lệ lao độngchưa qua đào tạo cao là chủ yếu là việc tăng trưởng quá nhanh của ngành du lịchNinh Bình, bên cạnh đó cũng do mô hình sản xuất chủ yếu là các hộ kinh doanh cáthể, doanh nghiệp vừa và nhỏ, có sử dụng nhiều lao động thuộc phạm vi gia đình.Mặt khác, đây cũng là lực lượng lao động làm việc trong các bộ phận không đòi hỏinhiều về bằng cấp, trình độ tay nghề như: nhân viên tạp vụ, kho bãi, bảo trì, bảovệ… Đội ngũ cán bộ quản lý trình độ còn thấp chủ yếu rơi vào chủ cơ sở hoặc giámđốc doanh nghiệp (người có vốn đầu tư trực tiếp đứng ra quản lý) Trừ một vàikhách sạn có quy mô lớn, xu thế chung của toàn tỉnh chưa thực hiện việc thuê giámđốc điều hành có chuyên môn nghiệp vụ, dẫn đến tình trạng quản lý, điều hành tạicác đơn vị còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của du lịch

Tóm lại, đội ngũ lao động du lịch có tay nghề cao và kinh nghiệm hiện naycòn rất hạn chế dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm dịch vụ của các đơn vịthấp, phần lớn các đơn vị, doanh nghiệp nhỏ chưa xây dựng được uy tín và thươnghiệu cho mình Vì vậy, trong những năm tới tỉnh tích cực chỉ đạo ngành Du lịchphối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan, ban, ngành, các đơn vị kinh doanh dulịch trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt

Trang 24

quan tâm đào tạo nâng cao năng lực quản lý, điều hành cho đội ngũ lãnh đạo cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đội ngũ này hiện đang rất thiếu và yếu, không đáp ứngđược yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong xu thế hội nhập quốc tế ngàycàng sâu rộng.

2.2.1.3 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực

Để đáp ứng nhu cầu chất lượng lao động ngày càng cao về trình độ chuyên môn,tính chuyên nghiệp trong công việc, hiện nay các lao động trực tiếp trong các cơ sở lưutrú du lịch muốn được đào tạo và có những cuộc thi nâng cao tay nghề Nhóm lao độngnày thường rơi vào những lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ như nhà nghỉ,nhà có phòng cho khách du lịch thuê,… hay lao động làm việc trong các bộ phận tạp vụ,kho bãi, bảo vệ,…

Trong xu thế hội nhập và phát triển, du lịch trở thành ngành công nghiệpkhông khói, ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước nói chung và của tỉnh Ninh Bình nóiriêng Nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, tạo nhiều công ăn việc làm hơn chongười lao động Đồng thời, cũng có sự cạnh tranh tích cực từ phía các doanh nghiệp,

tổ chức, cá nhân trong công tác đáp ứng các dịch vụ cung ứng sản phẩm du lịch củamình Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tiêu chuẩn tuyển dụng riêng chotừng bộ phận để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển du lịch của tỉnh

Trong thực tế từ năm 2010 đến năm 2016 Sở Du lịch Ninh Bình đã phối hợpchặt chẽ với các Trung tâm dạy nghề, đặc biệt là Trung tâm dạy nghề của thành phốNinh Bình triển khai các khóa đào tạo bằng nguồn vốn hỗ trợ đào tạo nghề cho cácdoanh nghiệp đang kinh doanh lưu trú du lịch Nhà nước sẽ hỗ trợ kinh phí thuêgiảng viên, chỉ yêu cầu doanh nghiệp đứng ra thông báo tập hợp nhân viên củamình rồi đào tạo tại chỗ ngay trong doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt để những ngườilao động có thể tham gia khóa học một cách tốt nhất

Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn đã thay đổi cung cách làm việc bằng cáchthuê giám đốc điều hành, thuê các tập đoàn lớn tư vấn và setup hệ thống nhân lựctrong doanh nghiệp của mình cho hiệu quả Doanh nghiệp còn mời các chuyên giagiỏi về đào tạo nhân viên ngay tại khách sạn như: khách sạn The Vissai, khách sạnThùy Anh, khách sạn Hoàng Gia, khách sạn Hoàng Sơn, The Reed… Nỗ lực nàycủa các khách sạn góp phần rất lớn vào việc đưa chất lượng dịch vụ du lịch của mỗi

Trang 25

khách sạn nói riêng và của tỉnh nói chung ngày càng phát triển hơn đáp ứng đượcyêu cầu ngày càng cao của khách du lịch về loại sản phẩm đặc biệt này.

