Việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong giao dịch dân sự trước hết trên cơ sở sự tự giác của các bên. Nhưng trên thực tế không phải bất cứ ai tham gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình.Để tạo được thế chủ động cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng,cũng như việc thực hiện nghĩa vụ. Đồng thời pháp luật cũng có những quy định cụ thể về tài sản được coi là tài sản bảo đảm cho thực hiện nghĩa vụ, đây cũng là một vấn đề quan trọng đặt ra kho các bên thiết lập một giao dịch bảo đảm. Do vậy e xin lựa chọn đề tài số 02: “Tài sản bảo đảm. Phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng”.
Trang 1MỞ ĐẦU
Việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong giao dịch dân sự trước hết trên cơ sở sự tự giác của các bên Nhưng trên thực tế không phải bất cứ
ai tham gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình.Để tạo được thế chủ động cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng,cũng như việc thực hiện nghĩa vụ Đồng thời pháp luật cũng có những quy định cụ thể về tài sản được coi là tài sản bảo đảm cho thực hiện nghĩa vụ, đây cũng là một vấn đề quan trọng đặt ra kho các bên thiết lập một giao dịch bảo đảm Do vậy e xin lựa
chọn đề tài số 02: “Tài sản bảo đảm Phân tích quy định của pháp luật và thực
tiễn áp dụng”.
NỘI DUNG I.Tài sản bảo đảm
1.Khái niệm tài sản bảo đảm
Khái niệm tài sản bảo đảm chưa được quy định trong bất kì văn bản pháp luật nào của nước ta Cách hiểu về tài sản bảo đảm được rút ra từ những quy định của biện pháp bảo đảm nói chung Theo đó, tài sản bảo đảm được hiểu là vật hoặc quyền được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn để bảo đản quyền của bên nhận bảo đảm khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm Đây là khái niệm được đúc rút ta sau khi phân tích các khía cạnh pháp lý dưới góc độ lý luận tài sản bảo đảm là đối tượng của hợp đồng và là phương tiện để bảo đảm quyền lợi cho bên nhận bảo đảm
2.Điều kiện của tài sản bảo đảm
Một tài sản được dùng để làm tài sản bảo đảm phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định như sau:
-Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm:
Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định đối tượng của biện pháp bảo đảm là tài sản thành một điều luật độc lập, trong đó nhấn mạnh tài sản bảo đảm vẫn phải thuojc quyền sở hữu của bên bảo đảm và chỉ loại trừ hai biện pháp bảo đảm là
cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu Có thể nói “quyền sở hữu là căn cứ để hình
thành nên quyền đối với tài sản bảo đảm, bởi chỉ có chủ sở hữu của tài sản mới
có quyền dung tài sản của mình bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác” 1 Quy định này loại bỏ phần nào rủi ro cho bên nhận bảo
đảm
1 Hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự_nxb Dân trí_trang 70
Trang 2Tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng, thực chất tài sản đưa vào giao dịch bảo đảm không phải là chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng nhưng cũng chưa hẳn
ở mức độ thực hiện quyền định đoạt của chủ thể Trong khi đó ngoài chủ sở hữu pháp luật còn cho phép người được chủ hữu ủy quyền hoặc theo pháp luật vẫn được quyền định đoạt (Điều 195 Bộ luật dân sự 2015) Do đó liệu rằng nên mở rộng phạm vi những người thực hiện vai trò của người bảo dảm, có thể là chủ sở hữu và người đuộc ủy quyền cho phép dung tài của chủ sở hữu để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì sẽ đảm bảo tính phù hợp với thực tiễn hơn
-Có thể chuyển giao trong các giao dịch:
Điều kiện có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự bị chi phối bởi hai yếu tố: không bị pháp luật cấm (như hang hóa câm lưu thông) và không phải là tài sản găn với yếu tố nhân thân, có giá trị lịch sử, tín ngưỡng, tâm linh (như đất nghĩa trang, nhà thờ, chùa chiền, bằng tốt nghiệp đại học…)
Yếu tố có thể chuyển giao trong giao dịch bảo đảm có thể giải thích là tài sản bả đảm có thể “bán” được, có thể chuển dịch quyền sở hữu cho người khác
để khấu trừ cho giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm
-Tài sản bảo đảm phải là tài sản không có tranh chấp, không là đối tượng đang bị kê biên, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, không có quyết định trưng thu trưng mua.
