1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch là ngành kinh tế phát triển nhanh và ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu của nhiều địa phương và quốc gia trên thế giới. Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước xác định vai trò hết sức quan trọng của du lịch trong nền kinh tế quốc dân, khẳng định mục tiêu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước [5, tr.2; 28, tr.178] và ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt từ nhiều năm qua để đạt được mục tiêu này. Những thành tựu mà ngành du lịch của Việt Nam đạt được từ những năm đổi mới đến nay cho thấy, quan điểm định hướng đúng đắn trên ngày càng được hiện thực hóa. Sự phát triển của du lịch ở nhiều địa phương nước ta cũng đã góp phần khẳng định điều đó. Nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, đồng thời trong quy hoạch vùng Thủ đô, Phú Thọ hội tụ nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch. Là vùng đất phát tích của dân tộc Việt Nam, vùng đệm quan trọng của chiến khu Việt Bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Phú Thọ có rất nhiều di sản, di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng có giá trị và ý nghĩa trên nhiều phương diện, đặc biệt là giá trị đặc sắc, riêng có được tạo nên từ quần thể di tích Đền Hùng và các di sản văn hóa gắn với thời kỳ Hùng Vương dựng nước (trong đó di tích Đền Hùng được xếp hạng di tích đặc biệt cấp quốc gia năm 2009 và được xác định là khu du lịch quốc gia, hát Xoan Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại năm 2011, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012). Với kiến tạo địa chất, địa hình, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên đa dạng và truyền thống, tập quán sinh hoạt mang nét đặc thù của khu vực trung du miền núi, Phú Thọ có nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể độc đáo khác. Sự đa dạng, phong phú về tài nguyên du lịch, thuận lợi về vị trí địa lý và giao thông là cơ sở, điều kiện quan trọng để Phú Thọ có thể trở thành một trong những trọng điểm du lịch quốc gia, phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cũng đã xác định Phú Thọ là một trong các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của cả nước [89, tr.7]. Nhận thức được những tiềm năng, lợi thế về du lịch và lợi ích do du lịch đem lại, tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp cụ thể đẩy mạnh phát triển ngành kinh tế quan trọng này và đã đạt những kết quả đáng ghi nhận. Nhiều năm qua, lượng khách du lịch liên tục tăng trưởng với tốc độ khá, doanh thu, giá trị tăng thêm cũng đạt mức tăng trưởng cao; cơ sở vật chất phát triển; vốn đầu tư cho du lịch tăng đều qua các năm và theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá khá rõ nét… Tuy nhiên, so với tiềm năng, sự phát triển của du lịch Phú Thọ chưa đạt được mức tương xứng và còn nhiều hạn chế đáng kể trên các mặt: Chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm du lịch, chất lượng và tính đồng bộ của hệ thống cơ sở vật chất, chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch, công tác quản lý hoạt động du lịch, mối quan hệ liên kết, tính cạnh tranh trên thị trường…Đặc biệt, từ góc độ phát triển bền vững, hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ đang bộc lộ những vấn đề đáng quan tâm: Tăng trưởng của ngành du lịch chưa vững chắc; tốc độ và mức độ ổn định của tăng trưởng du lịch, đóng góp của du lịch cho GRDP của tỉnh đều thấp kém hơn so với mặt bằng chung cả nước; du lịch Phú Thọ chưa đón bắt và tranh thủ tốt được những cơ hội từ hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện của Việt Nam với kinh tế thế giới; hoạt động du lịch gây không ít tác động tiêu cực tới tài nguyên du lịch, tới môi trường tự nhiên, xã hội, tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể; một số ngoại ứng tiêu cực từ du lịch tới cộng đồng…Những hạn chế, yếu kém trên ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ cả trước mắt cũng như về lâu dài. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ là rất cần thiết, có ý nghĩa thực tế thiết thực. Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG HOÀNG HƯƠNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
Ở TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
HÀ NỘI - 2017
Trang 22.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phát triển du lịch bền vững 30 2.2 Nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững 44 2.3 Những yếu tố cơ bản tác động, ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững 57 2.4 Kinh nghiệm từ một số mô hình phát triển du lịch bền vững và không
3.3 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ theo các nội dung và
tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững 106
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CHERPLAN Dự án Tăng cường Di sản văn hóa thông qua Kế hoạch và Quản lý
Môi trường ESRT Chương trình Phát triển Năng lực Du lịch có Trách nhiệm với Môi
trường và Xã hội
EU Liên minh Châu Âu
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn
HĐND Hội đồng nhân dân
JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
UBND Ủy ban nhân dân
UNEP Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNWTO Tổ chức du lịch thế giới của Liên hiệp quốc
VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
WCED Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới
WWF Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên
Trang 4tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững giai đoạn 2006 - 2015 109
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu dân số và lao động tỉnh Phú Thọ năm 2015 68 Biểu đồ 3.2: Tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2011 - 2015 69 Biểu đồ 3.3: Tăng trưởng doanh thu du lịch giai đoạn 2006 - 2015 77 Biểu đồ 3.4: Giá trị tăng thêm du lịch giai đoạn 2006 -2015 78 Biểu đồ 3.5: Tăng trưởng tổng lượng khách du lịch giai đoạn 2006 - 2015 93 Biểu đồ 3.6: Tăng trưởng khách du lịch nội địa giai đoạn 2006 - 2015 93 Biểu đồ 3.7: Tăng trưởng khách du lịch quốc tế giai đoạn 2006 - 2015 94
