MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế toán cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, du lịch đang phát triển không ngừng. Đối với Việt Nam du lịch không chỉ tạo ra nguồn thu rất lớn cho nền kinh tế quốc dân mà còn góp phần đưa bạn bè quốc tế đến với nước ta, tạo mối quan hệ toàn cầu về kinh tế, văn hoá và thúc đẩy quảng bá sâu rộng hình ảnh của Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới. Định hướng phát triển các ngành trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 2010 đã xác định: Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước 10, tr.36. Ninh Bình nằm ở cực Nam của đồng bằng sông Hồng, nơi tiếp giáp và ngăn cách giữa Bắc Bộ và Trung Bộ bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ. Ninh Bình có diện tích gần 1400 km2 dân số 898.459 người (theo số liệu thống kê 142009). Địa hình ở Ninh Bình rất đa dạng vừa có đồng bằng vừa có đồi núi, vùng ven biển. Với địa hình phân bố phức tạp như vậy đã tạo cho Ninh Bình nhiều nguồn tài nguyên du lịch giá trị như hang động, núi đá vôi, nước khoáng thiên nhiên, rừng, thuỷ hải sản, đặc biệt là các danh thắng, cảnh quan ngoạn mục của thiên nhiên như: Tam Cốc Bích Động, Tràng An, rừng quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, suối khoáng nóng Kênh Gà Vân Trình... Ninh Bình cũng có nguồn tài nguyên văn hoá độc đáo như: cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Phát Diệm, phòng tuyến Tam Điệp Biện Sơn, đây chính là điều kiện rất tốt cho phát triển du lịch. Chính nhờ các điều kiện đó mà Ninh Bình trở thành một tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và vượt trội so với các tỉnh phía Bắc khác. Phát huy lợi thế đó, những năm qua nhờ có chủ trương đúng đắn coi du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, du lịch Ninh Bình đã kịp hoà nhập với công cuộc đổi mới chung của cả nước và đã đạt được những thành tựu quan trọng: Kinh tế du lịch tăng trưởng cao, năm sau cao hơn năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các nguồn lực được huy động tập trung cho đầu tư phát triển nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường. Phát triển du lịch đã góp phần phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và tạo cho các ngành kinh tế khác như Nông nghiệp, Giao thông, Xây dựng, Thương mại phát triển. Du lịch phát triển đã giải quyết được việc làm cho hàng vạn lao động của địa phương và làm thay đổi nhận thức của các ngành, các cấp ở địa phương và đặc biệt là nhân dân ở các khu, điểm du lịch. Tuy nhiên hoạt động du lịch ở Ninh Bình còn bộc lộ một số hạn chế yếu kém: Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển du lịch còn nhiều bất cập. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng mới chỉ bắt đầu, đầu tư còn dàn trải, chưa thu hút các nhà đầu tư có năng lực cao, các tập đoàn kinh tế mạnh trong nước và quốc tế để phát triển du lịch. Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch còn yếu, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, hướng dẫn viên, thuyết minh viên và nhân viên phục vụ kinh doanh du lịch còn thiếu và hầu hết chưa được đào tạo có hệ thống, trình độ chuyên môn còn yếu. Chất lượng dịch vụ còn yếu kém, do đó hiệu quả kinh tế chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ khách. Hoạt động du lịch phần lớn còn khai thác tự nhiên, chưa tạo ra được các sản phẩm du lịch mới độc đáo để thu hút khách, có nơi còn làm nghèo đi sản phẩm du lịch tự nhiên. Tình trạng đầu tư xây dựng các công trình, do san lấp mặt bằng đã dẫn đến thu hẹp diện tích cây xanh và biến đổi cảnh quan đã làm giảm thiểu đáng kể nguồn khách. Môi trường sinh thái bị ô nhiễm đáng kể do nước xả, rác thải từ các khu công nghiệp. Việc đô thị hoá nhanh, sự tập trung dân cư vào những vùng có tiềm năng phát triển công nghiệp và du lịch ngày càng ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên trong tỉnh. Tình trạng nhân dân khai thác tự nhiên như săn bắt chim, thú, côn trùng, khai thác cây cảnh tự nhiên, cây làm thuốc và các sản vật khác để bán cho du khách một cách tự phát đã làm tổn hại đến môi trường và đa dạng sinh học. Phát triển du lịch chưa thực sự đem lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương vốn còn nhiều khó khăn. Những vấn đề trên đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch. Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu, gắn lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cho phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình là rất cần thiết có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch của tỉnh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập của nhân dân. Với những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài: Phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc sỹ.
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 FAO Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
Trang 26 Nxb Nhà xuất bản
9 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá
của Liên hợp quốc
10 UNWTO Tổ chức Du lịch thế giới
11 VH,TT&DL Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Trang 3Bảng 2.1: Cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2009 55
Bảng 2.2: Trực trạng lao động du lịch Ninh Bình giai đoạn 2001-2009 58
Bảng 2.3: Tổng hợp lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức du
Bảng 2.4: Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 2001-2009 63
Bảng 2.5: Phân loại nguồn vốn trong nước theo khu du lịch của tỉnh
Bảng 2.6: Tổng lượng khách du lịch đến Ninh Bình 2001 - 2009 65
Bảng 2.7: So sánh khách du lịch đến Ninh Bình và một số tỉnh, thành phố 66
Bảng 2.8: Cơ cấu khách quốc tế đến Ninh Bình giai đoạn 2001-2009 67
Bảng 2.9: Cơ cấu khách nội địa đến Ninh Bình giai đoạn 2001-2009 67
Bảng 2.10: Tổng doanh thu du lịch Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2009 69
Bảng 2.11: Đóng góp vào ngân sách nhà nước ngành du lịch Ninh
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toán cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ,
du lịch đang phát triển không ngừng Đối với Việt Nam du lịch không chỉ tạo
ra nguồn thu rất lớn cho nền kinh tế quốc dân mà còn góp phần đưa bạn bèquốc tế đến với nước ta, tạo mối quan hệ toàn cầu về kinh tế, văn hoá và thúcđẩy quảng bá sâu rộng hình ảnh của Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới
Định hướng phát triển các ngành trong chiến lược phát triển kinh tế - xãhội 2001 - 2010 đã xác định:
Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũinhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khaithác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá,lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh dulịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực Xâydựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọngđiểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước [10, tr.36]
Ninh Bình nằm ở cực Nam của đồng bằng sông Hồng, nơi tiếp giáp vàngăn cách giữa Bắc Bộ và Trung Bộ bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ NinhBình có diện tích gần 1400 km2 dân số 898.459 người (theo số liệu thống kê1/4/2009) Địa hình ở Ninh Bình rất đa dạng vừa có đồng bằng vừa có đồinúi, vùng ven biển Với địa hình phân bố phức tạp như vậy đã tạo cho NinhBình nhiều nguồn tài nguyên du lịch giá trị như hang động, núi đá vôi, nướckhoáng thiên nhiên, rừng, thuỷ hải sản, đặc biệt là các danh thắng, cảnh quanngoạn mục của thiên nhiên như: Tam Cốc - Bích Động, Tràng An, rừng quốcgia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, suốikhoáng nóng Kênh Gà - Vân Trình Ninh Bình cũng có nguồn tài nguyênvăn hoá độc đáo như: cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Phát Diệm, phòng tuyến Tam
Trang 5Điệp - Biện Sơn, đây chính là điều kiện rất tốt cho phát triển du lịch Chínhnhờ các điều kiện đó mà Ninh Bình trở thành một tỉnh có tiềm năng du lịchphong phú và vượt trội so với các tỉnh phía Bắc khác.
Phát huy lợi thế đó, những năm qua nhờ có chủ trương đúng đắn coi dulịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, du lịch Ninh Bình đã kịp hoànhập với công cuộc đổi mới chung của cả nước và đã đạt được những thành tựuquan trọng: Kinh tế du lịch tăng trưởng cao, năm sau cao hơn năm trước Cơ cấukinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các nguồn lực được huy động tập trungcho đầu tư phát triển nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường
Phát triển du lịch đã góp phần phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và tạocho các ngành kinh tế khác như Nông nghiệp, Giao thông, Xây dựng, Thươngmại phát triển Du lịch phát triển đã giải quyết được việc làm cho hàng vạnlao động của địa phương và làm thay đổi nhận thức của các ngành, các cấp ởđịa phương và đặc biệt là nhân dân ở các khu, điểm du lịch
Tuy nhiên hoạt động du lịch ở Ninh Bình còn bộc lộ một số hạn chếyếu kém:
- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển du lịch còn nhiềubất cập
- Việc đầu tư cơ sở hạ tầng mới chỉ bắt đầu, đầu tư còn dàn trải, chưathu hút các nhà đầu tư có năng lực cao, các tập đoàn kinh tế mạnh trong nước
và quốc tế để phát triển du lịch
- Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch còn yếu, đội ngũ cán bộ làmcông tác quản lý, hướng dẫn viên, thuyết minh viên và nhân viên phục vụkinh doanh du lịch còn thiếu và hầu hết chưa được đào tạo có hệ thống, trình
độ chuyên môn còn yếu Chất lượng dịch vụ còn yếu kém, do đó hiệu quảkinh tế chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ khách
- Hoạt động du lịch phần lớn còn khai thác tự nhiên, chưa tạo ra đượccác sản phẩm du lịch mới độc đáo để thu hút khách, có nơi còn làm nghèo đi
Trang 6sản phẩm du lịch tự nhiên Tình trạng đầu tư xây dựng các công trình, do sanlấp mặt bằng đã dẫn đến thu hẹp diện tích cây xanh và biến đổi cảnh quan đãlàm giảm thiểu đáng kể nguồn khách.