-Tài sản bảo đảm có thể mô tả chung nhưng phải xác định được:
Vì tài sản bảo đảm có thể là tài sản hình thành trong tương lai, tài sản hiện
có nên luật đã dự liệu quy định “ tài sản bảo đảm co thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai” (khoản 3 điều 295 Bộ Luật dân sự 2015) Mô
tả chung tức là không thể cụ thể hóa loại tài sản đó –vì thực tế nó chưa hình thành hoặc chưa hình thành một cách đồng bộ nhưng phải xác định được –tức là
có cơ chế xử lí chính xác loại tài sản đó khi phát sinh vấn đề xử lý tài sản bảo đảm
-Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm:
Thông thường giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm để khi xử lý tài sản bảo đảm thì số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm đẻ thanh toán các nghĩa vụ tài chính Tuy nhiên các bên có thể tự thỏa thuận giá trị bảo đảm bằn hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ bảo đảm Trường hợp này nếu tàn sản bị xử lý thì bên nhận bảo đảm có thể bị thiệt hại khi bên bảo đảm không còn tài sản khác để thanh toán
-Quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm
Trang 3Các quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm không bị chấm dứt hoặc vô hiệu bởi các giao dịch được thiết lập sau đó liên quan đến tài sản
bảo đảm “Mọi sự thay đổi đối với tài sản bảo đảm ban đầu không làm mất đi
tính bảo đảm của nó với bên nhận bảo đảm bởi bên nhận bảo đảm hướng tới giá trị của tài sản bảo đảm chứ không phải là các hình thức tồn tại của tài sản bảo đảm” 2
3.Tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhều nghĩa vụ
Theo Điều 296 Bộ Luật dân sự 2015 có quy định về một số tài sản dùng dể bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ ở đó tài sản phải đảm bảo một số điều kiện sau: Thứ nhất là có sự đồng ý xác lập các biện pháp bảo đảm đó từ các chủ thể của nhiều quan hệ nghĩa vụ
Thứ hai là giá trị tài sản tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm Ví dụ A sở hữu một chiếc ô tô trị giá 2
tỷ đồng, A thảo thuận thế chấp chiếc ô tô đó cho B để vay khoản tiền 500 triệu đồng Sau đó A vay C 1 tỷ và cũng thế chấp chiếc ô tô đó
Tuy nhiên pháp luật cũng dự trù những trường hợp mà các chủ thể có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác nên nguyên tắc này không mang tính tuyệt đối Dù các bên trong nghĩa vụ dân sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận trái với những nguyên tắc nêu trên thì thì pháp luật vẫn tôn trọng và bảo đảm thực hiện
Một tài sản có thể dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ đối với một người nhận bảo đảm Trường hợp này các bên thỏa thuận trong giao dịch bảo đảm Nếu một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ của nhiều người nhận bảo đảm mà các bảo đam xác lập không cùng nhau thì người bảo đảm phải thông báo cho những người nhận bảo đảm sau biết và quyết định có nhận bảo đảm hay không
4.Phân loại tài sản bảo đảm
4.1.Tài sản bảo đảm là vật, quyền, tiền hoặc giấy tờ có giá
Tài sản bảo đảm thông thường tồn tại dưới dạng vật hoặc quyền tài sản.
