1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2 phát triển du lịch bền vững ở tỉnh phú thọ

131 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 891,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch là một ngành kinh tế phát triển nhanh và ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước xác định vai trò hết sức quan trọng của du lịch trong nền kinh tế quốc dân, khẳng định mục tiêu phát triển du lịch thành “ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước” 13 và định rõ chủ trương “khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch” 14, “có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du lịch” 31 để đảm bảo đạt và giữ vững được mục tiêu này. Nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, Phú Thọ hội tụ nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch. Là vùng đất phát tích của dân tộc Việt Nam, vùng đệm quan trọng của chiến khu Việt Bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Phú Thọ có rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng có giá trị và ý nghĩa trên nhiều phương diện. Trên địa bàn tỉnh có 1372 di tích, trong đó có 174 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 71 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, đặc biệt quần thể di tích Đền Hùng gắn với thời kỳ Hùng Vương dựng nước đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá đặc biệt của quốc gia vào năm 2009. Với kiến tạo địa chất, địa hình, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên đa dạng của khu vực trung du miền núi và là nơi sinh sống lâu đời của hơn 20 dân tộc với truyền thống, tập quán sinh hoạt mang nét đặc thù, Phú Thọ có nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú như khu vực hang động và vườn quốc gia Xuân Sơn, đầm Ao Châu, thác Cự Thắng, thác Ba Vực …; nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể độc đáo. Bên cạnh đó, Phú Thọ còn có khu nước khoáng nóng Thanh Thuỷ trữ lượng khá lớn, chất lượng ổn định và được đánh giá là một trong 4 mỏ nước khoáng tốt nhất của cả nước…. Sự đa dạng, phong phú về tài nguyên du lịch, thuận lợi về vị trí địa lý và giao thông là cơ sở, điều kiện rất quan trọng để Phú Thọ có thể trở thành một trong những trọng điểm du lịch quốc gia, phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Nhận thức được những lợi thế về du lịch và lợi ích do du lịch đem lại, tỉnh Phú Thọ đã sớm có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể đẩy mạnh phát triển ngành kinh tế quan trọng này và đã đạt những kết quả đáng ghi nhận. Trong những năm qua, lượng khách du lịch liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao, tăng trưởng doanh thu, GDP bình quân đạt ở mức cao tương ứng; cơ sở vật chất phát triển mạnh; vốn đầu tư tăng nhanh chóng qua từng năm và theo hướng xã hội hoá mạnh mẽ … Tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu nhất định, song hoạt động du lịch Phú Thọ còn nhiều hạn chế về tốc độ phát triển so với tiềm năng, về chất lượng sản phẩm du lịch, chất lượng và tính đồng bộ của hệ thống cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ lao động ngành du lịch, về công tác quản lý hoạt động du lịch, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường… Đặc biệt, từ góc độ phát triển bền vững, hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ đang bộc lộ những tồn tại đáng lo ngại, đó là tăng trưởng của ngành du lịch chưa vững chắc; hoạt động du lịch gây không ít tác động tiêu cực tới tài nguyên du lịch, tới môi trường tự nhiên, xã hội, tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể; nhiều ngoại ứng tiêu cực đang ảnh hưởng lớn tới cộng đồng… Những hạn chế trên đang ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ trong tương lai. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, đề ra các giải pháp phát triển bền vững du lịch tỉnh Phú Thọ là rất cần thiết, có ý nghĩa thiết thực đối với địa phương. Với lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế.

Trang 2

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa : CHXHCN

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc : UNESCO

Trang 3

Bảng 2.3: Thực trạng lao động du lịch Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2009 56

Bảng 2.4: Hiện trạng khách du lịch đến Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2009 68

Bảng 2.5: Doanh thu du lịch Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2009 72 70

Bảng 2.6: Cơ cấu doanh thu du lịch Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2009 71

Bảng 2.7: Tăng trưởng GDP du lịch Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2009 72

Bảng 2.8: Đánh giá tổng hợp việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển du

Bảng 3.1: Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế du lịch Phú Thọ đến năm 2020 85

Bảng 3.2: Dự kiến một số chỉ tiêu phát triển du lịch bền vững tỉnh Phú

Thọ về xã hội, tài nguyên và môi trường đến năm 2020 86

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch là một ngành kinh tế phát triển nhanh và ngày nay đã trở thànhmột trong những ngành kinh tế hàng đầu của mỗi quốc gia, mỗi địa phương.Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước xác định vai trò hết sức quan trọng của dulịch trong nền kinh tế quốc dân, khẳng định mục tiêu phát triển du lịch thành

“ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước” [13] và định rõ chủ trương “khuyếnkhích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch”[14], “có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển

du lịch” [31] để đảm bảo đạt và giữ vững được mục tiêu này

Nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, Phú Thọ hội tụ nhiều tiềmnăng, điều kiện phát triển du lịch Là vùng đất phát tích của dân tộc Việt Nam,vùng đệm quan trọng của chiến khu Việt Bắc trong suốt cuộc kháng chiếnchống Pháp, Phú Thọ có rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng

có giá trị và ý nghĩa trên nhiều phương diện Trên địa bàn tỉnh có 1372 di tích,trong đó có 174 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 71 di tích được xếp hạng cấpquốc gia, đặc biệt quần thể di tích Đền Hùng gắn với thời kỳ Hùng Vươngdựng nước đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá đặc biệt của quốc gia vàonăm 2009 Với kiến tạo địa chất, địa hình, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên

đa dạng của khu vực trung du miền núi và là nơi sinh sống lâu đời của hơn 20dân tộc với truyền thống, tập quán sinh hoạt mang nét đặc thù, Phú Thọ cónhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú như khu vực hang động và vườn quốc giaXuân Sơn, đầm Ao Châu, thác Cự Thắng, thác Ba Vực …; nhiều di sản văn hoávật thể và phi vật thể độc đáo Bên cạnh đó, Phú Thọ còn có khu nước khoángnóng Thanh Thuỷ trữ lượng khá lớn, chất lượng ổn định và được đánh giá là mộttrong 4 mỏ nước khoáng tốt nhất của cả nước… Sự đa dạng, phong phú về tàinguyên du lịch, thuận lợi về vị trí địa lý và giao thông là cơ sở, điều kiện rất

Trang 5

quan trọng để Phú Thọ có thể trở thành một trong những trọng điểm du lịch quốcgia, phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

Nhận thức được những lợi thế về du lịch và lợi ích do du lịch đem lại,tỉnh Phú Thọ đã sớm có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể đẩymạnh phát triển ngành kinh tế quan trọng này và đã đạt những kết quả đángghi nhận Trong những năm qua, lượng khách du lịch liên tục tăng trưởng vớitốc độ khá cao, tăng trưởng doanh thu, GDP bình quân đạt ở mức cao tươngứng; cơ sở vật chất phát triển mạnh; vốn đầu tư tăng nhanh chóng qua từngnăm và theo hướng xã hội hoá mạnh mẽ …

Tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu nhất định, song hoạt động dulịch Phú Thọ còn nhiều hạn chế về tốc độ phát triển so với tiềm năng, về chấtlượng sản phẩm du lịch, chất lượng và tính đồng bộ của hệ thống cơ sở vậtchất, chất lượng đội ngũ lao động ngành du lịch, về công tác quản lý hoạtđộng du lịch, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường… Đặc biệt, từ góc

độ phát triển bền vững, hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ đang bộc lộ những tồntại đáng lo ngại, đó là tăng trưởng của ngành du lịch chưa vững chắc; hoạtđộng du lịch gây không ít tác động tiêu cực tới tài nguyên du lịch, tới môitrường tự nhiên, xã hội, tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vậtthể, phi vật thể; nhiều ngoại ứng tiêu cực đang ảnh hưởng lớn tới cộngđồng… Những hạn chế trên đang ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịchcủa tỉnh Phú Thọ trong tương lai Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, đề racác giải pháp phát triển bền vững du lịch tỉnh Phú Thọ là rất cần thiết, có ýnghĩa thiết thực đối với địa phương Với lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài

“Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ

kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trên thế giới: Du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế lớn

nhất với khả năng thu lợi về kinh tế và tiềm năng phát triển to lớn Chính vì

Trang 6

vậy, hoạt động du lịch được rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học và cả các nhàquản lý quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến những năm 80 của thế kỷtrước, khái niệm “phát triển bền vững” mới xuất hiện, khi đó cũng đã có một

số nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm đưa ra các khía cạnh ảnh hưởngcủa du lịch có liên quan đến phát triển bền vững Đến đầu những năm 90 kháiniệm “du lịch bền vững” mới chính thức được đề cập, khi mà các tác độngtiêu cực lên môi trường của sự bùng nổ du lịch từ những năm 1960 trở nên rõrệt hơn Kể từ đó, vấn đề phát triển du lịch bền vững đã được nhiều nướcnghiên cứu và triển khai thực hiện, với các cách tiếp cận và tổ chức thực hiệnkhác nhau Một số quốc gia bắt đầu từ việc xây dựng thí điểm các mô hìnhthực nghiệm về phát triển du lịch bền vững để đúc rút kinh nghiệm và xâydựng chính sách; một số khác thực hiện việc nghiên cứu tổng thể, đề ra cácchính sách về phát triển bền vững rồi triển khai trên thực tế Cả từ góc độnghiên cứu cũng như thực nghiệm về “du lịch bền vững” cho thấy du lịch bềnvững không chỉ bảo vệ môi trường, giữ gìn sinh thái, mà còn quan tâm đếnkhả năng duy trì lợi ích kinh tế dài hạn và công bằng, phát triển, tiến bộ xãhội Phát triển du lịch bền vững là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia,vùng lãnh thổ trên thế giới hiện nay

Tại Việt Nam: Vấn đề phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam đã được

