Tên luận án: Nghiên cứu phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ 2. Thông tin về nghiên cứu sinh: Họ và tên nghiên cứu sinh: Lê Thị Thanh Thủy Năm nhập học: 2009; Năm tốt nghiệp: 2015 Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp; Mã số: 62 62 01 15 Người hướng dẫn: 1. TS. Đinh Văn Đãn; 2. PGS. TS Kim Thị Dung Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam 3. Giới thiệu về luận án Du lịch cội nguồn, một loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã trở thành nét văn hoá, mang tính nhân văn cao trong đời sống của con người. Phát triển du lịch cội nguồn sẽ phát huy được giá trị kinh tế và nâng cao giá trị văn hoá của địa phương. Nghiên cứu phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và khái quát hơn những vấn đề thực tiễn về phát triển du lịch cội nguồn. Đồng thời, đánh giá có hệ thống về thực trạng phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 20002012, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2020. 4. Đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án Về mặt học thuật: Du lịch cội nguồn là sự kết hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân của khách du lịch đối với công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc tại các viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hóa, các di sản văn hóa hay các lễ hội địa phương, đồng thời thỏa mãn mục đích của các chủ thể tham gia trong mối quan hệ đó. Phát triển du lịch cội nguồn là quá trình vận động tiến lên của hoạt động du lịch cội nguồn từ không có đến có, từ ít đến nhiều, từ đơn điệu đến đa dạng, từ chất lượng thấp đến chất lượng cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chỉ có mục tiêu kinh tế đến có mục tiêu tổng hợp (kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và môi trường), đồng thời quá trình này mang tính ổn định, tạo ra thu nhập, góp phần nâng cao đời sống cho người dân ở địa phương. Về mặt lý luận:Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch cội nguồn trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là khái niệm phát triển du lịch cội nguồn và nội dung phát triển du lịch cội nguồn. Đồng thời, khái quát những kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn ở trong và ngoài nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ. Các đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận nói trên được vận dụng trong toàn bộ nội dung phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN
Ở TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ
để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2015
Tác giả luận án
Lê Thị Thanh Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý đào tạo, các thầy/cô giáo của khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách đã tạo điều kiện, giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đinh Văn Đãn và PGS.TS Kim Thị Dung đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn chỉnh luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND tỉnh Phú Thọ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, phòng Văn hóa các huyện, Ban lãnh đạo khu Di tích lịch sử Đền Hùng, UBND xã Hy Cương và các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đã nhiệt tình đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu, thông tin và hỗ trợ thu thập số liệu để tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Trường Đại học Hùng Vương - Phú Thọ, Khoa Kinh tế và QTKD đã ủng hộ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp cùng toàn thể những người đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập, tìm kiếm tài liệu cũng như sự ủng hộ, động viên của gia đình tôi trong thời gian qua
Một lần nữa, cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các cơ quan, đơn vị
và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án này
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2015
Tác giả luận án
Lê Thị Thanh Thủy
Trang 5Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn 4
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cội nguồn 25 1.2 Thực tiễn phát triển du lịch cội nguồn ở trong và ngoài nước, bài học
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn ở một số nước 30 1.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn của một số địa phương ở
1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn cho tỉnh Phú Thọ 37 1.3 Các nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn 38
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN 42 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ 42
2.2.2 Khung phân tích phát triển du lịch cội nguồn 46
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN Ở TỈNH
Trang 73.3.3 Cơ sở hạ tầng ở tỉnh Phú Thọ 106
3.3.6 Đặc điểm và vai trò của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch cội
3.3.7 Môi trường an ninh, an toàn cho khách du lịch cội nguồn 120 Chương 4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN DU
4.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh
4.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch cội nguồn 140 4.2.6 Xây dựng trang web và chiến lược xúc tiến du lịch cội nguồn 141 4.2.7 Tăng cường vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch cội nguồn 144
Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 151
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Mục đích và địa bàn hoạt động của một số loại hình du lịch 9 2.1 Dân số, lao động của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2000-2012 43 2.2 Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2000-2012 44
2.4 Tổng hợp số lượng mẫu điều tra cho phát triển du lịch cội nguồn 50 2.5 Chỉ tiêu và thang điểm đánh giá sự phù hợp của tài nguyên du lịch
2.6 Chỉ tiêu và thang điểm đánh giá tính đa dạng và tính độc đáo của
2.7 Chỉ tiêu và thang điểm đánh giá sức chứa khách du lịch cội nguồn 53 2.8 Chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch cội nguồn 61 3.1 Một số chỉ tiêu về kết quả phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ giai
3.4 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời về các hoạt động của khách du lịch
3.5 Kết quả đánh giá của chuyên gia về tài nguyên du lịch cội nguồn ở
Trang 103.9 Tỷ lệ khách du lịch cội nguồn đánh giá về giá dịch vụ du lịch tại
3.13 Tỷ lệ ý kiến trả lời của các hộ điều tra về tác động của du lịch cội
nguồn đến thu nhập, đời sống tinh thần và cơ hội việc làm trên địa
3.14 Một số chính sách liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh
3.16 Kết quả phân tích ảnh hưởng của chất lượng đường giao thông tại
Phú Thọ tới dự định trở lại của khách du lịch cội nguồn 108 3.17 Tỷ lệ khách du lịch cội nguồn đánh giá về chất lượng cơ sở hạ tầng
3.20 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha của các nhân tố ảnh hưởng
tới sự hài lòng của khách du lịch cội nguồn khi đến Phú Thọ 113 3.21 Kết quả mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới sự hài
lòng của khách du lịch cội nguồn khi đến Phú Thọ 114 3.22 Tần suất tham gia các hoạt động du lịch cội nguồn của cộng đồng 118 3.23 Kết quả phân tích ảnh hưởng của năng lực tổ chức hoạt động du
lịch tại Phú Thọ tới dự định trở lại của khách du lịch cội nguồn 119 4.1 Dự báo lượng khách, tổng thu từ khách và giá trị tăng thêm du lịch
Trang 114.2 Đề xuất ban hành và hoàn thiện một số chính sách liên quan đến
phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ 126 4.3 Đề xuất hoạt động bảo tồn và phát triển tiềm năng du lịch cội
4.4 Đề xuất một số chuyến du lịch cội nguồn nội tỉnh ở Phú Thọ 137 4.5 Đề xuất kế hoạch đào tạo cho lao động du lịch cội nguồn tỉnh Phú Thọ 141 4.6 Định hướng nhóm khách du lịch cội nguồn mục tiêu 143 4.7 Đề xuất một số hoạt động xúc tiến phát triển du lịch cội nguồn ở