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất Vật hiểu theo khái niệm pháp lý là tài sản và tài sản là vật hữu hình Tuy nhiên không phải mọi vật chất đều được coi là tài sản trong giao dịch dân sự Vật đó phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch
Quyền tài sản được hiểu là “quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật
cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất” 3 quyền tài sản có
2 Hoàn thiện chế định về bảo đảm nghĩa vụ dân sự _nxb Dân trí_trang 72.
Trang 4những loại như quyền sử dụng đất, quyền thuê mướn, quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh sáng chế kiểu dáng công nghiệp, quyên bề mặt, quyền hưởng dụng…Các quyền này giá trị được bằng tiền Lưu ý rằng quyền sư dụng đất không phải trường hợp nào cũng được coi là tài sản bảo đảm Một số trường hợp quyền sử dụng đất không được dùng để thế chấp ví dụ như Đất dduwwojc nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất (trừ đất nhà nước) tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, đất thuê của nhà nước trả tiền hàng năm, đất đang có tranh chấp, đất hết thời hiệu sử dụng đất…
Giấy tờ có giá là các loại giấy tờ có giá trị và có thể thanh toán, trao đổi Tuy nhiên, việc lưu thông giấy tờ có giá phải theo quy định của pháp luật Không phải giấy tờ có giá nào cũng được coi là tài sản bảo đảm
4.2.Động sản và bất động sản
Tài sản bảo đảm còn được chia thành động sản và bất động sản
Theo đó, động sản là những tài sản không phải là bất động sản, có tính chất thì động sản là những tài sản có thể dịch chuyển mà không làm ảnh hưởng đến công dụng của tài sản Bất động sản là tài sản không di dời được, nếu bị di dời thì công dụng của tài sản không còn hoặc không thể di dời như đất đai
Việc mang động sản, bất động sản đi thế chấp lại có những sự khác biệt về trình tự, thủ tục Ví dụ như khi thế chấp bất động sản cần phải có công chứng, chứng thư, hợp đồng công chứng, đăng kí theo thủ tục xác định còn động sản thì không cần thiết phải công chứng, thủ đăng kí là thông báo rất đơn giản Bất động sản dung để bảo đảm phàn lớn phải được gắn liền với một chuỗi các quyền
sở hữu đối với tài sản đó ngược lại đa số động sản dùng để bảo đảm không có bằng chứng nào về quyền sở hữu của nó cả…
4.3.Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
Tài sản hiện có được xác định rõ về sự tồn tại của mình về mặt vật chất và pháp lý Cụ thể, là tài sản đó đã hình thành và được chủ thể xác lập quyền sở hữu, quyên khác đối với tài sản Thời điểm xác lập quyền đối với tài sản hiện có
có thể là trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch
Tài sản hình thành trong tương lai bao gồn hai loại là tài sản chưa hình thành và tài sản và tài sản hoàn thành hiện diện trên thực tế nhưng quyền sở hữu được xác lập sau thời điểm giao dịch Ví dụ A vay tiền B để mua ô tô, để bảo đảm khoản vay, A thế chấp chiếc ô tô đó Như vậy, tại thời điểm thực hiện hợp đồg vay tiền thì chiếc xe đó chưa thuộc sở hữu của A
Trong trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hình thành trong tương lai thì khi bên bảo đảm có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có các quyền đối với một phần hoặc toàn bộ tài
Trang 5sản đó Đối với tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn xử lý
5.Xử lý tài sản bảo đảm
Xử lí tài sản bảo đảm là quá trình thực thi quyền của bên nhận bảo đảm thông qua địh đoạt quyên sở hữu đối với tài sản bảo đảm
5.1.Căn cứ xử lý tài sản bảo đảm
Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm được Bộ luật dân sự 2015 quy định tại Điều 299, theo đó các căn cứ để tài sản bảo đảm bị xử lý là:
-Thứ nhất, tài sản bảo đảm sẽ bị xử lý khi đến hạn mà bên có nghĩa vụ
không thực hiện hoặc thực hiên không đúng nghĩa vụ của mình Nghĩa vụ phadt sinh trên cơ sở các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định
-Thứ hai, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời
hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật mà không thuejc hiện nghĩa vụ đó trong thời hạn bên nhận bảo đảm đã ấn định Đây là trường hợp bên có nghĩa vụ trong hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm vi phạm nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hợp đồng mà sự vi phạm là điều kiện để bên kia chấm dứt hợp đồng
-Thứ ba, các bên có thể thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.
