Tên luận án: Nghiên cứu phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ 2. Thông tin về nghiên cứu sinh: Họ và tên nghiên cứu sinh: Lê Thị Thanh Thủy Năm nhập học: 2009; Năm tốt nghiệp: 2015 Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp; Mã số: 62 62 01 15 Người hướng dẫn: 1. TS. Đinh Văn Đãn; 2. PGS. TS Kim Thị Dung Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam 3. Giới thiệu về luận án Du lịch cội nguồn, một loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã trở thành nét văn hoá, mang tính nhân văn cao trong đời sống của con người. Phát triển du lịch cội nguồn sẽ phát huy được giá trị kinh tế và nâng cao giá trị văn hoá của địa phương. Nghiên cứu phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và khái quát hơn những vấn đề thực tiễn về phát triển du lịch cội nguồn. Đồng thời, đánh giá có hệ thống về thực trạng phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 20002012, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2020. 4. Đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án Về mặt học thuật: Du lịch cội nguồn là sự kết hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân của khách du lịch đối với công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc tại các viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hóa, các di sản văn hóa hay các lễ hội địa phương, đồng thời thỏa mãn mục đích của các chủ thể tham gia trong mối quan hệ đó. Phát triển du lịch cội nguồn là quá trình vận động tiến lên của hoạt động du lịch cội nguồn từ không có đến có, từ ít đến nhiều, từ đơn điệu đến đa dạng, từ chất lượng thấp đến chất lượng cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chỉ có mục tiêu kinh tế đến có mục tiêu tổng hợp (kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và môi trường), đồng thời quá trình này mang tính ổn định, tạo ra thu nhập, góp phần nâng cao đời sống cho người dân ở địa phương. Về mặt lý luận:Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch cội nguồn trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là khái niệm phát triển du lịch cội nguồn và nội dung phát triển du lịch cội nguồn. Đồng thời, khái quát những kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn ở trong và ngoài nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ. Các đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận nói trên được vận dụng trong toàn bộ nội dung phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ THANH THUỶ
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN
Trang 2Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn: 1 TS ĐINH VĂN ĐÃN
2 PGS.TS KIM THỊ DUNG
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS Bùi Xuân Nhàn
Trường Đại học Thương mại
Phản biện 3: PGS.TS Vũ Thị Minh
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Luận án sẽ được bảo vệ tại hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam Vào hồi , ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch cội nguồn, một loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã trở thành nét văn hoá, mang tính nhân văn cao trong đời sống của con người Và đặc biệt, ở Việt Nam - một quốc gia với bề dày lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa đan xen trong một khối lượng khổng lồ những di tích nổi tiếng - du lịch cội nguồn là một hoạt động văn hoá đặc sắc, một loại hình du lịch đặc biệt hấp dẫn, là nét riêng của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Phát triển du lịch cội nguồn sẽ phát huy được giá trị kinh tế và nâng cao giá trị văn hoá của địa phương, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân trên địa bàn
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, là cửa ngõ Tây Bắc thủ đô Hà Nội và là cầu nối vùng Tây Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Lợi thế nổi bật của
du lịch Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam với 02 di sản văn hóa thế giới, 1.372 di tích lịch sử văn hóa, 260 lễ hội, hơn 13.000 hiện vật qua các thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước Trong đó, Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng là một không gian văn hóa có một không hai, vô cùng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2012)