- Môi trường sinh thái bị ô nhiễm đáng kể do nước xả, rác thải từ cáckhu công nghiệp Việc đô thị hoá nhanh, sự tập trung dân cư vào những vùng
có tiềm năng phát triển công nghiệp và du lịch ngày càng ảnh hưởng xấu đếntoàn bộ hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên trong tỉnh Tình trạng nhân dânkhai thác tự nhiên như săn bắt chim, thú, côn trùng, khai thác cây cảnh tựnhiên, cây làm thuốc và các sản vật khác để bán cho du khách một cách tựphát đã làm tổn hại đến môi trường và đa dạng sinh học
- Phát triển du lịch chưa thực sự đem lại lợi ích cho cộng đồng dân cưđịa phương vốn còn nhiều khó khăn
Những vấn đề trên đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vữngcủa hoạt động phát triển du lịch Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu, gắn lýluận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cho phát triển du lịch bền vững ởNinh Bình là rất cần thiết có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch củatỉnh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập của nhân dân
Với những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài: "Phát triển du lịch bền
vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc sỹ.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Du lịch được xem là một trong
những ngành quan trọng đem lại nhiều lợi ích to lớn cho phát triển kinh tếcủa nhiều quốc gia Vì thế nhiều nước trên thế giới tập trung cho phát triển
du lịch bằng mọi giá, điều này dẫn tới sự cạnh tranh lớn trong lĩnh vực dulịch toàn cầu Hơn nữa việc chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế do du lịch đemlại mà không quan tâm đến tác động của nó trong quá trình phát triển đãdẫn đến nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến chính sự phát triển của ngành du
Trang 7lịch: ô nhiễm môi trường tại khu du lịch, sự phân hoá giàu nghèo tăng cao,lợi ích của cộng đồng địa phương không được bảo đảm…và kết quả làlượng khách du lịch bị suy giảm, những chi phí cho khắc phục các hậu quả
về môi trường là rất lớn Chính vì vậy, hoạt động du lịch được rất nhiềuchuyên gia, nhà khoa học và cả các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu Tuynhiên, cho đến những năm 80 của thế kỷ XX, khái niệm “phát triển bềnvững” mới xuất hiện, khi đó cũng đã có một số nghiên cứu khoa học đượcthực hiện nhằm đưa ra các khía cạnh ảnh hưởng của du lịch có liên quanđến phát triển bền vững Kể từ đó, vấn đề phát triển du lịch bền vững đãđược nhiều nước nghiên cứu và triển khai thực hiện, với các cách tiếp cận
và tổ chức thực hiện khác nhau Một số quốc gia bắt đầu từ việc xây dựngthí điểm các mô hình phát triển du lịch bền vững cụ thể để đúc rút kinhnghiệm và xây dựng chính sách; một số khác thực hiện việc nghiên cứutổng thể, đề ra các chính sách về phát triển bền vững rồi triển khai xâydựng mô hình Các nghiên cứu về “du lịch bền vững” cho thấy du lịch bềnvững không chỉ bảo vệ môi trường, giữ gìn sinh thái, mà còn quan tâm đếnkhả năng duy trì lợi ích kinh tế dài hạn và công bằng, phát triển, tiến bộ xãhội Phát triển du lịch bền vững là mối quan tâm hàng đầu của các quốcgia, vùng lãnh thổ trên thế giới hiện nay
- Ở Việt nam: Việc nghiên cứu phát triển du lịch bền vững vẫn còn hạn
chế và được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Nổi bật nhất là các công trìnhsau đây:
+ GS R.W.Butler (1997), Du lịch di sản văn hoá bền vững; Tuyển tập
Hội thảo quốc tế “Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”, Huế
+ Đặng Huy Huỳnh (1998), Vai trò đa dạng sinh học trong phát triển
du lịch sinh thái ở Việt Nam, Hội thảo “Du lịch sinh thái với phát triển du lịch
bền vững ở Việt Nam”, Hà Nội
Trang 8+ Phạm Trung Lương (4/1998), Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội.
+ Phạm Trung Lương (2002), Cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội
+ Phạm Trung Lương (2005), Phát triển du lịch bền vững, Tài liệu tập
huấn quản lý nhà nước về du lịch, Tổng cục du lịch, Hà Nội
+ Nguyễn Văn Mạnh (2007), Để du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững sau khi ra nhập WTO, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
Có thể thấy các công trình nghiên cứu về du lịch bền vững ở Việt Nam
là chưa nhiều Đặc biệt là nghiên cứu đưa ra các giải phát triển du lịch bềnvững cho tỉnh Ninh Bình còn rất ít Vì thế việc nghiên cứu phát triển du lịchbền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình sẽ góp phần đưa ngành du lịch của NinhBình phát triển nhanh và bền vững
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng phát triển du lịch của NinhBình, đề xuất được các giải pháp hữu hiệu, phù hợp với điều kiện của địaphương, góp phần thúc đẩy du lịch Ninh Bình theo hướng bề vững, đáp ứngyêu cầu của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nêu trên luận văn cần tập trung giải quyếtcác vấn đề sau:
- Nghiên cứu lý luận chung về phát triển bền vững, các tiêu chí đánhgiá du lịch bền vững
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Ninh Bình từ năm 2001đến 2009 trên quan điểm và yêu cầu về phát triển du lịch bền vững Từ đó rút
ra các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
Trang 9- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững củamột số tỉnh thành trong nước những năm qua.
- Nghiên cứu đề xuất một số các giải pháp cho phát triển du lịch bềnvững ở Ninh Bình, nhằm khai thác có hiệu quả lợi thế tiềm năng du lịch củatỉnh giai đoạn 2010-2020
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển du lịch theo hướng bềnvững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Hoạt động của ngành du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian: Từ năm 2001 đến 2009.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Chủ trương, đường lối, quan điểm củaĐảng và Nhà nước về phát triển kinh tế được thể hiện trong các văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX, X; Các văn bản pháp luật đã banhành, đặc biệt là Luật Du lịch, Luật Di sản văn hoá, Luật Bảo vệ môi trường
và các văn bản luật khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu
- Phương pháp cụ thể: Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng
chủ yếu các phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp;
Trang 10+ Phương pháp hệ thống, đánh giá, dự báo;
+ Phương pháp chuyên gia
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về du lịch bền vững;
- Chỉ rõ những tồn tại và nguyên nhân của hoạt động du lịch bền vữngtrên địa bàn tỉnh Ninh Bình;
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản, có khả năng áp dụng trong thựctiễn, góp phần đảm bảo phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình;
- Luận văn có thể được sử dụng để hoạch định chính sách phát triển dulịch nói chung và đặc biệt là du lịch Ninh Bình theo hướng phát triển bền vững
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănkết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 11Đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sửdụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tàinguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và chương trìnhmôi trường Liên hợp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO vàFAO Tuy nhiên khái niệm phát triển bền vững được chính thức đưa ra tại Hộinghị của Uỷ ban Thế giới về Phát triển và môi trường trong báo cáoBrundtlan năm 1987
Theo Brundtlan: “Phát triển bền vững được hiểu là hoạt động phát triểnkinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hạiđến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ mai sau” [23, tr.25] Nội dung ởkhái niệm này còn mang tính trừu tượng và chủ yếu đề cập đến vấn đề pháttriển kinh tế Trong khái niệm trên có 2 vấn đề đã được đặt ra là:
- Nhu cầu trong giới hạn của khái niệm này được hiểu là các nhu cầuthiết yếu của những người được xem là nghèo trên thế giới
Trang 12- Quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôntrọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệthống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thựcvật, khuyến khích ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và sự trợ giúpcủa các tổ chức xã hội.
Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm phát triển bền vững tiếptục được bổ sung mở rộng Tại Hội nghị về Môi trường toàn cầu được tổ chứcRio de Janeiro(1992) quan niệm về phát triển bền vững được các nhà khoahọc bổ sung, theo đó “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập,đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệvăn hoá xã hội”[22, tr.33]
Theo quan niệm này phát triển bền vững được hiểu là kết quả tương tácqua lại và phụ thuộc lẫn nhau của 3 hệ thống nói trên, đồng thời cần nhậnthức rằng phát triển bền vững không cho phép con người vì sự ưu tiên chophát triển của hệ thống này mà gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với các hệthống khác
Ở Việt Nam khái niệm về phát triển bền vững được biết đến cuốithập niên 80 đầu thập niên 90 Là một quốc gia Đông Nam Á có bờ biểndài hơn 3.200 km, là một trong những quốc gia dễ bị ảnh hưởng tiêu cựccủa hiện tượng trái đất nóng lên Trong những năm qua sự phát triển kinh
tế xã hội nói chung đã đạt được những tiến bộ vượt bậc Tuy nhiên quátrình phát triển vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiênnhiên; năng suất lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùngcòn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải Dân
số tăng nhanh tỷ lệ hộ nghèo còn cao Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên
bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Môi trường thiênnhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mứcbáo động Hệ thống chính sách và công cụ pháp luật chưa đồng bộ để có thể
Trang 13kết hợp một cách có hiệu quả giữa 3 mặt của sự phát triển: kinh tế, xã hội vàbảo vệ môi trường.