5.2.Phương thức xử lý tài sản bảo đảm
Khi có căn cứ để xử lý tài sản bảo đảm nghĩa vụ, bên nhân bảo đảm có thể
xử lý tài sản bảo đảm theo một trong các phương thức đã được pháp luật về xử
lý tài sản bảo đảm tại các điều luật Điều 303 phương thức xử lý tài sản cầm cố thế cháp, Điều 304 về bán tài sản cầm cố thế chấp, Điều 59 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận, Điều 58 Nghị định 163/NĐ-CP về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm
Theo đó, bên nhận bảo đảm được xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận, trong trường hợp không có thỏa thuận, tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật Bên nhận bảo đảm được quyền xử lý tài sản bảo đảm theo một trong các phương thức sau đây:
-Bán tài sản bảo đảm
-Bên nhận bảo đảm nhận tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm
Phương thức này chỉ được thực hiện khi các bên thỏa thuận và nội dung của phương thức này hoàn toàn do các bên quyết định thông qua sự thỏa thuận
Trang 6Trong trường hợp nội dung chưa được xác định cụ thể thì việc thanh toán nghĩa
vụ được xác định theo các trường hợp sau:
+Nếu bên bảo đảm là bên bảo lãnh mà nghĩa vụ bảo lãnh không có biện pháp bảo đảm kèm theo và phạm vi bảo lãnh là toàn bộ nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm các tài sản sao cho tổng giá trị của tài sản đó bằng với tổng giá trị được bảo lãnh
+Nếu bên bảo đảm là bên bảo lãnh mà nghĩa vụ bảo lãnh không có biệ pháp bảo đảm kèm theo và các bên đã thỏa thuận về phạm vi nghĩa vụ dduwwjc bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo lãnh các tài sản sao cho tổng giá trị của tài sản đó bằng với giá trị tương ứng với phạm vi bảo lãnh
+Nếu bên bảo đảm là bên bảo lãnh mà nghĩa vụ bảo lãnh có biện pháp bảo đảm kèm theo thì bên bảo lãnh chỉ phải giao tài sản là đối tượng của biện pháp bảo đảm kèm theo cho bên nhận bảo đảm
+Nếu bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ hì giao cho bên nhận bảo đảm các tài sản la đối tượng củ biện pháp bảo đảm
-Trực tiếp nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ bên thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ
-Bán đấu giá tài sản:Bên nhận bảo đảm chỉ được đem tài sản bảo đảm đi đấu giá trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác về việc xử lí tài sản Trong trường hợp này, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu trung tâm bán đấu giá tại địa phương nơi người bảo đảm ở hoặc nơi có trụ sở để thực hiện bán đấu giá
5.3.Định giá tài sản bảo đảm
Khi xử lý tài sản bảo đảm cần phải định giá tài sản một cách khách quan đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan đến giá trị của tài sản được định giá Điều 306 Bộ luật dân sự 2015 quy định phương thức định giá tài sản như sau:
“1 Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản.
2 Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường.