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là ngành kinh tế phát triển nhanh và ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu của nhiều địa phương và quốc gia trên thế giới Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước xác định vai trò hết sức quan trọng của du lịch trong nền kinh tế quốc dân, khẳng định mục tiêu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước [5, tr.2; 28, tr.178] và ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt từ nhiều năm qua để đạt được mục tiêu này Những thành tựu
mà ngành du lịch của Việt Nam đạt được từ những năm đổi mới đến nay cho thấy, quan điểm định hướng đúng đắn trên ngày càng được hiện thực hóa Sự phát triển của du lịch ở nhiều địa phương nước ta cũng đã góp phần khẳng định điều đó
Nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, đồng thời trong quy hoạch vùng Thủ
đô, Phú Thọ hội tụ nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch Là vùng đất phát tích của dân tộc Việt Nam, vùng đệm quan trọng của chiến khu Việt Bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Phú Thọ có rất nhiều di sản, di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng có giá trị và ý nghĩa trên nhiều phương diện, đặc biệt là giá trị đặc sắc, riêng có được tạo nên từ quần thể di tích Đền Hùng và các di sản văn hóa gắn với thời kỳ Hùng Vương dựng nước (trong đó di tích Đền Hùng được xếp hạng
di tích đặc biệt cấp quốc gia năm 2009 và được xác định là khu du lịch quốc gia, hát Xoan Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại năm 2011, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012) Với kiến tạo địa chất, địa hình, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên đa dạng
và truyền thống, tập quán sinh hoạt mang nét đặc thù của khu vực trung du miền núi, Phú Thọ có nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể độc đáo khác Sự đa dạng, phong phú về tài nguyên du lịch, thuận lợi về
vị trí địa lý và giao thông là cơ sở, điều kiện quan trọng để Phú Thọ có thể trở thành một trong những trọng điểm du lịch quốc gia, phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cũng đã xác định Phú Thọ là một trong các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của cả nước [89, tr.7]
Trang 7Nhận thức được những tiềm năng, lợi thế về du lịch và lợi ích do du lịch đem lại, tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp cụ thể đẩy mạnh phát triển ngành kinh tế quan trọng này và đã đạt những kết quả đáng ghi nhận Nhiều năm qua, lượng khách du lịch liên tục tăng trưởng với tốc độ khá, doanh thu, giá trị tăng thêm cũng đạt mức tăng trưởng cao; cơ sở vật chất phát triển; vốn đầu tư cho du lịch tăng đều qua các năm và theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá khá rõ nét…
Tuy nhiên, so với tiềm năng, sự phát triển của du lịch Phú Thọ chưa đạt được mức tương xứng và còn nhiều hạn chế đáng kể trên các mặt: Chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm du lịch, chất lượng và tính đồng bộ của hệ thống cơ sở vật chất, chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch, công tác quản lý hoạt động du lịch, mối quan hệ liên kết, tính cạnh tranh trên thị trường…Đặc biệt, từ góc độ phát triển bền vững, hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ đang bộc lộ những vấn đề đáng quan tâm: Tăng trưởng của ngành du lịch chưa vững chắc; tốc độ và mức độ ổn định của tăng trưởng du lịch, đóng góp của du lịch cho GRDP của tỉnh đều thấp kém hơn so với mặt bằng chung cả nước; du lịch Phú Thọ chưa đón bắt và tranh thủ tốt được những
cơ hội từ hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện của Việt Nam với kinh tế thế giới; hoạt động du lịch gây không ít tác động tiêu cực tới tài nguyên du lịch, tới môi trường tự nhiên, xã hội, tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể; một số ngoại ứng tiêu cực từ du lịch tới cộng đồng…Những hạn chế, yếu kém trên ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ cả trước mắt cũng như về lâu dài Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ là rất cần thiết, có ý nghĩa thực tế thiết thực
Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển du
lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế
phát triển
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lý luận về phát triển du lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh để đánh giá thực trạng hoạt động du lịch và đề xuất định hướng, giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 8- Hệ thống hóa và góp phần làm rõ thêm cơ sở lý thuyết về phát triển du lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh
- Nghiên cứu kinh nghiệm từ một số mô hình phát triển du lịch bền vững và không bền vững ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ và một số địa phương trong nước
để rút ra bài học cho phát triển du lịch ở địa phương cấp tỉnh
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở Phú Thọ từ năm 2006 đến nay trên cơ sở lý thuyết về phát triển du lịch bền vững
- Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững, thực tiễn và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
+ Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, tiêu chí và các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững cấp tỉnh dựa trên ba trụ cột chính là tăng trưởng kinh tế bền vững; tăng trưởng kinh tế đồng thời thúc đẩy tiến
bộ và công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái;
+ Nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế về một số mô hình phát triển du lịch bền vững để rút ra bài học kinh nghiệm cho địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ; + Đề xuất mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2030
- Về không gian: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch từ năm 2006 đến
nay; xây dựng mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2030
Trang 94 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta; dựa trên các lý thuyết về kinh tế học phát triển, kinh tế du lịch, phát triển bền vững, quản lý kinh tế, kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô… đồng thời kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu
