2 2, Mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành……….. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, mô hình các
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… 2
I/ Mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam……… 2
1, Mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia về hoạt động chứng khoán 2
2, Mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành……… 4
II/ Mức độ phù hợp của quy định hiện hành với cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam……… 8
III/ Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật……… 10
KẾT LUẬN……… 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Kinh doanh chứng khoán là hoạt động thương mại đặc thù và còn khá mới
mẻ ở Việt Nam Vì vây, việc làm rõ quy định của pháp luât trong lĩnh vực này là rất cần thiết đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực này Và một trong những vấn đề khi một chủ thể muốn tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán đó là các chủ thể nào được tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán hay chính là mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đối với Việt Nam, pháp luật có quy định rõ các chủ thể kinh doanh chứng khoán cùng với những nội dung kinh doanh được phép tiến hành của mỗi chủ thể Theo quy định của pháp luật Việt Nam, mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chéng khoán Việt Nam bao gồm: công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát Vấn đề này không chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật trong nước mà nó còn chịu sự điều chỉnh bởi những điều ước quốc tế có liên quan
mà Việt Nam đã tham gia kí kết Vậy để tìm hiểu xem các quy định của pháp luật hiện hành cùng với các cam kết quốc thế Việt Nam tham gia liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam có phù hợp hay không chúng ta hãy cùng đi làm rõ chủ đề sau: “ Bình luận mức độ phù hợp của quy định hiện hành với cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
Trang 3NỘI DUNG I/ MÔ HÌNH CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
khoán Việt Nam theo các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia về hoạt động chứng khoán.
Khi gia nhập WTO Việt Nam đã kí kết các gói cam kết quan trọng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có gói cam kết về Ngân hàng – Chứng khoán
Cam kết đối với dịch vụ chứng khoán bao gồm các nội dung chính sau:
Thứ nhất, Việt Nam cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung
cấp các dịch vụ chứng khoán sau tại Việt Nam:
- Giao dịch cho tài khoản của mình hoặc tài khoản của khách hàng tại sở giao dịch chứng khoán, thị trường giao dịch trực tiếp (OTC) hay các thị trường khác những sản phẩm sau: Các công cụ phái sinh, bao gồm cả hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền lựa chọn; các chứng khoán có thể chuyển nhượng; các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản chính, trừ vàng khối
- Tham gia vào các đợt phát hành mọi loại chứng khoán, bao gồm bảo lãnh phát hành, và làm đại lý bán (chào bán ra công chúng hoặc chào bán riêng), cung cấp các dịch vụ liên quan đến các đợt phát hành đó)
- Quản lý tài sản (bao gồm quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác)
- Các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ phái sinh và các sản phẩm liên quan đến chứng khoán khác
Trang 4- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán
Thứ hai, Việt Nam cam kết cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài, các
nhà đầu tư nước ngoài hoạt động chứng khoán ở Việt Nam dưới các hình thức sau đây:
- Văn phòng đại diện (với điều kiện các văn phòng đại diện không được thực hiện các hoạt động kinh doanh sinh lời trực tiếp)
- Liên doanh với đối tác Việt Nam (với điều kiện tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49%)
- Doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn nước ngoài (kể từ 11/1/2012)
- Chi nhánh của công ty chứng khoán nước ngoài (kể từ 11/1/2012 và kèm theo điều kiện hoạt động của chi nhánh chỉ giới hạn ở cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản, thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan
Với những nội dung trên tra thấy các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia về chứng khoán không có quy định cụ thể về mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán Với việc các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia về chứng khoán không có quy quy định cụ thể về các chủ thể kinh doanh chứng khoán, Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam Vì vậy về mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ áp dụng theo quy định hiện hành của Việt Nam
về lĩnh vực này
Theo đó, mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm: công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ
Trang 52. Mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
Căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán bao gồm các chủ thể sau: công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, công
ty quản lý quỹ
Mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay được quy định trong rất nhiều các văn bản luật có liên quan như:
- Luật chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010
- Thông tư 210/2012/TT - BTC ngày 30/11/2012 hướng dẫn thành lập và hoạt động công ty chứng khoán
- Thông tư 212/2012/TT - BTC ngày 05/12/2012 hướng dẫn về thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ
- Thông tư 227/2012/TT - BTC ngày 27/12/2012 hướng dẫn thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý công ty đầu tư chứng khoán
Ngoài ra, liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng được quy định trong các văn bản pháp luật khác
Dưới đây là nội dung cụ thể về các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam:
a, Công ty chứng khoán.