Tất cả những thực trạng đó đòi hỏi phát triển bền vững cần phải đượcnhận thức đầy đủ trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Quan điểm về phát triển bền vững ở Việt Nam đã được khẳng địnhtrong chỉ thị 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị vềtăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: bảo vệ môi trường là nội dung cơbản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảophát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước
Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong văn kiệncủa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam vàtrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là: "Phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội và bảo vệ môi trường” và "Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tàinguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, coi đây lànội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triểnkinh tế xã hội”[10, tr.15]
Như vậy có thể thấy phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quanđiểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện được mục tiêuphát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều vănbản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thựchiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiếnhành và thu được những kết quả bước đầu; nhiều nội dung cơ bản của pháttriển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần trở thành xu thế tất yếu trong sựphát triển của đất nước
Trang 141.1.1.2 Phát triển du lịch bền vững
Khái niệm phát triển du lịch bền vững không tách rời khái niệm pháttriển bền vững Ngay từ những năm đầu của thập niên 80 trên thế giới đã cónhiều các công trình nghiên cứu nhằm đưa ra các khía cạnh ảnh hưởng của dulịch có liên quan đến phát triển bền vững Trong chiến lược phát triển củanhiều quốc gia trước đây coi du lịch là ngành công nghiệp không khói đem lạilợi nhuận cao, và là động lực mạnh mẽ để tăng trưởng kinh tế, do đó cần đượcbảo vệ và nuôi dưỡng bằng bất cứ giá nào Tuy nhiên trong thực tế sự pháttriển thái quá của du lịch đã đưa lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến quá trìnhphát triển nói chung: du lịch góp phần làm tăng tốc quá trình đô thị hoá thiếubền vững, làm tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí và tiếng ồn, ô nhiễmrác thải và chất thải chưa xử lý, góp phần làm suy giảm và suy thoái nhữngnguồn nước khan hiếm Du lịch góp phần làm xói mòn các giá trị văn hoátruyền thống do sự thương mại hoá quá mức Hậu quả của các tác động đó lại
có ảnh hưởng đến bản thân sự phát triển lâu dài của ngành du lịch Chính vì thế
đã xuất hiện yêu cầu nghiên cứu phát triển bền vững nhằm hạn chế các tácđộng tiêu cực của hoạt động du lịch nhằm đảm bảo cho sự phát triển lâu dài.Hiện nay, du lịch bền vững đã trở thành một xu thế của thời đại là mục tiêu đặt
ra cho sự phát triển và có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà còn
có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của xã hội, của cộng đồngdưới quan điểm khai thác tài nguyên và môi trường trên phạm vi toàn cầu
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đưa ra tạiHội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeironăm 1992:
Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằmđáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địatrong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài
nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch
Trang 15bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoảmãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trongkhi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sựphát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sốngcủa con người [22, tr.27].
Ở Việt Nam du lịch bền vững là một khái niệm còn khá mới mẻ Tuynhiên với sự trợ giúp của Tổ chức Du lịch Thế giới và thông qua các bài họckinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch tại nhiều quốc gia trong khu vực vàtrên thế giới, nhận thức về phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường,
có tác dụng nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã xuất hiện ở Việt Nam dướinhiều hình thức như “Du lịch sinh thái”, “Du lịch khám phá”, “Du lịch tựnhiên”, “Du lịch đồng quê”…
Cho đến nay, mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm phát triển
du lịch bền vững, nhưng đa số các chuyên gia đều cho rằng phát triển du lịchbền vững là sự cụ thể hoá quan điểm về phát triển bền vững trong lĩnh vựcphát triển du lịch, theo đó, muốn phát triển du lịch bền vững thì mọi hoạtđộng khai thác, quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn cácnhu cầu du lịch cần quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫnđảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn, tôn tạo các nguồn tài nguyên du lịch vàbảo vệ môi trường duy trì sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển du lịch trongtương lai góp phần nâng cao mức sống của công đồng dân cư địa phương
1.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính định hướng tài nguyên rõrệt, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hộihoá cao Phát triển du lịch luôn gắn với môi trường trong mối liên hệ qua lại lẫnnhau Bản thân sự phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự phát triển bền vững vàngược lại phát triển du lịch bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực chung và đồng bộ của
cả xã hội Phát triển du lịch bền vững hướng tới ba mục tiêu cơ bản sau:
Trang 16- Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: Đảm bảo sự tăng trưởng
ổn định và lâu dài góp phần vào sự phát triển bền vững kinh tế đất nước của
du lịch
- Đảm bảo phát triển bền vững về mặt xã hội: Du lịch tạo ra công ăn
việc làm cho người dân và cộng đồng, góp phần xoá đói giảm nghèo, đảm bảo
an ninh, ổn định chính trị an toàn xã hội
- Đảm bảo phát triển bền vững về môi trường: Hoạt động du lịch trên
cơ sở khai thác sử dụng hợp lý các tài nguyên, bảo tồn tôn tạo các giá trị lịch
sử văn hoá, kiểm soát tác động có hại đến môi trường
1.1.3 Các yêu cầu phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải tiếp cận một cách toàn diện vàhài hoà các yêu cầu cơ bản sau:
1.1.3.1 Hệ sinh thái
Hệ sinh thái được đề cập đến việc duy trì các hệ thống trợ giúpcuộc sống (đất, nước, không khí và cây xanh), bảo vệ sự đa dạng và ổnđịnh của các loài và các hệ sinh thái Yêu cầu này đòi hỏi các hoạt động
du lịch và kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phải được thiết kế tổchức phù hợp với điều kiện cho phép về không gian và thời gian của môitrường Vì điều kiện của môi trường thay đổi theo thời gian và khônggian, do vậy mà các hoạt động du lịch phát triển phải phù hợp với điềukiện môi trường ở mỗi vùng khác nhau Nói cách khác, du lịch có tráchnhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúclợi cho nhân dân địa phương
1.1.3.2 Hiệu quả
Hiệu quả liên quan đến việc đánh giá các phương thức, biện pháp đolường chi phí, thời gian, lợi ích của cá nhân, xã hội thu được thông qua hoạtđộng du lịch Nghĩa là phải đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và laođộng bỏ ra trong hoạt động kinh doanh du lịch
Trang 171.1.3.3 Công bằng
Công bằng đề cập đến sự bình đẳng và thừa nhận các nhu cầu giữa cánhân, hộ gia đình, các nhóm xã hội, giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai,giữa con người và thiên nhiên
có liên quan như Công nghiệp, Tiểu thủ Công nghiệp Mỹ nghệ, Nông nghiệp,phát triển các làng nghề du lịch
1.1.3.6 Cân bằng
Cân bằng đề cập đến vấn đề hoà nhập, cân bằng hài hoà giữa các yếu
tố như giữa Kinh tế và Môi trường, giữa Nông nghiệp và Du lịch, giữa cácloại hình du lịch Phát triển du lịch phải có tác dụng lan toả, tạo được sự liênkết và cân đối liên ngành để tạo hiệu quả tổng hợp
1.1.3.7 Phát triển
Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi khai thác một cách hợp lý các tiềmnăng, thông qua đó làm tăng khả năng cải thiện chất lượng cuộc sống Pháttriển không đồng nghĩa với việc khai thác triệt để và huỷ hoại môi trường
1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững đảm bảo các mục tiêu và thoả mãn các yêucầu thì phát triển du lịch cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
1.1.4.1 Sử dụng tài nguyên du lịch một cách bền vững
Đây là nguyên tắc hàng đầu đảm bảo khả năng tự phục hồi của tàinguyên du lịch được diễn ra một cách tự nhiên hoặc thuận lợi hơn do có sự
Trang 18tác động của con người thông qua hoạt động đầu tư, tôn tạo, bảo tồn đáp ứngnhu cầu phát triển du lịch của nhiều thế hệ Việc sử dụng một cách hợp lý vàbền vững các nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi cần có sự nghiên cứu, thống
kê, đánh giá những tác động của hoạt động du lịch đối với nguồn tài nguyên
Từ đó có các giải pháp nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực, ngăn chặn
sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái và khả năng bảotồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Ngày nay việc sử dụng bềnvững, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực phát triển du lịch được xem là vấn đềsống còn đối với việc quản lý mang tính toàn cầu và mỗi quốc gia
1.1.4.2 Hạn chế sự tiêu thụ quá mức và giảm thiểu chất thải của hoạt động du lịch ra môi trường
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên cho hoạt động du lịch mà
không kiểm soát được lượng chất thải của chính các hoạt động đó sẽ góp phầndẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là không thể phát triểnkinh doanh du lịch một cách lâu dài Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chấtthải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại cho môitrường và làm tăng chất lượng của du lịch Đây là nguyên tắc quan trọng đòihỏi cần phải được quan tâm ngay từ khi triển khai các dự án du lịch và phảiđược theo dõi giám sát liên tục
1.1.4.3 Phát triển du lịch phải đảm bảo duy trì được tính đa dạng
Tính đa dạng về tự nhiên, xã hội và văn hoá là nhân tố đặc biệt tạo nên
sự hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, thoả mãn nhu cầu của du khách, tăngkhả năng cạnh tranh, thu hút khách du lịch, đảm bảo cho sự phát triển bềnvững Sự đa dạng của môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội mang lại khảnăng phục hồi và tránh việc quá phụ thuộc vào một hoặc một vài nguồn hỗ trợsinh tồn Đa dạng văn hoá một trong những tài nguyên hàng đầu của ngành dulịch cần phải được giữ gìn, bảo vệ Sự đa dạng văn hoá bản địa sẽ mất đi khi
nó bị xuống cấp bởi cư dân biến nó thành món hàng để bán cho du khách
Trang 19Hiện nay một số quốc gia do phát triển du lịch quá nóng đã làm cho hệsinh thái bị phá huỷ trên diện rộng, không duy trì được tính đa dạng của môitrường tự nhiên Nhiều vùng đất ngập nước, các rạn san hô và các khu rừngnguyên sinh đã bị mất đi Các giá trị văn hoá truyền thống bị xói mòn dothương mại hoá quá mức.