đặt ra ở một số công trình nghiên cứu như đánh giá tác động của hoạt động dulịch đến tài nguyên, môi trường, nghiên cứu cơ sở cho phát triển du lịch sinhthái, vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc trong hoạt động dulịch…, nhưng còn hạn chế về số lượng Một số công trình nghiên cứu có hệthống và giá trị cho đến nay có thể kể đến là đề tài nghiên cứu khoa học độclập cấp nhà nước “Cơ sở khoa học và giải pháp cho phát triển du lịch bềnvững ở Việt Nam” (2002) do Tiến sĩ Phạm Trung Lương, Viện Nghiên cứuphát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch chủ trì xây dựng; công trình “Giớithiệu sách cẩm nang về phát triển du lịch bền vững” (2005) do Hội khoa học

Trang 7

của Tổng cục Du lịch phát hành Ở các địa phương, việc nghiên cứu về du lịchbền vững thường được thực hiện trong khuôn khổ các dự án, hội thảo khoa họchoặc lồng ghép đan xen với các chương trình thực nghiệm như ở Lào Cai, ĐiệnBiên, Thừa Thiên - Huế, Đồng Nai, Quảng Bình, Lâm Đồng và gần đây là ởCần Thơ (Hội thảo về phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông CửuLong) Tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh, đã có một số đề tài nghiên cứu vềtừng nội dung cụ thể thuộc lĩnh vực du lịch, nghiên cứu phát triển du lịch ở cấp

độ địa phương, trong đó, có đề cập đến phát triển du lịch bền vững Chưa cócông trình đi sâu nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về phát triển du lịch bền

vững tỉnh Phú Thọ Do vậy, đề tài “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú

Thọ” không trùng lắp với luận văn hoặc đề tài khoa học nào đã công bố.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững,luận văn đề xuất phương hướng, mục tiêu và hệ thống giải pháp có tính khảthi góp phần phát triển du lịch bền vững tỉnh Phú Thọ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đó, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững

- Thời gian nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ từnăm 2001 đến nay; đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, các giải pháp phát triển

du lịch bền vững từ nay đến 2020

Trang 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của đề tài luận văn dựa trên phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế - xã hội; chủtrương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,của tỉnh Phú Thọ về phát triển du lịch Đồng thời kế thừa có chọn lọc nhữngkết quả nghiên cứu lý luận và nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn về phát triển

du lịch bền vững của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp: Tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích kinh tế, đánhgiá, dự báo …

6 Những đóng góp của luận văn

Làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trongphát triển du lịch ở Phú Thọ thời gian qua

Đề xuất định hướng và những giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm pháttriển du lịch Phú Thọ theo định hướng bền vững

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc rà soát, điều chỉnh, bổsung quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững trongnhững năm tới và làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu trong lĩnh vựctrên

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ.

Trang 9

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững tỉnh

Phú Thọ

Trang 10

tế, đến việc giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa mục tiêu về kinh tế với mụctiêu bảo vệ tài nguyên và môi trường sống của con người.

Nhận thức về phát triển bền vững không ngừng được mở rộng và bổsung trong những năm tiếp theo Bước ngoặt quan trọng trong quan điểm vềphát triển bền vững được thể hiện ở Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môitrường và phát triển họp tại Rio de Janero (Braxin) năm 1992 Tại đây đãthông qua Chương trình nghị sự 21 và quan niệm về phát triển bền vững Hộinghị thượng đỉnh trái đất về phát triển bền vững (WSSD) họp tạiJohannesburg (Nam Phi) năm 2002 đã tiếp tục khẳng định việc lựa chọn conđường phát triển bền vững được xác định 10 năm trước tại Rio Chương trình

Trang 11

nghị sự 21 đã đưa ra quan điểm phát triển bền vững không chỉ nhấn mạnh vấn

đề môi trường, tài nguyên thiên nhiên mà còn nhấn mạnh nhiều hơn đến yếu

tố xã hội, yếu tố con người trong quá trình phát triển của các quốc gia

Quan điểm đầy đủ về phát triển bền vững của Liên hiệp quốc đưa ra là

“bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định trong mối quan hệ với thực hiện tốttiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên,bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống” [22] Quan điểm này đã thểhiện rõ nội dung của phát triển bền vững hiện nay Theo quan điểm của Liênhợp quốc, phát triển bền vững được hình thành “trong sự hoà nhập, đan xen

và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hoá

- xã hội” [7] Phát triển bền vững phải dựa trên tính bền vững cả về kinh tế,văn hoá - xã hội và môi trường - sinh thái Mục tiêu của phát triển phải lànâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của loài người, tạo nên cuộc sốngcông bằng và bình đẳng giữa các thành viên Để đạt được mục tiêu ấy, trongquá trình phát triển, các quốc gia phải xác định được một cách hợp lý các mụctiêu cụ thể của 3 nội dung phát triển này Trong đó, mục tiêu bền vững vềkinh tế là lựa chọn một tốc độ tăng trưởng hợp lý trên cơ sở một cơ cấu kinh

tế phù hợp và có hiệu quả nhất Bền vững về xã hội tập trung vào việc thựchiện từng bước các nội dung về tiến bộ xã hội và phát triển con người Bềnvững về môi trường bao gồm bảo vệ, quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên;bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường; thực hiện tốt quá trình tái sinh tàinguyên môi trường; bảo tồn sự đa dạng sinh học

Ở Việt Nam, khái niệm về phát triển bền vững được biết đến cuối thậpniên 80 đầu thập niên 90, khi chúng ta bước vào thời kỳ cải tổ kinh tế, thựchiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với quan điểm gắn kếtđồng thời cả mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội trong toàn tiến trình pháttriển Năm 1991, bản “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bềnvững giai đoạn 1991 - 2000” được Chính phủ thông qua Đây là một trong

Trang 12

những kế hoạch quốc gia đầu tiên được xây dựng theo quan điểm phát triểnbền vững vừa được quốc tế chính thức công bố.

Tại Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị khẳng địnhquan điểm “bảo vệ môi trường phải gắn liền và là cơ sở quan trọng bảo đảmphát triển bền vững đất nước”[3] Quan điểm phát triển bền vững được bổsung và tiếp tục khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệmôi trường” “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môitrường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiênnhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”[13]

Tại Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở ViệtNam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), trong đó đã đưa ra mục tiêutổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu

có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuậncủa xã hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặtchẽ, hợp lý và hài hoà giữa ba mặt là phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởngkinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đóigiảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắcphục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chốngcháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)

Như vậy, có thể thấy phát triển bền vững đã trở thành quan điểm,đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Về mặt lý luận, vấn đề pháttriển bền vững ngày càng được nghiên cứu, bổ sung đầy đủ hơn, nhiều nộidung của phát triển bền vững được pháp điển hoá và thể hiện cụ thể trong cácquy định pháp luật Về mặt thực tiễn, phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống

và dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước

Trang 13

1.1.1.2 Phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững không tách rời sự phát triển bền vững nói

chung Bởi lẽ, nói đến phát triển du lịch bền vững là nói đến sự phát triển bềnvững trong một lĩnh vực, một khu vực cụ thể, trong mối tương tác với pháttriển bền vững các ngành, lĩnh vực, khu vực khác và nằm trong sự phát triểnbền vững chung

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm pháttriển du lịch bền vững Du lịch bền vững được định nghĩa theo một số cách.Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), 1996 thì “Du lịch bềnvững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch màvẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tươnglai” [26] Đây là một định nghĩa ngắn gọn song còn khá chung chung, chỉ đềcập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nóiđến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái, đadạng sinh học Còn theo nhà nghiên cứu du lịch người Bỉ Hens L., thì “Dulịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó

để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khivẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinhhọc và các hệ đảm bảo sự sống ”[7] Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đếncông tác quản lý tài nguyên du lịch để cho du lịch được phát triển bền vững.Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio deJaneiro năm 1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đã đưa ra định nghĩa:

Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằmđáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địatrong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tàinguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Dulịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằmthoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người

Trang 14

trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinhhọc, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ chocuộc sống con người [28]

Đây là định nghĩa hàm chứa đầy đủ hơn các nội dung, các hoạt động, cácyếu tố liên quan đến du lịch bền vững Định nghĩa này cũng đã chú trọng đếncộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ bản sắc vănhoá

“Phát triển du lịch bền vững” là một khái niệm còn khá mới ở Việt Nam.Tuy nhiên, thông qua các bài học và kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịchtại nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trên thực tế đã xuất hiện ởViệt Nam một số phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môitrường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng dưới hìnhthức các loại hình du lịch tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu …

Về mặt lý luận, mặc dù còn những quan điểm chưa thật sự thống nhất vềkhái niệm “Phát triển du lịch bền vững”, song cho đến nay đa số ý kiến cácchuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực có liên quan khác ở ViệtNam đều cho rằng:

Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lýcác giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạngcủa khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trongkhi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tàinguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động

du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phầnnâng cao mức sống của cộng đồng địa phương[29]

Trong nội dung của luận văn, tác giả thống nhất cách tiếp cận phát triển

du lịch bền vững theo quan niệm này

1.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch bền vững

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt,

Trang 15

mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoácao Phát triển du lịch bền vững gắn bó chặt chẽ trong mối quan hệ tương tácvới sự phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực; tác động sâu rộng đến xã hội vàngược lại, đòi hỏi sự nỗ lực chung, đồng bộ của toàn xã hội Chính vì vậy,mục tiêu mà phát triển du lịch bền vững hướng tới cũng mang tính tổng hợp,bao gồm ba nhóm mục tiêu cơ bản sau:

- Nhóm mục tiêu về kinh tế: Đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển ổn định

lâu dài về mặt kinh tế của ngành du lịch, góp phần tích cực vào phát triển kinh

tế của quốc gia và cộng đồng

- Nhóm mục tiêu về xã hội: Du lịch thoả mãn nhu cầu du khách; đồng thời

đóng góp tích cực cho sự công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển cộng đồng

- Nhóm mục tiêu về bảo vệ tài nguyên và môi trường: Phát triển du lịch

trên cơ sở khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ sự đa dạng sinh thái,kiểm soát tác động đến môi trường và nỗ lực đóng góp cho việc tái tạo tàinguyên, bảo vệ môi trường

Trên đây là các nhóm mục tiêu của phát triển du lịch bền vững với nộihàm được nêu theo hướng khái quát nhất, được nhiều nhà nghiên cứu vàchuyên gia về du lịch xác định Trong mỗi quốc gia, các mục tiêu trong từngnhóm được phân tách chi tiết ở những mức độ khác nhau, có những mục tiêumang tính đan xen, kết hợp, có mục tiêu được lượng hoá cụ thể để tổ chứcthực hiện

Đối với Việt Nam, theo Hội đồng khoa học của Tổng Cục Du lịch,

2005, các mục tiêu mà phát triển du lịch bền vững hướng đến bao gồm [44]:

1 Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh

để các doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồnthịnh và đạt lợi nhuận lâu dài

2 Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch đối với

sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu

Trang 16

du lịch; bao gồm phần tiêu dùng của khách du lịch được giữ lại tại địa phương.