Trong giai đoạn 2000-2012, ngành du lịch tỉnh Phú Thọ nói chung và du lịch cội nguồn nói riêng, đã có những chuyển biến tích cực Nhiều văn bản pháp quy, quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, đề án bảo vệ và phát huy giá trị của di tích lịch sử được ban hành Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cội nguồn bước đầu được quan tâm đầu tư, lượng khách du lịch cội nguồn tăng bình quân 17,05%/năm, doanh thu du lịch cội nguồn tăng 13,02%/năm (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2012) Những kết quả đó phần nào đã đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu, tri ân của
du khách trong và ngoài nước về lịch sử cội nguồn dân tộc Việt Nam Song, du lịch cội nguồn phát triển vẫn chưa tương xứng với lợi thế của tỉnh và đang phải đối mặt với nhiều yếu kém như chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch thấp, vấn đề nghiên cứu thị trường còn hạn chế, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu, số ngày lưu trú và chi tiêu của khách du lịch cội nguồn thấp, việc phát huy giá trị của tài nguyên du lịch cội nguồn chưa được đẩy mạnh, du lịch cội nguồn chưa góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế của địa phương, năm 2012 tỷ trọng giá trị tăng thêm của du lịch cội nguồn so với giá trị tăng thêm toàn tỉnh mới chỉ đạt 1,29% (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2012)
Vậy, tại sao du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ chưa phát triển? Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh là gì? Và làm thế nào để phát triển
du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ? là những câu hỏi cấp thiết đang được đặt ra đối với các cấp chính quyền và người dân trong tỉnh Để trả lời được các câu hỏi này cần phải
có một nghiên cứu toàn diện và công phu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ, từ
đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh
Trang 4- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng cũng như giải pháp liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu tập trung trong giai đoạn 2000-2013, các số liệu khảo sát năm 2012, dự báo đến năm 2020
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu phát triển du lịch cội nguồn (cội nguồn dân tộc) bao gồm các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về phát triển du lịch cội nguồn, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
4 Đóng góp của luận án
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch cội nguồn trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là khái niệm phát triển du lịch cội nguồn và nội dung phát triển du lịch cội nguồn Đồng thời, khái quát những kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn ở trong và ngoài nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá có hệ thống về thực trạng phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2000-2013 Phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là phân tích hồi quy phản ánh mức độ ảnh hưởng của
5 biến độc lập tới sự hài lòng của khách du lịch cội nguồn khi đến Phú Thọ
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ Dự báo đến năm 2020, lượng khách du lịch cội nguồn đến Phú Thọ sẽ đạt 804.231 lượt khách, giá trị tăng thêm của du lịch cội nguồn đạt 495,08 tỷ đồng với tốc độ tăng bình quân đạt 8,31%/năm
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch cội nguồn
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn
Du lịch cội nguồn là sự kết hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ
sự tác động qua lại giữa khách du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, dân cư sở tại
và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân của khách du lịch đối với công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc tại các viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hóa, các di sản văn hóa hay các lễ hội địa phương, đồng thời thỏa mãn mục đích của các chủ thể tham gia trong mối quan hệ đó