1.1.4.4 Phát triển du lịch phải quan tâm đến lợi ích cộng đồng địa phương
Phát triển du lịch cần quan tâm chia sẻ lợi ích với cộng đồng địaphương Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi coi du lịch là một trong các công cụcho nỗ lực bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn thiênnhiên, vườn quốc gia Thực tế cho thấy nếu phát triển du lịch mà không quantâm đến phát triển kinh tế trên địa bàn lãnh thổ, không chia sẻ lợi ích với cộngđồng địa phương mà chỉ chú ý đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, khaithác những cộng đồng bản địa và văn hoá của họ để thoả mãn nhu cầu của dukhách thì sẽ làm cho kinh tế và cộng đồng dân cư địa phương gặp nhiều khókhăn Điều này làm gia tăng các hoạt động khai thác tài nguyên mang tínhtiêu cực như: săn bắn động vật quý hiếm, chặt cây đốn củi, phá núi lấy đá, phárừng làm rẫy…Kết quả là làm tăng nguy cơ suy giảm và tuyệt chủng các loàiđộng, thực vật ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bền vững của ngành du lịchnói riêng và kinh tế xã hội nói chung
1.1.4.5 Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia các hoạt động phát triển du lịch
Việc tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào các hoạt động dulịch vừa giúp họ có nguồn thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vừa làmcho họ có trách nhiệm hơn trong việc duy trì nguồn tài nguyên du lịch củachính quê hương mình
Thông qua sự tham gia của cộng đồng địa phương mà thúc đẩy gìn giữ,phát triển những ngành nghề và lễ hội truyền thống của địa phương như dệtthổ cẩm, thêu ren, làm hàng thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây đặc sản của
Trang 20địa phương… để khách du lịch được chiêm ngưỡng, học hỏi và mua sắm cácsản phẩm nơi họ đến thăm quan Các lễ hội, phong tục tập quán cần được gìngiữ và phát huy vì đó là những nét đặc trưng riêng của vùng du lịch, là điểmnhấn để thu hút khách tham quan Vì thế không được áp đặt các chuẩn mựcđồng nhất cho các khu, điểm du lịch Ngăn ngừa sự thay thế các ngành nghềtruyền thống lâu đời bằng chuyên môn hoá.
1.1.4.6 Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
Như phần trên đã đề cập đến du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mangtính liên ngành, liên vùng cao Nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển dulịch đồng thời cũng phục vụ cho sự phát triển của các ngành khác nhưCông nghiệp, Nông nghiệp, Vật liệu xây dựng… Do đó mọi phương ánkhai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạchngành, quốc gia và vùng lãnh thổ Thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành,liên vùng để giải quyết có hiệu quả các hoạt động đầu tư kinh doanh du lịchtrên địa bàn, bảo đảm các ngành Du lịch, Văn hoá, Đầu tư, Môi trường,Xây dựng…cùng thống nhất nhất phối hợp trong hoạt động, hạn chế chồngchéo, trùng lắp về chức năng nhiệm vụ quản lý Mặt khác cần có sự liên kếtchặt chẽ với các địa phương lân cận trong việc phối hợp xây dựng pháttriển, kinh doanh sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch và tuyến dulịch Ngoài ra đối với mỗi phương án phát triển du lịch cần tiến hành đánhgiá tác động môi trường toàn diện có sự tham gia của cư dân địa phương vàcác cấp chính quyền có liên quan nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến tàinguyên và môi trường Bên cạnh đó quy hoạch phát triển du lịch cần phảitính đến việc điều hoà về lợi ích giữa cộng đồng địa phương, nhà nước, dukhách, các doanh nghiệp…Tóm lại khi sự phát triển du lịch là một bộ phậnhợp nhất của kế hoạch cấp quốc gia, nó xem việc phát triển và quản lý môi
Trang 21trường là một tổng thể thì sẽ mang lại lợi ích tối đa và dài hạn cho quốcgia, địa phương và nền kinh tế trong đó có ngành du lịch
1.1.4.7 Phát triển du lịch cần có sự phối hợp trao đổi của cộng đồng địa phương và các đối tượng liên quan
Thực tế cho thấy, ở những mức độ khác nhau luôn tồn tại những mâuthuẫn xung đột về quyền lợi trong khai thác tài nguyên phục phụ phát triển
du lịch với cộng đồng địa phương, giữa du lịch với các ngành kinh tế khác.Trong một số trường hợp thường phát sinh mâu thuẫn giữa nhà nước, nhàđầu tư và cư dân địa phương Chính vì thế việc thường xuyên trao đổi,tham khảo ý kiến cộng đồng và các đối tượng có liên quan để giải quyếtcác mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển là hết sức cần thiết Điềunày đảm bảo sự gắn kết giữa ngành du lịch với cư dân địa phương, giữa cácngành với nhau trong việc khai thác hợp lý có hiệu quả tài nguyên, bảo vệmôi trường, giúp cho sự phát triển bền vững của các ngành kinh tế trong đó
có được là nhờ quá trình đào tạo và bồi dưỡng
Một đội ngũ cán bộ nhân viên có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức, đượcđào tạo bài bản khi tham gia vào các hoạt động du lịch vừa tạo sự hứng thúcho du khách, vừa có thể làm cho du khách có nhận thức đúng và có ý thứctrách nhiệm về môi trường, các giá trị văn hoá truyền thống
Trang 221.1.4.9 Tăng cường các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch
Xúc tiến, quảng bá luôn là hoạt động quan trọng trong phát triển dulịch Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch nhằm tuyên truyền, giới thiệu rộngrãi về đất nước con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, ditích văn hoá, cách mạng, các công trình lao động sáng tạo, bản sắc văn hoácủa dân tộc Việt Nam Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường
du lịch văn minh, lành mạnh an toàn, phát huy truyền thống mến khách củadân tộc Thông qua hoạt động này đảm bảo tăng cường khả năng cạnh tranhcủa các sản phẩm du lịch, củng cố và mở rộng thị trường, thu hút khách dulịch Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cần có tính chuyên nghiệp nhằmhuy động các nguồn lực cho phát triển du lịch Cung cấp các thông tin đầy đủcho khách du lịch sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách, làm tăng sự thoảmãn của du khách đối với các sản phẩm du lịch
Trong điều kiện kinh tế thế giới đang phục hồi sau suy giảm việc quảng
bá xây dựng hình ảnh Việt Nam một điểm đến an toàn với nhiều sản phẩm dulịch mang tính đặc trưng độc đáo của mỗi vùng miền sẽ có tác động tích cựcđến tính bền vững trong phát triển du lịch
1.1.4.10 Nghiên cứu đánh giá, có các giải pháp để phát triển phù hợp từng thời kỳ
Phát triển du lịch phụ thuộc nhiều vào các điều kiện môi trường tựnhiên, môi trường văn hoá - xã hội Do đó cần phải có những nghiên cứuđánh giá cụ thể để có được những điều chỉnh phù hợp trong sự phát triển.Trong quá trình phát triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan sẽ nảy sinh
và sẽ có tác động theo hướng cả tích cực và tiêu cực đến quá trình phát triển
du lịch Vì vậy cần phải thường xuyên cập nhật các thông tin, phân tích vàđánh giá những tác động có thể xảy ra đảm bảo cho hoạt động kinh doanh cóhiệu quả, đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chếchính sách và việc bảo vệ tài nguyên môi trường Bên cạnh đó việc đẩy
Trang 23mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật còn nhằm phát triển các sảnphẩm thân thiện với môi trường, tiết kiệm sử dụng tài nguyên và hạn chếchất thải ra môi trường.