về các vấn đề thuộc nội dung liên quan đến luận án trong các công trình khoa học
đã được công bố
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ của đề tài đặt ra, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Là phương pháp luận chung cho các phương pháp nghiên cứu của
luận án, được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài luận án
- Phương pháp hệ thống hóa: Sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lý luận
về phát triển du lịch bền vững, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu lý luận của các công trình đã được công bố
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh: Sử dụng để khảo cứu
kinh nghiệm mô hình phát triển du lịch bền vững ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ, các địa phương trong nước Trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích, rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Phú Thọ Phương pháp này cũng sẽ được sử dụng để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ trong thời kỳ nghiên cứu
- Phương pháp dự báo: Sử dụng phương pháp này để dự báo các yếu tố tác
động đến phát triển du lịch bền vững trong tương lai như dự báo tình hình và những biến động quốc tế, trong nước, nhu cầu thị trường, xu hướng chuyển dịch nguồn khách du lịch, tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ trong và ngoài nước đến phát triển du lịch bền vững của tỉnh trong ngắn hạn và dài hạn
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra, khảo sát: Sử dụng để khảo sát thực tế về
phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh; phỏng vấn, điều tra các tác động của phát triển du lịch đến cộng đồng, đến các yếu tố văn hóa, xã hội
Các phương pháp trên được sử dụng linh hoạt, đan xen, kết hợp để phát huy hiệu quả tổng hợp hướng đến hoàn thành mục tiêu nghiên cứu
Trang 105 Đóng góp mới của luận án
- Góp phần hệ thống, bổ sung thêm lý thuyết về phát triển du lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh;
- Rút ra bài học từ kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững của các nước, vùng lãnh thổ và các địa phương cho tỉnh Phú Thọ trong phát triển du lịch bền vững;
- Làm rõ thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ theo các nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững;
- Đề xuất các mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2030
Luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho tỉnh Phú Thọ trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các Quy hoạch, Kế hoạch, Đề án phát triển du lịch của địa phương; đồng thời có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển du lịch bền vững
6 Kết cấu và nội dung của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch luôn là ngành, lĩnh vực được quan tâm đầu tư phát triển bởi những lợi ích to lớn mà nó đem lại cho nền kinh tế Song, phát triển du lịch với mục đích thuần kinh tế tuy đem đến nhiều lợi ích trước mắt, nhưng ngày càng bộc lộ những hạn chế, bất cập về lâu dài, nguy cơ làm suy kiệt tài nguyên du lịch, giảm tính đa dạng và đe dọa hủy hoại môi trường sinh thái, tác động xấu đến các nền văn hóa bản địa, đến cộng đồng địa phương, hậu quả của những tác động này sẽ ảnh hưởng tiêu cực trở lại đến chính sự phát triển du lịch trong dài hạn Từ thực tế này, đã xuất hiện nhu cầu nghiên cứu về các loại hình du lịch mới, những cách thức phát triển du lịch mới, quan tâm hơn đến việc bảo vệ tài nguyên du lịch, đến môi trường sinh thái, đến trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, cân đối hơn giữa các yếu tố trước mắt và lâu dài trong quá trình phát triển Lý thuyết về phát triển du lịch bền vững dần được hình thành và
bổ sung, hoàn chỉnh qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu đó
Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững Chỉ tính đến năm 1999, theo thống kê của UNWTO, đã có trên 350 cuốn sách và bài báo (công bố quốc tế) nói về du lịch bền vững [trích theo 103, tr.3] Theo thời gian, những nghiên cứu về vấn đề này tiếp tục ngày càng phong phú và đa dạng hơn nhiều, khó có thể tóm lược trong phạm vi một luận án nhỏ
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững bắt đầu được đề cập
từ những năm 90 của thế kỷ 20 trên cơ sở tiếp cận, tiếp thu những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn của quốc tế về phát triển bền vững nói chung, phát triển
du lịch bền vững nói riêng, đồng thời gắn với yêu cầu phát triển thực tế của đất nước Trước yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng phát triển, các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững cũng ngày một phong phú hơn Dưới đây là tóm lược một số công trình và hướng nghiên cứu cụ thể trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề của luận án
Trang 121.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Nghiên cứu lý luận chung về phát triển du lịch bền vững
- Cuốn “The handbook on sustainable tourism development” (Cẩm nang về
phát triển du lịch bền vững) do UNWTO và UNEP ấn hành [97]: Sách được xây dựng dựa trên một công trình nghiên cứu được thực hiện hơn 10 năm bởi các chuyên gia của UNWTO và UNEP, vừa mang tính khái lược, hệ thống một số nội dung lý thuyết về du lịch và phát triển bền vững đã từng được công bố trong các công trình, ấn bản chính thức của UNWTO và UNEP trước đó, vừa là sự tổng kết thực tiễn qua các cuộc khảo sát và nghiên cứu được tiến hành tại nhiều quốc gia thành viên của UNWTO Nhằm mục đích cung cấp các chỉ dẫn cho các chính phủ
và giới thiệu một khung khổ để xây dựng các chính sách hướng tới tăng cường bền vững du lịch, cuốn sách đưa ra khái niệm về phát triển bền vững trong du lịch; nêu quan điểm về những nguyên tắc chỉ đạo và phương pháp tiếp cận hiệu quả để xây dựng các định hướng, chiến lược và chính sách nhằm tăng cường bền vững du lịch; đánh giá những tác động về mặt chính sách của chương trình du lịch bền vững; phân tích vai trò của Chính phủ, của doanh nghiệp, du khách, cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính phủ, sự tác động của thị trường và các yếu tố văn hóa, xã hội, môi trường liên quan đến phát triển du lịch bền vững Cuốn sách cũng