Trang 5Theo nghĩa rộng, phát triển du lịch cội nguồn là quá trình vận động tiến lên của hoạt động du lịch cội nguồn từ không có đến có, từ ít đến nhiều, từ đơn điệu đến đa dạng, từ chất lượng thấp đến chất lượng cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn,
từ chỉ có mục tiêu kinh tế đến có mục tiêu tổng hợp (kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và môi trường), đồng thời quá trình này mang tính ổn định, tạo ra thu nhập, góp phần nâng cao đời sống cho người dân ở địa phương
Theo nghĩa hẹp, phát triển du lịch cội nguồn là sự tăng lên về giá trị và số lượng tài nguyên du lịch cội nguồn, tăng lên về số lượng và chất lượng cơ sở vật chất
kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực cho du lịch cội nguồn, xúc tiến du lịch cội nguồn Đồng thời, gia tăng kết quả và đóng góp của du lịch cội nguồn cho phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương
1.1.2 Vai trò của phát triển du lịch cội nguồn
Phát triển du lịch cội nguồn góp phần phát triển ngành du lịch, tăng ngân sách của địa phương và thúc đẩy sự phát triển kinh tế; thu hút lao động và tạo ra nhiều việc làm; kích thích đầu tư; có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá của cộng đồng dân cư; góp phần khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, lòng yêu nước và giáo dục tính nhân văn cho thế hệ trẻ
1.1.3 Đặc điểm phát triển du lịch cội nguồn
Phát triển du lịch cội nguồn bao hàm những đặc điểm của phát triển sản phẩm dịch vụ Ngoài ra, phát triển du lịch cội nguồn còn có những đặc điểm riêng, đó là: Phát triển du lịch cội nguồn gắn liền với việc phát huy giá trị văn hóa dân tộc; Phát triển du lịch cội nguồn luôn gắn với địa bàn hoạt động là các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hoá, bảo tàng và các lễ hội; Phát triển du lịch cội nguồn gắn liền với công tác bảo tồn, sưu tầm và khôi phục các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng hay các lễ hội ở địa phương; Phát triển du lịch cội nguồn có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ trong sự phát triển của các ngành khác
1.1.4 Nội dung phát triển du lịch cội nguồn
Nội dung phát triển du lịch cội nguồn bao gồm: Phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn; Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch cội nguồn; Phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cội nguồn; Tăng cường xúc tiến du lịch cội nguồn; Nâng cao kết quả và đóng góp của du lịch cội nguồn cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cội nguồn
Phát triển du lịch cội nguồn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Luận án đã chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cội nguồn như cơ chế chính sách đối với phát triển du lịch và việc thực hiện chính sách của địa phương, công tác quy hoạch phát triển du lịch, cơ sở hạ tầng, dịch vụ phụ trợ, sự hài lòng của khách du lịch cội nguồn, đặc điểm và vai trò của cộng đồng, môi trường an ninh an toàn cho khách du lịch cội nguồn
1.2 Thực tiễn phát triển du lịch cội nguồn ở trong và ngoài nước, bài học kinh nghiệm cho tỉnh Phú Thọ
Luận án đã tổng hợp kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn của một số nước như Hy Lạp, Ai Cập, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a và một số địa phương ở Việt Nam, từ
đó đã rút ra bài học kinh nghiệm trong phát triển du lịch cội nguồn cho tỉnh Phú Thọ
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc Tính đến 31/12/2013, tỉnh Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính với tổng diện tích tự nhiên là 3.533,42 km2, dân số là 1.351.224 người, 728.200 lao động Giai đoạn 2000-2013, kinh tế của tỉnh Phú Thọ có xu hướng tăng cao, GDP đạt tốc độ tăng bình quân 10,29%/năm GDP bình quân đầu người đạt 17,3 triệu đồng Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ thuận lợi cho phát triển du lịch nói chung, phát triển du lịch cội nguồn nói riêng Tuy nhiên, là tỉnh có địa hình phức tạp, thu nhập bình quân đầu người thấp nên tỉnh Phú Thọ vẫn gặp những khó khăn nhất định trong quá trình phát triển du lịch cội nguồn
2.2 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích
Luận án sử dụng các phương pháp tiếp cận như tiếp cận tài nguyên du lịch cội nguồn, tiếp cận cụm du lịch cội nguồn điển hình, tiếp cận có sự tham gia của người dân Nội dung phát triển du lịch cội nguồn được thể hiện cụ thể trong sơ đồ 2.1
100 hộ dân
- Phương pháp phân tích: phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch cội nguồn, phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của khách
NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DLCN
1 Phát triển tài nguyên DLCN
2 Phát triển CSVCKT DLCN
3 Phát triển nguồn nhân lực cho DLCN
4 Tăng cường xúc tiến DLCN
5 Nâng cao kết quả và đóng góp của DLCN cho phát triển kinh
tế xã hội ở địa phương
Sự hài lòng của khách DLCN
Dịch vụ phụ trợ
ở địa phương
CSHT
của địa phương
Công tác quy hoạch
Môi trường an ninh,
an toàn cho khách DLCN
Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch cội nguồn
Trang 7du lịch cội nguồn, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích bảng chéo hai biến
- Phương pháp dự báo: Dự báo theo mô hình hồi quy tuyến tính
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Luận án sử dụng hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu như số lượng, cơ cấu khách du
lịch cội nguồn, tổng thu từ khách du lịch cội nguồn,…
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN Ở TỈNH PHÚ THỌ 3.1 Khái quát về du lịch và lịch sử ra đời của du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
3.1.1 Không gian du lịch tỉnh Phú Thọ
Không gian du lịch Phú Thọ bao gồm ba cụm du lịch tập trung: Cụm du lịch thành phố Việt Trì và phụ cận (cụm 1), cụm du lịch Hạ Hòa (cụm 2) và cụm du lịch Thanh Thủy (cụm 3)
Cụm 1: Bao gồm không gian lãnh thổ du lịch ở thành phố Việt Trì và các huyện phụ cận Các loại hình có thể khai thác là du lịch văn hóa lễ hội, du lịch cội nguồn, du lịch tham quan nghiên cứu, du lịch cuối tuần, du lịch hội thảo; Cụm 2: Có giới hạn không gian, lãnh thổ là khu vực phía Bắc thuộc địa phận thị xã Phú Thọ, các huyện Hạ Hòa, Thanh Ba, Đoan Hùng Cụm này có khả năng khai thác phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, sinh thái kết hợp văn hóa - lịch sử, cội nguồn, tham quan nghiên cứu và các hoạt động thể dục thể thao; Cụm 3: Có giới hạn lãnh thổ bao gồm các huyện phía Tây tỉnh Phú Thọ Các loại hình du lịch có thể khai thác là du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh; du lịch tham quan nghiên cứu hệ sinh thái, hang động, bản dân tộc, làng nghề, di chỉ khảo cổ; du lịch thể thao mạo hiểm, vui chơi giải trí, cắm trại
Bên cạnh đó, các khu du lịch đã được hình thành trong hệ thống quốc gia và vùng, hệ thống các tuyến du lịch cũng đã và đang được hình thành
3.1.2 Kết quả phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ
Trong giai đoạn 2000-2013, ngành du lịch Phú Thọ đã đạt được những thành quả đáng khích lệ Tổng hợp số liệu của Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chúng tôi đã đưa ra kết quả một số chỉ tiêu về phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ (Bảng 3.1) Trong đó, lượng khách du lịch đến Phú Thọ liên tục tăng với mức tăng trưởng tương đối cao Năm 2000, Phú Thọ mới chỉ đón được 69.509 lượt khách Năm 2012, tỉnh đã thu hút được 487.992 lượt khách, tốc
độ tăng bình quân là 17,63%/năm Đến năm 2013, tỉnh đón được 691.519 triệu lượt khách, trong đó có 4.880 triệu lượt khách quốc tế, 686.639 triệu lượt khách nội địa.Giá trị tăng thêm của du lịch đạt tốc độ tăng bình quân 16%/năm giai đoạn 2000-
2006 và 16,87%/năm giai đoạn 2006-2012 Tuy nhiên, khách quốc tế chiếm tỷ trọng quá nhỏ trong tổng lượng khách du lịch của tỉnh Tỷ trọng giá trị tăng thêm của du lịch so với giá trị tăng thêm toàn tỉnh còn thấp, năm 2012 mới đạt 1,61% Trong quá trình phát triển, ngành du lịch tỉnh Phú Thọ đang gặp phải một số khó khăn cần được tháo gỡ, đó là trình độ phát triển du lịch của tỉnh còn ở mức thấp so với mặt bằng chung của cả nước; chất lượng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn vừa thiếu,
Trang 8vừa yếu, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch; chất lượng và số lượng hạ tầng
dịch dịch vụ du lịch chưa cao; nhận thức của toàn dân về du lịch không đồng đều,…