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
3.1 Bản đồ tỉnh Phú Thọ và mối liên hệ du lịch vùng 66 3.2 Quy hoạch phát triển không gian Khu Di tích lịch sử Đền Hùng 101 3.3 Bản đồ đánh giá tài nguyên du lịch tỉnh Phú Thọ 102 3.4 Bản đồ tổ chức không gian và tuyến, điểm du lịch ở tỉnh Phú Thọ 104
DANH MỤC CÁC HÌNH
3.2 Cơ cấu khách du lịch cội nguồn theo hình thức tổ chức 85 3.3 Tỷ lệ ý kiến trả lời của khách du lịch về nguồn thông tin du lịch
3.4 Cơ cấu khách du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ theo nguồn khách
3.5 Cơ cấu khách du lịch cội nguồn theo mức chi tiêu bình quân
Trang 132.1 Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia phát triển du lịch cội nguồn 46
2.3 Mô hình nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới sự hài
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch cội nguồn, một loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã trở thành nét văn hóa, mang tính nhân văn cao trong đời sống của con người Và đặc biệt, ở Việt Nam - một quốc gia với bề dày lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa đan xen trong một khối lượng khổng lồ những di tích nổi tiếng, gắn kết, hòa quyện cùng những danh lam thắng cảnh và khu vực sinh thái đa dạng, độc đáo - du lịch cội nguồn là một hoạt động văn hóa đặc sắc, một loại hình du lịch đặc biệt hấp dẫn, là nét riêng của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Du lịch cội nguồn đem lại nhiều giá trị cả về kinh tế và văn hóa, góp phần thắp lên ngọn lửa mãnh liệt về tình yêu quê hương đất nước, yêu dân tộc Phát triển du lịch cội nguồn sẽ phát huy được giá trị kinh tế và nâng cao giá trị văn hóa của địa phương, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân trên địa bàn
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, là cửa ngõ Tây Bắc thủ đô
Hà Nội và là cầu nối vùng Tây Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Phú Thọ chính
là nơi đặt Mộ Tổ Vua Hùng, mảnh đất trải qua mấy ngàn năm lịch sử còn tồn tại và lưu giữ rất nhiều giá trị nhân văn vô cùng phong phú Lợi thế nổi bật của du lịch Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam với 02 di sản văn hóa thế giới, 1.372 di tích lịch sử văn hóa, 260 lễ hội, hơn 13.000 hiện vật qua các thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước Trong đó, Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng là một không gian văn hóa có một không hai, vô cùng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2012) Đến Phú Thọ, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu một kho tàng di sản văn hóa vô giá, tìm hiểu về nơi phát tích của người Việt cổ và về mảnh đất nơi khởi nguồn cho sự phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam (Bùi Tuyết Mai, 2001) Qua đó, du khách sẽ càng thêm trân trọng nguồn cội, tự hào về truyền thống yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc
Trong giai đoạn 2000-2012, ngành du lịch tỉnh Phú Thọ nói chung và du lịch cội nguồn nói riêng, đã có những chuyển biến tích cực Nhiều văn bản pháp quy, quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, đề án bảo vệ và phát huy giá trị của di tích
Trang 15lịch sử được ban hành Hàng năm, tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cho các dự án tu
bổ, tôn tạo di tích lịch sử Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cội nguồn bước đầu được quan tâm đầu tư Lượng khách du lịch cội nguồn tăng bình quân 17,05%/năm, tổng thu từ khách du lịch cội nguồn tăng 13,02%/năm (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2012) Những kết quả đó phần nào đã đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu, tri ân của du khách trong và ngoài nước về lịch sử cội nguồn dân tộc Việt Nam Song, du lịch cội nguồn phát triển vẫn chưa tương xứng với lợi thế của tỉnh và đang phải đối mặt với nhiều yếu kém như chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch thấp, vấn đề nghiên cứu thị trường còn hạn chế, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu, số ngày lưu trú và chi tiêu của khách du lịch cội nguồn thấp, việc phát huy giá trị của tài nguyên du lịch cội nguồn chưa được đẩy mạnh, du lịch cội nguồn chưa góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế ở địa phương, năm 2012 tỷ trọng giá trị tăng thêm của du lịch cội nguồn so với giá trị tăng thêm toàn tỉnh mới chỉ đạt 1,29% (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2012) Vậy, tại sao du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ chưa phát triển? Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh là gì? Và làm thế nào để phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ? là những câu hỏi cấp thiết đang được đặt ra đối với các cấp chính quyền và người dân trong tỉnh Để trả lời được các câu hỏi này cần phải có một nghiên cứu toàn diện và công phu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ,
từ đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh Phú Thọ
Trang 163 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng cũng như giải pháp liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn
Khách thể nghiên cứu là các tác nhân liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn như cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và khách du lịch cội nguồn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu tập trung trong giai đoạn
2000-2013, các số liệu khảo sát tập trung trong năm 2012, dự báo và các giải pháp đề xuất đến năm 2020
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu phát triển du lịch cội nguồn (cội nguồn dân tộc) bao gồm các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về phát triển du lịch cội nguồn, thực trạng và nhân tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch cội nguồn, các giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
4 Đóng góp của luận án
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch cội nguồn trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là khái niệm phát triển du lịch cội nguồn và nội dung phát triển du lịch cội nguồn Đồng thời, khái quát những kinh nghiệm phát triển du lịch cội nguồn ở trong và ngoài nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá có hệ thống về thực trạng phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2000-2013 Phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là phân tích hồi quy phản ánh mức độ ảnh hưởng của 5 biến độc lập tới sự hài lòng của khách du lịch cội nguồn khi đến Phú Thọ
- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ Dự báo đến năm 2020, lượng khách du lịch cội nguồn đến Phú Thọ sẽ đạt 804.231 lượt khách, giá trị tăng thêm của du lịch cội nguồn đạt 495,08 tỷ đồng với tốc độ tăng bình quân đạt 8,31%/năm
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘI NGUỒN
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch cội nguồn
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn
1.1.1.1 Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế, văn hóa - xã hội phổ biến, đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người Tuy nhiên, khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trước thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế, văn hóa và xã hội, việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhất khái niệm du lịch là một đòi hỏi cần thiết
Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa (United Nations, 1963): Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi
họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ Định nghĩa này được đưa ra với mục đích quốc tế hóa du lịch và đã trở thành cơ sở cho định nghĩa du khách
Theo Luật Du lịch (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005): Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Ở đây, du lịch được coi là một hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi
Như vậy, du lịch được xem như một hiện tượng, một hoạt động đáp ứng mong muốn của du khách Trên thực tế, du lịch là một hoạt động kinh doanh đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Vì vậy, để xem xét du lịch một cách toàn diện thì cần phải cân nhắc tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ Do đó, Coltman (1989) đưa ra một định
Trang 18nghĩa rất ngắn gọn về du lịch như sau: Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch
Các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch bao gồm:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến (Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005) Hay khách du lịchlà những người khởi hành khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình với các mục đích khác nhau nhưng không nhằm mục đích lao động kiếm lời, họ là người quyết định nơi đến du lịch và các hoạt động tham quan, vui chơi, nghỉ ngơi, nghiên cứu,… trong chuyến đi (Trần Đức Thanh, 2004; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008)
Cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch là đơn vị cung cấp hàng hóa-dịch vụ du lịch (dịch vụ lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, hàng lưu niệm,…) nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch (Trần Đức Thanh, 2004; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008)
Dân cư sở tại là những người dân ở địa phương, coi du lịch như một trong các nhân tố tạo công ăn việc làm, thu nhập và giao lưu văn hóa (Trần Đức Thanh, 2004; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Người dân ở địa phương được tạo điều kiện để đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, ngành, nghề thủ công truyền thống; sản xuất hàng hóa của địa phương phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005)
Chính quyền địa phương là cơ quan nhìn nhận du lịch như một nhân tố có tác dụng tốt cho sự phát triển kinh tế của địa phương thông qua triển vọng về thu nhập cho ngân quỹ thu được từ các hoạt động kinh doanh của dân cư địa phương, chi tiêu của khách du lịch (Trần Đức Thanh, 2004; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008)
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Du lịch là sự kết hợp các hiện tượng và
các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các cơ sở kinh
Trang 19doanh dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách trong một thời gian nhất định, đồng thời thỏa mãn mục đích của các chủ thể tham gia trong mối quan hệ đó
1.1.1.2 Khái niệm du lịch cội nguồn
Trong Đại từ điển tiếng Việt, cội nguồn được hiểu là nơi nảy sinh, sinh ra,
nơi bắt đầu, khởi thủy (Nguyễn Như Ý, 1999) Cội nguồn là minh chứng của quá khứ mang tính lịch sử, được thể hiện thông qua tài nguyên văn hóa như các hoạt động lễ hội, phong tục tập quán, tài liệu tại các viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hóa, các di sản văn hóa
Theo nghiên cứu của Trường Đại học Texas A & M (Mỹ) kết hợp với trường Đại học Nam Úc (Australia) năm 2010: Du lịch cội nguồn là một loại hình du lịch, trong đó người dân đi thăm vùng đất tổ tiên của họ để tìm ra nguồn gốc dân tộc và
văn hóa (Maruyama et al., 2010) Nghiên cứu này đề cập đến cách thức và cảm
nhận mà người Mỹ (gốc Trung Quốc), từ thế hệ thứ hai trở đi, muốn tìm lại danh tính của họ sau khi đi thăm Trung Quốc và nghiên cứu cũng cho thấy sự phức tạp, hạn chế để tăng cường ý thức thuộc về vùng đất tổ tiên của người dân thông qua du lịch cội nguồn
Theo Nguyễn Tiến Khôi (2013), du lịch cội nguồn là trở về với tổ tiên, ông cha cùng những chứng nhân lịch sử của dân tộc, trở về những giá trị truyền thống của dân tộc Hay du lịch cội nguồn là đi du lịch để thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân công đức tổ tiên, chứng nhân lịch sử của dân tộc và giá trị truyền thống của dân tộc
Các đối tượng liên quan đến du lịch cội nguồn bao gồm khách du lịch cội nguồn, tài nguyên du lịch cội nguồn và phạm vi hoạt động của du lịch cội nguồn Tham gia hoạt động du lịch cội nguồn, khách du lịch có cơ hội tham quan, tri ân và nâng cao hiểu biết về nguồn gốc sự kiện, nhân vật lịch sử, nguồn gốc dân tộc và giá trị nhân văn Cụ thể:
Khách du lịch cội nguồn là những khách du lịch có mục đích tham quan, tìm hiểu, tri ân công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc
Trang 20Phạm vi hoạt động của khách du lịch cội nguồn là viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hóa, các di sản văn hóa hay các lễ hội địa phương Trong đó:
Viện bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009) Mục đích của viện bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ
Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009) Nó là tài sản văn hóa quý giá của mỗi dân tộc, là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hóa của mỗi nước, chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia Theo Chu Huy (2004), di tích lịch sử văn hóa là các công trình kiến trúc vật chất như các đình, chùa, đền, miếu,… phản ánh nguồn cội và tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được Nhà nước công nhận hoặc cộng đồng dân cư giữ gìn, bảo vệ
và tôn tạo Một trong những vấn đề quan trọng trong việc xác định các di tích lịch
sử văn hóa chính là việc đánh giá đúng giá trị của các di tích Theo các thang giá trị khác nhau, các di tích cũng được phân thành những cấp khác nhau: các di tích cấp quốc gia và địa phương, những di tích có giá trị đặc biệt được coi là di sản thế giới
Di sản văn hóa là tài nguyên quý giá và là toàn bộ kết quả sáng tạo văn hóa của các thế hệ trước để lại (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009; Lê Thị Vân, 2008) Di sản văn hóa gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ
Trang 21công truyền thống, tri thức y học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc, (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009)
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân
cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch
sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội (Bùi Thiết, 2000; Dương Văn Sáu, 2004) Lễ hội là những hoạt động, sinh hoạt văn hóa mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung và hình thức của hai thành tố cơ bản là
Lễ và Hội Ngoài ra, trong hoạt động lễ hội còn bao gồm một số thành tố khác như
hệ thống các tục hèm, các trò diễn dân gian, hoạt động hội trợ triển lãm và văn hóa
ẩm thực,… (Dương Văn Sáu, 2004) Như vậy, lễ hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dân tiến hành, luôn gắn với các địa bàn dân cư cụ thể và là hoạt động văn hóa của địa phương
Tóm lại, có thể hiểu du lịch cội nguồn là sự kết hợp các hiện tượng và các
mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân của khách du lịch đối với công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc tại các viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hóa, các di sản văn hóa hay các lễ hội địa phương, đồng thời thỏa mãn mục đích của các chủ thể tham gia trong mối quan hệ đó
1.1.1.3 Phân biệt du lịch cội nguồn với một số loại hình du lịch khác
Du lịch cội nguồn là loại hình du lịch được phân định theo mục đích chuyến
đi Do đó, để phân biệt du lịch cội nguồn và các loại hình du lịch khác thì phải căn
cứ vào mục đích của từng loại hình du lịch Mục đích của loại hình du lịch cội nguồn là nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân của khách du lịch đối với công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc tại các
viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hóa, các di sản văn hóa hay các lễ hội
Để thấy được sự khác biệt của loại hình du lịch cội nguồn so với các loại hình du lịch khác, chúng ta xem xét ở một số khía cạnh về mục đích chuyến đi và địa bàn hoạt động của các loại hình du lịch này (Bảng 1.1)