3 Số lượng và chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng

việc làm tại địa phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ,không có sự phân biệt đối xử về giới và các mặt khác

4 Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội

thu được từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cảnhững người trong cộng đồng đáng được hưởng

5 Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất

lượng cao thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của du khách, không phân biệt đối xử vềgiới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác

6 Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho cộng

đồng địa phương xây dựng kế hoạch và đề ra các quyết định về quản lý vàphát triển du lịch, có sự tham khảo tư vấn của các bên liên quan

7 An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của

người dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận cácnguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thácquá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức

8 Đa dạng văn hoá: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử,

bản sắc văn hoá dân tộc, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộngđồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch

9 Thống nhất về tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật,

kể cả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường xuống cấp

10 Đa dạng sinh học: Hỗ trợ cho việc bảo tồn khu vực tự nhiên, môi

trường sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này

11 Hiệu quả của các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn

tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triểnkhai các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch

12 Môi trường trong lành: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và

Trang 17

rác thải từ du khách và các hãng du lịch.

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản phát triển du lịch bền vững

Để đạt được mục tiêu phát triển du lịch bền vững, cần tuân thủ cácnguyên tắc phát triển du lịch bền vững sau:

1.1.3.1 Sử dụng nguồn tài nguyên du lịch một cách bền vững

Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành nên các sản phẩm dulịch Do đó mọi hoạt động du lịch đều liên quan đến việc sử dụng các nguồntài nguyên Nhiều tài nguyên trong số đó không thể tái tạo hay thay thế đượchoặc khả năng tái tạo cần thời gian rất dài và khó khăn Vì vậy, việc sử dụngtài nguyên du lịch một cách bền vững là nguyên tắc quan trọng hàng đầu bởi

lẽ đây vừa là tiền đề, vừa là điều kiện hết sức quan trọng cho hoạt động dulịch phát triển lâu dài Phát triển du lịch bền vững đặt ra yêu cầu vừa khaithác, sử dụng tài nguyên du lịch cho phát triển hiện tại, vừa phải gìn giữ chocác thế hệ tương lai một nguồn tài nguyên du lịch không kém hơn so vớinhững gì mà các thế hệ trước được hưởng

1.1.3.2 Hạn chế việc tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải

Việc khai thác tiêu thụ quá mức tài nguyên và không kiểm soát đượclượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ dẫn đến suy giảm hoặc cạn kiệt tàinguyên và suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bềnvững của du lịch nói riêng và kinh tế xã hội nói chung Hạn chế tiêu thụ quámức tài nguyên và giảm chất thải có ý nghĩa quan trọng cả trước mắt cũngnhư lâu dài, tránh được những chi phí tốn kém cho việc hồi phục tổn hại vềmôi trường và làm tăng chất lượng của du lịch, nâng cao tính bền vững của sựphát triển du lịch

1.1.3.3 Phát triển du lịch phải gắn với duy trì tính đa dạng về thiên nhiên, văn hoá và xã hội

Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặc biệtquan trọng tạo nên sức hấp dẫn và tăng sự phong phú của sản phẩm du lịch,

Trang 18

thu hút và làm thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách Nơi nào có tính đadạng cao về tự nhiên, văn hoá và xã hội, nơi đó sẽ có khả năng cạnh tranh dulịch cao và có sức hấp dẫn du lịch lớn, đảm bảo cho sự phát triển Có thểkhẳng định rằng, đa dạng là một trong những tài sản, vốn quý hàng đầu củangành kinh tế du lịch Mặt khác, nhìn từ một góc độ cụ thể trong quan niệm

về phát triển du lịch bền vững cho thấy sự phát triển bền vững đặt ra yêu cầuthế hệ hiện tại phải để lại cho các thế hệ tương lai một gia tài đa dạng về thiênnhiên và nhân văn không ít hơn những gì mà thế hệ hiện tại đó được thừahưởng từ thế hệ trước Việc duy trì tính đa dạng của thiên nhiên nhiên, vănhoá, xã hội làm cho sự phát triển du lịch đáp ứng được yêu cầu này Chính vìvậy duy trì và tăng cường tính đa dạng là điều kiện cho sự phát triển bềnvữngcủa du lịch và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành kinh tế du lịch

Trong thực tế, nếu phát triển du lịch tuân thủ nguyên tắc này, sẽ đảm bảocho hoạt động du lịch trở thành một động lực góp phần tích cực duy trì sự đadạng của thiên nhiên; đồng thời cũng sẽ góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá,duy trì sự đa dạng của nguồn tài nguyên nhân văn Ngoài ra, du lịch còn tạothêm công ăn việc làm, góp phần làm đa dạng hoá xã hội

1.1.3.4 Phát triển du lịch phải trên cơ sở quy hoạch và quy hoạch phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng Vì vậy mọiphương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạchchuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nóichung ở phạm vi quốc gia, ở mỗi vùng và từng địa phương Ngoài ra, đối vớimỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạnchế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phầnđảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngànhkinh tế khác cũng như việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đảm bảo môi trường.Thực tế cho thấy ở những nơi vị trí của du lịch chưa được xác định đúng

Trang 19

mức trong một chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nơi phát triển dulịch không được xem xét và cân đối với các ngành khác trong khuôn khổ mộtquy hoạch tổng thể, thì sự phát triển quá mức của các ngành khác sẽ làm tổnhại tới tài nguyên và làm suy thoái môi trường của du lịch, ảnh hưởng trựctiếp tới sự phát triển bền vững của du lịch

1.1.3.5 Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương

Để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng,việc khai thác các tài nguyên là tất yếu Tuy nhiên, thực tế cho thấy trênmột địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình màkhông có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ quyền lợi đốivới cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống của ngườidân địa phương gặp nhiều khó khăn Điều này buộc cộng đồng địa phươngphải khai thác tối đa các tài nguyên tại chỗ phục vụ cho sự sinh tồn củaminh, làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và tổn hại đến môitrường sinh thái Kết quả là những tác động tiêu cực đến sự phát triển bềnvững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung

1.1.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động phát triển du lịch

Sự tham gia của địa phương là cần thiết cho ngành du lịch Người dânđịa phương, nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của họ lànhững nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch đến một điểm du lịch Sựtham gia thực sự của cộng đồng có thể làm phong phú thêm loại hình vàsản phẩm du lịch Hơn thế nữa khi cộng đồng địa phương được tham giaphát triển du lịch thì sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho

du lịch bởi cộng đồng sở tại là chủ nhân và là người có trách nhiệm chínhvới tài nguyên và môi trường khu vực Điều này sẽ tạo ra khả năng pháttriển lâu dài của du lịch Về phía ngược lại, du lịch phát triển sẽ góp phầnđáp ứng nhu cầu việc làm và tăng thu nhập của người dân bản địa, bảo vệ

Trang 20

môi trường thiên nhiên và văn hoá của họ Nói cách khác, việc phát triển dulịch sẽ mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và văn hoá cho cộng đồng Đây làmối quan hệ tương tác hai chiều theo hướng cả hai bên cùng có lợi nếu cùngtích cực tham gia quan hệ

Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch đượcthực hiện thông qua việc khuyến khích họ sử dụng các phương tiện, các cơ

sở vật chất của mình để phục vụ khách du lịch như chuyên chở, thuyếtminh hướng dẫn du khách, cho thuê nhà để ở, nấu ăn cho khách, sản xuấtcác hàng thủ công mỹ nghệ làm đồ lưu niệm

Trên đây là 6 nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững Ngoài

ra, theo một số nhà nghiên cứu, một số nguyên tắc khác cũng cần được tuânthủ nghiêm túc trong phát triển du lịch, như: Thường xuyên trao đổi, thamkhảo ý kiến cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan trong quátrình phát triển du lịch; chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhânlực; tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm; thường xuyên tiến hành công tácnghiên cứu

Những nguyên tắc cơ bản nói trên nếu được thực hiện đầy đủ và đồng bộ

sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch - chìa khoá cho sự thànhcông lâu dài của du lịch

1.1.4 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững

Việc xác định các dấu hiệu nhận biết về phát triển du lịch bền vững làcông việc phức tạp Tuy nhiên, căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản của pháttriển du lịch bền vững, những đặc điểm của hoạt động du lịch, các tiêu chí cơbản về phát triển du lịch bền vững cần được nghiên cứu và xem xét bao gồm:

1.1.4.1 Các tiêu chí về kinh tế

Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự tăng trưởng liên tục và ổnđịnh lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch (chỉ tiêu về số lương du khách, thunhập du lịch, GDP, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động ) Theo xu thế phát triển