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về kết quả phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ
giai đoạn 2000-2012
2000 Năm 2006 Năm 2012
Tốc độ PTBQ (%) 2000-
3.1.3 Lịch sử ra đời du lịch cội nguồn tỉnh Phú Thọ
“Dù ai đi ngược về xuôi; Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba”
Từ bao đời nay, câu ca ấy vẫn in sâu trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam
Và dù ở bất cứ nơi đâu, cứ đến ngày Giỗ Tổ là những người con mang dòng máu Việt
đều hướng về đất Tổ, nhớ về nguồn cội, tri ân công đức tổ tiên
Năm 1917, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 âm lịch được chính thức hóa
bằng luật pháp Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước
nhớ nguồn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22/SL-CTN ngày 18/2/1946
cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt
động Giỗ Tổ Hùng Vương - hướng về cội nguồn dân tộc Kể từ năm 2007 đến nay,
ngày 10/3 âm lịch đã trở thành ngày QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân
tộc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, hướng về cội nguồn Đó là những dấu
mốc quan trọng cho sự ra đời và phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
3.2 Thực trạng phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
3.2.1 Phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
Số lượng tài nguyên du lịch cội nguồn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2000-2012 được chúng tôi tổng hợp từ số liệu của Sở Văn hóa Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tỉnh Phú Thọ, thể hiện chi tiết trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Tổng hợp số lượng tài nguyên du lịch cội nguồn được xếp hạng
ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2000-2012
Tài nguyên du lịch
cội nguồn
Năm 2000 Năm 2012 Tổng
số
Cấp công nhận Tổng
số
Cấp công nhận Thế
giới Quốc gia Tỉnh Thế giới Quốc gia Tỉnh
Trang 9Theo kết quả thống kê, số lượng di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng Năm 2000, tổng số di tích được xếp hạng là 138 di tích, đến năm 2012 số di tích được xếp hạng đã tăng lên 286 di tích, trong đó di tích được xếp hạng Quốc gia là 74 di tích Số lượng di tích được xếp hạng tăng bình quân 7,67%/năm trong giai đoạn 2000-2006 và 4,87%/năm trong giai đoạn 2006-2012 Song, công tác bảo tồn di tích ở một số địa phương trong tỉnh vẫn chưa được coi trọng, còn thiếu chặt chẽ và chưa có quy chế quản lý cụ thể
Tỉnh Phú Thọ có 277 xã, thị trấn thì có tới 260 lễ hội, trong đó có 01 lễ hội đặc biệt cấp quốc gia (chiếm 0,38%), 33 lễ hội cấp vùng (chiếm 12,69%) và 226 lễ hội cấp cơ sở (chiếm 86,93%) (Hình 3.1) Trong thời gian qua, nhiều lễ hội dân gian ở Phú Thọ cũng được khôi phục trở lại Tính đến năm 2000, trên địa bàn tỉnh có 70 lễ hội đã được khôi phục, riêng năm 2000 khôi phục được 06 lễ hội, năm 2002 khôi phục thêm được 08 lễ hội
86,93%
12,69%
0,38%
Hình 3.1 Cơ cấu lễ hội các cấp quản lý ở tỉnh Phú Thọ
Số lượng di sản văn hóa được thế giới công nhận đã tăng lên 02 di sản Năm
2011, Hát Xoan Phú Thọ được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp Tiếp đó, ngày 6 tháng 12 năm 2012, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Năm 2010, Bảo tàng Hùng Vương ở trung tâm thành phố Việt Trì, được đưa vào
sử dụng đã đưa số lượng bảo tàng trên địa bàn tỉnh lên 02 bảo tàng Bảo tàng Hùng Vương là bảo tàng tổng hợp thuộc hệ thống Bảo tàng Việt Nam và Nhà bảo tàng Hùng Vương nằm trong khuôn viên của Khu Di tích lịch sử Đền Hùng
Tóm lại, tài nguyên du lịch cội nguồn của tỉnh trong thời gian qua tăng mạnh về
số lượng và chất lượng nhưng việc phát huy giá trị của tài nguyên để phục vụ phát triển
du lịch cội nguồn vẫn chưa được coi trọng và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết
Với sự đa dạng và hấp dẫn của tài nguyên du lịch cội nguồn tại điểm đến Phú Thọ đã khiến du khách tham gia vào nhiều hoạt động du lịch khi ở nơi đây Kết quả điều tra khách du lịch cội nguồn cho thấy, có 54,2% du khách tham gia nhiều hoạt động du lịch, 30,5% du khách đi tham quan tìm hiểu di tích lịch sử văn hóa Song, chỉ