Phát triển du lịch bền vững đảm bảo cho sự phát triển thành công ổnđịnh và lâu dài của ngành du lịch Vì thế các nguyên tắc trên cần được tôntrọng và thực hiện đầy đủ
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững là một xu thế của thời đại, là mục tiêu đặt ra cho pháttriển và có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa đặcbiệt đối với sự phát triển bền vững của xã hội của cộng đồng trên quan điểm khaithác một cách hợp lý tài nguyên môi trường Ở Việt Nam, phát triển du lịch bềnvững được cho là một phạm trù còn khá mới mẻ trong chiến lược phát triển dulịch Việc nghiên cứu và xác định các dấu hiệu để nhận biết trạng thái của quátrình phát triển là vô cùng quan trọng Dựa vào đó để có những giải pháp, tácđộng làm cho hoạt động phát triển thuận lợi và đúng hướng Trên cơ sở các yêucầu và nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững thì các tiêu chí cơ bảnđánh giá phát triển du lịch bền vững được xem xét bao gồm:
1.1.5.1 Các tiêu chí về kinh tế
Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo kinh tế du lịch có tăng trưởngcao, liên tục, ổn định và dài hạn Ngày nay những thay đổi trong du lịch hiệnđại dẫn đến phát triển du lịch bền vững là lựa chọn có tính bắt buộc, trong đóyếu tố kinh tế đóng vai trò rất quan trọng là điều kiện và động lực trong pháttriển du lịch bền vững Đánh giá tính bền vững về kinh tế trong phát triển dulịch bao gồm nhiều chỉ tiêu cụ thể khác nhau và ở các mức độ khác nhau, tuỳtheo đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế ở mỗi địa phương, khu vực Vớitiêu chí này cần đề cập các chỉ tiêu cụ thể sau:
- Chỉ tiêu về khách du lịch: Khách du lịch là yếu tố quyết định trong
việc hình thành nên “cầu” du lịch, là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất
Trang 24để đánh giá sự phát triển du lịch của một điểm du lịch cụ thể cũng như củangành du lịch Các chỉ tiêu về khách du lịch có thể cho biết rất nhiều thôngtin, cụ thể là thước đo của sự phát triển du lịch, của sự nổi tiếng và sức hấpdẫn của điểm du lịch, của khả năng đáp ứng các nhu cầu của du khách Pháttriển du lịch bền vững dưới góc độ đánh giá chỉ tiêu về khách du lịch cầnquan tâm đến sự tăng trưởng liên tục thông qua các chỉ tiêu số lượt khách, sốngày lưu trú trung bình, mức chi bình quân khách, khả năng thanh toán, thịtrường truyền thống, số khách quay trở lại, mức độ hài lòng của du khách…
Ngày nay khi du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn thì việcquan tâm đến chất lượng nguồn khách, thời gian lưu trú bình quân, mức độhài lòng của du khách và việc mong muốn được quay trở lại của họ được chútrọng hơn so với số lượng khách đến Điều này vừa tránh được khả năng dẫnđến sự quá tải của điểm du lịch Tuy nhiên sự ổn định và tăng trưởng củalượng khách, nhất là lượng khách quốc tế từ các thị trường nguồn trọng điểmđến Việt Nam cũng có ý nghĩa quan trọng để đánh giá tính bền vững của pháttriển du lịch
Sự quay trở lại của khách du lịch cũng là một chỉ tiêu quan trọng đánhgiá mức độ bền vững của phát triển du lịch Nó chứng tỏ sức hấp dẫn dukhách của điểm đến, mức độ hài lòng của du khách Tỷ lệ khách du lịch quaytrở lại lần thứ hai càng cao chứng tỏ rằng hoạt động du lịch tại khu vực đó,quốc gia đó đang phát triển đúng hướng, có hiệu quả cao
Khách du lịch bao gồm cả khách du lịch trong nước và khách du lịchquốc tế Khách du lịch quốc tế là đối tượng tập trung chú ý như một nguồnthu ngoại tệ quan trọng đối với ngành du lịch thì khách du lịch trong nước cóvai trò duy trì sự phát triển tăng trưởng chung của ngành du lịch Tỷ lệ ngườidân Việt Nam đi du lịch trong năm cũng là cơ sở đánh giá mức độ phát triểnbền vững của du lịch, con số này càng cao thì mục tiêu đặt ra cho phát triểnbền vững càng có cơ sở thành công
Trang 25- Chỉ tiêu về doanh thu và GDP du lịch tăng: Hoạt động du lịch phải
hướng tới mục tiêu quan trọng là tăng doanh thu, thu nhập và đóng góp chongân sách nhà nước Doanh thu, thu nhập của ngành du lịch phụ thuộc nhiềuvào chỉ tiêu khách du lịch, phụ thuộc vào chất lượng các sản phẩm du lịch Sựtăng trưởng của khách du lịch và các sản phẩm du lịch độc đáo đa dạng sẽ kéotheo sự tăng trưởng về doanh thu, thu nhập và sẽ góp phần quan trọng cho sựphát triển bền vững của du lịch Cơ cấu doanh thu du lịch cũng phản ánh mức
độ bền vững của phát triển du lịch thông qua mức chi tiêu bình quân ngày củakhách du lịch Nếu như số ngày lưu trú thấp sẽ dẫn đến doanh thu lưu trú, ănuống, dịch vụ sẽ thấp
Giá trị tổng sản phẩm ngành du lịch (GDP du lịch) là một chỉ tiêu quantrọng trong tiêu chí đánh giá sự bền vững về kinh tế của phát triển du lịch Sựphát triển và gia tăng liên tục của chỉ tiêu GDP của ngành du lịch cho thấy sựphát triển của ngành cũng như vị trí của du lịch trong tổng thể nền kinh tếquốc dân Chỉ tiêu này càng ổn định và tăng cao theo thời gian cho thấyngành du lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững
- Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch: Hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch được cho là toàn bộ các phương tiệnvật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng dulịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hoá cung cấp và làm thoả mãn cácnhu cầu của du khách Chúng bao gồm hệ thống các khách sạn, nhà hàng, cáckhu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển…và đặc biệt là các công trìnhkiến trúc bổ trợ
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch phải đảm bảo phùhợp với đặc trưng của dịch vụ du lịch, đồng thời phải phù hợp với đặc thù tàinguyên du lịch tại khu vực đó Ngoài ra tính đa dạng, phong phú, hiện đại,hấp dẫn của cơ sở vật chất kỹ thuật cũng tạo nên tính đa dạng, phong phú, hấpdẫn của dịch vụ du lịch Có thể cho rằng trình độ phát triển của cơ sở vật chất
Trang 26của ngành du lịch nói riêng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nói chung thểhiện trình độ phát triển du lịch của một đất nước Phát triển du lịch bền vữngcần phải có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành đáp ứng nhu cầucủa du khách bởi năng lực, tính tiện ích của nó và có hiệu suất sử dụng cao.Muốn có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật như vậy cần thiết phải có sự quantâm đầu tư đúng mức của ngành.
- Chỉ tiêu nguồn nhân lực du lịch: Nguồn nhân lực du lịch có ý nghĩa
rất quan trọng trong phát triển du lịch ngoài việc xúc tiến quảng bá du lịch.Nguồn nhân lực du lịch phải đảm bảo đáp ứng được nhu cầu phát triển củangành về số lượng, chất lượng và cơ cấu Chất lượng, tính chuyên nghiệp củađội ngũ lao động ngành du lịch tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm dulịch Muốn có được một đội ngũ lao động đáp ứng nhu cầu phát triển du lịchthì công tác đào tạo cần được quan tâm đúng mức theo hướng bền vững vềchuyên môn Bên cạnh kỹ năng nghề nghiệp giỏi, khả năng giao tiếp tốt,thông thạo ngoại ngữ cần được trang bị đầy đủ những kiến thức về tài nguyênmôi trường, có kiến thức sâu rộng về mặt lịch sử, xã hội Về mặt kỹ thuật, cầnđào tạo đội ngũ lao động quản lý ngành trở thành những chuyên gia thuộcnhiều lĩnh vực khác nhau, hiểu được những mối quan hệ trong môi trườngsinh thái và có thể giúp đỡ cộng đồng người dân cũng như du khách trongviệc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả hơn
Về quản lý nhà nước, cần có chính sách đào tạo nguồn nhân lực cán bộkinh doanh du lịch, nhằm thực thi các sáng kiến và giải pháp du lịch bềnvững, cải thiện chất lượng các sản phẩm, dịch vụ du lịch
Trong thực tế phát triển du lịch có thể thấy rằng chất lượng đội ngũ laođộng của ngành đã được đào tạo là điều kiện nâng cao uy tín ngành, nâng caonăng lực cạnh tranh và tăng cường hội nhập, hợp tác quảng bá du lịch
- Tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch:
Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch có ý nghĩa quan trong trong việc thu
Trang 27hút khách du lịch Tuy nhiên để có được ý nghĩa đó thì cần phải nâng cao tínhtrách nhiệm trong tuyên truyền quảng bá Hoạt động tuyên truyền, quảng bátrong du lịch cần có trách nhiệm cung cấp cho du khách những thông tin đầy
đủ để nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội vàvăn hoá khu du lịch Quảng cáo đúng sự thật và không hứa hẹn những điềukhông có trong chương trình kinh doanh du lịch Tránh quảng bá du lịch mộtcách ồ ạt thiếu trách nhiệm, điều này có tác động rất lớn đến đến việc đánh giáchất lượng, đến mức độ hài lòng của du khách về chuyến đi Việc quảng bá đầy
đủ, trung thực sẽ tạo được lòng tin cho du khách và có ảnh hưởng tích cực đếnkhả năng thu hút khách Sự gia tăng lượng khách du lịch sẽ đảm bảo có được
sự tăng trưởng kinh tế du lịch, góp phần vào sự phát triển bền vững của du lịch
1.1.5.2 Các tiêu chí về xã hội
Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi ngành du lịch phải có những đónggóp cụ thể cho quá trình phát triển của toàn xã hội: Du lịch tạo ra nhiều việclàm, tăng thu nhập cho người lao động; tham gia xoá đói giảm nghèo, nâng caochất lượng cuộc sống của dân cư, rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa thành thịvới nông thôn, nơi gắn với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên Các nguồn lợi cóđược từ hoạt động du lịch phải được chia sẻ, đảm bảo công bằng trong pháttriển Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo an toàn cho du khách tại nhữngđiểm đến, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống
- Du lịch tạo việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo: Bản thân hoạt
động du lịch cần đến nhiều lao động sống Theo Hiệp hội du lịch thế giới thì
du lịch trở thành ngành dịch vụ lớn nhất từ thập niên 90 của thế kỷ XX với sựtham gia của hơn 10% lực lượng lao động thế giới
Đối với ngành du lịch nội dung tạo việc làm có thể xem xét thông qua chỉtiêu sự phát triển của các cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực du lịch Khi hệ thốngcác cơ sở kinh doanh du lịch phát triển sẽ tạo điều kiện để một bộ phận lao động
xã hội có công ăn việc làm, có thu nhập cải thiện cuộc sống, nâng cao dân trí
Trang 28Đối với toàn xã hội ảnh hưởng lan toả từ sự phát triển của hoạt động dulịch là rất đáng kể Khi du lịch phát triển sẽ kéo theo các nhóm ngành dịch vụkhác như Vận tải, Viễn thông, Chăm sóc y tế… phát triển Các hoạt động sảnxuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng chịu ảnh hưởng lan toả từ hoạtđộng du lịch khi cung cấp các sản phẩm dịch vụ đầu vào, sản phẩm lưu niệmcho du khách Khi các ngành này phát triển sẽ giải quyết được nhiều công ănviệc làm hơn góp phần ổn định xã hội.