đề xuất một bộ công cụ khá chi tiết với các nhóm công cụ đo lường bao gồm các chỉ
số bền vững, giám sát bền vững và xác định giới hạn; công cụ chỉ đạo và kiểm soát bao gồm pháp luật, quy định, quy hoạch; công cụ kinh tế bao gồm thuế, phí, các chính sách khuyến khích và thỏa thuận tài chính, các công cụ hỗ trợ khác…, để thực thi chiến lược và chính sách, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững Có thể nói rằng, đây là một trong những công trình công phu và có giá trị nghiên cứu cao về lý thuyết cũng như giá trị tham khảo thiết thực trong thực hành phát triển du lịch bền vững tính cho đến thời điểm sách được ấn hành và cả trong các năm về sau
- Cuốn “Managing Sustainable Tourism: A legacy for the future” (Quản lý
du lịch bền vững: Một di sản cho tương lai) của David L.Edgell [125]: Thông qua nghiên cứu các hoạt động du lịch cụ thể, phân tích chính sách và thực tiễn quản lý
du lịch cả thành công và thất bại, tác giả chỉ ra những ảnh hưởng có thể có của du lịch như tác động tiêu cực đến môi trường, nguy cơ làm suy thoái văn hóa, phá vỡ
Trang 13cấu trúc xã hội của cộng đồng bản địa và rút ra nhận định: Sự thành công hay không của phát triển du lịch phụ thuộc vào việc duy trì một sự cân bằng tinh tế giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn văn hóa, tôn trọng cộng đồng và bảo vệ môi trường Tác giả cũng nhấn mạnh và cập nhật những xu hướng tác động, các cơ hội và thách thức toàn cầu đến du lịch; đề cao triết lý bảo vệ thiên nhiên, môi trường, văn hóa trong khi vẫn đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý và có trật tự trong quá trình phát triển du lịch; cung cấp cách tiếp cận đa diện cho việc nghiên cứu và thực hành quản
lý du lịch bền vững; cung cấp câu trả lời cho việc khắc phục những khó khăn mà du lịch phải đối mặt, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo lập, củng cố các mối quan hệ hài hòa giữa chính quyền địa phương, khu vực tư nhân và cộng đồng dân cư Công trình này thảo luận sâu những hướng dẫn hợp lý để bảo vệ môi trường, di sản và văn hóa địa phương trong khi phát triển các mục tiêu du lịch thực
tế cho tăng trưởng kinh tế tương thích Du lịch bền vững, như chia sẻ của tác giả, là một di sản cho tương lai và một động lực tiềm năng đối với phát triển kinh tế, bảo tồn môi trường tự nhiên, và góp phần bảo vệ hòa bình toàn cầu
- Bộ tài liệu “Sustainable Tourism for Development Guidebook” (Sách
hướng dẫn du lịch bền vững cho sự phát triển) do UNWTO ấn hành [147] Tài liệu nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ của dự án EU "Tăng cường năng lực
du lịch bền vững cho phát triển ở các nước đang phát triển" Mục đích là nâng cao
sự hiểu biết chung và cam kết của EU về phát triển du lịch bền vững; đồng thời khuyến nghị các giải pháp vận dụng để du lịch thực sự là một phương tiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực về xã hội, văn hóa và môi trường
Với mục đích đó, nội dung tài liệu khái quát, hệ thống các vấn đề lý luận chung về phát triển du lịch bền vững như quan niệm, định nghĩa, nguyên tắc chung liên quan đến du lịch bền vững; cung cấp một khung khổ có tính chất phương pháp luận cho việc đánh giá về sự phát triển của du lịch ở các quốc gia và mức độ hiệu quả mà du lịch đó cần đạt được với ý nghĩa như một công cụ để phát triển bền vững, với năm nhóm nội dung đánh giá: Chính sách du lịch và quản trị; trách nhiệm kinh
tế, sự đầu tư và năng lực cạnh tranh; việc làm và nguồn lực con người; giảm nghèo
và hội nhập xã hội; tính bền vững của môi trường tự nhiên và văn hóa Trên cơ sở khung khổ này và các thông tin, số liệu về du lịch và phát triển được cung cấp từ
Trang 14các quốc gia thuộc dự án, tài liệu cũng đã phân tích thực trạng phát triển du lịch bền vững trên thế giới; đưa ra các nhận định, kết luận và khuyến nghị liên quan Các nội dung của bộ sách hướng dẫn đã được thử nghiệm tại sáu quốc gia đang phát triển (Botswana, Ấn Độ, Kenya, Việt Nam, Senegal và Timor-Leste) và hướng tới hai nhóm đối tượng chính là EU và các cơ quan hỗ trợ phát triển khác, để giúp họ hiểu
và xác định các cơ hội hỗ trợ ngành du lịch trong phát triển bền vững
- Công trình “Principles and practice of sustainable tourism planning”
(Nguyên tắc và thực hành kế hoạch du lịch bền vững) của Daniela Drumbrăveanu [124]: Tài liệu làm rõ một số nội dung lý thuyết chung về phát triển du lịch bền vững trong đó tập trung phân tích các quan điểm về phát triển du lịch bền vững, các khía cạnh cần có để du lịch được gọi là bền vững, phân biệt giữa du lịch bền vững và du lịch đại chúng; hệ thống và đề xuất 6 nhóm nguyên tắc của du lịch bền vững, bao gồm: (1) giảm thiểu tác động đến môi trường để đảm bảo sự bền vững về sinh thái; (2) giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương để bảo đảm tính bền vững về xã hội; (3) giảm thiểu tác động tiêu cực đến văn hóa, truyền thống của các địa phương để bảo đảm sự bền vững về văn hóa; (4) tối đa hóa lợi ích kinh tế của các địa phương để có được sự bền vững về kinh tế; (5) thông tin, giáo dục nhận thức đến doanh nghiệp, du khách, chính quyền và người dân địa phương để cải thiện thái độ của các chủ thể đối với môi trường và giảm thiểu tác động tiêu cực từ hành vi của chủ thể đến môi trường, xã hội; (6) phát huy vai trò tham gia, kiểm soát của cộng đồng địa phương đối với các hoạt động du lịch ở điểm đến
- Tài liệu Hội thảo quốc tế “International forum on sustainable tourism development and innovation” (Diễn đàn quốc tế về phát triển du lịch bền vững và
đổi mới) [127]: Tài liệu đã tập hợp các nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững, phân tích nhiều nội dung lý luận chung về phát triển du lịch bền vững như khái niệm, các nguyên tắc, mục tiêu hướng đến của phát triển du lịch bền vững Tài liệu cũng hệ thống và khái lược một số khuyến nghị thể chế cho các quốc gia, các nhà hoạch định chính sách đã được nêu tại nhiều diễn đàn quốc tế lớn
về du lịch để hướng đến sự phát triển du lịch bền vững hơn như: Hiến chương thế giới cho du lịch bền vững của Lanzarote (1995); Chương trình nghị sự 21 cho ngành công nghiệp du lịch & du lịch (1996); Hiến chương châu Âu về du lịch bền