Trang 22- Du lịch văn hóa
Mục đích chính của du lịch văn hóa là nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa ở các địa danh, bảo tàng, di tích, thánh địa và chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục, tập quán của đất nước du lịch (Trần Thị Mai, 2009) Du lịch văn hóa gồm du lịch văn hóa với mục đích cụ thể và du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp (Nguyễn Văn Đính và
Trần Thị Minh Hòa, 2008) Ở góc độ nhỏ hơn, mục đích của du lịch cội nguồn là
thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc Khi xem xét du lịch văn hóa với mục đích cụ thể cho
thấy du lịch cội nguồn là một bộ phận của du lịch văn hóa
Bảng 1.1 Mục đích và địa bàn hoạt động của một số loại hình du lịch
Du lịch
cội nguồn
Tham quan, tìm hiểu, tri ân công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc
Di sản văn hóa, di tích lịch sử, bảo tàng, lễ hội
Du lịch
văn hóa
Nâng cao hiểu biết về lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, phong tục tập quán và cuộc sống của người dân
Địa danh, bảo tàng, di tích, lễ hội, di sản, thánh địa, khu giáo dân
- Du lịch tâm linh
Mục đích chính của du lịch tâm linh là mang lại nhận thức đầy đủ hơn của mỗi cá nhân đối với các giá trị tâm linh Con người cảm thấy sự thanh thản, nhẹ
Trang 23nhàng, tâm an lạc, không vọng đọng, không chiều theo dục vọng thấp hèn về vật chất Du lịch tâm linh mang lại giá trị của tình yêu thương con người thật sự cho chính bản thân cá nhân đó, đồng thời mỗi cá nhân lại mang đến sự bình yên, an lạc cho những người xung quanh Nói cách khác, đi du lịch tâm linh, du khách được thực hiện một cuộc hành hương về vùng đất thiêng và tìm kiếm nơi trú ngụ bình yên, thanh thản cho tâm hồn, cho tâm hồn con người được thanh tịnh và thoát tục Nơi đến của khách du lịch tâm linh là đền, chùa, thánh tích (Thích Đạt Đạo, 2010)
Du lịch tâm linh tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống Thăm viếng bằng tâm trí, trái tim Nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh Du lịch tâm linh giúp du khách nâng cao được giá trị tâm hồn và hiểu rõ hơn về tâm linh (Thích Đạt Đạo, 2010)
Abdulkalam (2004) đã khẳng định: “Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các địa danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết,…”
Như vậy, nếu phân theo mục đích chuyến đi thì loại hình du lịch tâm khác hẳn với loại hình linh du lịch cội nguồn
- Du lịch tôn giáo
Du lịch tôn giáo là các chuyến đi nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của con người theo các tôn giáo khác nhau như truyền giáo của tu sĩ, thực hiện các nghi lễ tôn giáo tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Vì vậy, nơi tổ chức loại hình du lịch này là các địa bàn liên quan đến hoạt động tôn giáo hoặc lịch sử tôn giáo như các chùa, thánh địa, khu giáo dân Các trung tâm nổi tiếng của du lịch tôn giáo là Thánh địa Vatican, Gieruxalem, ở Việt Nam có Toà thánh Cao Đài Tây Ninh, nhà thờ Phát Diệm, Thánh địa Lavang
Khác với du lịch cội nguồn, du lịch tôn giáo là hoạt động du lịch nhằm để thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tức là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng hay thỏa mãn niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó
Trang 24- Du lịch thăm thân
Loại hình du lịch thăm thân phần lớn nảy sinh do nhu cầu của những người
xa quê hương đi thăm hỏi bà con họ hàng, bạn bè thân quen, đi dự lễ cưới,… trong khi đó, khách du lịch cội nguồn tham gia hoạt động du lịch chủ yếu với nhu cầu tìm hiểu nguồn cội và nâng cao hiểu biết về nguồn gốc dân tộc Theo đó, du lịch cội nguồn khác hẳn với lịch du lịch thăm thân
- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí
Khác với du lịch cội nguồn, nhu cầu chính của khách du lịch trong du lịch nghỉ ngơi, giải trí là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày Còn du lịch cội nguồn là một hoạt động, một công cụ văn hóa đem lại giá trị nhận thức nhiều hơn giá trị giải trí cho khách du lịch
1.1.1.4 Khái niệm phát triển du lịch cội nguồn
a) Khái niệm phát triển
Có nhiều quan điểm khác nhau khi xem xét về sự phát triển Trong Triết học, phát triển được đề cập dưới 2 quan điểm đối lập nhau, đó là quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2006):
Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không
có những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp
Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển
là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời Sự
Trang 25phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất,
là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như
sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2006): Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển bao giờ cũng xuất phát từ thực tế Phát triển từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh, bao hàm trong
đó một số giai đoạn phát triển có cả đường cong, đường dích dắc, vừa liên tục vừa đứt đoạn, vừa có tính phổ biến vừa mang tính đặc thù Ðó là một quá trình tích lũy
và chuyển hóa không ngừng giữa lượng và chất, thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập theo con đường phủ định của phủ định Nó bao hàm cả những bước tiệm tiến và cả những bước nhảy vọt Trong quá trình phát triển của mình, trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên
hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2006)
Theo Nguyễn Ngọc Nông (2004), trong xã hội có rất nhiều ngành nghề khác nhau, các ngành nghề đó hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau Sự gia tăng về số lượng, chất lượng của các hoạt động dẫn đến sự phát triển của chính hoạt động ngành nghề đó Sự phát triển bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp Ông cho rằng: Phát triển là xu hướng tự nhiên của mỗi cá nhân hoặc cộng đồng người, là từ
mà con người đưa ra làm mục tiêu cho từng ý tưởng và việc làm của mình, là mục đích mà con người vươn tới
Trong xã hội, sự phát triển của mỗi cá thể, mỗi tổ chức đều có thể làm ảnh hưởng đến những cá thể khác và ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn xã hội Mặt khác, những chủ trương, đường lối, chính sách, những chương trình phát triển của một quốc gia cũng đều có tác động mạnh mẽ đến mỗi cá thể trong xã hội Những tác
Trang 26động qua lại đó có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển của một quốc gia, một cộng đồng nhưng cũng có thể làm ngưng trệ sự phát triển hoặc đẩy lùi sự phát triển Qua đó cho thấy, phát triển tác động đến con người theo cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp đó là sự cải thiện về đời sống vật chất và tinh thần Mục đích của sự phát triển là nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của con người (Nguyễn Ngọc Nông, 2004) Vì vậy, chúng ta cần cố gắng để đạt được sự phát triển theo cách mà
nó đem lại lợi ích cho hầu hết mọi người trong xã hội
Tóm lại, có thể hiểu phát triển là quá trình vận động tiến lên từ không có đến
có, từ ít đến nhiều, từ đơn điệu đến đa dạng, từ chất lượng thấp đến chất lượng cao,
từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chỉ có mục tiêu kinh tế đến có mục tiêu tổng hợp
b) Khái niệm phát triển du lịch cội nguồn
Phát triển du lịch cội nguồn là quá trình mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tài nguyên du lịch cội nguồn, dịch vụ du lịch cội nguồn, thu hút khách du lịch cội nguồn, góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận của hoạt động du lịch cội nguồn và thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, môi trường ở địa phương (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2006; Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005) Phát triển du lịch cội nguồn có nghĩa là sự tăng lên về số lượng và chất lượng