2.2.1.4 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực trong ngành du lịch

Trong những năm gần đây việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch có trình độnghiệp vụ chủ yếu là do các trường Đại học, Cao Đẳng, Trung cấp tại Hà Nội, thànhphố Huế, thành phố Hải Phòng đào tạo là chính Nguồn nhân lực này cơ bản chưađáp ứng được nhu cầu về số lượng cũng như chất lượng của ngành du lịch Cáctuyến, điểm du lịch trong thời gian qua mở rộng ra khá nhanh và nhiều đòi hỏi mộtlượng lớn nhân lực là lao động trực tiếp không cần đến trình độ cao mà chỉ cần đếnviệc lành nghề như chèo đò, tham gia bán hàng thương mại, hàng ăn uống

Đối với hệ thống đào tạo trong tỉnh, hiện tại mới có trường Đại học Hoa Lư

có đào tạo về nghề du lịch với hai hệ đào tạo là: hệ Trung cấp (liên kết với trườngCao đẳng du lịch Hà Nội tổ chức) và hệ Đại học mới mở đến nay được 7 khóa học

Với yêu cầu đào tạo tại chỗ nguồn nhân lực phục vụ cho các đơn vị, doanhnghiệp trên địa bàn, trong những năm qua triển khai thực hiện Kế hoạch số 45/KH-UBND ngày 17/12/2008 của UBND tỉnh, Trường Đại học Hoa Lư phối hợp vớiTrường Cao đẳng du lịch Hà Nội đào tạo được 3 khóa Trung cấp du lịch các chuyênngành: buồng, bàn, bar và lễ tân Đã có 526 sinh viên tốt nghiệp, số sinh viên saukhi ra trường đều có việc làm Hàng năm, trong kế hoạch đào tạo nghề lao độngnông thôn, UBND tỉnh đã hỗ trợ kinh phí để các cơ sở đào tạo nghề lao động dulịch, góp phần khắc phục tình trạng thiếu nhân lực tại các cơ sở lưu trú và các đơn

vị kinh doanh du lịch

UBND tỉnh chỉ đạo ngành du lịch phối hợp với các đơn vị có liên quan tổchức tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên ngành du lịch: Lớptập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân cho đội ngũ tình nguyện viên phục vụ Lễ đónbằng công nhận Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể Danh thắng TràngAn; 04 khóa đào tạo, quản lý cơ sở lưu trú cho gần 400 học viên là giám đốc, quản

lý, trưởng các bộ phận của các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh; 01 lớp bồidưỡng kiến thức về quảng bá du lịch; 02 lớp bồi dưỡng kiến thức về du lịch bềnvững cho cán bộ, nhân viên Sở Du lịch, phòng Văn hóa- Thông tin các huyện, thànhphố, các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh; 04 lớp tập huấn bảo hộ quyền

Trang 26

sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩmđặc sản cho hơn 200 học viên thuộc các doanh nghiệp, cán bộ cơ quan nhà nước,các hiệp hội, người sản xuất, kinh doanh đặc sản, sản phẩm phục vụ du lịch tỉnhNinh Bình.

Phối hợp với Ban quản lý dự án EU tổ chức 09 khóa tập huấn, đào tạo, bồidưỡng 330 học viên: Nâng cao kiến thức về du lịch có trách nhiệm cho cán bộ, quản

lý các khu, điểm du lịch, đối với các làng nghề thủ công, cán bộ, nhân viên trungtâm Hỗ trợ khách du lịch

Đối với hoạt động đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên tạiđiểm Tỉnh cũng như ngành chủ quản luôn quan tâm đào tạo, đến nay Sở Du lịch đãcấp mới giấy chứng nhận thuyết minh viên tại điểm cho 90 người làm thuyết minhviên tại các khu điểm du lịch trên địa bàn toàn tỉnh như: khu núi chùa Bái Đính; khu

Cố đô Hoa Lư; khu Tràng An; khu Vân Long; vườn Quốc gia Cúc Phương

Ngoài ra để thúc đẩy phong trào thi đua không ngừng học tập, phấn đấutrưởng thành trong nghề của mình Sở Du lịch thường xuyên tổ chức các hội thinghề như: Bếp, Lễ tân, thi Hướng dẫn viên du lịch Ninh Bình qua đó góp phần nângcao trình độ tay nghề cho đội ngũ đầu bếp và đội ngũ hướng dẫn viên du lịch

UBND tỉnh chỉ đạo ngành du lịch phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh ủy, HộiPhụ nữ, các trường Đại học, Cao đẳng và các doanh nghiệp được giao quản lý cáckhu, điểm du lịch mở các lớp bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng kiến thức du lịch, ngoạingữ và phong cách giao tiếp văn minh, lịch sự với khách du lịch cho cán bộ, nhânviên, cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch Giai đoạn 2010 – 2016bồi dưỡng cho 15.000 lao động và cộng đồng địa phương tham gia hoạt động dulịch Do đó ý thức và thái độ phục vụ của người làm du lịch (chèo đò, bán hàng,chụp ảnh, thuyết minh viên, ) ngày càng được nâng cao

2.2.2 Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực Ninh Bình

2.2.2.1 Công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực

a, Hệ thống quản lý nhà nước về đào tạo nhân lực

Công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành du lịchđược tăng cường thông qua việc xây dựng và thực hiện các văn bản quy phạm phápluật về giáo dục đào tạo được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cụ thể hóa cho phù