Trang 15vững ở khu bảo tồn (1997); Mã đạo đức toàn cầu cho du lịch (1999); Các thiết kế của Chương trình Nghị sự 21 cho du lịch ở EU
- Cuốn “Making Tourism More Sustainable - A Guide for Policy Makers” (Để du lịch bền vững hơn - Hướng dẫn cho các nhà hoạch định) do UNEP và
UNWTO biên soạn [144]: Được biên soạn nhằm đưa ra các hướng dẫn và khuyến nghị về phát triển du lịch bền vững đối với các chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, trong nội dung 5 chương của cuốn sách, một số quan điểm lý luận chung về phát triển du lịch bền vững của UNEP và UNWTO đã được
hệ thống và thể hiện, như các phân tích về mối quan hệ giữa du lịch và tính bền vững; giới thiệu một số nguyên tắc cơ bản và các khuyến nghị chính sách cho một chương trình phát triển du lịch bền vững; xác định cấu trúc và chiến lược để sự phát triển du lịch bền vững hơn; giới thiệu các bộ công cụ đánh giá phát triển du lịch bền vững
- Cuốn sách “Indicators of Sustainable Development for Tourism Destinations” (Bộ chỉ số phát triển bền vững cho các điểm đến du lịch) do
UNWTO ấn hành [145]: Là kết quả của một nghiên cứu sâu rộng về các sáng kiến chỉ số du lịch toàn thế giới, tài liệu được UNWTO xác định là chìa khóa cho sự phát triển du lịch và quản lý một điểm đến nhất định đồng thời khuyến nghị các quốc gia thành viên lựa chọn thường xuyên như một công cụ cần thiết cho quá trình lập kế hoạch và quản lý hoạch định chính sách phát triển bền vững tại các điểm đến du lịch Nội dung tài liệu phân tích về sự cần thiết xây dựng và ứng dụng chỉ số phát triển bền vững cho các điểm đến du lịch; hướng dẫn một quy trình để
có thể xác định các chỉ số đáp ứng tốt nhất các vấn đề của điểm du lịch cụ thể; đề xuất một bộ 13 nhóm với trên 40 chỉ số cụ thể phát triển bền vững tại các điểm đến du lịch, bao gồm các nhóm chỉ số liên quan đến an sinh, duy trì bản sắc văn hóa, sự hài lòng và tham gia của cộng đồng bản địa trong du lịch, yếu tố sức khỏe
và an toàn, khả năng nắm bắt lợi ích kinh tế từ du lịch, công tác giám sát sử dụng tài nguyên và quản lý năng lượng, việc hạn chế tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch, trình độ kiểm soát và quản lý, việc thiết kế sản phẩm và dịch vụ,tính bền vững của các hoạt động và dịch vụ du lịch Cuốn sách cũng hướng dẫn việc sử dụng các chỉ số cho việc lập kế hoạch, quản lý và các mục đích khác nhằm hỗ trợ
Trang 16việc hình thành và thực hiện chính sách du lịch bền vững; đưa ra các ví dụ tham chiếu cụ thể về ứng dụng bộ chỉ số ở các mức độ và cấp độ khác nhau, tương ứng với đó là nhwungx kết quả phát triển bền vững điểm đến khác nhau, từ đó khuyến nghị các vấn đề cần thiết cho việc áp dụng bộ chỉ số Sách có ý nghĩa tham khảo thiết thực cả về lý thuyết cũng như cho công tác hoạch định chính sách và thực hành phát triển bền vững du lịch của các quốc gia, khu vực, địa phương
Nhiều công trình nghiên cứu khác cũng đề cập, phân tích, hệ thống các nội dung lý luận chung về phát triển du lịch bền vững ở các mức độ và phạm vi
khác nhau như: Cuốn “Tourism and Sustainable Development: Mornitoring, Planning, Managing” (Du lịch và sự phát triển bền vững: Giám sát, Kế hoạch, Quản lý) của Butler R.W., Nelson J G & Wall G [123]; bài viết “Tourism and sustainable development” (Du lịch và sự phát triển bền vững) của Murphy, P E [137]; Bài viết “Sustainable tourism development: a critique” (Phát triển du lịch
bền vững: Một số bình luận) của Liu, Z [133];
1.1.2 Nghiên cứu các khía cạnh cụ thể của phát triển du lịch bền vững, các kinh nghiệm và giải pháp thực tế phát triển du lịch bền vững
1.1.2.1 Nghiên cứu mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch và phát triển du lịch bền vững
- Tài liệu “Tourism and Natural Resource Management: A General Overview of Research and Issues” (Du lịch và quản lý tài nguyên thiên nhiên:
Nghiên cứu tổng quan và các vấn đề) của Jeffrey D Kline [131]: Tác giả phân tích tác động qua lại giữa tài nguyên thiên nhiên và phát triển du lịch, nhất là các loại hình du lịch dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và có sự tương tác cao với tài nguyên thiên nhiên như du lịch sinh thái, trong đó đánh giá ý nghĩa quan trọng của tài nguyên cho phát triển du lịch, đồng thời cũng nêu vai trò của việc phát triển các loại hình du lịch thân thiện môi trường với công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp quản lý và các phương cách sử dụng tài nguyên có hiệu quả cho phát triển du lịch
- Cuốn sách “Sustainable Tourism as driving force for cultural heritage site development” (Du lịch bền vững là động lực phát triển di sản văn hóa), biên tập và
tác giả chính Engelbert Ruoss, Loredana Alfarè [126]: Các tác giả hệ thống một số
Trang 17nội dung lý luận về di sản văn hóa, về du lịch bền vững, các quy định pháp lý quốc tế
về bảo vệ di sản; phân tích mối quan hệ tương tác hai chiều giữa du lịch và di sản văn hóa, những thuận lợi và thách thức đặt ra từ sự phát triển du lịch đối với việc bảo vệ nguyên trạng di sản văn hóa ở các điểm đến; mô tả và phân tích các trường hợp thực
tế điển hình về sự thành công trong việc duy trì sự cân bằng và khai thác hiệu quả yếu
tố tích cực trong quan hệ tương tác du lịch - di sản văn hóa ở hai thành phố di sản nổi tiếng thế giới là Venice (Ý) và Dubrovnik (Croatia), từ đó khuyến nghị các giải pháp chính sách và ứng dụng nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực, khai thác những mặt tích cực của mối quan hệ này để hướng đến sự phát triển bền vững của du lịch và bảo vệ, phát huy giá trị của các di sản văn hóa Ấn phẩm có ý nghĩa tham khảo cả về
lý luận và thực tiễn đối với đề tài, nhất là trong việc nghiên cứu các giải pháp phát huy các giá trị văn hóa của tỉnh Phú Thọ - nơi có nhiều di sản được xếp hạng, trong
đó có hai di sản văn hóa được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại
- cho phát triển du lịch bền vững ở địa phương
1.1.2.2 Nghiên cứu về một số hình thức, hướng phát triển du lịch có yếu
tố bền vững
- Cuốn “Ecotourism and Sustainable Development: Who Owns Paradise?”