Khái niệm: công ty chứng khoán là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
chứng khoán thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng
Trang 6khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán
Đặc điểm:
- Ngành nghề kinh doanh: kinh doanh chứng khoán Gồm:
+ Một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo điều 60 Luật
chứng khoán năm 2006
+ Cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.
- Hình thức tổ chức pháp lý: công ty chứng khoán chỉ được tổ chức dưới hai hình thức là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn
- Quản lý nhà nước: công ty chứng khoán chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban chứng khoán nhà nước
- Pháp luật điều chỉnh: Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan
Vai trò:
- Đối với doanh nghiệp phát hành: giúp tổ chức phát hành huy động vốn, đảm bảo vốn đầu tư, môi giới
- Đối với nhà đầu tư: tham gia vào thị trường chứng khoán, là cầu nối gặp gỡ với các tổ chức phát hành, có căn cứ để đầu tư
- Đối với thị trường chứng khoán: vận hành thị trường chứng khoán tập trung, đưa hàng hóa vào thị trường chứng khoán tập trung, dẫn dắt thị trường
Điều kiện thành lập: theo điều 62 Luật chứng khoán năm 2006.
b, Quỹ đầu tư chứng khoán.
Trang 7Khái niệm: quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của người
đầu tư ủy thác cho công ty quản lý quỹ quản lý và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán
Đặc điểm:
- Hình thức: là một quỹ đầu tư tiền tệ, không có tư cách pháp nhân
- Thành lập: thông qua việc phát hành quỹ, chứng chỉ quỹ
- Tư cách nhà đầu tư: chỉ là người hưởng lợi từ hoạt động của quỹ, có quyền tài sản và một phần quyền quản lý
Vai trò:
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro
- Định hướng đầu tư trên thị trường chứng khoán
- Giúp cho nhà đầu tư tiết kiệm chi phí giao dịch
- Giúp nhà đầu tư có thể theo dõi tình trạng khoản đầu tư của mình nhờ vào tính minh bạch cao
c, Công ty đầu tư chứng khoán.
Khái niệm: công ty đầu tư chứng khoán là công ty được thành lập từ vốn góp
của các nhà đầu tư và sử dụng số vốn góp đó để đầu tư chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận
Đặc điểm:
- Hình thức: được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân
- Thành lập: thông qua việc phát hành cổ phiếu, do Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động, yêu cầu vốn pháp định là 50 tỷ đồng
- Tư cách nhà đầu tư: là một cổ đông của công ty, có quyền quản lý và quyền tài sản
Trang 8Vai trò:
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro
- Định hướng đầu tư trên thị trường chứng khoán
- Giúp cho nhà đầu tư tiết kiệm chi phí giao dịch
- Giúp nhà đầu tư có thể theo dõi tình trạng khoản đầu tư của mình nhờ vào tính minh bạch cao
d, Công ty quản lý quỹ.
Khái niệm: công ty quản lý quỹ là doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công
ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, được thành lập để hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Đặc điểm:
- Hình thức: được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn
- Thành lập: do sự cấp phép của Ủy ban chứng khoán nhà nước
- Hoạt động chính: quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo ủy thác của các nhà đầu tư vào quỹ hoặc sự ủy thác của các nhà đầu tư riêng lẻ
Vai trò:
- Công ty quản lý quỹ là tổ chức đứng ra thành lập quỹ đầu tư chứng khoán và đứng ra quản lý điều hành hoạt động của quỹ sau khi thành lập
- Đảm bảo cho hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán hiệu quả, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư
II/ MỨC ĐỘ PHÙ HỢP CỦA QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỚI CAM KẾT QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN MÔ HÌNH CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VỆT NAM.