du lịch tại khu vực có tài nguyên du lịch cuội nguồn Có nghĩa là sự kết hợp các hiện tượng, các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các
cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, tri ân của khách du lịch đối với công đức tổ tiên, nhân chứng lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc tại các viện bảo tàng, các di tích lịch sử văn hoá, các di sản văn hoá hay các lễ hội địa phương và mục đích của các chủ thể khác tham gia vào các mối quan hệ đó với xu hướng ngày càng rộng hơn, chất lượng hơn, đa dạng hơn, hấp dẫn hơn và cũng hoàn thiện hơn
Phát triển các hoạt động du lịch cội nguồn phải đáp ứng được các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và quan tâm đến người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch cội nguồn
Trang 27trong tương lai (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005) Phát triển du lịch cội nguồn cần có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, môi trường trong khi vẫn duy trì được sự toàn vẹn về giá trị văn hóa của dân tộc (Dương Văn Sáu, 2004; Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005) Điều quan trọng trong phát triển du lịch cội nguồn là bảo đảm sự cân bằng giữa số lượng và chất lượng; giữa khai thác và bảo vệ, tôn tạo nguồn tài nguyên du lịch cội nguồn; cân đối giữa yêu cầu phát triển và khả năng quản lý, trong đó nguồn nhân lực du lịch cội nguồn đóng vai trò then chốt để hướng tới sự phát triển bền vững (Dương Văn Sáu, 2004) Phát triển du lịch cội nguồn phải đảm bảo tính bền vững, đó là quá trình phát triển cân đối, sự kết hợp đồng bộ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch cội nguồn và giữa các mặt kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường của địa phương Các mặt trong tổng thể đó luôn có mối quan hệ qua lại, gắn bó, hỗ trợ, tác động lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển hoặc cũng có thể kìm hãm nhau nếu sự kết hợp đó không khoa học (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2006)
Từ những phân tích trên, theo nghĩa rộng có thể hiểu phát triển du lịch cội
nguồn là quá trình vận động tiến lên của hoạt động du lịch cội nguồn từ không có đến có, từ ít đến nhiều, từ đơn điệu đến đa dạng, từ chất lượng thấp đến chất lượng cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chỉ có mục tiêu kinh tế đến có mục tiêu tổng hợp (kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và môi trường), đồng thời quá trình này mang tính ổn định, tạo ra thu nhập, góp phần nâng cao đời sống cho người dân ở địa phương
Theo nghĩa hẹp, phát triển du lịch cội nguồn là sự tăng lên về giá trị và số
lượng tài nguyên du lịch cội nguồn, tăng lên về số lượng và chất lượng cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực cho du lịch cội nguồn, xúc tiến du lịch cội nguồn Đồng thời, gia tăng kết quả và đóng góp của du lịch cội nguồn cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Trong quá trình nghiên cứu phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh Phú Thọ, luận
án phân tích các nội dung phát triển du lịch cội nguồn theo nghĩa hẹp và phát triển
du lịch cội nguồn đảm bảo theo nguyên tắc được quy định trong Luật du lịch (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005):
Trang 28Phát triển du lịch cội nguồn bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá - lịch sử; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch cội nguồn
Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch cội nguồn, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch cội nguồn
Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch cội nguồn
Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
Phát triển đồng thời du lịch cội nguồn trong nước và quốc tế, tăng cường thu hút ngày càng nhiều khách du lịch cội nguồn nước ngoài vào Việt Nam
1.1.2 Vai trò của phát triển du lịch cội nguồn
Việc phát triển du lịch cội nguồn kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, sản phẩm du lịch cội nguồn cũng mang tính liên ngành và có quan hệ với nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Nó thường mang tính đặc thù và không thể so sánh giá cả của nơi này với nơi khác, vì ở mỗi khu vực có những điều kiện phát triển
du lịch cội nguồn riêng biệt (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Những địa điểm du lịch cội nguồn hấp dẫn sẽ thu hút du khách, từ đó thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp phát triển Theo đó, vai trò của phát triển du lịch cội nguồn được biểu hiện qua các nội dung sau:
1.1.2.1 Phát triển du lịch cội nguồn góp phần phát triển ngành du lịch, tăng ngân sách và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương
Phát triển du lịch cội nguồn là một trong những biện pháp hữu hiệu để phát triển và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng ngành du lịch của địa phương, từ đó đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế của địa phương (Phạm Trung Lương và cs., 2000; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008; Trần Thị Mai, 2009) Du lịch cội nguồn phát triển tạo điều kiện cho người dân sinh sống trong vùng mở rộng kinh doanh, phát triển
Trang 29kinh tế gia đình, tăng thu nhập, cải thiện đời sống qua các hình thức kinh doanh nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, các sản phẩm quà lưu niệm, các dịch vụ du lịch nhỏ lẻ, Đồng thời, du lịch cội nguồn có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và thúc đẩy các loại hình du lịch khác, tạo nên sự hấp dẫn của điểm đến Do đó, phát triển du lịch cội nguồn góp phần phát triển ngành du lịch, tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương đồng thời đẩy mạnh kinh tế phát triển (Lê Thị Thanh Thủy và cs., 2012)
1.1.2.2 Phát triển du lịch cội nguồn sẽ thu hút lao động và tạo ra nhiều việc làm
Hoạt động kinh doanh du lịch cội nguồn đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác phát triển Nên việc khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch cội nguồn đòi hỏi điều kiện kinh tế - xã hội
ở khu vực đó phải phát triển Theo đó, sẽ góp phần tạo việc làm cho người lao động thông qua việc phát triển các ngành kinh tế Đồng thời, khi có một dự án hoạt động thì sẽ thu hút lao động đến tìm việc làm, nhất là những lao động sống trong vùng dự
án (Phạm Trung Lương và cs., 2000; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008; Trần Thị Mai, 2009) Như vậy, phát triển du lịch cội nguồn không chỉ mang lại việc làm cho bản thân những người lao động trong ngành mà còn thu hút và tạo việc làm cho cả lao động của các ngành khác trong khu vực
1.1.2.3 Phát triển du lịch cội nguồn sẽ kích thích đầu tư ở địa phương
Du lịch cội nguồn được tạo nên từ hàng loạt các dịch vụ khác nhau Việc đầu
tư cơ sở hạ tầng thường có khả năng sinh lợi thấp nên Nhà nước thường là người đứng ra thực hiện công tác này nhằm tạo điều kiện cho du lịch cội nguồn phát triển (Phạm Trung Lương và cs., 2000; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008; Trần Thị Mai, 2009) Từ đó, sẽ kích thích sự đầu tư phát triển du lịch cội nguồn của các tầng lớp nhân dân và các doanh nghiệp, kéo theo sự đầu tư ở các ngành khác trong khu vực như xây dựng, giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp, bưu chính viễn thông, ngân hàng,…
1.1.2.4 Phát triển du lịch cội nguồn có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc
Khai thác, bảo tồn, bảo vệ và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn
Trang 30là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch cội nguồn nói riêng Lịch sử đã chứng minh, ý thức về cội nguồn, đồng bào, dân tộc chính là căn nguyên sâu xa làm nên bao chiến thắng kỳ diệu Và con người luôn nỗ lực thoát khỏi các sự kìm hãm vô hình hoặc hữu hình, để trở về với những giá trị truyền thống, rồi dùng tri thức xây dựng, nhằm làm cho truyền thống ấy thăng hoa và trở thành những giá trị vĩnh hằng (Nguyễn Tiến Khôi, 2013) Phát triển du lịch cội nguồn có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác, bảo tồn, bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc, di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội ở địa phương Ngoài ra, phát triển du lịch cội nguồn còn góp phần phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc (Quản Hoàng Linh, 2012; Nguyễn Tiến Khôi, 2013)
1.1.2.5 Phát triển du lịch cội nguồn góp phần khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, lòng yêu nước và giáo dục tính nhân văn cho thế hệ trẻ
Thông qua du lịch cội nguồn, con người được thay đổi môi trường, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết Du lịch cội nguồn tạo điều kiện cho con người mở mang hiểu biết lẫn nhau, mở mang hiểu biết về lịch sử văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội, của dân tộc
mà du khách viếng thăm Mặt khác, du lịch cội nguồn còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giáo dục tính nhân văn cho thế hệ trẻ, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc (Nguyễn Tiến Khôi, 2013) Thông qua các chuyến du lịch cội nguồn, người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua
đó thêm yêu đất nước mình
1.1.3 Đặc điểm phát triển du lịch cội nguồn
Du lịch cội nguồn thực chất là loại hình du lịch sử dụng tài nguyên văn hóa, tinh thần Theo đó, du lịch cội nguồn chỉ là tên gọi theo tài nguyên được sử dụng cho hoạt động phát triển du lịch Phát triển du lịch cội nguồn bao hàm những đặc điểm của phát triển sản phẩm dịch vụ du lịch, đó là phát triển loại sản phẩm phi vật chất, chất lượng sản phẩm phần lớn phụ thuộc sự cảm nhận của khách du lịch cội nguồn, đây là loại sản phẩm không thể chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ, không thể di chuyển dịch vụ và là dịch vụ trọn gói Bên cạnh đó, phát triển du lịch cội nguồn còn có những đặc điểm riêng, đó là:
Trang 311.1.3.1 Phát triển du lịch cội nguồn gắn liền với việc phát huy các giá trị văn hóa dân tộc
Du lịch cội nguồn là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
tri ân của du khách đối với tổ tiên, nhân vật lịch sử, giá trị nhân văn của dân tộc (Lê
Thị Thanh Thủy và Phạm Quang Sáng, 2010) Du lịch cội nguồn mang tới cho khách du lịch những tư liệu, hình ảnh, phong tục tập quán,… của các thế hệ cha ông, của dân tộc được hình thành trong lịch sử Hoạt động này giúp cho du khách tìm hiểu diện mạo cuộc sống của các thế hệ tổ tiên, đồng thời cũng thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc được bảo lưu và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Du lịch cội nguồn là dịp để các thế hệ đương thời hướng về cội nguồn dân tộc, tri ân công đức
tổ tiên, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Du khách tham gia hoạt động du lịch cội nguồn là thực hiện hành trình về với ký ức dân tộc, cũng là về với những giá trị nhân văn sâu sắc của dân tộc Ngay cả du khách nước ngoài cũng coi đây là
cơ hội giúp họ hiểu đầy đủ hơn về bề dày lịch sử cùng truyền thống vẻ vang của dân tộc mà họ viếng thăm Do đó, phát triển du lịch cội nguồn luôn gắn liền với việc phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc
1.1.3.2 Phát triển du lịch cội nguồn luôn gắn với địa bàn hoạt động là các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng và các lễ hội
Phát triển du lịch cội nguồn là phát triển hoạt động du lịch tại những nơi có tài nguyên du lịch cội nguồn Do đó, các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng
và các lễ hội là địa bàn hoạt động chủ yếu của du lịch cội nguồn (Dương Văn Sáu, 2004; Nguyễn Thị Huệ, 2008) Trên thực tế, những chuyến du lịch cội nguồn đều có hoạt động tại các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội, thiếu những đối tượng đó, tức là thiếu đi nội dung và địa chỉ của du lịch cội nguồn Trong kho báu các di sản của quá khứ để lại, các lễ hội là một trong những tài nguyên quý giá nhất của du lịch cội nguồn, vì thế, các lễ hội ngày càng được phát triển cả về hình thức, nội dung, thời gian lẫn quy mô và nó là địa bàn hoạt động chính của du lịch cội nguồn Bên cạnh đó, các di tích lịch lịch sử văn hóa, bảo tàng với không gian vật chất cụ thể, chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử cũng là địa bàn hoạt động không thể thiếu của phát triển
du lịch cội nguồn
Trang 321.1.3.3 Phát triển du lịch cội nguồn gắn liền với công tác bảo tồn, sưu tầm và khôi phục các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng hay lễ hội ở địa phương
Hoạt động của các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng và lễ hội là một khâu quan trọng trong dây chuyền hoạt động của du lịch cội nguồn (Nguyễn Thị Huệ, 2008; Lê Thị Thanh Thủy và Phạm Quang Sáng, 2010) Những nhà khoa học lịch sử, khoa học nhân văn trong đó có những người làm công tác bảo tồn di tích, tổ chức lễ hội đã tạo cơ sở cho loại hình du lịch cội nguồn phát triển Họ là những người nghiên cứu để xác định giá trị của hệ thống các di tích và cũng chính họ công phu nghiên cứu sưu tầm để dựng nên các bảo tàng, phục dựng các lễ hội truyền thống, các trò diễn dân gian,… để du lịch cội nguồn đứng trên cái nền đó mà phát triển Do đó, phát triển du lịch cội nguồn luôn gắn liền với việc bảo tồn, sưu tầm và khôi phục các
di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng, lễ hội ở địa phương
1.1.3.4 Phát triển du lịch cội nguồn có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ trong sự phát triển của các ngành khác
Việc phát triển du lịch cội nguồn sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch cội nguồn mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế Du lịch cội nguồn phát triển sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ của du khách Xuất phát từ nhu cầu này của du khách mà kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân Hơn nữa, phát triển du lịch cội nguồn đòi hỏi các hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho du khách phải có chất lượng cao, phong phú và hấp dẫn, cho nên các doanh nghiệp phải không ngừng sáng tạo, cải tiến, phát triển sản phẩm Theo đó, các doanh nghiệp phải đầu tư trang thiết bị, tuyển chọn và sử dụng lao động có tay nghề cao để đáp ứng được nhu cầu của
du khách Vì vậy, phát triển du lịch cội nguồn không cạnh tranh mà có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ trong sự phát triển các ngành khác
1.1.4 Nội dung phát triển du lịch cội nguồn
1.1.4.1 Phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn
Khi phát triển du lịch, mỗi địa phương đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của mình để thu hút du khách Và, tài nguyên du lịch chính là cơ sở để tạo nên sắc
Trang 33thái riêng biệt đó (Phạm Trung Lương và cs., 2000; Bùi Thị Hải Yến, 2007) Có thể nói, tài nguyên du lịch cội nguồn là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch cội nguồn của một địa phương
Tài nguyên du lịch cội nguồn là tiền đề để phát triển du lịch cội nguồn, nó thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của một địa phương (Phạm Trung Lương và cs., 2000) Tài nguyên du lịch cội nguồn là một bộ phận của tài nguyên
du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu
tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005) Căn cứ vào khái niệm, đặc điểm du lịch cội nguồn, cho thấy tài nguyên du lịch cội nguồn bao gồm di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng, lễ hội và các một số tài nguyên khác như các đối tượng gắn liền với dân tộc học, làng nghề,… (Sơ đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1 Tài nguyên du lịch cội nguồn