(Du lịch sinh thái và phát triển bền vững: Ai sở hữu thiên đường?) của Martha Honey [135]: Cuốn sách là một trong số những nghiên cứu đầu tiên về đề tài này Sau đó, trong lần tái bản vào năm 2008, một số nội dung cả về lý thuyết và thực tiễn
đã được cập nhật, bổ sung thêm Trên cơ sở những thông tin, tư liệu thực tế phong phú về hoạt động du lịch ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó tập trung nghiên cứu điển hình ở 6 quốc gia, vùng lãnh thổ đang phát triển và một số địa phương trên đất nước Mỹ, tác giả đưa ra những nhận định tổng quan về du lịch sinh thái trên thế giới và mối quan hệ với phát triển bền vững; đánh giá sự phát triển của du lịch sinh thái trong chiến lược du lịch bền vững của mỗi quốc gia, trong mối quan hệ với hệ thống chính trị và sự thay đổi tương ứng của các chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia đó; phân tích những tác động kinh tế và văn hóa của việc mở rộng du lịch đến quần thể bản địa cũng như trên các hệ sinh thái Tác giả đặt ra các câu hỏi: Có thể giúp các nước đang phát triển thu được lợi ích kinh tế từ du lịch, đồng thời bảo
vệ được môi trường hoang sơ, bảo vệ các hệ sinh thái mỏng manh? du lịch "xanh" đang được tích cực tiếp thị như một giải pháp "cùng thắng" cho thế giới thứ ba thực
Trang 18sự có thể đem lại kết quả như vậy? Làm sao để có sự công bằng hơn trong việc hưởng lợi từ du lịch? Câu trả lời gắn với đề xuất về việc xây dựng và kiên trì thực hiện chiến lược du lịch bền vững như một yêu cầu và điều kiện tiên quyết trong suốt quá trình phát triển du lịch; về các giải pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và hệ sinh thái; giáo dục trách nhiệm, lương tâm xã hội trong ngành công nghiệp du lịch; cộng đồng và bình đẳng lợi ích, tăng cường sự chia sẻ giữa các quốc gia nhất là giữa các nước phát triển với nước đang phát triển và nước nghèo
- Cuốn “Ecotourism: A Sustainable Approach of Tourism in Jordan”(Du
lịch sinh thái: Một cách tiếp cận bền vững của du lịch ở Jordan) của Al-mughrabi và Abeer [122]: Các tác giả cuốn sách nêu một số nội dung lý luận về du lịch sinh thái như định nghĩa, nguyên tắc, tác động của du lịch sinh thái đối với tài nguyên và môi trường, từ đó khẳng định vai trò của du lịch sinh thái như một hướng phát triển du lịch bền vững hơn Trên cơ sở hệ thống lý luận về du lịch sinh thái, các tác giả nêu một số điển hình về kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái ở Úc và Bulgaria và
đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Jordan, đưa ra một số khuyến nghị chính sách thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái ở Jordan Các khuyến nghị này cũng có thể nghiên cứu để vận dụng cho các quốc gia, địa phương có những tài nguyên và điều kiện phát triển du lịch tương tự
- Cuốn “Tourism and sustainable community development” (Du lịch và
phát triển cộng đồng bền vững) của Greg Richards và Derek Hall [128]: Dựa trên kết quả khảo sát, nghiên cứu phong phú được tiến hành ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, tác giả tìm cách trả lời câu hỏi: các cộng đồng địa phương có thể đóng góp những gì cho du lịch bền vững và ngược lại, du lịch bền vững sẽ mang lại điều gì cho các cộng đồng địa phương? Ở đây, dưới các biểu hiện cụ thể khác nhau, những tác động của du lịch đến sự phát triển và bảo tồn bản sắc của cộng đồng bản địa cũng như vai trò của các cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch bền vững trên cả ba khía cạnh kinh tế, văn hóa và môi trường được khắc họa một cách chân thực và sinh động; từ đó tác giả khẳng định và nhấn mạnh vai trò của mối quan hệ tương tác giữa du lịch và cộng đồng trong phát triển bền vững, đề xuất các giải pháp nhằm tạo điều kiện để các cộng đồng được tham gia và hưởng lợi nhiều hơn từ hoạt động du lịch, cũng chính là cách thức để sự phát triển của du lịch có tính hài hòa, bền vững hơn
Trang 19- Bài viết “Sustainable Rural Tourism: Lessons for Rural Development” (Du
lịch nông thôn bền vững: Bài học cho phát triển nông thôn) của Ruth McAreavey và John McDonagh [138]: Qua nghiên cứu một số trường hợp điển hình du lịch nông thôn ở vùng Bắc Ireland, các tác giả đề cập đến một hình thức du lịch cụ thể, với đặc thù của các hoạt động du lịch gắn với điểm đến là vùng nông thôn; đánh giá các yếu
tố bền vững từ góc độ văn hóa, xã hội của hình thức du lịch này Bốn chủ đề được phân tích trong bài viết (năng lực thể chế, tính hợp pháp của cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch, sự điều hướng quan hệ lợi ích giữa các bên liên quan, du lịch nông thôn bền vững trong thực tế) nhằm trả lời cho câu hỏi: Những khả năng mà
du lịch nông thôn bền vững có thể đem lại cho phát triển nông thôn? ngược lại, một khu vực nông thôn phát triển hỗ trợ gì cho phát triển du lịch bền vững ở điểm đến nông thôn đó? Từ đó làm rõ mối quan hệ giữa du lịch nông thôn bền vững và phát triển nông thôn, ý nghĩa của phát triển du lịch nông thôn bền vững đối với phát triển nông thôn, của phát triển nông thôn với du lịch nông thôn bền vững
- Bài viết “Cultural tourism and sustainable development”(Du lịch văn hóa
và phát triển bền vững) của Valeriu và Elena-Manuela [148]: Các tác giả tập trung phân tích những tác động ảnh hưởng của các loại hình du lịch văn hóa đối với sự phát triển của một vùng, miền, khu vực kinh tế, xã hội Những tác động, ảnh hưởng
đó theo hướng tích cực hay hạn chế, đóng góp ở mức độ nào cho sự phát triển bền vững của một vùng, miền, khu vực tùy thuộc vào việc loại hình du lịch văn hóa cụ thể có được tổ chức tốt và được quản lý khoa học, cân đối giữa khai thác và bảo tồn giá trị văn hóa, phát huy được yếu tố tích cực của giá trị văn hóa và huy động được
sự tham gia tích cực của cộng đồng trong các hoạt động du lịch hay không Khi các khía cạnh bền vững được thể hiện trong du lịch văn hóa thì sự đóng góp của du lịch văn hóa đó cho sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương mang tính bền vững
1.1.2.3 Nghiên cứu các kinh nghiệm, giải pháp cụ thể phát triển du lịch bền vững
Nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu của các học giả, nhóm học giả, các tổ chức trên thế giới về những kinh nghiệm, giải pháp cụ thể phát triển du lịch bền vững Các nghiên cứu này thường vận dụng những nội dung lý thuyết chung về phát triển du lịch bền vững vào việc đánh giá, phân tích các chương trình, kế hoạch,
Trang 20chính sách, thực trạng phát triển du lịch của một quốc gia, khu vực hoặc cụ thể hơn
là phân tích, đánh giá một số mô hình phát triển du lịch ở các quốc gia, địa phương,
từ đó rút ra những kinh nghiệm và đề xuất, khuyến nghị các giải pháp về thể chế, chính sách, chiến lược cũng như giải pháp tổ chức thực hiện cho phát triển du lịch bền vững ở một số khía cạnh nội dung, một số điểm đến hoặc địa phương, quốc gia
cụ thể; đồng thời cũng qua phân tích, đánh giá thực tế để đề xuất bổ sung các nội dung lý luận về phát triển du lịch bền vững Có thể nêu một số công trình nghiên
cứu theo hướng này như: “Sustainable Ecotourism in Amazonia: Evaluation of Six Sites in Southeastern Peru” (Du lịch sinh thái bền vững ở Amazonia: Đánh giá 6 điểm đến ở Đông Nam Peru) của Tiffany M Doan [140]; “The Kerala Tourism Model - An Indian State - on the Road to Sustainable Development” (Mô hình du
lịch ở Kerala - một tiểu bang của Ấn Độ - Trên con đường tới sự phát triển bền
vững) của Tatjana Thimm [139]; “Rural Tourism in Spain” (Du lịch nông thôn ở
Tây Ban Nha) của Michael Barke [136]
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở TRONG NƯỚC
1.2.1 Nghiên cứu lý luận chung về phát triển du lịch bền vững
- Tuyển tập báo cáo tại Hội thảo quốc tế “Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”, do Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với Quỹ HANNS SEIDEL tổ chức
[93] Đây là tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học quốc tế và trong nước về các nội dung liên quan đến phát triển du lịch bền vững Các tác giả đã
đề cập, phân tích các khía cạnh của phát triển du lịch bền vững Nhiều nghiên cứu
đã tóm lược một số nội dung lý luận về phát triển du lịch như nội hàm khái niệm du lịch, quan niệm về du lịch bền vững, các dấu hiệu, yếu tố tác động, đánh giá tính bền vững trong một số loại hình hoặc hướng phát triển du lịch cụ thể (du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng…); nhìn nhận, đánh giá thực tế mối quan hệ giữa sự phát triển của du lịch với duy trì đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn văn hóa và phát triển cộng đồng, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ; phân tích trường hợp điển hình về phát triển du lịch bền vững hoặc không bền vững tại một số quốc gia, vùng du lịch trên thế giới cũng như ở Việt Nam và rút ra những kinh nghiệm cụ thể Trên cơ sở thảo luận, nghiên cứu,
Trang 21phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn, các tác giả đã đưa ra khuyến nghị chính sách cho sự phát triển và quản lý phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững hơn Tuy nhiên, trong giới hạn các bài viết, bài nghiên cứu ngắn của một hội thảo, các nội dung lý luận về phát triển du lịch bền vững chưa được phân tích sâu; nhiều khía cạnh của du lịch bền vững chưa được đề cập cụ thể
- “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”, tác
giả Phạm Trung Lương [56] Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống ở cấp độ Nhà nước về phát triển du lịch bền vững Công trình đã tiếp cận khoa học các vấn đề về phát triển du lịch bền vững; tổng quan và hệ thống hóa một số nội dung lý luận về phát triển du lịch bền vững như khái niệm, những nguyên tắc cơ bản, dấu hiệu nhận biết, mô hình lý thuyết về phát triển du lịch bền vững; phân tích một số mô hình và kinh nghiệm quốc tế; phân tích thực trạng phát triển du lịch Việt Nam với các số liệu nghiên cứu từ năm 1992 đến thời điểm thực hiện đề tài; xác định một số vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển du lịch bền vững đối với Việt Nam; đề xuất một số giải pháp chính sách và thực tiễn cho phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
- “Phát triển du lịch bền vững khu vực duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam”,
do trường Đại học Thương mại, Trường Cao đẳng Thương mại Đà Nẵng và Trường Đại học Nam Hoa (Đài Loan) đồng tổ chức [24] Kỷ yếu gồm 59 bài nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học, nhà quản lý trong nước và quốc tế Trong nội dung nhiều bài viết, các tác giả đã hệ thống những vấn đề lý luận chung về phát triển du lịch bền vững, làm rõ nội hàm khái niệm phát triển du lịch bền vững, các nguyên tắc, khía cạnh bền vững trong phát triển du lịch, sản phẩm du lịch, thương hiệu và quảng bá du lịch, liên kết phát triển du lịch bền vững
- Bài viết “Luận bàn về quan điểm phát triển du lịch bền vững và không bền vững” của Lê Chí Công [9] Sau khi khái lược một loạt quan điểm về phát triển du
lịch bền vững, tác giả phân tích, so sánh những điểm khác nhau cơ bản giữa phát triển du lịch bền vững và không bền vững dựa trên các yếu tố đánh giá như tốc độ phát triển, mức độ kiểm soát, mục tiêu, phương pháp tiếp cận, đối tượng tham gia kiểm soát, yếu tố chiến lược, kế hoạch, quản lý, việc sử dụng nguồn lực, thái độ của
du khách…; nhấn mạnh sự cần thiết phải đi đến một quan điểm toàn diện và đầy đủ
Trang 22về phát triển du lịch bền vững, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và vận dụng trong thực tiễn quản lý phát triển du lịch
- Một số Luận án Tiến sĩ Kinh tế đã được công bố có nội dung nghiên cứu lý luận về phát triển du lịch bền vững:
+ Trần Tiến Dũng “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng”
[22] Luận án khái lược một số vấn đề lý luận chung về phát triển du lịch bền vững như các quan niệm về du lịch bền vững và phát triển du lịch bền vững, mục tiêu, nguyên tắc, các chỉ số đánh giá tính bền vững của du lịch Luận án có ý nghĩa tham khảo nhất định cho việc nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững một số loại hình du lịch cụ thể Tuy nhiên, một số nội dung lý luận của du lịch bền vững như các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững, các yếu tố tác động đến phát triển