Trang 21

hiện nay ở trong nước và trên thế giới, các chỉ tiêu kinh tế có mức tăng trưởngliên tục nhiều năm liền (thường là khoảng 10 năm trở lên) với mức trung bìnhkhoảng 7 - 10%/năm thì được coi là phát triển bền vững Tuy nhiên, tuỳ thuộcvào trình độ phát triển và mức khởi điểm của các chỉ tiêu kinh tế ở mỗi nước,mỗi địa phương mà mức độ tăng trưởng cao thấp khác nhau sẽ được lựa chọn

cụ thể để đánh giá tính bền vững Với tiêu chí này, cần đề cập đến những chỉtiêu cụ thể sau:

- Chỉ tiêu khách du lịch: Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đối với quá

trình phát triển du lịch Chỉ tiêu khách du lịch quyết định sự thành công haythất bại, quyết định sự phát triển bền vững hay không bền vững của ngành dulịch Chỉ tiêu khách du lịch phải tăng trưởng liên tục năm này qua năm kháctrong thời gian tối thiểu không dưới mười năm Trong chỉ tiêu khách du lịch,ngoài số lượng tuyệt đối về du khách, các tiêu chí khác cần phải tính đến là sốngày lưu trú trung bình, tỷ lệ khách quay trở lại, khả năng thành toán, mức độhài lòng của du khách

Các hoạt động phát triển du lịch tự phát thường chỉ quan tâm đến việcthu hút tối đa số lượng khách đến và thường không chú trọng đến chất lượngnguồn khách (khả năng chi trả, văn hoá ứng xử với tài nguyên và môitrường ), đến thời gian lưu trú dài hay ngắn, đến mức độ hài lòng và mongmuốn quay trở lại của họ Về góc độ kinh tế bền vững, sẽ là tốt hơn, có hiệuquả hơn và đảm bảo bền vững hơn trong trường hợp số lượng du khách ítnhưng có thời gian lưu trú dài, khả năng chi tiêu cao so với lượng khách nhiềunhưng thời gian lưu trú ít, khả năng chi tiêu thấp, do trường hợp thứ nhất vẫnđảm bảo thu nhập cho ngành du lịch như hoặc thậm chí cao hơn trường hợpthứ hai nhưng lại ít gây áp lực đến tài nguyên và môi trường hơn Thực tế chothấy, ở những nơi du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn thì trong chiếnlược phát triển thường có xu hướng quan tâm đến các chỉ tiêu về mức chi tiêu

và thời gian lưu trú trung bình của khách hơn là chỉ tiêu về số lượng Điều

Trang 22

này vẫn đảm bảo cho sự tăng trưởng về thu nhập du lịch, trong khi đó hạn chếđược chi phí cho việc phải khắc phục các sự cố về tài nguyên - môi trường do

áp lực quá tải về số lượng khách, giảm nguy cơ suy thoái tài nguyên du lịch

Sự hài lòng và mong muốn quay trở lại của du khách cũng là một trongnhững tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững của du lịch Chất lượngcác sản phẩm du lịch, chất lượng các dịch vụ bổ sung, chất lượng của đội ngũlao động trong du lịch sẽ đáp ứng và làm hài lòng khách, tăng thêm mongmuốn được quay trở lại của họ; và chính họ sẽ là người quảng cáo tốt nhấtcho du lịch Tỷ lệ khách du lịch quay trở lại cao chứng tỏ rằng hoạt động dulịch đang phát triển đúng hướng và có hiệu quả Điều này càng quan trọng đốivới những đối tượng du khách từ những thị trường khách có khả năng chi trảcao, có thời gian lưu trú dài ngày

- Chỉ tiêu thu nhập du lịch: Thu nhập du lịch là một chỉ tiêu quan trọng hàng

đầu đối với sự phát triển của du lịch cả nước nói chung và của từng địa phươngnói riêng ; là thước đo đánh giá mức độ phát triển và thành công của ngành dulịch Chỉ tiêu thu nhập du lịch liên quan rất chặt chẽ đến chi tiêu của khách du lịch

Sự tăng trưởng liên tục của khách du lịch sẽ kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập

và sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển bền vững của du lịch

Thu nhập du lịch (của một khu vực, lãnh thổ nào đó) bao gồm tất cả cáckhoản thu được do khách du lịch chi trả (khi đến lãnh thổ đó) cho các loại dịch vụlưu trú và ăn uống; vận chuyển khách du lịch (không kể vận chuyển quốc tế); cácdịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ sung khác.Trên thực tế, tất cả các khoản thu này không phải chi do ngành du lịch trực tiếpthu mà còn do nhiều ngành khác, nhiều thành phần khác tham gia các hoạt động

du lịch, dịch vụ thu Ngoài ra còn có một số ngành dịch vụ khác không những chỉphục vụ người dân địa phương mà còn phục vụ cho cả khách du lịch (dịch vụ y tế,ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng, bảo hiểm) Trong trườnghợp này, một phần chi tiêu của khách du lịch do các ngành khác thu Do vậy tất cả

Trang 23

các khoản thu từ khách du lịch đều được tính vào tổng thu nhập du lịch.

- GDP ngành du lịch: Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, là thước đo

sự phát triển kinh tế nói chung và của từng ngành nói riêng Đối với ngành

du lịch, việc tăng trưởng thường xuyên, liên tục của chỉ tiêu GDP khôngnhững chỉ góp phần tạo nên sự phát triển bền vững về mặt kinh tế, mà còncho thấy vị trí của ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng GDP

du lịch phản ánh tình trạng phát triển thực tế của ngành du lịch trong nền kinh

tế quốc dân Tỷ trọng này càng cao, ổn định theo thời gian thì ngành du lịchcàng phát triển gần đến mục tiêu phát triển bền vững

Chỉ tiêu GDP ngành du lịch cùng với chỉ tiêu thu nhập du lịch là nhữngtiêu chí quan trọng đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững về mặt kinh tế

- Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Hệ thống cơ sở vật

chất kỹ thuật trong du lịch bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giảitrí, các phương tiện vận chuyển, các khu, điểm du lịch, các văn phòng lữhành, các cơ sở dịch vụ bổ sung khác

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là thước đo phản ánh trình độphát triển của ngành du lịch Sự phát triển cả về số lượng, chủng loại và chấtlượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, một mặt đáp ứng được mọinhu cầu của mọi đối tượng du khách, mặt khác góp phần quan trọng vào việctạo sự hấp dẫn, thu hút du khách, từ đó đóng góp để tạo nên sự phát triển bềnvững của du lịch

- Chỉ tiêu nguồn nhân lực du lịch: Du lịch là một ngành có nhu cầu vàđòi hỏi cao đối với nguồn lao động sống Do vậy, trong hoạt động du lịch,chất lượng đội ngũ lao động luôn là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định.Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của hoạtđộng du lịch Chất lượng đội ngũ lao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là ảnhhưởng đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng của các chỉ tiêu du lịch

Trang 24

khác Đội ngũ lao động có chất lượng không chỉ là yếu tố góp phần thu hútkhách, nâng cao uy tín của ngành, của đất nước mà còn là yếu tố quan trọngtrong cạnh tranh phát triển du lịch Sự phát triển cả về số lượng, chất lượng và

cơ cấu của đội ngũ lao động du lịch sẽ đảm bảo cho sự phát triển về chấtlượng các sản phẩm, chất lượng các dịch vụ du lịch; và như vậy sẽ góp phầnđáng kể vào quá trình phát triển du lịch bền vững

- Tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch: Hoạt

động tuyên truyền, quảng bá du lịch có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trongviệc thu hút khách du lịch Tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyềnquảng bá thông qua việc cung cấp đầy đủ và trung thực thông tin về điểm đến,

về sản phẩm du lịch sẽ tạo được lòng tin cho khách du lịch và ảnh hưởng trựctiếp đến khả năng thu hút khách Sự gia tăng lượng khách du lịch đồng nghĩavới việc tăng trưởng về kinh tế thông qua hoạt động du lịch

1.1.4.2 Các tiêu chí về xã hội 

Các tiêu chí phát triển du lịch bền vững về mặt xã hội được thể hiệnthông qua một số chỉ tiêu cơ bản sau:

- Sự đóng góp của du lịch vào việc tạo việc làm và xoá đói giảm nghèo:

Là một ngành kinh tế có tỷ lệ dịch vụ trong nội ngành cao, hoạt động du lịchcần nhiều lao động sống Theo đánh giá chung của Hiệp hội du lịch thế giớithì du lịch có sự phát triển nhanh chóng từ suốt những năm 70 của thế kỷtrước đến nay và ngay đến thập niên 90 của thế kỷ XX đã trở thành ngànhdịch vụ lớn nhất với sự tham gia của hơn 10% lực lượng lao động thế giới.Đối với ngành du lịch, nội dung tạo việc làm có thể xem xét thông quachỉ tiêu về mức độ phát triển của các cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực du lịch (cả

về số lượng và quy mô) Sự phát triển của các cơ sở này trực tiếp tạo ra nhu cầutuyển dụng lao động và do đó sẽ tạo điều kiện ngày càng nhiều hơn cho một bộphận lao động trong xã hội có công ăn việc làm, nâng cao thu nhập