Ở những vùng nông thôn miền núi, nơi có thu nhập người dân còn thấp
và điều kiện sinh hoạt còn hạn chế, nhưng chính tại những vùng này lại giàutài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác đúng mức và hợp lý Phát triển dulịch bền vững tại những nơi này đảm bảo đem lại lợi ích tối đa có thể chongười nghèo Sự phát triển du lịch, mối liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch
và người nghèo sẽ làm tăng thêm cơ hội cũng như sinh kế cho người nghèo,góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Du lịch phát triển phải đồng thời bảo đảm không làm tổn hại đến cuộcsống của cộng đồng địa phương Ngay từ khi quy hoạch các điểm khu du lịchcần có sự quan tâm đến lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương Cộng đồngđịa phương được tham gia thương thảo, tham gia các hoạt động du lịch vừagóp phần phục dựng lại các giá trị văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc đã bịmai một, vừa tăng thêm thu nhập cho người dân bản địa
- Mức độ hài lòng của cộng đồng địa phương đối với các hoạt động du lịch: Để đảm bảo cho du lịch phát triển bền vững cần có sự tham gia ủng hộ,
hợp tác của cộng đồng dân cư địa phương Muốn đạt được điều đó thì phảinhận thức được rằng mục tiêu của du lịch trước hết là vì sự phát triển củacộng đồng, đem lại lợi ích cho cộng đồng Cộng đồng dân cư địa phương hiểuhơn ai hết về tài nguyên và môi trường nơi họ sinh sống Khi được tham gia
và giám sát trong quá trình du lịch thì cộng đồng địa phương sẽ là nhữngngười bảo vệ tài nguyên và môi trường Bên cạnh đó có sự tham gia của người
Trang 29dân cũng giảm được những yếu tố xung đột có thể xảy ra trong du lịch Chính vìthế có thể thấy rằng mức độ hài lòng của cộng đồng địa phương cũng là chỉ tiêuđánh giá mức độ bền vững của du lịch trong quá trình phát triển.
- Tác động đến xã hội từ các hoạt động du lịch: Du lịch là một ngành
kinh tế tổng hợp mang tính xã hội hoá cao Hoạt động du lịch tác động đếnnhiều mặt của đời sống xã hội Các tác động vừa mang tính tích cực vừamang tính tiêu cực Một mặt nhờ có hoạt động du lịch mà các giá trị văn hoálâu đời có điều kiện được phục dựng, quảng bá đem lại lợi ích cho cộng đồngđịa phương và thoả mãn các nhu cầu của du khách Mặt khác nếu bị thươngmại hoá sẽ làm mất đi tính đặc thù của văn hoá truyền thống Do vậy trong quátrình phát triển cần phải có sự quản lý bằng các văn bản pháp luật, các quy định
và phải đảm bảo khả năng thực hiện Phát triển du lịch gắn với trật tự an ninh, antoàn xã hội, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống
1.1.5.3 Các tiêu chí về môi trường
Hoạt động du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tàinguyên thiên nhiên cũng như các giá trị văn hoá, nhân văn nên du lịch chịutác động và ảnh hưởng rất lớn của môi trường và môi trường được xem là yếu
tố quyết định đến sự phát triển của ngành du lịch Các tiêu chí cơ bản đượcxem xét là:
- Tỷ lệ các khu điểm du lịch được bảo vệ: Mục tiêu của phát triển du
lịch bền vững là nhằm khai thác một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn tàinguyên, tránh việc sử dụng quá mức và lãng phí tài nguyên nhất là tài nguyên
tự nhiên không thể tái tạo Đánh giá tính bền vững của các khu, điểm du lịchcũng như ngành du lịch nhất thiết phải dựa vào tỷ lệ các khu, điểm du lịchđược đầu tư bảo vệ, tôn tạo Phát triển du lịch được coi là bền vững nếu như
số lượng các khu, điểm du lịch cũng như các nguồn tài nguyên du lịch đượcquan tâm đầu tư bảo vệ với tỷ lệ cao
Trang 30Theo tổ chức du lịch thế giới nếu tỷ lệ này vượt qua 50% thì được đánhgiá là phát triển bền vững.
- Quản lý áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch: Quản lý áp lực
từ hoạt động du lịch lên môi trường thực chất là việc giới hạn các tác độngtiêu cực từ du lịch lên môi trường, trong đó việc giới hạn và quản lý “sứcchứa” của khu, điểm du lịch đó được đặt lên hàng đầu Bản chất của côngviệc này là hạn chế lượng khách du lịch tập trung quá đông tại một khu, điểm
du lịch trong cùng một thời điểm Mục tiêu của phát triển bền vững là đem lại
sự phát triển, tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, lâu dài Do đó việc khaithác quá giới hạn cho phép của khu, điểm du lịch sẽ đưa lại những tác độngtiêu cực, làm suy giảm tính bền vững của khu, điểm du lịch, phá vỡ khả năngphát triển bền vững của ngành du lịch
- Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho công tác bảo tồn, tôn tạo và bảo vệ môi trường: Tài nguyên du lịch khi được khai thác phục vụ mục đích
du lịch đều đem lại một nguồn thu nhất định đối với ngành du lịch nói chung
và cộng đồng địa phương nói riêng Nguồn thu này có được từ việc bán vétham quan, vé cho các dịch vụ vui chơi giải trí, từ việc bán các sản phẩm lưuniệm hay các đặc sản địa phương… và được tính vào doanh thu của ngành dulịch Sự đóng góp của ngành du lịch cho bảo tồn được thể hiện thông qua tỷ lệdoanh thu được trích lại cho địa phương hoặc cơ quan chủ quản các nguồn tàinguyên du lịch để phục vụ công tác bảo tồn, tôn tạo Tỷ lệ doanh thu màngành du lịch trích lại càng cao chứng tỏ rằng khả năng phối hợp liên ngànhtốt, và mặc dù có thể có trường hợp khoản doanh thu trích lại không được sửdụng vào mục đích bảo tồn, tôn tạo các nguồn tài nguyên nói trên những cũng
có thể cho thấy mức độ phát triển bền vững của du lịch
- Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch: Công tác
quy hoạch phát triển du lịch về bản chất là quá trình tổ chức quản lý, pháttriển du lịch từ công tác bảo vệ, quản lý tài nguyên, môi trường du lịch; đầu
tư, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, sản phẩm du lịch, hạ tầng du
Trang 31lịch đến quản lý kinh doanh du lịch, khai thác sử dụng tài nguyên, sảnphẩm du lịch theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Pháttriển du lịch theo quy hoạch đảm bảo hài hoà giữa kinh tế, xã hội và môitrường Chính vì thế mà số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quyhoạch là một trong những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tính bềnvững trong mục tiêu phát triển du lịch.
