Việc xác lập và thực hiện các giao dich dân sự trước hết là dựa vào sự tự giác của các bên, tuy nhiên trên thực tế không phải ai khi tham gia giao dịch dân sự đều có thiện chí và nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên khi tham gia các giao dịch dân sự được thực hiện, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Tùy từng loại giao dịch mà các bên có thể thỏa thuận các biện pháp bảo đảm khác nhau phù hợp với giao dịch của mình để lợi ích được bảo đảm nhất. Có nhiều biện pháp bảo đảm khác nhau, trong đó có biện pháp cầm cố tài sản. Với cầm cố tài sản bên có nghĩa vụ phải giao cho người có quyền một tài sản nhất định để bảo đảm cho nghĩa vụ. Vậy quy định của pháp luật hiện hành về cầm cố tài sản như thế nào chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu đề tài “Phân tích những điểm bất cập của pháp luật quy định về cầm cố tài sản và kiến nghị hoàn thiện”.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… 1
I/ Quy định của pháp luật hiện hành về cầm cố tài sản……… 1
1. Khái niệm, đặc điểm của cầm cố tài sản……… 1
2. Chủ thể của cầm cố tài sản……… 2
3. Đối tượng của cầm cố tài sản……… 2
4. Nội dung của cầm cố tài sản……… 3
II/ Những điểm bất cập của pháp luật quy định về cầm cố tài sản……… 6
III/ Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về cầm cố tài sản………… 7
KẾT LUẬN……… 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 9
Trang 2MỞ ĐẦU
Việc xác lập và thực hiện các giao dich dân sự trước hết là dựa vào sự tự giác của các bên, tuy nhiên trên thực tế không phải ai khi tham gia giao dịch dân sự đều
có thiện chí và nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên khi tham gia các giao dịch dân sự được thực hiện, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự Tùy từng loại giao dịch mà các bên có thể thỏa thuận các biện pháp bảo đảm khác nhau phù hợp với giao dịch của mình để lợi ích được bảo đảm nhất Có nhiều biện pháp bảo đảm khác nhau, trong
đó có biện pháp cầm cố tài sản Với cầm cố tài sản bên có nghĩa vụ phải giao cho người có quyền một tài sản nhất định để bảo đảm cho nghĩa vụ Vậy quy định của pháp luật hiện hành về cầm cố tài sản như thế nào chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu đề
tài “Phân tích những điểm bất cập của pháp luật quy định về cầm cố tài sản và kiến nghị hoàn thiện”.
NỘI DUNG
I/ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CẦM CỐ TÀI SẢN.
1. Khái niệm, đặc điểm của cầm cố tài sản.
Khái niệm: Cầm cố tài sản được quy định tài Điều 326 BLDS năm 2005
như sau: “ Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao
tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố)
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.”
Việc cầm cố tài sản thường được đặt ra bên cạnh một hợp đồng dân sự nhưng cũng có thể được đặt ra bên cạnh một nghĩa vụ ngoài hợp đồng Bất luận ở trường hợp nào, cầm cố tài sản đều là kết quả của sự thỏa thuận từ hai phía và với mục đích bên có nghĩa vụ phải chuyển giao tài sản của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền
Trang 3 Cầm cố tài sản có những đặc điểm sau:
- Cầm cố tài sản có sự chuyển giao tài sản từ bên cầm cố (bên mang nghĩa vụ) chuyển giao cho bên nhận cầm cố (bên có quyền)
- Tài sản đem cầm cố phải thuộc sỡ hữu của bên cầm cố, nếu là sở hữu chung (beeb thứ ba) thì phải được người sở hữu chung đồng ý
- Tài sản cầm cố vẫn thuộc sở hữu của bên cầm cố và bên thứ ba Trong giao dịch, tài sản nghĩa vụ chính chưa bị vi phạm thì bên nhận cầm cố không được sử dụng tài sản cầm cố
2. Chủ thể của cầm cố tài sản.
Trong cầm cố tài sản bao gồm các chủ thể sau:
- Bên cầm cố: là chủ thể phải giao tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
- Bên nhận cầm cố: là bên được giữ tài sản để đảm bảo quyền lợi của mình Các bên trong quan hệ cầm cố có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu về năng lực chủ thể
3. Đối tượng của cầm cố tài sản.