Ảnh hưởng lan toả theo hướng tích cực đến toàn xã hội từ sự phát triển

Trang 25

bền vững của du lịch là rất lớn Do tính chất liên ngành cao độ nên khi du lịchphát triển sẽ kéo theo sự phát triển của rất nhiều ngành nghề và lĩnh vực khácliên quan như giao thông, bưu chính, y tế, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp Ở những vùng nông thôn miền núi, nơi có thu nhậpngười dân còn thấp và điều kiện sinh hoạt còn hạn chế, nhưng chính tại nhữngvùng này lại giàu tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác đúng mức vàhợp lý Phát triển du lịch bền vững tại những nơi này đảm bảo đem lại lợi íchtối đa có thể cho người nghèo Sự phát triển du lịch, mối liên kết giữa cácdoanh nghiệp du lịch và người nghèo sẽ làm tăng thêm cơ hội cũng như sinh

kế cho người nghèo, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay

- Tác động đến xã hội từ các hoạt động du lịch: Du lịch là một ngành

kinh tế mang tính xã hội hoá cao, vì vậy các hoạt động phát triển du lịch cótác động mạnh mẽ lên nhiều mặt của đời sống xã hội Các tác động đến đờisống xã hội của hoạt động du lịch vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêucực Để đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững về mặt xã hội, vấn đề đặt

ra là các tác động tiêu cực (không thể tránh khỏi) đến xã hội từ các hoạt độngphát triển du lịch cần phải được kiểm soát và quản lý Nhiều vấn đề xã hộicòn tồn tại hiện nay ở một chừng mực nào đó liên quan đến sự phát triển dulịch (ma tuý, nạn mại dâm, hoạt động sòng bạc và nhiều vấn đề xã hội khác).Ngoài ra do tính chất của cơ chế thị trường trong hoạt động du lịch, một số giátrị văn hoá truyền thống có thể bị biến đổi để phù hợp với nhu cầu của khách,hoặc bị biến đổi do sự du nhập văn hoá ngoại lai Đây là những tác động tiêucực, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững về mặt xã hội

Như vậy để kiểm soát và quản lý nhằm hạn chế các tác động tiêu cựcnày, cần thiết phải có hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước và quyđịnh của chính quyền địa phương và năng lực để thực hiện của cả bộ máy.Hiệu quả của các hoạt động này được thể hiện thông qua các hoạt động nàyđược thể hiện thông qua số lượng các vụ vi phạm được phát hiện và xử lý.Đây cũng là một tiêu chí phản ánh tính bền vững của xã hội nói chung và của

Trang 26

phát triển du lịch nói riêng.

- Mức đội hài lòng và hợp tác của cộng đồng địa phương đối với các hoạt động du lịch: Để đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững, cần có sự ủng

hộ và hợp tác của cộng đồng dân cư địa phương - chủ nhân của các nguồn tàinguyên du lịch Nếu có được sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng thì chính họ

sẽ là người bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường và góp phần tích cực trongmọi hoạt động phát triển du lịch Do vậy mức độ hài lòng của cộng đồng dân

cư đối với các hoạt động du lịch sẽ phản ánh mức độ bền vững của du lịchtrong quá trình phát triển

1.1.4.3 Các tiêu chí về tài nguyên - môi trường

Phát triển du lịch bền vững đặt ra yêu cầu phải khai thác và sử dụng mộtcách hợp lý, có hiệu quả các tiềm năng tài nguyên và môi trường Việc khaithác, sử dụng nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch cần có quy hoạch, kếhoạch, chiến lược lâu dài, quản lý và giám sát chặt chẽ để một mặt đáp ứngđược nhu cầu du lịch hiện tại, mặt khác phải đảm bảo cho sự phát triển của dulịch trong tương lai Với mục tiêu này, trong quá trình phát triển, ngành dulịch cần phải có những đóng góp tích cực cho công tác tôn tạo nguồn tàinguyên và bảo vệ môi trường, để giảm thiểu các tác động của hoạt động dulịch đến tài nguyên, môi trường

Từ những yêu cầu, đòi hỏi đó, các tiêu chí về tài nguyên - môi trườngđược thể hiện thông qua một số chỉ tiêu cụ thể như sau:

- Số lượng và tỷ lệ các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn:

Các khu, điểm du lịch là trọng điểm tổ chức các hoạt động du lịch Để hìnhthành nên các khu, điểm du lịch, tài nguyên du lịch đóng vai trò là yếu tố cơbản Tại các khu, điểm đó, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc

và đa dạng thì sức hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động du lịch càng cao

Điều kiện đồng thời cũng là mục tiêu của phát triển bền vững là hạn chếtối đa việc khai thác quá mức và lãng phí các nguồn tại nguyên, nhất là các tài

Trang 27

nguyên tự nhiên không có khả năng tái tạo Chính vì vậy, chỉ tiêu về số lượngcác khu, điểm du lịch được đầu tư bảo tồn và tôn tạo được coi là một trong sốcác tiêu chí cơ bản của sự phát triển du lịch bền vững về mặt tài nguyên - môitrường Nơi nào càng có nhiều khu, điểm du lịch được đầu tư bảo tồn, tôn tạothì chứng tỏ hoạt động phát triển du lịch ở nơi đó càng hướng tới gần sự pháttriển bền vững.

Theo Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), nếu tỷ lệ này luôn ở mức trên 50%thì hoạt động du lịch được xem là trong trạng thái đang phát triển bền vững

- Số lượng và tỷ lệ các khu, điểm du lịch được quy hoạch: Việc xây dựng

quy hoạch du lịch làm căn cứ cho việc triển khai thực hiện các kế hoạch, các

dự án phát triển cụ thể đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phát triển dulịch Quy hoạch du lịch là quá trình kiểm kê, phân tích, đánh giá các nguồnlực và các điều kiện có liên quan để phát triển du lịch, từ đó xác định cácphương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai thác có hiệu quả tiềm năngtài nguyên du lịch và đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tác động của hoạtđộng du lịch đến tài nguyên, môi trường, mang lại hiệu quả cao về kinh tế và

xã hội Do ý nghĩa quan trọng, mang tính cơ sở của quy hoạch đối với sự pháttriển bền vững nên số lượng và tỷ lệ các khu, điểm du lịch được quy hoạch làtiêu chí quan trọng đánh giá mức độ phát triển du lịch bền vững về mặt tàinguyên - môi trường

- Áp lực lên môi trường tại các khu, điểm du lịch

Việc phát triển quá nhanh các hoạt động du lịch mà không chú trọng đếncông tác đánh giá và quản lý tác động môi trường tại các khu, điểm du lịch sẽ

là nguyên nhân chính gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường tạiđây và kết quả sẽ là sự phát triển thiếu bền vững của du lịch

Việc quản lý và hạn chế những áp lực lên các nguồn tài nguyên và môitrường được thông qua các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu các chất thải;mức độ kiểm soát các hoạt động du lịch; mức độ đầu tư bảo tồn và duy trì tính

Trang 28

đa dạng sinh học Việc đánh giá tác động môi trường tại các khu, điểm du lịchcũng là một tiêu chí quan trọng đảm bảo cho việc phát triển du lịch bền vững.Nếu thiếu, hoặc thực hiện không đầy đủ các thủ tục đánh giá tác động môitrường thì quá trình phát triển du lịch sẽ thiếu tính bền vững.

Vấn đề quản lý áp lực lên tài nguyên, môi trường tại các khu, điểm dulịch cũng liên quan đến khả năng sức chứa Đó là việc quản lý số lượng kháchđến không vượt quá khả năng đáp ứng về tài nguyên và không ảnh hưởng đếnkhả năng phát triển bình thường của các hệ sinh thái trong khu vực

- Cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch: Khách du lịch là đối tượng

được quan tâm hàng đầu, là nhân tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển củangành du lịch sự gia tăng của số lượng khách là tiêu chí quan trọng đánh giá sựphát triển du lịch về mặt kinh tế Tuy nhiên, việc gia tăng nhanh chóng lượng dukhách đồng nghĩa với việc tăng nhanh theo tỷ lệ thuận nhu cầu khai thác sử dụngcác tài nguyên du lịch cũng như tăng lên tương ứng lượng chất thải tại nơi diễn

ra hoạt động du lịch Điều đó có thể làm cho việc khai thác quá mức dẫn đến tìnhtrạng suy thoái và cạn kiệt các nguồn tài nguyên và quá tải về chất thải tại cáckhu, điểm du lịch, dẫn đến ô nhiễm, suy thoái môi trường

Từ những vấn đề trên, việc phát triển du lịch bền vững một mặt phải đảmbảo được sự gia tăng bền vững về khách du lịch, những mặt khác phải xácđịnh được cường độ hoạt động của khách tại các điểm du lịch, giới hạn saocho không vượt quá mức ngưỡng cho phép về môi trường, về tiêu thụ nănglượng và sức chứa Điều này sẽ giúp cho việc duy trì và bảo vệ sự đa dạngsinh học, đảm bảo cung cấp đủ nguồn năng lượng để phục vụ nhu cầu sinhhoạt của cộng đồng và đảm bảo phục vụ nhu cầu cho khách du lịch

- Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường: Khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên

phục vụ phát triển du lịch sẽ đem lại một nguồn thu nhất định đối với ngành

du lịch nói chung và cộng đồng địa phương nói riêng Từ nguồn thu này,

Trang 29

ngành du lịch đóng góp lại một phần cho chính quyền địa phương hoặc cơquan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch với mục đích bảo tồn, tôn tạochính nguồn tài nguyên đó.

Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho công tác bảo tồn và nâng cấpnguồn tài nguyên được thể hiện qua tỷ lệ giữa phần đóng góp và tổng nguồnthu Tỷ lệ này càng lớn thì càng đảm bảo cho việc bảo tồn các nguồn tàinguyên phục vụ phát triển du lịch theo hướng bền vững

Việc đóng góp từ nguồn thu du lịch cho chính quyền địa phương hoặc cơquan chủ quản các nguồn tài nguyên để bảo tồn chính nguồn tài nguyên đócòn thể hiện sự phối hợp trong công tác quản lý, sử dụng và bảo tồn tàinguyên du lịch Vì vậy, đây cũng là một tiêu chí quan trọng trong việc đánhgiá mức độ phát triển du lịch bền vững về mặt tài nguyên - môi trường

1.2 NỘI DUNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.2.1 Nội dung phát triển du lịch bền vững

1.2.1.1 Quy hoạch phát triển du lịch bền vững

Quy hoạch là yếu tố ban đầu, có ý nghĩa cơ sở, tiền đề đặc biệt quantrọng trước quá trình tổ chức mọi hoạt động du lịch; đồng thời các nội dung,định hướng của quy hoạch cần phải được tuân thủ nghiêm túc trong quá trìnhhoạt động du lịch, để đảm bảo một sự phát triển du lịch cân đối, hài hoà, vữngchắc và hiệu quả Quy hoạch phát triển du lịch bền vững của một địa phươngphải được xây dựng phù hợp với quy hoạch tổng thể của địa phương đó và cácquy hoạch phát triển vùng, ngành du lịch nói chung; trên cơ sở đánh giá đúngđắn tất cả các yếu tố đầu vào (tiềm năng, lợi thế, nguồn lực, dự báo tác động củacác yếu tố bên ngoài, dự báo các xu thế kinh tế, chính trị, xã hội liên quan ) đểxây dựng được các mục tiêu, định hướng đầu ra đúng đắn, bền vững và giải phápkhả thi theo định hướng đã xác định nhằm thực hiện đạt mục tiêu đó

Những nội dung cơ bản của quy hoạch phát triển du lịch bền vững bao

Trang 30

gồm: Xác định vị trí, vai trò và lợi thế của du lịch trong phát triển kinh tế - xãhội của địa phương, vùng và quốc gia; phân tích, đánh giá tiềm năng, hiệntrạng tài nguyên du lịch, thị trường du lịch, các nguồn lực phát triển du lịch;xác định quan điểm, mục tiêu, tính chất, quy mô phát triển cho khu vực quyhoạch; dự báo các chỉ tiêu và luận chứng các phương án phát triển du lịch bềnvững hướng đến sự cân đối giữa ba mục tiêu phát triển kinh tế, đóng góp cho

sự tiến bộ xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường; tổ chức không gian du lịch;kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch; xác định danh mục các khuvực, các dự án ưu tiên đầu tư; nhu cầu sử dụng đất, vốn đầu tư, nguồn nhân lựccho du lịch; đánh giá tác động môi trường; xác định các giải pháp sử dụng hợp

lý, có kế hoạch, sử dụng tiết kiệm, điều tiết giữa việc sử dụng hiện tại và gìngiữ cho tương lai, sử dụng gắn với bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường; đề

ra cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, phát triển du lịch theo quy hoạch

1.2.1.2 Sử dụng bền vững các nguồn lực cho phát triển du lịch

Sử dụng bền vững các nguồn lực vừa là nguyên tắc, yêu cầu đặt ra, vừa

là nội dung của phát triển bền vững Các nguồn lực cần thiết cho phát triển dulịch là nguồn vốn (tiền vốn và các nguồn vốn vật hoá như kết cấu hạ tầng, cơ

sở vật chất, trang thiết bị phục vụ du lịch), tài nguyên du lịch (tự nhiên vànhân văn) và nguồn nhân lực du lịch

Sử dụng bền vững các nguồn lực cho phát triển du lịch không nằm ngoài

ý nghĩa việc sử dụng các nguồn lực theo đúng định hướng và các giải pháp sửdụng nguồn lực đã được thể hiện trong quy hoạch phát triển du lịch bền vững

Sử dụng bền vững nguồn vốn bao gồm: Lựa chọn, đầu tư nguồn vốn đúngnội dung, công việc, địa bàn, lĩnh vực, các khâu, các điểm nhấn cần thiết, trọngyếu, có tính chất động lực để thúc đẩy phát triển du lịch; cơ cấu, tỷ lệ sử dụng phùhợp, cân đối với mức độ quan trọng của từng nội dung trong hoạt động phát triển

du lịch và phù hợp điều kiện nguồn vốn thực tế của quốc gia, vùng, địa phương;đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn trong quá trình đầu tư và sau đầu tư; điều tiết cân

Trang 31

đối giữa đầu tư vốn cho các nội dung hoạt động du lịch trước mắt và lâu dài.

Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên du lịch bao hàm việc xác định, đánhgiá đúng mức giá trị của từng loại tài nguyên; cách thức sử dụng tài nguyênđem lại hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, hài hoà các lợi ích xã hội, không tổnhại môi trường; gắn sử dụng với bảo tồn, tôn tạo tài nguyên trong suốt quátrình hoạt động du lịch; cân đối hợp lý giữa nhu cầu sử dụng trước mắt vớiviệc giữ gìn tài nguyên cho các hoạt động du lịch tương lai

Sử dụng bền vững nguồn nhân lực du lịch đồng nghĩa với việc đảm bảo

đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực trong từng bước phát triển dulịch; sử dụng gắn với đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên ngành về

du lịch cho đội ngũ lao động; không ngừng nâng cao năng suất, hiệu quả làmviệc và phát huy được năng lực, sức sáng tạo của lực lượng lao động đồngthời bảo đảm các điều kiện, chế độ đãi ngộ đáp ứng yêu cầu tái sản xuất sứclao động; sử dụng nhân lực trực tiếp phục vụ du lịch gắn với chuyển dịch cơcấu lao động, tạo mở việc làm cho cộng đồng bản địa, cho các ngành nghề,lĩnh vực liên quan, thúc đẩy các ngành nghề, lĩnh vực khác cùng phát triển

1.2.1.3 Xúc tiến, quảng bá du lịch

Xúc tiến, quảng bá du lịch là điều kiện cần, là nội dung không thể thiếu

để du lịch có thể phát triển bền vững.Xúc tiến, quảng bá du lịch bền vững baogồm các nội dung công việc: Khảo sát, đánh giá đúng mức tất cả các yếu tốđầu vào của hoạt động du lịch (tài nguyên, nguồn lực, các dự báo cần thiết);phân tích, nghiên cứu thị trường du lịch đang khai thác và định hướng thịtrường tiềm năng, đánh giá nhu cầu, xu thế, đặc tính của từng loại thị trường;xây dựng các nội dung dung quảng bá, các vấn đề cần xúc tiến một cách cótrách nhiệm, trung thực; tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá với cáchthức, phương thức phù hợp cho từng loại thị trường

Xúc tiến, quảng bá du lịch bền vững phải đạt được mục đích thông tinrộng rãi và có trách nhiệm các nội dung xúc tiến, quảng bá đến những thị

Trang 32

trường đã xác định; thoả mãn nhu cầu thông tin của thị trường, thu hút tối đanguồn khách từ các thị trường thực tế đã và đang khai thác, mở rộng thịtrường, biến thị trường từ trạng thái tiềm năng thành hiện thực, nâng cao chấtlượng thị trường,từ đó nâng cao hiệu quả mọi mặt của hoạt động du lịch, thúcđẩy du lịch phát triển bền vững.

1.2.1.4 Bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Trong nội hàm của khái niệm phát triển du lịch bền vững, bảo vệ môitrường, sinh thái được xác định là một trong 3 yếu tố hợp thành; mặt khác, trongthực tế, các hoạt động du lịch luôn gắn với khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch,tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ và do đó luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễmmôi trường (theo nghĩa rộng, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xãhội) và mất cân bằng sinh thái Vì vậy, có thể khẳng định vấn đề bảo vệ môitrường là một nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững; không thể có

sự phát triển du lịch bền vững nếu môi trường du lịch không được bảo vệ

Bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch đặt ra các nhiệm vụ kiểm soát

và giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch;

xử lý chất thải tự nhiên, khắc phục và xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường tựnhiên; ngăn chặn xuống cấp và bảo vệ sự trong lành nguyên bản của môitrường văn hoá, xã hội trong hoạt động du lịch

1.2.1.5 Phát triển cộng đồng

Cũng như việc bảo vệ môi trường, góp phần phát triển cộng đồng là yêucầu, điều kiện, đồng thời là một nội dung quan trọng của phát triển du lịchbền vững Để góp phần phát triển cộng đồng, trong suốt mọi hoạt động dulịch, cần chú trọng thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Chia sẻ thoả đáng lợi ích từ hoạt động du lịch để góp phần tạo sự pháttriển (kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế) của cộng đồng địa phương nơi diễn rahoạt động du lịch;

- Khuyến khích, thu hút sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động

du lịch, gồm cả hoạt động kinh doanh du lịch, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi

Trang 33

trường du lịch.