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.2.1 Nội dung phát triển du lịch bền vững
1.2.1.1 Quy hoạch phát triển du lịch bền vững
Quy hoạch phát triển du lịch cần phải đảm bảo trên quan điểm pháttriển bền vững Hoạt động du lịch phải được nhìn nhận như một hệ thống cácmối quan hệ tương tác giữa cung và cầu trong du lịch
Các yếu tố cung trong du lịch bao gồm các điểm hấp dẫn và các hoạtđộng tại đó, các cơ sở lưu trú, tiện nghi, kết cấu hạ tầng và tất cả các dịch vụcho du khách trong chuyến hành trình du lịch
Các yếu tố cầu trong du lịch là thị trường khách du lịch quốc tế, khách
du lịch nội địa và cư dân địa phương có tiêu dùng các sản phẩm du lịch
Quy hoạch phát triển du lịch nhằm mục đích phát triển hài hoà tất cảnhững thành phần cung cầu của hệ thống Việc lập quy hoạch đảm bảo tínhthống nhất của các yếu tố trong du lịch và phải được đặt trong quy hoạch tổngthể phát triển kinh tế xã hội của mỗi khu vực, mỗi quốc gia Điều này là rấtquan trọng vì nó tránh được những mâu thuẫn tiềm ẩn về việc sử dụng cácnguồn lực hay địa bàn nhất định cho sự phát triển của các lĩnh vực khác nhau
Nó cũng đảm bảo cho việc sử dụng đa dạng kết cấu hạ tầng phục vụ cho cộngđồng nói chung và cho hoạt động du lịch nói riêng
Trang 32Quy hoạch phát triển du lịch theo hướng bền vững là rất quan trọng, bởi
vì phần lớn sự phát triển du lịch phụ thuộc vào các điểm hấp dẫn và các hoạtđộng có liên quan đến môi trường tự nhiên, các giá trị văn hoá của địa phương
Những nội dung cơ bản của công tác quy hoạch phát triển du lịch baogồm công tác khảo sát đánh giá các yếu tố trong phát triển du lịch, xây dựngluận chứng về phát triển du lịch trên cơ sở cộng đồng Phân tích và cân nhắc
để xác định những loại hình du lịch và những địa bàn phát triển thích hợp Từ
đó có các cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý bảo vệ tài nguyên, môi trường,đầu tư khai thác, sử dụng tài nguyên, sản phẩm du lịch một cách hiệu quả
1.2.1.2 Sử dụng các nguồn lực cho phát triển du lịch bền vững
Trên cơ sở quy hoạch phát triển du lịch cần phải có những giải pháp sửdụng một cách tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên du lịch Nếu các nguồn tài nguyên
du lịch bị xuống cấp hay bị huỷ hoại thì các điểm du lịch sẽ không thu hút đượckhách và như vậy sự phát triển du lịch sẽ không đạt được những kết quả mongmuốn Hơn thế nữa, dân cư địa phương sẽ phải hứng chịu các tác động xấu củamôi trường và những vấn đề tiêu cực về xã hội do hoạt động du lịch gây ra
Sử dụng tổng hợp các nguồn lực cho phát triển bền vững trong đó cầnquan tâm đến cộng đồng địa phương gắn với địa bàn sinh sống của họ Cầnphải thực hiện xã hội hoá hoạt động du lịch đặt dưới sự quản lý của nhà nước.Trong chiến lược phát triển du lịch cần quan tâm đến ảnh hưởng của du lịchđối với các di sản văn hoá và các yếu tố truyền thống, các hoạt động và độnglực của từng cộng đồng địa phương Nâng cao nhận thức của cộng đồng về sửdụng khai thác và bảo vệ giữ gìn cảnh quan môi trường, các giá trị văn hoá,nhân văn mang nét đặc trưng đặc thù của địa phương
1.2.1.3 Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch
Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch trước hết cần có những khảo sátđánh giá nguồn tài nguyên du lịch địa phương để có thể xác định và xây dựng
Trang 33các sản phẩm mang tính đặc trưng của địa phương Đa dạng hoá các sản phẩm
du lịch trên cơ sở các nguồn lực tài nguyên sẵn có
Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, mở rộng thị trường thông qua các hoạtđộng như tạo sự kiện, xuất bản phẩm về du lịch tham gia các chương trìnhphát thanh, truyền hình, báo chí phổ biến, tổ chức hội thảo, hội nghị…Tăngcường các hoạt động hợp tác với các hãng lữ hành trong nước và quốc tế,Tham gia các hội chợ, diễn đàn du lịch và các sự kiện quốc tế chuyên nghiệp
Tổ chức dự báo về thị trường, nhất là các thị trường truyền thống và cókhả năng chi trả cao
1.2.1.4 Kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch
Trong quá trình phát triển du lịch cần thiết phải kiểm soát ô nhiễm vàbảo vệ môi trường Nhận thức du lịch mang tính hai mặt, ở chỗ du lịch vừa cókhả năng đóng góp một cách tích cực vào những thành tựu kinh tế xã hội,nhưng đồng thời nó cũng một phần dẫn tới sự xuống cấp về môi trường vàmất đi sự đặc thù của từng địa phương Hoạt động du lịch luôn gắn với việckhai thác các tiềm năng tài nguyên tự nhiên cũng như tài nguyên nhân vănnên chịu tác động và gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường Do vậy trong quátrình phát triển phải tiến hành quan trắc biến động của các yếu tố môi trường
để có giải pháp kịp thời bảo vệ môi trường, sự đa dạng sinh học và khả năngthích hợp với bất kỳ tác động hay chất thải nào mà du lịch tạo nên
1.2.1.5 Quản lý nhà nước theo yêu cầu phát triển du lịch bền vững
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thức về vai tròquan trọng của nhà nước đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung.Nhà nước xét theo khía cạnh là người quản lý vĩ mô nền kinh có vai trò địnhhướng cho sự phát triển, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và chế địnhcác chính sách xã hội
Trang 34Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp vừa có đặc điểm chung của mộtngành kinh tế, vừa có những đặc điểm riêng mang những đặc điểm của ngành.
Do vậy quản lý nhà nước về du lịch cũng có những đặc điểm riêng Quản lýnhà nước về du lịch theo điều 10 Luật du lịch năm 2005 bao gồm các nộidung sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và chính sáchphát triển du lịch
- Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch và phát triển du lịch bền vững,quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu ứng dụngkhoa học công nghệ
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến dulịch trong nước và nước ngoài
- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch pháttriển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về du lịch phù hợp, đáp ứng yêucầu của một ngành kinh tế
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phápluật về du lịch
1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững chịu tác động của nhiều nhân tố như điềukiện về tài nguyên du lịch, điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi khu vựcquốc gia cũng như của toàn cầu
- Tài nguyên phát triển du lịch của địa phương:
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hoá, lịch sử và các thànhphần của chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra các sản phẩm dulịch nhằm mục đích thoả mãn các nhu cầu của cuộc sống con người
Trang 35Theo luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì tài nguyên du lịch gồm tàinguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác
và chưa được khai thác
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt
Có thể nói tài nguyên du lịch, với sự phong phú đa dạng của nó sẽ là yếu tốthu hút khách du lịch, một trong những nội dung để đảm bảo cho du lịch pháttriển bền vững
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội:
Trình độ phát triển kinh tế xã hội của một đất nước, khu vực có tácđộng rất lớn đến khả năng và xu hướng phát triển bền vững của ngành du lịch.Theo ý kiến của một số chuyên gia thuộc hội đồng kinh tế và xã hội của Liênhợp quốc, thì phát triển du lịch bền vững đòi hỏi một đất nước phải có kinh tếtương đối phát triển, với hệ thống kết cấu hạ tầng tiện nghi hiện đại điều kiệnchính trị, xã hội ổn định là điểm đến an toàn của du khách
Quy hoạch phát triển du lịch phải nằm trong quy hoạch chung pháttriển kinh tế xã hội của địa phương, quốc gia Nếu công tác quy hoạch khôngđược quan tâm, hoặc quan tâm chưa đủ mức có thể dẫn tới sự phát triển tựphát, chồng chéo giữa các ngành và hậu quả có thể dẫn tới là phá vỡ cảnhquan môi trường ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của du lịch
Nguồn nhân lực ngành du lịch cũng là một trong các yếu tố quan trọngtác động đến sự phát triển bền vững của du lịch Một địa phương có đượcnguồn tài nguyên du lịch phong phú, cần phải có đội ngũ lao động có nănglực và trình độ thì mới đảm bảo tính hấp dẫn và sự hứng thú của du khách
- Mối liên kết và hợp tác trong hoạt động du lịch giữa các địa phương trong nước và quốc tế:
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp có tính liên ngành, liênvùng và tính quốc tế cao Đối tượng phục vụ của du lịch là thoả mãn cácmong muốn của con người trong quá trình tiêu dùng du lịch Việc liên kết hợp
Trang 36tác trong phát triển du lịch sẽ mang lại hiệu quả to lớn trong việc xúc tiếnquảng bá các sản phẩm du lịch của địa phương đến với các đối tượng dukhách Nhờ có liên kết hợp tác trong du lịch mà học tập được kinh nghiệmcủa các địa phương, quốc gia, khai thác một cách hiệu quả tài nguyên du lịchđịa phương trong phát triển du lịch Nếu thiếu các hoạt động này thì thịtrường khách du lịch khó có thể được mở rộng và ổn định.