Đối tượng cầm cố tài sản là những tài sản mà người có nghĩa vụ đã dùng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Với tư cách là đối tượng của nghĩa vụ dân
sự nói chung, đối tượng cầm cố phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 282 BLDS năm 2005 Ngoài ra, đối tượng của cầm cố tài sản phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tài sản cầm cố phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố:
- Khi người có nghĩa vụ giao tài sản cầm cố cho người có quyền, từ thời điểm
đó họ bị hạn chế một số quyền năng đối với tài sản của mình Bên nhận cầm
cố chiếm hữu tài sản đó đồng thời có quyền định đoạt nó khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩ vụ (nếu có thỏa thuận) Vì vậy, tài sản là đối tượng của cầm cố phải thuộc sở hữu của người cầm cố Nếu tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người thì việc cầm cố tài sản đó phải được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu
Tuy nhiên, nguyên tắc tài sản phải thuộc sỡ hữu của bên cầm cố không thể áp dụng trong trường hợp người cầm cố là các pháp nhân thuộc cơ quan nhà nước Tài sản
Trang 4quyền tư cách chủ sở hữu đối với tài sản được giao cho các pháp nhân để các pháp nhân bằng tư cách đó tham gian giao dịch dân sự
- Đối tượng của cầm cố tài sản là một tài sản (vật, quyền tài sản):
Bản chất pháp lý của càm cố tài sản là sự dịch chuyển tài sản từ người cầm cố sang người nhận cầm cố Vì vây, đối tượng của cầm cố phải là những tài sản dịch chuyển được Tất cả những tài sản không phải là bất động sản đều là động sản và
có thể trở thành đối tượng của cầm cố Đối tượng của cầm cố có thể là những tài sản hiện có nhưng cũng có thể là những tài sản hình thành trong trương lai Đối tượng của cầm cố tài sản có thể là bất động sản, trường hợp này người nhận cầm cố
sẽ trực tiếp giữ bất động sản đó
Ngoài ra, đối tượng của cầm cố tài sản có thể là các quyền tài sản Tuy nhiên, các quyền tài sản này phải trị giá được bằng tiền, không bị tranh chấp và được phép giao dịch (Điều 322 BLDS năm 2005)
Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp người có nghĩa vụ dân sự phải dùng nhiều tài sản để cầm cố tài sản đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp đó, mỗi tài sản đều được xác định là để đảm bảo thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, trừ khi các bên thỏa thuận mỗi tài sản đảm bảo thực hiện một phần nghĩa vụ
4. Nội dung của cầm cố tài sản.
a. Quyền và nghĩa vụ của các bên.
Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố:
- Nghĩa vụ của bên cầm cố:
+, Phải giao tài sản cầm cố theo đúng pháp luật
+, Bên cầm cố phải thông báo cho bên nhận cầm cố biết về quyền của bên thứ ba đối với tài sản cầm cố (khoản 2 Điều 330 BLDS năm 2005)
+, Bên cầm cố phải thanh thanh toán cho bên nhận cầm cố những chi phí cần thiết
để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (khoản 3 Điều 330 BLDS năm 2005)
- Quyền của bên cầm cố:
Trang 5+, Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố nếu do sử dụng
mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị
+, Yêu cầu bên nhận cầm cố trả tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản cầm cố chấm dứt
+, Yêu cầu bên giữ tài sản cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố đó
Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố:
- Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố:
+, Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố
+, Không được bán, trao đổi, tặng, cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố; không được xem tài sản cầm cố để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ khác
+, Không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu không được bên cầm cố đồng ý
+, Trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng một biện pháp bảo đảm khác
+, Bên nhận cầm cố phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố
- Quyền của người nhận cầm cố:
+, Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố hoàn trả tài sản đó
+, Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ, nếu bên cầm cố không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc không đầy đủ
+, Được thanh toán chi phí bảo quản tài sản cầm cố hợp lý khi trả lại tài sản cho bên cầm cố
Trang 6b. Hình thức của cầm cố tài sản.
Điều 327 BLDS quy định về hình thức cầm cố tài sản như sau: “Việc cầm cố
tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”.
Pháp luật quy định hình thức cầm cố tài sản duy nhất đó là lập thành văn bản
Về nguyên tắc, van bản cầm cố không cần có chứng nhận hay chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, nếu xét thấy cần thiết để nâng co độ an toàn của văn bản cầm cố, các bên có thể thỏa thuận về việc chứng nhận hoặc chứng thực văn bản cầm cố
c. Thời hạn cầm cố tài sản.