1.2.1.6.Quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững

Nhà nước xét theo khía cạnh là chủ thể quản lý vĩ mô nền kinh tế có vaitrò định hướng, chế định các chính sách và tạo lập môi trường cho sự pháttriển, bảo vệ kết quả tạo ra từ sự phát triển Vai trò này được thể hiện, đảmbảo khi Nhà nước thực hiện tốt các nội dung của chức năng quản lý nhà nước

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp với sự đan xen, pha trộn của các yếu

tố kinh tế và yếu tố văn hoá, xã hội Do vậy, quản lý nhà nước về du lịchmang đặc thù riêng Quản lý nhà nước về du lịch bao gồm các nội dung [31]:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và chính sáchphát triển du lịch;

- Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch và phát triển du lịch bền vững,quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu ứng dụngkhoa học công nghệ;

- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến dulịch trong nước và nước ngoài;

- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch pháttriển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch;

- Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về du lịch phù hợp, đáp ứng yêucầu quản lý du lịch bền vững;

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phápluật về du lịch

1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng rất cao,

do đó, sự phát triển của du lịch chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều nhân tốnhư tài nguyên du lịch, điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi quốc gia,khu vực cũng như toàn cầu

- Số lượng, chủng loại, cơ cấu, mức độ đa dạng và khả năng khai thác

Trang 34

của tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là điều kiện và là yếu tố đầu vào

quan trọng của hoạt động du lịch Do đó số lượng, chủng loại, cơ cấu, mức độ

đa dạng nhiều hay ít và khả năng khai thác thuận lợi hay không thuận lợi củatài nguyên du lịch có tác động trực tiếp và rất lớn đến việc xác định địnhhướng, mục tiêu, các giải pháp phát triển du lịch; đến hiệu quả và khả năngphát triển của du lịch theo hướng tương ứng

- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mức độ ổn định của môi trường pháp lý, chính trị - xã hội: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một đất

nước, một khu vực, địa phương có tác động rất lớn đến khả năng và xu hướngphát triển bền vững của ngành du lịch của đất nước, khu vực, địa phương đó.Kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, địa phương phát triển ở trình độ nàothì du lịch sẽ có được một cơ sở, tiền đề, nền tảng và môi trường, điều kiệncho sự phát triển của mình ở mức độ đó Môi trường pháp lý, chính trị - xãhội ổn định sẽ tạo tiền đề, điều kiện cho các hoạt động đầu tư du lịch đồngthời tạo nên hình ảnh thận thiện, tin cậy cho sự lựa chọn của khách du lịch; từ

xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay

- Các yếu tố tác động khác: Các yếu tố khác như sự suy thoái và khả

năng phục hồi kinh tế thế giới, nguy cơ suy thoái môi trường toàn cầu, tươngquan chính trị giữa các quốc gia…; các yếu tố tự nhiên bất thường như thiêntai, dịch bệnh … cũng có tác động, ảnh hưởng lớn đến sự khả năng và sự pháttriển của du lịch bền vững theo hướng thuận lợi hay khó khăn tương ứng và

Trang 35

cùng chiều với những diễn biến của các yếu tố đó.

1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế

* Mô hình phát triển du lịch không bền vững

Đảo Canary (Tây Ban Nha): Đảo Canary của Tây Ban Nha từng nổi

tiếng là trung tâm đa dạng sinh học với sự tập trung của các loài đặc hữu,nhiều cảnh quan đẹp, phong phú, khí hậu lý tưởng Canary đã trở thành điểmđến quen thuộc của du khách Châu Âu Du lịch ở Canary bắt đầu từ cuối thế

kỷ 19 và do lợi thế nêu trên đã phát triển rất nhanh chóng Từ 8.000 khách dulịch năm 1900, quần đảo Canary đã đón 7,4 triệu khách vào năm 1990 và 13triệu khách vào năm 1999 Ngành du lịch - dịch vụ chiếm 76,8% tổng thunhập địa phương

Sự tập trung đầu tư vào bất động sản bùng nổ ở Canary vào những năm

60 và 70, kết hợp với những bất hợp lý trong quy hoạch phát triển cơ sở hạtầng du lịch là nguyên nhân của quá tải du lịch Nói một cách chính xác, kẻthù nguy hiểm nhất của du lịch Canary là việc kinh doanh bất động sản do dulịch gây ra và việc quản lý hành chính chưa theo kịp để kiểm soát Hậu quảcủa quá trình xây dựng không quy hoạch đã tác động đến giai đoạn điều hành,gây ra nhiều bất ổn như tắc nghẽn giao thông, sự quá tải của các khu vực bảo

vệ, các cuộc đi săn thú hoang dã bằng xe jeep không quản lý được Tốc độtăng trưởng của xây dựng, dịch vụ thu hút nhiều nguồn lực từ bên ngoài vào

và tạo áp lực lớn về đất đai, mặt khác đã tạo ra môi trường không tốt cho cưdân địa phương và cho chính sự phát triển của du lịch Ngay tại xứ sở củamình nhưng dân bản địa đang dần dần trở thành người thiểu số, ít được thamgia vào và hưởng lợi từ quá trình phát triển du lịch tạo nên

Sự tăng trưởng về kinh tế ở quần đảo Canary từ hoạt động du lịch làkhông thể phủ nhận, song cùng với tăng trưởng kinh tế, hầu hết số liệu thống

Trang 36

kê về các chỉ số khác cho thấy một tình trạng phát triển không bền vững Cácđảo ở Canary thải ra nhiều rác thải trung bình cao nhất Tây Ban Nha; mật độphương tiện đi lại bằng 150% mức trung bình của cả nước Khai thác du lịchbất hợp pháp ở mức cao (trên 20% hoặc thậm chí có nơi trên 50%) Thamnhũng phổ biến nhưng ít được xem xét.

Tóm lại, mục tiêu phát triển du lịch ở đây đã bị đảo ngược: "Canarycho ngành công nghiệp du lịch" chứ không phải là "Du lịch cho Canary" Sựquá tải của du lịch đã tạo ra những vấn đề về môi trường và xã hội cũng như

sự lệ thuộc vào bên ngoài quá nhiều Các đảo ở Canary đang bị cuốn hút quánhiều và phụ thuộc quá nhiều vào du lịch, song du lịch lại phát triển không bềnvững và chỉ chú trọng đến mục tiêu kinh tế trước mắt Có thể thấy trước, với việc

tổ chức và hoạt động của ngành du lịch như vậy, các hòn đảo ở Canary sẽ giốngnhư những quả chanh bị vắt kiệt dần nước, trôi nổi trên đại dương

* Mô hình phát triển du lịch bền vững

Chương trình phát triển của Koronayitu (Fiji): Koronayitu là vùng rừng

nhiệt đới rộng lớn duy nhất ở miền Tây Viti Levu (hòn Đảo lớn nhất của Fiji)chưa bị chặt phá Koronayitu chứa đựng hệ động thực vật bản địa rất phong phú,nhưng luôn bị đe doạ khai thác, chặt phá Sức ép không chỉ từ phía các Công tykhai thác gỗ mà còn từ khai thác quặng Ngoài ra, khu vực này còn có 48 làngquê cổ nhất của Fiji và 8 vùng tôn giáo, thu nhập của hộ gia đình rất thấp

Năm 1992, Chính phủ New Zeland đã tài trợ một chương trình thí điểmgiúp Koronayitu đưa một phần của vùng này thành Vườn Quốc gia với cơ hộiphát triển du lịch quy mô nhỏ nhằm mục đích bảo vệ môi trường và phát triểnkinh tế Ngoài việc phát triển du lịch sinh thái, dân cư địa phương còn thànhlập các vùng nuôi thủy sản và sản xuất hàng lưu niệm quy mô nhỏ Tháng9/1993, Công viên Văn hoá và phiêu lưu mạo hiểm được khánh thành như làgiai đoạn I của Dự án "Phát triển Vườn Quốc gia Koroyanitu" Các làng quêcũng đã thành lập Hiệp hội Hợp tác xã Du lịch sinh thái và xây dựng tour du

Trang 37

lịch "Fijian Vanua Tour" Các giai đoạn tiếp theo của Dự án đã và đang đượcxây dựng và đều được tổ chức theo hướng kết hợp giữa phát triển du lịch vớibảo vệ môi trường, bảo tồn văn hoá cổ của người Fiji, khuyến khích sự thamgia của dân bản địa vào các chương trình du lịch cộng đồng, hỗ trợ phát triểnkinh tế cho khu vực Chương trình đã đem lại một số thành quả cụ thể: Giáodục được cải thiện cả về số lượng và chất lượng; phụ nữ tham gia nhiều hơnvào các quyết định của cộng đồng; nạn cháy rừng đã được dập tắt, xây dựngđược phân khu bảo vệ động vật hoang dã, cộng đồng dân cư phản đối mạnh

mẽ việc khai thác gỗ và thống nhất không phá rừng; thu nhập của Vườn Quốcgia trong năm đầu tiên đã bằng toàn bộ thu nhập của toàn vùng trước khi có

Dự án và tiếp tục tăng trưởng trong các năm tiếp theo…

Thành công của Chương trình này đã được ông Giám đốc Vườn Quốcgia đánh giá "Chương trình này đã đem lại cho chúng ta hy vọng rằng chúng

ta có thể đầu tư phát triển hơn là vay mượn của tương lai - chúng ta có thể giữgìn di sản của chúng ta và để lại tài sản thừa kế cho thế hệ mai sau"

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước

Phát triển du lịch bền vững đã được khẳng định trong các Nghị quyếtcủa Đảng và đề cập một cách tổng quát trong các chiến lược, chính sách phápluật của Nhà nước Vấn đề phát triển du lịch bền vững được các địa phươngtừng bước quan tâm, thể hiện qua việc ban hành các chính sách, quy hoạch,

kế hoạch phát triển bền vững ở địa phương mình và qua một số hoạt động tổchức triển khai thực hiện cụ thể Tuy nhiên, Việt Nam là một quốc gia đangphát triển, thể chế kinh tế thị trường chưa đầy đủ và đồng bộ, nhiều quy địnhpháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội liên quan đến phát triển bềnvững còn thiếu, chồng chéo hoặc chất lượng không cao; trình độ quản lý nhànước ở một số cấp địa phương và ngành chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững; nhận thức và ý thức của một số người dân còn thấp; cácvấn nạn xã hội phức tạp, một số tiêu cực và tham nhũng đã có tác động, ảnh

Trang 38

hưởng đến phát triển bền vững nói chung, trong đó có phát triển du lịch bềnvững Nhiều dự án du lịch, mặc dù hồ sơ dự án có luận chứng phương án pháttriển bền vững nhưng thực tế thực hiện không đảm bảo điều đó Hoạt độngcủa các dự án du lịch này thường là chỉ chú trọng mục tiêu lợi nhuận; việcđóng góp cho sự phát triển cộng đồng, công tác bảo vệ tài nguyên, môi trườngchưa được quan tâm nhiều Thậm chí có những dự án phát triển du lịch gâyphản ứng gay gắt của cộng đồng địa phương do không giải quyết hài hoàđược mối quan hệ giữa lợi ích của chủ đầu tư và lợi ích chung của cộng đồng,tác động ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh sống của cư dân địa phương.