- Môi trường kinh doanh du lịch:
Du lịch cũng như bất cứ một hoạt động kinh tế nào cũng cần có môitrường kinh doanh thuận lợi để phát triển Môi trường kinh doanh cần đề cập baogồm môi trường pháp lý, môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường chính trị xã hội
Một đất nước có môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với quyluật khách quan, phù hợp với đặc điểm của quốc gia, địa phương và thông lệquốc tế sẽ thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển nhanh và bền vững Ngược lại
nó sẽ kìm hãm hoặc làm cho ngành du lịch phát triển không theo quy hoạchkém bền vững
Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, với hệ thống thị trường đầy đủ đồng
bộ, chính sách tiền tệ linh hoạt, tài chính công minh bạch, hiệu quả; kết cấu hạ
hạ tầng hiện đại, tiện ích sẽ có tác động làm cho kinh tế nói chung trong đó có
du lịch phát triển tăng trưởng và ổn định
Môi trường chính trị xã hội ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạtđộng đầu tư trong nước và quốc tế về phát triển du lịch Một môi trường hoàbình thân thiện sẽ là điểm đến an toàn cho khách du lịch là điều kiện để pháttriển du lịch bền vững
- Triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu và quốc gia:
Ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia đến hoạt động dulịch là rất lớn Khi kinh tế bị suy thoái kéo theo tình trạng thất nghiệp giatăng, thu nhập quốc dân của quốc gia giảm, thu nhập của người dân cũng bị suygiảm Đối với mỗi quốc gia khi kinh tế bị suy thoái thì việc đầu tư, hỗ trợ cho
Trang 37du lịch bị suy giảm Còn đối với người dân khi thu nhập bị sút giảm thì mứcchi tiêu cũng bị giảm bớt Trong cơ cấu chi tiêu của họ khoản chi tiêu cho dulịch bị cắt giảm để giành cho các khoản chi tiêu thiết yếu theo hai hướng: cắtgiảm chuyến du lịch hoặc sử dụng dịch vụ thấp hơn để tiết kiệm chi phí
Trước triển vọng phục hồi của kinh tế toàn cầu thì các hoạt động đầu tưcho du lịch được quan tâm hơn Số lượng khách du lịch cũng tăng lên với cácdịch vụ cao cấp để thoả mãn nhu cầu đa dạng của họ
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế
1.3.1.1 Kinh nghiệm về phát triển bền vững
- Quần đảo Galapagos phát triển du lịch bền vững: Đây là quần đảo
thuộc lãnh thổ Ecuađor được đánh giá là một mô hình thành công về pháttriển du lịch bền vững trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của côngtác bảo vệ môi trường, bảo tồn các loài động vật biển đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng, ngay từ năm 1934, Quốc hội Ecuador đã thông qua một sốđạo luật cụ thể về nội dung này, đồng thời thành lập một số khu bảo tồn trêncác đảo thuộc Galapagos Đến năm 1959, 95% số đảo và 50.000m2 diện tíchcủa Galapagos đã đưa vào diện được bảo vệ nghiêm ngặt Năm 1964, QuỹDarwin và Trung tâm Nghiên cứu Darwin được thành lập, đã đóng góp quantrọng cho hoạt động bảo tồn, bảo vệ môi trường tại Galapagos Năm 1959,Vườn quốc gia Galapagos được thành lập, đẩy mạnh hơn nữa công tác quantrọng này
Ngày 6/3/1998, Luật Bảo tồn Galapagos chính thức được ban hành, baogồm các quy định hết sức nghiêm ngặt về bảo tồn các loài động, thực vật quýhiếm; đưa ra các chính sách ưu đãi cho các cá nhân, tổ chức có các hoạt độngbảo vệ môi trường Luật Bảo tồn Galapagos đã góp phần giáo dục cư dân địaphương về bảo vệ môi trường, điều tiết hợp lý số dân sinh sống trên đảo, mở
Trang 38rộng khu vực bảo tồn rộng ra 40 dặm ngoài khu vực quần đảo Thêm vào đó,50% số tiền thu được từ hoạt động du lịch sẽ được huy động để hỗ trợ côngtác bảo tồn động, thực vật, bảo vệ môi trường tại Galapagos.
Ngoài ra, một hệ thống quy định đã được đặt ra nhằm hạn chế một cáchtối đa tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến môi trường Khách dulịch đến thăm Galapagos phải nộp một khoản lệ phí là 100 USD và khôngđược phép tiếp cận một số khu vực được bảo tồn đặc biệt Mỗi khi tham quantại các địa danh cụ thể của Galapagos, du khách phải có cam kết không xâmhại môi trường, hệ động, thực vật tại quần đảo và phải chịu sự giám sát củahướng dẫn viên đã qua đào tạo và được cấp chứng chỉ Theo định kỳ hàngquý, một số tuyến du lịch tại Galapagos được đóng cửa để tránh lượng dukhách quá đông, có thể gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường, hệ sinh tháitại quần đảo này Năm 1978, Galapagos được UNESCO công nhận là Di sảnthế giới Ngay sau đó, rất nhiều biện pháp và quy định mới đã được áp dụng,nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác bảo tồn tự nhiên, bảo vệ môitrường tại quần đảo như: xây dựng cơ chế quản lý khu vực dành cho hoạtđộng du lịch; quy định cụ thể về số lượng du khách tối đa cho các điểm dulịch; xác lập hệ thống các tiêu chuẩn và quy định về quản lý, giám sát cácđiểm du lịch; đào tạo, cấp giấy phép cho các hướng dẫn viên du lịch; yêu cầucác hướng dẫn viên đảm bảo trật tự, an toàn cho du khách, quản lý khách dulịch, tránh các ảnh hưởng xấu có thể xảy ra với tự nhiên và hệ sinh thái củaGalapagos, cung cấp thông tin du lịch chi tiết về Galapagos; xây dựng hệthống tổng hợp, xử lý thông tin bằng máy tỉnh điện tử…
Với mục tiêu phát triển bền vững, hoạt động du lịch tại Galapagosđược quản lý hết sức chặt chẽ Quần đảo được chia thành 3 khu vực, trong
đó mức độ bảo vệ được tăng dần qua từng khu vực Đầu tiên phải kể đến làkhu vực hạn chế chặt chẽ đối với các hoạt động du lịch, gồm 15 địa điểm
Trang 39nằm trên 10 đảo thuộc Galapagos Đây là khu vực đặc biệt phong phú vềsinh thái, động, thực vật nhưng rất dễ hứng chịu những tác động không tốt từbên ngoài Thứ hai là các khu vực có hạn chế đối với các hoạt động du lịch.Khu vực này có nhiều đặc điểm nổi bật về đa dạng sinh học nhưng cũng rất
có thể chịu tác động không tốt từ bên ngoài Tại khu vực này, số lượngkhách du lịch tham quan được hạn chế Cuối cùng là khu vực vui chơi giảitrí cho du khách Đây là khu vực cung cấp rất nhiều lựa chọn về vui chơi,giải trí, bao gồm 33 địa điểm tại 4 hòn đảo có cư dân sinh sống Có thể nóirằng, Galapagos chính là một mô hình thành công về phát triển du lịch bềnvững trên thế giới [17]
- Du lịch Thenmala- Kerala, Ấn độ: Đây là mô hình phát triển du lịch
bền vững trên cơ sở xác định và thực hiện đúng quy hoạch phát triển du lịchvới ba nhóm sản phẩm được đầu tư phát triển là: Du lịch thân thiện với môitrường, Du lịch sinh thái và Du lịch hành hương
Du lịch thân thiện với môi trường được phát triển ở ngoại vi khu bảotồn hoang dã Shenduruney nhằm giảm áp lực lên khu bảo tồn Du lịch sinhthái được quy hoạch phát triển trong các khu rừng xung quanh Du lịch hànhhương nhằm tạo điều kiện cho du khách đến với các điểm tôn giáo linh thiêngnằm trong khu rừng Sabarimala Quy hoạch về xây dựng được quản lý chặtchẽ, các cơ sở lưu trú được xây dựng tách biệt và ưu tiên ở những nơi xarừng Việc quy hoạch du lịch với ba sản phẩm chính như vậy đã góp phầngiảm áp lực lên khu bảo tồn, tăng khả năng hấp dẫn du khách… [17]
1.3.1.2 Một số điển hình về phát triển du lịch không bền vững
- Siem Reap (Campuchia) giai đoạn 2001-2006: Nơi đây có khu đền
Angkor Wat nổi tiếng thế giới, những tác động tiêu cực của một ngành du lịchphát triển quá nhanh nhưng được quản lý kém đã bộc lộ rõ Các khách sạnmọc lên như nấm, năm 2002 tổng công suất phòng chỉ có 2.500, năm 2005 đãtăng lên tới 5.000 phòng Tới cuối năm 2006 có khoảng 8.000 phòng Nguồn
Trang 40điện không đủ để cung cấp cho nhu cầu của cư dân địa phương, hệ thống xử
lý rác thải yếu kém, và dòng sông bị ô nhiễm bởi nguồn nước thải chưa xử lý.Thêm vào đó là mối lo ngại rằng việc tiêu thụ một lượng nước lớn có thể làmcạn kiệt các mạch nước ngầm dẫn đến sụt lỡ đất và kéo theo việc sụp đổ củacác ngôi đền Angkor Wat Đây là những vấn đề nghiêm trọng và mặc dù một
số dự án lớn đang được hình thành nhưng không có một nhóm cộng đồng địaphương nào đứng ra tuyên truyền vận động cho việc phát triển bền vững [17]
- Pattaya (Thái Lan) giai đoạn 1981-1990: Đây là điểm du lịch nổi
tiếng của Thái Lan và thế giới trong nhiều năm Trong những năm của thập
kỷ 80, để tăng thu nhập du lịch, nơi đây đã đầu tư xây dựng một cách ồ ạt các
cơ sở lưu trú trong một thời gian ngắn, đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến môitrường tự nhiên Sự phát triển bất hợp lý kéo theo môi trường bị ô nhiễm, mất
đi sự đa dạng sinh học, thiếu nước sinh hoạt và hậu quả của nó là lượng dukhách giảm đi đáng kể vào năm 1988 Biển ở đây đã bị ô nhiễm nghiêm trọngđến nỗi vào năm 1989, Uỷ ban môi trường quốc gia Thái Lan đã phải tuyên
bố việc tắm biển trở nên không an toàn Những năm gần đây nhờ những giảipháp hữu hiệu thì môi trường ở đây mới được cải thiện đáng kể và lượngkhách mới tăng trở lại Sự phát triển du lịch ở Pattaya cho thấy sự phát triển
du lịch đòi hỏi phải gắn liền với bảo vệ môi trường, một yếu tố đảm bảo chophát triển bền vững của ngành du lịch
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước
1.3.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là địa phương có tốc độ tăng trưởng cao ở miền Trung
và cả nước về du lịch nhờ có các tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú:quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thếgiới, Nhã nhạc Cung đình Di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhânloại, có mật độ dày đặc về di tích lịch sử cách mạng Huế có văn hoá với nétđộc đáo về phong cách sống, ẩm thực, có địa hình đa dạng, hệ động thực vật