Trang 27

hợp với ngành, như quy chế tổ chức và hoạt động của các trường cao đẳng, trunghọc nghiệp vụ du lịch trực thuộc Tổng cục Du lịch; các quy định về tiêu chuẩnhướng dẫn viên du lịch quốc tế, tiêu chuẩn nhân viên phục vụ khách sạn, lữ hành,nấu ăn đã tổ chức xây dựng chương trình khung trung học chuyên nghiệp ngành

du lịch, tập huấn và triển khai quy trình đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao năng lựclao động của ngành Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệmcán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo được tiến hành đúng tiêu chuẩn, trình tự, thủtục theo quy định Công tác kiểm tra, thanh tra đào tạo bước đầu được quan tâm, đãtiến hành thanh tra việc sử dụng và cấp văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp Hàngnăm đều tổ chức kiểm tra, thanh tra công tác tuyển sinh

Đối với công tác phát triển nguồn nhân lực, bản thân nhiệm vụ này nằmtrong chiến lược phát triển nhân lực của tỉnh và khi thực hiện có sự phối hợp củanhiều cơ quan chức năng (Sở Nội vụ, Sở Giáo dục - Đào tạo, Sở Lao Động, Thươngbinh và Xã hội…) trong đó vai trò của sở quản lý về du lịch đôi khi còn chưa rõ

Chính vì vậy, vai trò của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tổng cục Du lịchđối với quản lý nhà nước về đào tạo cũng như phát triển nguồn nhân lực ngành dulịch, nếu xét trên góc độ các cơ quan quản lý theo ngành dọc, cũng còn nhiều hạnchế (mới chỉ phát huy vai trò của cơ quan chủ quản của các trường trực thuộc, chưaphát huy được thế mạnh của vai trò quản lý ngành)

Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về đào tạo, phát triển nguồn nhân lựcngành du lịch được xây dựng từ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhànước ở cấp Trung ương, địa phương; các văn bản quy định, hướng dẫn chức năng,nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo, các bên tham gia vào phát triển nguồn nhân lực;các văn bản về chiến lược, quy hoạch như chiến lược giáo dục, chiến lược du lịch;các văn bản quy định chi tiết các hành vi, hoạt động của các đối tượng chịu sự quản

lý nhà nước như hoạt động tổ chức đào tạo, tuyển sinh, công nhận tốt nghiệp; họcphí, lệ phí… Các văn bản quy định và hệ thống chính sách chủ yếu gồm: Luật Giáodục, Luật du lịch và các văn bản quy phạm pháp luật khác

Mặc dù có nhiều luật và các chiến lược đang được xây dựng và hoàn chỉnhnhưng thiếu các văn bản hướng dẫn thực thi Điều này ảnh hưởng không nhỏ tớiviệc triển khai áp dụng trong thực tiễn

Trang 28

Hiện nay Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch Ninh Bình là đơn vị sự nghiệptrực thuộc Sở Du lịch Ninh Bình, có chức năng tư vấn đào tạo cho các đơn vị kinhdoanh trong ngành và là cầu nối giữa các cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động.Trong những năm qua Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch đã tổ chức đào tạo ngắnhạn, sơ cấp nghề và giáo dục cộng đồng cho hàng ngàn lao động tại các đơn vị trựcthuộc bằng nguồn vốn ngân sách là chính, góp phần to lớn vào việc nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực cho ngành.

Do nhận thức của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh còn hạn chế nênviệc tạo điều kiện cho người lao động tham gia các lớp bồi dưỡng nâng cao kiếnthức chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức còn rất hạn chế

Các chế tài trong việc kiểm tra, xử lý các vi phạm trong sử dụng nhân lực không

có trình độ chuyên môn tại các đơn vị kinh doanh còn chưa rõ ràng, cụ thể, đây lànguyên nhân làm cho nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh không quan tâm đến việc đàotạo nhân lực

b, Hệ thống chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch

Hệ thống chính sách về phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm:Chính sách về quản lý phát triển du lịch: quy định những tiêu chuẩn nghề nghiệp dulịch, chương trình đào tạo chuyên ngành; Chính sách về giáo dục, đào tạo du lịch:

về cơ sở đào tạo du lịch, chương trình đào tạo, tiêu chuẩn giáo viên, chế độ đối vớigiáo viên và người học, học phí; Chính sách về lao động du lịch: quy định chế độlàm việc, thời gian làm việc, chế độ bảo hiểm, tiền lương, đào tạo nghề Hệ thốngnày được ban hành chủ yếu ở cấp Trung ương; tỉnh Ninh Bình thường áp dụngnhững chính sách này mà không ban hành chính sách riêng của mình

Trong thời gian qua ngành du lịch đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng vàtriển khai kế hoạch phối hợp với Trường Đại học Hoa Lư đào tạo nhân lực trên địabàn tỉnh phục vụ cho phát triển du lịch giai đoạn 2011 - 2016 bằng 100% nguồn vốnngân sách Năm 2009, ngành đã đào tạo khoá trung cấp du lịch đầu tiên với 300 họcviên của các doanh nghiệp tham gia, đến nay đã có 526 người đã tham gia đào tạo,đây là đội ngũ lao động đã góp phần rất nhiều cho sự phát triển của du lịch NinhBình trong những năm qua

Ngày đăng: 19/08/2017, 21:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w