Vài năm gần đây, đã xuất hiện một số mô hình phát triển du lịch có tínhbền vững ở các mức độ khác nhau Trong các mô hình đó, đã có sự quan tâmnhiều hơn đến việc chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch cho phát triển kinh tế,văn hoá, xã hội của cộng đồng; thu hút sự tham gia của cộng đồng vào hoạtđộng du lịch; phát triển các loại hình du lịch sinh thái, chú ý đến công tác bảo

vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường Một số mô hình cụ thể có thể kể đếnnhư: Mô hình phát triển du lịch sinh thái núi Bà Nà (Đà Nẵng); du lịch nghỉdưỡng, chữa bệnh ở suối khoáng nóng Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu)

- Mô hình phát triển du lịch sinh thái núi Bà Nà (Đà Nẵng): Núi Bà Nà

là một trong những ngọn núi đẹp nhất Đà Nẵng Núi cao 1.482m so với mặtbiển, có hệ động thực vật đa dạng, độc đáo với hơn 543 loài thực vật, 256 loàiđộng vật có xương sống Trong số đó, có nhiều loài động thực vật quý hiếmnhư trầm hương, gụ lậu, sến mặt, thông tràng, trĩ sao, gấu đen, vượn mánhung … Khu du lịch Bà Nà được người Pháp xây dựng từ những năm đầucủa thế kỷ XX với hàng trăm ngôi biệt thự, lâu đài rất đẹp nhưng qua thờigian và chiến tranh, một số biệt thự đã xuống cấp, bị tàn phá Bước vào thời

kỳ đổi mới, ý thức được giá trị của hệ sinh thái núi Bà Nà, thành phố Đà Nẵng

đã xây dựng, hoàn thiện quy hoạch khu du lịch sinh thái trên đỉnh núi, vớiquan điểm phát triển ở đây các loại hình du lịch thân thiện với thiên nhiên

Trang 39

Quy hoạch được tổ chức thực hiện nghiêm túc, các công trình lưu trú, nghỉdưỡng, hệ thống giao thông đường bộ, cáp treo đều được xây dựng theohướng dựa vào thiên nhiên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến thiên nhiên vàmôi trường Đến với khu du lịch sinh thái Bà Nà, du khách sẽ được tận hưởngkhông khí trong lành, hệ sinh thái được khoanh vùng, giữ gìn và bảo vệnghiêm ngặt Các sản phẩm du lịch được khai thác ở đây là du lịch sinh thái,

dã ngoại, tham quan, nghiên cứu

- Mô hình phát triển du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh suối khoáng Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu): Suối khoáng nóng Bình Châu được phát hiện năm

1928 bởi bác sĩ người Pháp Salle, nhưng chỉ được khai thác với mục đíchphục vụ du lịch từ năm 1989 Toàn bộ khu suối có 70 điểm phun nước lộthiên hình thành hệ thống suối, các hồ lớn nhỏ luôn toả nhiệt với nhiệt độ từ

37 - 80 độ Cạnh bên là khu rừng nguyên sinh và biển Hồ Cốc với dốc cátthoải dài đón sóng biển Ngành du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu đã rất chú trọngviệc quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển khu du lịch BìnhChâu theo hướng khai thác hợp lý gắn với bảo vệ nguồn nước khoáng nóngquý hiếm và bảo vệ môi trường du lịch Các khu vực dành cho việc nghỉdưỡng, chữa bệnh đều nằm ẩn mình, yên tĩnh trong rừng cây tự nhiên Mỗicây rừng đều được Ban quản lý đặt biển nói rõ giá trị trong việc góp phầnđiều hoà hệ sinh thái Các ngôi nhà làm nơi lưu trú, ăn uống đều được thiết kếbằng các vật liệu phù hợp, gần gũi với thiên nhiên, môi trường như tranh tre,nứa… Mọi hoạt động có nguy cơ gây tổn hại đến hệ động thực vật và môitrường đều được hạn chế ở mức thấp nhất Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡngnước khoáng nóng Bình Châu đã được tổ chức du lịch thế giới (WTO) bìnhchọn là một trong hai khu du lịch sinh thái bền vững nhất ở Việt Nam và làmột trong 65 khu du lịch sinh thái bền vững nhất thế giới

1.3.3 Những kinh nghiệm rút ra cho phát triển du lịch bền vững ở Phú Thọ

- Các cấp uỷ đảng, chính quyền, của các ngành, cộng đồng dân cư cũng

Trang 40

như các doanh nghiệp cần có sự nhận thức đúng đắn và đầy đủ về phát triển

du lịch bền vững Phát triển phải chú trọng cân đối cả ba mặt: Kinh tế, xã hội

và bảo vệ tài nguyên môi trường; kết hợp giải quyết hài hoà lợi ích trước mắt

và lợi ích lâu dài trong quá trình phát triển du lịch Ý thức đầy đủ về vị tríquan trọng và những đóng góp của phát triển du lịch bền vững vào phát triểnkinh tế-xã hội chung của địa phương, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái Xác định

rõ mối quan hệ tương tác chặt chẽ cần phải duy trì, bảo đảm giữa phát triển dulịch và phát triển các ngành nghề, lĩnh vực khác Có như vậy mới thúc đẩycác ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn cùng phát triển, là tiền đề và là điều kiệncần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch

- Thực hiện tốt công tác quy hoạch, xác định quy hoạch là cơ sở, tiền đề,

đi trước một bước Quy hoạch phát triển du lịch bền vững phải được xây dựngtrên cơ sở phân tích, đánh giá đúng đắn tiềm năng, hiện trạng tài nguyên dulịch, các nguồn lực phát triển du lịch; luận chứng phù hợp các phương án pháttriển du lịch bền vững, cân đối giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường

và phải có tính ổn định lâu dài Đảm bảo sự phù hợp của quy hoạch phát triển

du lịch với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội địa phương; giữaquy hoạch của địa phương với chiến lược tổng thể phát triển du lịch quốc gia.Triển khai đồng bộ, kiểm tra chặt chẽ, đảm bảo tổ chức thực hiện nghiêm túcquy hoạch; thường xuyên theo dõi, đánh giá tác động để có giải pháp điềuchỉnh kịp thời, phù hợp

- Chú trọng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chấtlượng phục vụ, xác định đây là khâu cốt yếu để nâng cao chất lượng hoạtđộng và sức cạnh tranh trong du lịch Xã hội hoá quá trình phát triển du lịchbền vững nhằm huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển du lịch; đặc biệtkhuyến khích cộng đồng dân cư địa phương tham gia vào các hoạt động dulịch và các hoạt động bảo tồn tài nguyên du lịch tự nhiên, bảo tồn các giá trị

Ngày đăng: 15/10/2020, 22:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Nguyễn Văn Đính, Phạm Hồng Chương (1998), Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trịkinh doanh lữ hành
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
16. Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà (2008), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế dulịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
17. Đỗ Thị Thanh Hoa (2005), "Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường", Tạp chí Du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của một số quốc gia về pháttriển du lịch gắn với bảo vệ môi trường
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Hoa
Năm: 2005
18. Nguyễn Đình Hoà và Vũ Văn Hiến (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hoà và Vũ Văn Hiến
Nhà XB: Nxb Đạihọc Quốc gia
Năm: 2001
19. Nguyễn Đình Hoà (2004), "Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp đểphát triển ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hoà
Năm: 2004
20. Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ khoá XVI, kỳ họp thứ 9 (2006), Nghị quyết số 94/2006/NQ-HĐND về Quy hoạch điều chỉnh phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịquyết số 94/2006/NQ-HĐND về Quy hoạch điều chỉnh phát triển dulịch Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ khoá XVI, kỳ họp thứ 9
Năm: 2006
21. Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC (2006), Tuyên bố Hội An về thúc đẩy hợp tác du lịch APEC, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố Hội An về thúc đẩyhợp tác du lịch APEC
Tác giả: Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC
Năm: 2006
22. Ngô Thắng Lợi và Phan Thị Nhiệm (2008), Giáo trình Kinh tế phát triển, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế pháttriển
Tác giả: Ngô Thắng Lợi và Phan Thị Nhiệm
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2008
23. Trần Kiêm Lu, Mai Kim Đỉnh (1997), Giáo dục và đào tạo cho phát triển du lịch bền vững, kinh nghiệm của ASEAN - bài học cho Việt Nam, Tuyển tập Hội thảo quốc tế “Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo cho pháttriển du lịch bền vững, kinh nghiệm của ASEAN - bài học cho ViệtNam
Tác giả: Trần Kiêm Lu, Mai Kim Đỉnh
Năm: 1997
24. Phạm Trung Lương (1999), Định hướng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 với những cân nhắc về môi trường, Tuyển tập hội thảo Quốc gia “Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển du lịchViệt Nam đến năm 2010 với những cân nhắc về môi trường," Tuyểntập hội thảo Quốc gia “Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đếnnăm 2010
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 1999
26. Phạm Trung Lương (2002), Cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và các giải pháp phát triểndu lịch bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2002
27. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái: Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái: Những vấn đề lý luận vàthực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
28. Phạm Trung Lương (2005), Phát triển du lịch bền vững, Tài liệu tập huấn Quản lý nhà nước về du lịch, Tổng cục Du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch bền vững
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2005
56. Website: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Việt Nam. URL: http://www.cinet.gov.vn Link
57. Website: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Chính phủ.URL:http://www.qppl.gov.vn Link
58. Website: Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Phú Thọ. URL: http://www.phutho.gov.vn Link
60. Website: Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. URL: http://www.monre.gov.vn Link
61. Website: Bộ Kế hoạch và Đầu tư. URL: http://www.mpi.gov.vn 62. Website: Báo nhân dân. URL: http://www.nhandan.com.vn Link
63. Website: Tổng cục Du lịch Việt Nam.URL: http://www.vietnam tourism.com và http://www.dulichvn.org.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w