Nguồn: Phạm Trung Lương và cs (2000)
Phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn chính là nâng cao giá trị và số lượng tài nguyên du lịch cội nguồn, cụ thể:
- Nâng cao giá trị của các di sản văn hóa và di tích lịch sử văn hóa Di sản
văn hóa và di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử (Chu Huy, 2004; Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
Tài nguyên du lịch cội nguồn
Di sản
văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa
Lễ hội Bảo tàng nguyên Tài
khác
Trang 34nghĩa Việt Nam, 2009; Lê Thị Vân, 2008) Nâng giá trị của các di tích lịch sử văn hóa thành di sản, thành di tích xếp hạng cấp quốc gia, di tích xếp hạng cấp vùng, đồng thời bảo tồn, bảo vệ, sưu tầm và phục dựng các di sản văn hóa và di tích lịch
sử văn hóa chính là những hoạt động phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn
- Phục dựng lễ hội và nâng cấp quản lý lễ hội Lễ hội là loại hình sinh hoạt
văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc là một dịp để con người hướng về tổ tiên, ôn lại truyền thống (Phạm Trung Lương và cs., 2000; Dương Văn Sáu, 2004) Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới giúp cho con người tham dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn cội Lễ hội dân tộc thu hút những ai muốn hành hương trở về cội nguồn với những nét đặc sắc văn hóa của dân tộc (Phạm Bá Khiêm, 2007)
Vì thế, việc phục dựng các lễ hội, nâng cấp quản lý các lễ hội chính là biểu hiện của phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn
- Sưu tầm tài liệu, hiện vật cổ và nâng hạng bảo tàng Tài liệu, hiện vật cổ
trong bảo tàng là một loại tài nguyên du lịch cội nguồn Trong phát triển du lịch cội nguồn tại địa phương thì bảo tàng chính là một thành tố quan trọng, một địa chỉ ý nghĩa cho hành trình du lịch của mỗi du khách (Phạm Trung Lương và cs., 2000) Vì vậy, sưu tầm thêm các tài liệu, hiện vật cổ và nâng hạng bảo tàng là hoạt động phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn
Phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển du lịch cội nguồn Do đó, phát triển du lịch cội nguồn ở một địa phương luôn gắn liền với sự phát triển tài nguyên du lịch cội nguồn của địa phương đó
1.1.4.2 Phát triển hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch cội nguồn
Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất
kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của du khách Chúng bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển, các doanh nghiệp lữ hành (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Theo đó, hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch cội nguồn là điều kiện phục vụ
Trang 35khách, tạo thuận lợi cho các hoạt động tại điểm đến của khách du lịch cội nguồn Hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch cội nguồn tiêu biểu là cơ sở lưu trú du lịch, vận chuyển, lữ hành, ăn uống và các cơ sở dịch vụ giải trí, mua sắm (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005) Vì vậy, trong nghiên cứu này, phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch cội nguồn còn gọi là phát triển hệ thống các cơ
sở kinh doanh dịch vụ du lịch cội nguồn Phát triển du lịch cội nguồn luôn gắn liền với số lượng và chất lượng của hệ thống này
Cơ sở lưu trú (cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú) chính là bộ phận đặc trưng nhất trong hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch cội nguồn Cơ sở lưu trú tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, Thành phần chính của bộ phận này là hệ thống các toà nhà với các phòng nghỉ và các trang thiết
bị tiện nghi đảm bảo điều kiện cho sinh hoạt hàng ngày của du khách (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Quy mô và chất lượng của các cơ sở lưu trú được đánh giá chủ yếu bằng số lượng cơ sở lưu trú, số lượng buồng phòng và cấp hạng của chúng
Cơ sở vận chuyển (cơ sở kinh doanh dịch vụ vận chuyển) khách du lịch cội nguồn là đơn vị cung cấp dịch vụ vận chuyển cho khách du lịch cội nguồn theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch và tại các khu du lịch, điểm du lịch, đô thị
du lịch (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005) Quy mô và chất lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách du lịch cội nguồn được đánh giá chủ yếu thông qua phương tiện vận chuyển khách du lịch
Doanh nghiệp lữ hành (doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành) đảm nhận chức năng chủ yếu là tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch, đồng thời làm cầu nối giữa khách du lịch với các nhà cung cấp sản phẩm du lịch cội nguồn hay với các điểm du lịch cội nguồn (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Chương trình du lịch cội nguồn là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch cội nguồn từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005)
Hệ thống cơ sở ăn uống (cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống) là những cơ sở
Trang 36kinh doanh các yếu tố đảm bảo điều kiện tiện nghi cho hoạt động ăn uống của khách
du lịch (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà, 2008) Quy mô của hệ thống này được đánh giá bởi số lượng nhà hàng, số ghế trong nhà hàng
Cơ sở giải trí (cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí) có hoạt động nhằm mang lại
sự thích thú hơn cho du khách về chuyến du lịch (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Khách du lịch cội nguồn muốn đạt được sự thú vị cao nhất trong suốt chuyến đi thì có thể chọn nhiều hình thức khác nhau như tìm hiểu lễ hội, tham quan bảo tàng, Vì vậy, dù có hài lòng về bữa ăn ngon, chỗ ở tiện nghi, du khách vẫn mau chán nếu họ không được tham gia và thưởng thức các hoạt động giải trí
Cơ sở mua sắm (cơ sở kinh doanh hàng lưu niệm) là một loại hình của cơ sở giải trí, đối với nhiều khách du lịch việc mang quà lưu niệm về sau chuyến đi là không thể thiếu được Cơ sở kinh doanh dịch vụ này bao gồm các hình thức kinh doanh bán lẻ hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ,
1.1.4.3 Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch cội nguồn
Nguồn nhân lực du lịch bao gồm lao động làm việc trực tiếp trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành từ trung ương đến địa phương, lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ (trong các cơ sở lưu trú, nhà hàng
ăn uống, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở vận chuyển,…), lao động làm công tác đào tạo du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008)
Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch cội nguồn là những hoạt động nhằm tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng của lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp liên quan đến du lịch cội nguồn Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực là những nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm du lịch cội nguồn (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Chất lượng nguồn nhân lực du lịch được thể hiện qua thái độ phục vụ du khách, trình độ chuyên môn nghiệp vụ du lịch
Để phát triển du lịch cội nguồn theo hướng chuyên nghiệp, nhất là trước yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay, cần tăng cường đội ngũ lao động có trình độ chuyên
Trang 37môn cao, có kỹ năng nghề nghiệp đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên Nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng nghề nghiệp là yếu tố quyết định đối với phát triển du lịch cội nguồn trong điều kiện hiện nay Có thể nói, phát triển nguồn nhân lực vừa
là vấn đề có tính cấp bách, vừa mang ý nghĩa chiến lược, nó tác động trực tiếp tới quá trình phát triển du lịch cội nguồn (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008; Trần Thị Mai, 2009)
Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển nguồn nhân lực du lịch cội nguồn là sự tăng lên về số lượng lao động du lịch, trình độ và chất lượng phục vụ của đội ngũ lao động du lịch cội nguồn
1.1.4.4 Tăng cường xúc tiến du lịch cội nguồn
Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005) Nội dung hoạt động xúc tiến du lịch cội nguồn bao gồm tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về di tích lịch sử, di sản văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế; Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch cội nguồn, tạo môi trường du lịch cội nguồn văn minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc; Nghiên cứu thị trường du lịch cội nguồn, xây dựng sản phẩm du lịch cội nguồn phù hợp với thị hiếu khách du lịch; tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm
du lịch cội nguồn (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005)
Tăng cường xúc tiến rất cần thiết trong phát triển du lịch cội nguồn, hoạt động này có hiệu quả rất lớn nhưng khó lượng hóa Hội chợ, hội nghị du lịch quốc tế và các sự kiện trong nước như liên hoan nghệ thuật, olympic, các sự kiện thể thao, là một trong những hình thức xúc tiến, quảng bá du lịch Các chương trình khuếch trương, quảng bá là một phần căn bản cho sự phát triển của du lịch cội nguồn Do đó, tăng cường xúc tiến du lịch cội nguồn là một nội dung quan trọng trong quá trình phát triển du lịch cội nguồn
1.1.4.5 Nâng cao kết quả và đóng góp của du lịch cội nguồn cho phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương
Kết quả thu hút khách du lịch cội nguồn là một nội dung quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao kết quả của hoạt động du lịch cội nguồn Kết
Trang 38quả thu hút khách du lịch cội nguồn được thể hiện thông qua số lượng khách du lịch cội nguồn, số ngày lưu trú và chi tiêu của khách du lịch cội nguồn Các chỉ số này tăng lên là động lực chủ yếu cho các chiến lược đầu tư phát triển du lịch cội nguồn (Đinh Thị Vân Chi, 2004)
Sự phát triển du lịch cội nguồn cuối cùng còn được thể hiện bằng sự gia tăng các kết quả tạo ra trong hoạt động du lịch cội nguồn và sự đóng góp của du lịch cội nguồn cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương (Nguyễn Ngọc Nông, 2004; Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005; Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2006) Kết quả đó được thể hiện bằng sự gia tăng về tổng thu từ khách du lịch cội nguồn, giá trị tăng thêm của du lịch cội nguồn, việc làm và thu nhập cho người dân địa phương
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cội nguồn
1.1.5.1 Cơ chế, chính sách đối với phát triển du lịch và việc thực thi chính sách của địa phương
Cơ chế, chính sách của nhà nước có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của du lịch Việt Nam đã có nhiều chính sách đúng đắn nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch cho các địa phương như hỗ trợ tiền thuê đất; hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp; hỗ trợ về tín dụng; hỗ trợ về đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch (Tổng cục Du lịch, 2013) Ngoài ra, Nhà nước còn kêu gọi thu hút đầu tư xây dựng các khu du lịch mang tính quốc tế đồng thời tận dụng khai thác tiềm năng du lịch sẵn có như các kỳ quan thiên nhiên, khai thác du lịch sinh thái, đồng quê, các khu di tích lịch sử, lễ hội, cũng là một trong những nhân tố tạo điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển (Tổng cục Du lịch, 2013) Như vậy, một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không có những cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này khó có thể phát triển được
Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam bao gồm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tổng cục Du lịch; các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Phòng Văn hóa-Thông tin; (Tổng cục Du lịch, 2013) Các cơ quan này sẽ thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về du lịch tùy theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng
cơ quan (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005)
Trang 39Theo Luật Du lịch (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005), nội dung quản lý nhà nước về du lịch bao gồm: Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch; Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch; Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch; Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài; Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch; Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động
du lịch; Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
về du lịch Tất cả các nội dung này đều tác động vào hoạt động của ngành du lịch nói chung, quá trình phát triển của du lịch cội nguồn nói riêng Chính vì vậy, nếu năng lực thực thi chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương tốt thì có ảnh hưởng thúc đẩy du lịch cội nguồn phát triển, còn nếu năng lực của các cơ quan này thấp kém sẽ tác động kìm hãm sự phát triển của các hoạt động
du lịch cội nguồn (Phương Loan, 2008)
1.1.5.2 Công tác quy hoạch phát triển du lịch cội nguồn
Quy hoạch phát triển du lịch cội nguồn có thể được coi là việc xây dựng trước một kế hoạch để đánh giá tình huống hiện tại, dự báo tình huống tương lai và lựa chọn một chương trình hành động phù hợp để tạo được nhiều cơ hội sẵn có nhất cho sự phát triển của điểm đến du lịch (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008)
Quy hoạch phát triển du lịch cội nguồn là một công đoạn không thể thiếu trong quá trình phát triển du lịch cội nguồn Đó là chuỗi các hoạt động của các đối tượng tham gia bao trùm từ quyết định của lãnh đạo phê duyệt quy hoạch, sự tham gia của nhà đầu tư, nhà tư vấn quy hoạch, cộng đồng dân cư có liên quan, bộ phận quản lý quy hoạch và bộ phận giám sát, quản lý xây dựng tuyến, điểm du lịch cội nguồn,… (Quốc
Trang 40hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005; Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Do đó, công tác quy hoạch phát triển du lịch cội nguồn là cơ sở để xây dựng các chương trình, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch cội nguồn phù hợp với các giai đoạn phát triển chung của ngành du lịch trên địa bàn Vì vậy, công tác quy hoạch phát triển du lịch cội nguồn có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình phát triển
du lịch cội nguồn
1.1.5.3 Cơ sở hạ tầng của địa phương
Cơ sở hạ tầng của địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch cội nguồn, bao gồm:
Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng hàng đầu trong hệ thống cơ sở hạ tầng Du lịch cội nguồn gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch cội nguồn nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008; Trần Thị Mai, 2009) Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện du lịch cội nguồn mới có thể trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cội nguồn Đây là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch nội địa
và quốc tế (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008) Trong đời sống hiện đại nói chung, hoạt động du lịch cội nguồn nói riêng không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc
Công trình cung cấp điện, nước Khách du lịch là những người rời khỏi nơi
cư trú thường xuyên Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn ở, đi lại,… khách du lịch còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008; Trần Thị Mai, 2009) Cho nên điện, nước cũng là một trong những yếu tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí, tham quan, tìm hiểu của du khách
Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động phát triển du lịch cội nguồn của địa phương