Điều 329 BLDS quy định về thời hạn cầm cố như sau: “Thời hạn cầm cố tài
sản do các bên thỏa thuận Trong trường hợp không có thỏa thuận thì thời hạn cầm cố được tính cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.”
Như vậy, thời hạn của cầm cố tài sản bao giờ cũng là một khoảng thời gian nhất định, khoảng thời gian đó dài hay ngắn phụ thuộc vào thời hạn thực hiện nghĩa vụ chính Thời hạn thực hiện nghĩa vụ chính được tính từ thời điểm nghĩa vụ được xác lập đến thời điểm nghĩa vụ phải thực hiện xong Khi xác lập nghĩa vụ các bên thỏa thuận biện pháp cầm cố thì thời hạn cầm cố trùng với thời hạn thực hiện nghĩa vụ chính
d. Xử lý tài sản cầm cố và chấm dứt việc cầm cố.
Khi đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền xử lí tài sản cầm cố để bù đắp cho mình các khoản lọi ích mà bên kia không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ
Nếu đã có sự thỏa thuận về phương thức xử lí tài sản thì bên nhận cầm cố được
xử lí thep phương thức đó Trường hợp các bên chưa thỏa thuận thì tài sản cầm cố được bán đấu giá
Khi tài sản cầm cố được xử lí sẽ chấm sứt cầm cố tài sản Ngoài ra, cầm cố tài sản được coi là chấm dứt khi có các căn cứ quy định tại Điều 339 BLDS
Trang 7II/ NHỮNG ĐIỂM BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ CẦM CỐ TÀI SẢN.
Trên thực tế, khi áp dụng các quy định của pháp luật về cầm cố tài sản thì còn tồn tại một vài điểm bất cập như sau:
Thứ nhất, tài sản cầm cố phải thuộc sỡ hữu của bên cầm cố: Việc xác định quyền
sở hữu tài sản cầm cố sẽ tương đối dễ dàng nếu tài sản đó có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, nhưng đối với loại tài sản không có đăng kí quyền sở hữu thì sẽ là một việc rất khó khăn Trong trường hợp này, việc xác định quyền sở hữu tài sản chỉ dựa vào sự suy đoán là tài sản thuộc sở hữu của người chiếm hữu thực tế Điều này sẽ tương đôi bất lợi đối với bên cầm cố, quyền lợi của họ có thể không được đảm bảo khi tài sản họ nhận cầm cố thật sự không thuộc sở hữu của bên cầm cố
Thứ hai, khi cầm cố tài sản cầm cố sẽ được chuyển giao cho bên nhận cầm cố, chỉ
có động sản mới phù hợp với tiêu chí chuyển giao tài sản Ngoài ra, cầm cố chỉ được áp dụng đối với tài sản hiện hữu và có thể chuyển giao cho bên vay, không áp dụng cho tài sản hình thành trong tương lai Điều này khiến cho đối tượng của cầm
cố tài sản bị thu hẹp
Thứ ba, không thể sử dụng một tài sản để đảm bảo cho nhiều nghĩa vụ nếu tài sản
này đã được chuyển giao cho bên nhận cầm cố đầu tiên Điều này gây trở ngại cho việc khai thác tối đa giá trị tài sản nếu tài sản cầm cố có giá trị lớn hơn rất nhiều nghĩa vụ được bảo đảm
Thứ tư, về việc cầm cố tài sản đặc biệt là thẻ tiết kiệm ngân hàng, pháp luật vẫn
chưa quy định rõ về thủ tục và nghĩa vụ của người phát hành thẻ tiết kiệm trong trường hợp xác nhận việc cầm cố Ngoài ra, đối tượng của cầm cố tài sản trong trường hợp này là thẻ tiết kiệm cũng không phù hợp, thẻ tiết kiệm chỉ là giấy tờ xác nhận quyền sở hữu số tiền gửi tiết kiệm chứ việc chiếm hữu thẻ tiết kiệm không trao cho bên chiếm hữu các quyền của chủ tài khoản gửi tiết kiệm Thực chất, tài sản bảo đảm ở đây là số dư tài khoản tiền tiết kiệm chứ không phải là thẻ tiết kiệm
Thứ năm, về việc cầm cố giấy tờ có giá: Theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 163 thì
dường như việc cầm cố áp dụng đối với mọi giấy tờ có giá, tuy nhiện không phải
Trang 8loại giấy tờ có giá nào cũng có thể chuyển giao quyền chiếm hữu cho bên nhận cầm cố
Thứ sáu, về việc cầm cố cổ phiếu: Khoản 9, điều 3 và khoản 3, điều 19, Nghị định