Trang 73 Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật
mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá tài sản bảo đảm”
II Thực tiễn áp dụng
1.Một số bất cập trong quy định của pháp luật về tài sản bảo đảm
1.1.Những vướng mắc khi xác định quyền sở hữu của tài sản bảo đảm
Bên nhận bảo đảm chỉ có thể xử lý được tài sản bảo đảm nếu tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm Tuy nhiên trong thực tế bên nhận bảo đảm thường gặp vướng mắc rất lơn trong việc xác định tính thật giả của giấy tờ đăng kí quyền sở hữu tài sản bảo đảm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp Một số bên nhận bảo đảm đã gặp phải những thủ đoạn tinh vi của bên bảo đảm như làm giả giấy chứng nhận quyền sử hữu tài sản thế chấp cho ngân hàng hay để bán tài sản thế chấp hoặc dùng để thế chấp tiếp theo; khai báo mất giấy
tờ gốc để xin cấp lại phó bản các giấy tờ trên và thực hiện các giao dịch tiếp theo trên tài sản thế chấp; dùng bản phô tô màu giấy chứng nhận quyền sở hữu xe ô
tô để giao cho ngân hang vay vốn, còn bản gốc thì dùng để bán xe ô tô đã thế chấp cho người khác Nạn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả tràn lan cũng
là nguy cơ rủi ro mà bên nhận bảo đảm dễ gặp phải
Thứ hai, vướng mắc liên quan đến hậu quả pháp lý của việc ghi tên chủ sở
hữu trên giấy tờ đăng ký sở hữu tài sản bảo đảm không đúng với các căn cứ xác lập quyền sở hữu theo luật định Ví dụ các giao dịch xác lập quyền sở hữu không phù hợp với quy định của pháp luật do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, do người giao kết không có năng lực hành vi dân sự và bị tuyên bố vô hiệu…nhưng các chủ thể trong giao dịch đã hoàn tất thủ tục sang tên quyền sở hữu đối với tài sản đó Người được sang tên đã dùng tài sản này để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thì giao dịch bảo đảm có bị tuyên vô hiệu hay không? Từ đây mà xảy
ra nhiều vấn đề tranh chấp trong đảm bảo nghĩa vụ
1.2.Một số tài sản bảo đảm cụ thể
-Tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Đây là một loại tài sản chiếm vị trí quan tâm hàng đầu đối với các doanh nghiệp kinh doanh vừa và nhỏ khi dùng chúng làm tài sản bảo đảm vay vốn ngân hàng Tuy nhiên với quy định ở Khoản 4, 5 Điều 321 Bộ luật dân sự 2015 mới chỉ dừng lại ở quy định mang tính chung chung, các bên chủ thể trong quan
hệ thế chấp khó có thể xác định chính xác để áp dụng pháp luật vào đời sống thực tiễn Quy định của pháp luật cho phép bên thế chấp được quyền bán tài sản
thế chấp tại khoản 4 Điều 321“Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp,
nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh
Trang 8Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp” Điều này đã gây ra nhiêu bất cập trong thực tiễn cho
bên nhận thế chấp Đó là bên nhận thế chấp bị tước đi quyền được theo dõi, kiểm tra tài sản thế chấp bởi phap luật không quy định nghĩa vụ thông báo cũng như nội dung phải thông báo của bên thế chấp đối với bên nhận thế chấp khi bán tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình kinh doanh, vì vậy mà bên nhận thế chấp không biết được ai là người mua tài sản thế chấp, hoặc biết người mua thì cũng đã muộn, gia dịch mua bán đó đã hoàn tất không thể đòi lại
tài sản bảo đảm “Đồng thời quy định “quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền,
số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp” đã chuyển biện pháp bảo đảm đang có tính vật quyền trở thành có tính trái quyền, tức là giảm độ an toàn của biện pháp bảo đảm đã được xác lập giữa các bên” 4
-Tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai:
Việc thiếu các căn cứ pháp lý để khẳng định tài sản mới, tài sản sẽ có xác lập quyền sở hữu cho bên bảo đảm là một bất cập lớn mà các bên trong quan hệ phải đối mặt Đối với loại tài sản phải đăng kí quyền sở hữu thì tài sản đó phải
có giấy chứng nhận quyền sở hữu: điều này là không thể đối với tài sản trong tương lai vì nó chưa hình thành hoặc hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho bên thế chap thì không có cơ quan nào cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản Từ đó kéo theo hàng lọat những vướng mắc tiếp theo như không thể công chứng hợp đồng và không đăng kí được giao dịch thế chấp
- Tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là loại quyền có gía trị trong một thời hạn nhất định,
đó là thời hạn có hiệu lực của văn bảo bảo hộ theo từng đối tượng tài sản cụ thê Mỗi một đối tượng thuộc quyền sở hữu khác nhau có thời hạn khác nhau nên khi lựa chọn tài sản này làm tài sản thế chấp, bên nhận bảo đảm phải cân nhắc về thời hạn của nghĩa vụ được bảo đảm đối với thời hạn còn lại rong văn bản bảo
hộ của các đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ vì rất có thể xảy ra trường hợp tài sản bảo đam này đã mất trước khi có thể xử lý được chúng Mặt khác, rất khó khan trong việc định giá được giá trị của loại tài sản này Tại Việt Nam chưa thành lập được một tổ chức định giá được loại tài sản là quyền sở hữu trí tuệ này
2.Thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm
Trong việc xử lý tài sản bảo đảm thường gặp phải một số khó khan vướng mắc như sau:
272.