Trang 9Trên thực tế, khi áp dụng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán ta thấy được luật chứng khoán đã quy định khá toàn diện về các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luật chứng khoán năm
2006 đã khắc phục được nhiều hạn chế trước đó và phát huy được nhiều ưu điểm của pháp luật trước đó giúp cho các quy định của pháp luật phù hợp với những yêu cầu của thực tiễn
Các quy định của pháp luật về mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi được áp dụng trong thực tế đã đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn và có nhiều ưu điểm như:
Thứ nhất, Luật chứng khoán đã quy định khá rõ ràng và cụ thể về các chủ thể kinh
doanh chứng khoán Cụ thể, có hệ thống văn bản pháp luật quy định khá cụ thể về các chủ thể kinh doanh chứng khoán, điển hình như các thông tư quy định cụ thể
về từng loại chủ thể kinh doanh chứng khoán và các văn bản hướng dẫn Bên cạnh
đó, luật chứng khoán còn quy định khá chi tiết các điều kiện cấp giấy phép, hồ sơ xin cấp giấy phép, trình tự và thời hạn xin cấp giấy phép, bổ sung giấy phép, thay đổi trong hoạt động, nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh chứng khoán, các hạn chế đối với công ty chứng khoán nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động,…
Thứ hai, Luật chứng khoán đã có quy định theo hướng cải cách thủ tục hành chính
nhằm đơn giản hóa về các thủ tục, rút ngắn thời gian thực hiện, tiết kiệm các chi phí, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ, nhanh chóng các thủ tục hành chính Cụ thể, khoản 2 điều 59 Luật chứng khoán quy định: “ Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán Giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh”
Thứ ba, luật chứng khoán quy định về nguyên tắc hoạt động chứng khoán và thị
trường chứng khoán đã đảm bảo được sự công bằng giữa các chủ thể kinh doanh
Trang 10chứng khoán, đảm bảo được tính công khai, minh bạch của thị trường chứng khoán đồng thời cũng bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Riêng đối với công ty chứng khoán, luật chứng khoán có quy định về tổ chức và hoạt động của chủ thể này trên nguyên tắc không phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời thể hiện rõ quan điểm mở cửa trường chứng khoán Việt Nam để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, điều này giúp cho chúng ta có thể tận dụng nguồn đầu
tư lớn từ bên ngoài Đây là một trong số nhứng điểm mới có tính đột phá lớn để thị trường chứng khoán Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện đúng các cam kết đã gia nhập trong lĩnh vực chứng khoán
Thứ tư, việc pháp luật quy định về các chủ thể kinh doanh chứng khoán đã góp
phần đáp ứng được nhiều nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư Bởi vì, nhu cầu khi tham gia thị trường chứng khoán của các nhà đầu tư là khác nhau nên khi pháp luật đã có những quy định cụ thể và về nhiều chủ thể kinh doanh chứng khoán như vậy họ có thể lựa chọn loại chủ thể kinh doanh phù hợp với yêu cầu của mình Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, những phù hợp thì quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này còn bộc lộ một số hạn chế như sau:
Thứ nhất, nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán chưa thực sự rõ ràng,
chưa nêu bật được các đặc trưng của hoạt động kinh doanh chứng khoán Điều này khiến cho có nhiều hoạt động có một vài đặc điểm giống với kinh doanh chứng khoán bị nhầm lẫn là hoạt động kinh doanh chứng khoán Việc chưa xác định đầy
đủ nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán sẽ tạo ra nhứng đối xử khác nhau, khồn công bằng cho cùng những hành vi như nhau
Thứ hai, bản chất pháp lý của của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán chưa
được xác định một cách cụ thể Quy định của pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán
Trang 11chưa thực sự sát với thực tế, các quy định còn mang tính mở nên khó áp dụng Ví
dụ như, việc xác định các loại thu nhập của công ty quản lý quỹ, ưu đãi hoặc miễn trừ nghĩa vụ trong những trường hợp nhất định được áp dụng tương tự công ty chứng khoán, điều này dẫn đến việc nhầm lẫn với công ty chứng khoán và khó trong việc xác định trường hợp nào thì áp dụng theo công ty chứng khoán
Thứ ba, pháp luật chưa có những quy định rõ ràng, cụ thể về phá sản, giải thể công
ty chứng khoán mà chỉ có quy định là thực hiện giống với các doanh nghiệp thông thường Trong khi đó, công ty chứng khoán là loại doanh nghiệp đặc thù việc phá sản, giải thể sẽ có ảnh hưởng đến rất nhiều chủ thể
III/ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT.
Trên cơ sở những điểm phù hợp và những điểm bất cập đã được nêu ở trên em xin đưa ra một vài kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, cần xác định rõ nội hàm của khái niệm hoạt động kinh doanh chứng
khoán Nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán chưa thực sự rõ ràng, chưa nêu bật được các đặc trưng của hoạt động kinh doanh chứng khoán nên cần quy định rõ hơn nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán Việc xác định rõ nội hàm của hoạt động kinh doanh chứng khoán có ý nghĩa quan trọng Để đảm bảo tính tôn nghiêm của pháp luật, các chủ thể có cùng điều kiện, môi trường kinh doanh và mục đích kinh doanh, phải có cùng những quy định pháp luật điều chỉnh Nói cách khác, các chủ thể cùng kinh doanh chứng khoán phải được đối xử như nhau về quyền và nghĩa vụ, cơ quan quản lý, thực hiện chế độ tài chính báo cáo và báo cáo tài chính kế toán Chẳng hạn những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, các quỹ phòng ngừa rủi ro, dự trữ bắt buộc cần phải được áp dụng thống nhất mà trong thực tế những vấn đề này chưa thực hiện được