có 10,7 % du khách tham quan tìm hiểu lễ hội và 1% du khách đi tham quan bảo tàng Như vậy, nhu cầu tìm hiểu của khách du lịch cội nguồn về lễ hội và các tài liệu, hiện
Trang 10vật tại bảo tàng Phú Thọ còn chiếm tỷ lệ nhỏ Đây là một câu hỏi đặt ra đối với quá trình phát triển du lịch cội nguồn tại Phú Thọ
Khi tiến hành đánh giá độ hấp dẫn và khả năng khai thác tài nguyên du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ, chúng tôi căn cứ vào các yếu tố chỉ tiêu đánh giá, thang điểm đánh giá, đặc điểm của từng loại tài nguyên để lượng hóa và phân hạng tài nguyên
Tài nguyên du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ được phân hạng theo tiêu thức lấy tổng số điểm thực tế đánh giá các yếu tố ở từng khu vực so với tổng số điểm tối
đa của các yếu tố (48 điểm) Kết quả đánh giá trong bảng 3.3 cho thấy cụm 1 và cụm
2 có tài nguyên du lịch cội nguồn thuộc loại 2, tức là tài nguyên du lịch cội nguồn ở 2 cụm du lịch này có ý nghĩa vùng và địa phương Theo tiêu thức phân hạng thì Việt Trì là khu vực có tài nguyên du lịch cội nguồn được xếp hạng 1 (95,83%) nên rất thuận lợi để phát triển du lịch cội nguồn Tiếp theo là các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên du lịch cội nguồn phục vụ
du lịch cần có kế hoạch, kịch bản cụ thể phù hợp với từng địa phương, phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh, của quốc gia và những yêu cầu về bảo vệ di sản quốc tế
Bảng 3.3 Kết quả đánh giá của chuyên gia về tài nguyên du lịch cội nguồn
3.2.2 Phát triển hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch ở tỉnh Phú Thọ
Số liệu tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ cho thấy hệ thống cơ sở vật chất -
kỹ thuật du lịch của tỉnh giai đoạn 2000-2013 có xu hướng tăng khá nhanh Năm 2000 toàn tỉnh có 12 cơ sở, 2.771 cơ sở ăn uống và không có doanh nghiệp lữ hành nào (Bảng 3.4) Đến năm 2013 năm, số khách sạn, nhà nghỉ ở Phú Thọ đã tăng lên 213 cơ sở, cơ sở
ăn uống là 4.937 cơ sở và 12 doanh nghiệp lữ hành Tổng số vốn của tỉnh Phú Thọ đầu
tư cho xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch giai đoạn 2006-2012 là 573 tỷ đồng
Trang 11Bảng 3.4 Số lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch ở tỉnh Phú Thọ
có khách sạn nào đạt tiêu chuẩn chất lượng sao, đến năm 2012 đã có 01 khách sạn 4 sao, 01 khách sạn 3 sao, 09 khách sạn 2 sao và 08 khách sạn 1 sao (Bảng 3.5) Tuy nhiên, theo kết quả đánh giá của cán bộ quản lý nhà nước về du lịch và khách du lịch thì hầu hết các nhà nghỉ mới chỉ cơ bản đáp ứng nhu cầu lưu trú; các nhà hàng ăn uống có quy mô nhỏ, bài trí đơn giản, các món ăn chưa phong phú; các cơ sở lữ hành
có năng lực yếu, chưa phát huy được vai trò cầu nối trong phát triển du lịch cội nguồn
Bảng 3.5 Phân loại khách sạn theo tiêu chuẩn sao tại Phú Thọ năm 2012
Theo đánh giá của khách du lịch cội nguồn, có tới 24,3% du khách đánh giá chất lượng cơ sở vật chất - kỹ thuật của dịch vụ giải trí là kém và rất kém; 13,1% du khách đánh giá chất lượng cơ sở vật chất - kỹ thuật của dịch vụ lưu trú là kém và rất kém; 17,7% du khách đánh giá dịch vụ ăn uống là kém và rất kém; chất lượng hàng lưu niệm có 10,5% du khách đánh giá là kém và rất kém
Theo kết quả điều tra, có tới hơn 1/2 khách du lịch cội nguồn đánh giá giá dịch
vụ ăn uống là đắt (49%) và quá đắt (3,2%) Các loại dịch vụ có mức giá đắt và quá đắt là dịch vụ vận chuyển (33,9%), dịch vụ lưu trú (31,6%), dịch vụ giải trí (37,1%)
và hàng lưu niệm (43,1%) (Bảng 3.6) Nhìn vào những con số trên cho thấy, các cơ
sở dịch vụ du lịch cần xây dựng chiến lược giá sao cho phù hợp để cải thiện cái nhìn của du khách về dịch vụ du lịch tại Phú Thọ
Tóm lại, trong giai đoạn 2000-2013 hệ thống các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch cội nguồn ở Phú Thọ có xu hướng tăng nhưng chất lượng còn thấp, giá dịch vụ vẫn còn cao Nguyên nhân chính là do các cơ sở này thiếu vốn, thiếu đội ngũ lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn Do đó, tỉnh Phú Thọ cần có giải pháp đối với hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật để phục vụ tốt hơn cho khách du lịch cội nguồn