Trang 9-Khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo phương thức mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm thường gặp phải sự chống đối, gây trở ngại từ phía người bảo đảm Mặt khác thường bị các cơ quan có thẩm quyền từ chối thực hiện thủ tục chuyển, đăng kí quyền sở hữu đối với tài sản xử lý cho người mua, nhận chuyển nhượng tài sản đó (về nguyên tắc các cơ quan này chỉ thực hiện thủ tục này khi có sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị xử lý) Vì vậy, trên thực tế, hầu như bên nhận bảo đảm không thể tự nhận hay tự bán tài sản được nếu tài sản phải có giấy tờ đăng kí quyền sở hữu
-Nếu tài sản là nhà ở và người bảo đảm không có nơi ở khác thì hầu như việc xử lý tài sản không thực hiện được Thậm chí ngay trong trường hợp bên nhận bảo đảm khởi kiện và đã được Tòa án chấp nhận yêu cầu bằng một bản án
có hiệu lực thì trước khi thi hành bản án, cơ quan thi hành án cũng yêu cầu các bên thỏa thuận về việc mua nơi ở mới cho người bị thi hành án vì cơ quan thi hành án không thể cưỡng chế người phải thi hành án ra khỏi căn nhà khi họ không có chỗ ở khác, đồng thời cơ quan thi hành án cũng cần một nơi để tập kết tài sản của người bị thi hành án để cưỡng chế thi hành
-Trường hợp trong thời hạn thế chấp, bên bảo đảm đã sử dụng tài sản đó làm phương tiện phạm tội Khi xử lí hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng đã tịch thu tài sản làm cho nghĩa vụ được bảo đảm hợp pháp trở thành nghĩa vụ không
có tài sản bảo đảm khi đó bên nhận bảo đảm phải gánh chịu rủi ro không thể lường trước dù mình không có lỗi
- Một trong các phương thức xử lý tài sản bảo đảm là bán đấu giá tài sản Thực tiễn cho thấy, hoạt động xử lý tài sản bảo đảm rất cần sự hỗ trợ từ chính các quy định và sự hoạt động chuyên nghiệp của tổ chức đấu giá và tổ chức định giá bán tài sản Tuy nhiên, trong bối cảnh nước ta hiện nay, hoạt động định giá chưa mang tính phổ biến và chuyên nghiệp, nên việc xác định giá bán tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn, thậm chí phát sinh nhiều tranh chấp, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý tài sản bảo đảm
Trang 10KẾT LUẬN
Thời gian qua, pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm đã góp phần tạo lập một môi trường pháp lý an toàn, thuận lợi cho quá trình xử lý tài sản bảo đảm, giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu điều chỉnh của thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm
Do đó, về lâu dài, cần phải thiết lập một hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm, trong đó, có quy định về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm thực sự đồng bộ, hoàn thiện
Trên đây là toàn bộ bài làm của em, trong quá trình làm em không tranh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để bài làm của em hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!