163 cho phép cầm cố cổ phiếu Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1, điều 85, Luật
doanh nghiệp, “cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán
ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó” Cổ phiếu
không tự thân chứa các quyền hành động đối với công ty bởi vì các quyền phát sinh từ phần vốn góp như quyền biểu quyết, quyền nhận cổ tức và quyền được hưởng khối tài sản còn lại của công ty khi tiến hành thủ tục thanh lý cũng như mọi quyền phát sinh từ hợp đồng khác đối với công ty phụ thuộc vào việc đăng ký vào
sổ cổ đông của công ty Xét về bản chất, cổ phần mới là đối tượng thực của giao dịch bảo đảm, chứ không phải cổ phiếu Cổ phần trong công ty cổ phần là quyền tài sản (tài sản vô hình) và do đó không thể giao được về mặt vật chất cho chủ nợ
có bảo đảm Hơn nữa, chúng thể thiện quyền chủ nợ của người nắm giữ (chủ sở hữu) cổ phần hay phần vốn góp đối với công ty Do đó thế chấp là biện pháp bảo đảm phù hợp nhất đối với phần vốn góp và cổ phần bởi vì thế chấp không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp và pháp luật Việt Nam công nhận thế chấp là biện pháp bảo đảm duy nhất đối với quyền đòi nợ
III/ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẦM
CỐ TÀI SẢN.
Trên thực tế áp dụng quy định của pháp luật về cầm cố tài sản đã bộc lộ một vài điểm bất cập và cần đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, cần đưa ra các quy định cụ thể hơn khi tài sản cầm cố là những tài sản
không có đăng kí quyền sở hữu, để bảo vệ quyền lợi cho bên nhận cầm cố trong trường hợp khi đã nhận tài sản cầm cố đó rồi mà tài sản đó lại không thuộc sở hữu của bên cầm cố Mặc dù, trong BLDS đã có một vài quy định bảo vệ quyền lợi của người thứ ban gay tình nhưng vẫn còn nhiều bất lợi cho bên thứ ban gay tình
Thứ hai, việc tài sản cầm cố sẽ được chuyển giao cho bên nhận cầm cố nên quy
định một cách chi tiết hơn, bởi điều này chỉ phù hợp trong trường hợp tài sản cầm
cố là động sản Trong trường hợp, tài sản cầm cố là bất động sản thì việc chuyển
Trang 9giao tài sản chưa được hướng dẫn nên cần đưa ra các hướng dẫn trong các trường hợp này
Thứ ba, nên có những quy định linh hoạt trong việc một tài sản có giá trị hơn các
nghĩa vụ có thể đảm bảo cho nhiều nghĩa vụ khác
Thứ tư, trong trường hợp cầm cố thẻ tiết kiệm ngân hàng nên quy định rõ hơn về
quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Ngoài ra, nên quy định cụ thể về đối tượng cầm cố tài sản trong trường hợp này
Thứ năm, về việc cầm cố giấy tờ có giá nên quy định cụ thể những loại giấy tờ có
giá nào được phép cầm cố và những loại giấy tờ có giá nào không được phép cầm cố
Thứ sáu, pháp luật nên có những quy định rõ hơn về việc cầm cố cổ phiếu sao cho
phù hợp với các quy định có liên quan
KẾT LUẬN
Trên đây là bài viết của em về các quy định của pháp luật về cầm cố tài sản, những điểm bất cập và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về cầm cố tài sản Mong rằng trong thời gian tới các nhà làm luật sẽ có những sửa đổi, bổ sung phù hợp trong các quy định về cầm cố tài sản để phù hợp với thực tiễn áp dụng hơn
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 1 - 2, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2009
2. Bộ luật dân sự năm 2005
3. Nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CO ngày 29/12/2006 về giao dịc bảo đảm
4. Nghị định của Chính phủ số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CO ngày 29/12/2006 về giao dịc bảo đảm
6. http://www.luatdaiviet.vn/xem-tin-tuc/binh-luan-ve-nhung-bat-cap-cua-phap-luat-giao-dich-bao-dam