Trang 12Bảng 3.6 Tỷ lệ khách du lịch cội nguồn đánh giá về giá dịch vụ du lịch
3.2.3 Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch cội nguồn tỉnh Phú Thọ
Tổng hợp số liệu từ Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ và Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh Phú Thọ, chúng tôi đã thể hiện được tình hình lao động du lịch cội nguồn
ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2000-2012 (Bảng 3.7) Số liệu trong bảng cho thấy, số lượng lao động cho du lịch cội nguồn tỉnh Phú Thọ tăng mạnh qua các năm Năm
2000 lực lượng này là 375 người, đến năm 2012 đã tăng lên 2.250 người
Bảng 3.7 Tình hình lao động du lịch cội nguồn tỉnh Phú Thọ
du lịch cội nguồn đánh giá về sự phục vụ của lao động du lịch (Bảng 3.8), có 24,2%
du khách nhận định sự phục vụ của nhân viên tại các khu vui chơi, giải trí là kém; hơn 10% du khách đánh giá nhân viên tại nhà hàng, nhà nghỉ, khách sạn và hướng dẫn viên du lịch là kém
Nguyên nhân của những hạn chế trên là tỷ lệ lao động làm việc tại các cơ sở du lịch được đào tạo về nghề du lịch chỉ đạt khoảng 30% Bên cạnh đó, cơ cấu lao động không hợp lý, số lao động trong cơ sở lưu trú ít so với số phòng (0,45 người/phòng, quy định là 1,5 - 2 người/phòng) Đây là những bất cập về nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ cần sớm được khắc phục
Trang 13Bảng 3.8 Tỷ lệ khách du lịch cội nguồn đánh giá về sự phục vụ của lao động du lịch
3.2.4 Tăng cường xúc tiến du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
Trong thời gian qua, việc giới thiệu, quảng bá về du lịch cội nguồn của Phú Thọ
đã có sự cộng tác của nhiều đơn vị như Báo Phú Thọ điện tử, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Nhiều thông tin về du lịch cội nguồn của tỉnh đã được các trang web dẫn lại nguồn Mặt khác, nhiều đơn vị, doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến việc quảng bá hình ảnh về đất Tổ và thông tin du lịch cội nguồn trên internet
Kết quả điều tra khách du lịch cội nguồn về nguồn thông tin du lịch ở tỉnh Phú Thọ cho thấy, chủ yếu du khách có thông tin về du lịch cội nguồn tại Phú Thọ là thông qua nhiều nguồn (43,7%), từ bạn bè, người thân (23,7%) và truyền hình (20,6%) Còn thông tin từ báo chí, internet và đặc biệt là thông tin du lịch cội nguồn từ doanh nghiệp
lữ hành đến với du khách còn chiếm tỷ lệ quá thấp, chỉ 1,1% (Hình 3.2) Điều này cũng cho thấy, các hãng lữ hành chưa phát huy được vai trò cung cấp thông tin về du lịch cội nguồn đến với du khách
1,1 4,0 6,9
20,6 23,7
43,7
Hãng lữ hành Internet Báo chí Truyền hình Bạn bè, người thân Nhiều nguồn
Trang 143.2.5 Nâng cao kết quả và đóng góp của du lịch cội nguồn cho phát triển kinh tế
xã hội ở tỉnh Phú Thọ
3.2.5.1 Lượng khách du lịch cội nguồn
Trong giai đoạn 2000-2013, lượng khách du lịch cội nguồn đến Phú Thọ liên tục tăng với mức tăng trưởng tương đối cao Theo kết quả tổng hợp từ số liệu của Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2000 tỉnh Phú Thọ mới chỉ đón được 66.033 lượt khách và 1,5 triệu lượt khách tham quan, đến năm
2013 tỉnh đã đón 553.215 lượt khách lưu trú và 6,2 triệu lượt khách tham quan Song, khách du lịch cội nguồn đến Phú Thọ chủ yếu là khách nội địa (chiếm trên 97%) như thể hiện trong hình 3.3
50 60 70 80 90 100
(%)
Năm
Hình 3.3 Cơ cấu khách du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
theo nguồn khách nội địa và quốc tế
3.2.5.2 Chi tiêu của khách du lịch cội nguồn
Theo số liệu điều tra năm 2012, mức chi tiêu của du khách rất thấp, có đến hơn 60% du khách chỉ chi tiêu chưa đến 500 nghìn đồng khi ở Phú Thọ, trong đó tỷ lệ du khách chi tiêu chỉ từ 101-300 nghìn đồng chiếm tới 43,5% (Hình 3.4)
Từ kết quả trên cho thấy, một vấn đề rất lớn đặt ra đối với phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ là phải làm thế nào để giữ chân du khách, để du khách chi tiêu nhiều hơn trong chuyến du lịch của mình
3.2.5.3 Đóng góp của du lịch cội nguồn cho phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Phú Thọ
Trong giai đoạn 2000-2012, du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ đã đạt được