du lịch bền vững chưa được tác giả nghiên cứu sâu
+ Nguyễn Đức Tuy “Giải pháp phát triển du lịch bền vững Tây Nguyên”
[103] Luận án hệ thống một số nội dung lý luận về phát triển du lịch bền vững như định nghĩa, các yếu tố tác động, các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững; các vấn đề về hợp tác, liên kết vùng trong phát triển du lịch bền vững Tuy nhiên, một số vấn đề chung về du lịch bền vững như các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, vấn đề sức chứa trong du lịch để đảm bảo tính bền vững chưa được tác giả đề cập sâu
+ Nguyễn Tư Lương “Chiến lược phát triển du lịch bền vững tỉnh Nghệ An đến năm 2020” [53] Trong phần khái lược, hệ thống nội dung lý luận chung về
phát triển du lịch bền vững, luận án đã tổng hợp, phân tích các quan điểm tiếp cận
về phát triển du lịch bền vững và chiến lược phát triển du lịch bền vững, nêu vai trò
và phân tích nội dung cơ bản của chiến lược phát triển du lịch bền vững đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của một địa phương Tuy nhiên, luận án chủ yếu chỉ tiếp cận và tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển du lịch bền vững, do đó một số nội dung lý luận chung khác về phát triển du lịch bền vững như các nguyên tắc, tiêu chí đánh giá phát triển bền vững chưa được
đề cập Mặt khác, trong nội dung nghiên cứu về quy trình xây dựng chiến lược, luận
án chưa đề cập sâu đến vấn đề dự báo dài hạn các yếu tố liên quan và vấn đề liên kết, phối hợp chiến lược giữa các địa phương
Trang 231.2.2 Nghiên cứu các khía cạnh cụ thể của phát triển du lịch bền vững, các kinh nghiệm và giải pháp thực tế phát triển du lịch bền vững
1.2.2.1 Nghiên cứu mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch và phát triển du lịch bền vững
- Cuốn sách “Tài nguyên du lịch Việt Nam” của Thế Đạt [33] Với mục
đích hệ thống nguồn tài nguyên du lịch phong phú của Việt Nam phục vụ cho phát triển du lịch, công trình đã tổng hợp các thông tin liên quan đến nhiều tài nguyên
du lịch trên đất nước Việt Nam (như địa danh có tài nguyên, nguồn gốc của tài nguyên phi vật thể, ý nghĩa, giá trị của tài nguyên…) theo từng nhóm loại: Tài nguyên du lịch của hệ sinh thái đồng bằng; tài nguyên của hệ sinh thái núi - rừng, biển đảo; tài nguyên lễ hội, các thể loại ca nhạc tiêu biểu, các nhạc cụ truyền thống của một số dân tộc; tài nguyên của loại hình du lịch cộng đồng Tuy chưa đầy đủ, còn nhiều tài nguyên du lịch nhất là các tài nguyên du lịch nhân văn chưa được thống kê, nhưng tài liệu có ý nghĩa tham khảo thiết thực cho việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình du lịch, liên kết trong phát triển du lịch để tăng tính hấp dẫn, đa dạng của sản phẩm du lịch các vùng miền; đồng thời góp phần vào việc hệ thống hóa tài nguyên và xây dựng các biện pháp bảo vệ tài nguyên cho phát triển du lịch bền vững
- “Phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Tây Bắc Việt Nam trên phương diện đánh giá điều kiện tự nhiên” của Đỗ Trọng Dũng [23] Với mục tiêu thúc đẩy
sự phát triển của du lịch sinh thái bền vững cho khu vực Tây Bắc của đất nước, công trình đi sâu vào một số nội dung nghiên cứu chính: hệ thống các khái niệm cơ bản về phát triển du lịch sinh thái, vị trí của du lịch sinh thái trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam; đánh giá điều kiện tự nhiên, phân tích mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên và các tài nguyên du lịch tự nhiên đối với du lịch sinh thái bền vững, vai trò của các điều kiện tự nhiên và nhân văn trong phát triển du lịch sinh thái; phân tích hiện trạng phát triển và các mô hình quản lý hoạt động du lịch sinh thái ở tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Nội dung công trình cũng đề xuất những giải pháp cho sự phát triển du lịch sinh thái trong khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, do chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố tự nhiên ở một khu vực địa lý cụ thể gắn với phát triển du lịch sinh thái bền vững nên các nội dung lý luận về phát triển du lịch bền vững nói chung mới chỉ được đề cập ở mức độ rất hạn hẹp Ý nghĩa của công trình
Trang 24nghiên cứu đối với đề tài thể hiện ở những thông tin cụ thể về điều kiện tự nhiên của các địa phương khu vực miền núi Tây Bắc; vềmột số giải pháp có giá trị tham khảo nhất định nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tự nhiên trong mối liên kết giữa các địa phương ở khu vực trong đó có tỉnh Phú Thọ cho phát triển du lịch bền vững
- Bài viết “Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên cho phát triển
du lịch bền vững” của Nguyễn Minh Tuệ, Phạm Lê Thảo [102] Bài viết hệ thống
các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, trong đó tập trung phân tích ý nghĩa và yêu cầu của nguyên tắc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên trong phát triển du lịch Theo các tác giả, sử dụng hợp lý tài nguyên bao gồm cả phát huy hiệu quả sử dụng trong hiện tại trên cơ sở kiểm kê đánh giá, quy hoạch phù hợp để sử dụng cho các mục tiêu cụ thể; đồng thời sử dụng sao cho các nguồn tài nguyên này còn có thể được lưu lại cho các thế hệ tương lai Do đó, trong kế hoạch phát triển du lịch bền vững cần có sự tính toán hợp lý giữa phần sử dụng trước mắt với việc để dành lại một phần cho bảo tồn và tái tạo tài nguyên tự nhiên để ngăn chặn sự xuống cấp của tài nguyên và môi trường
- Bài viết “Bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững” của Nguyễn
Thế Đồng [35] Tác giả phân tích, làm rõ vai trò của môi trường, vai trò, ý nghĩa của việc đảm bảo quản lý nhà nước chặt chẽ đối với sự phát triển du lịch bền vững Để đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong thời gian tới, theo tác giả, cần quan tâm một số giải pháp như tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó quy định những nội dung mới như du lịch có trách nhiệm, chi trả dịch vụ môi trường hệ sinh thái; chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu du lịch đảm bảo tính khoa học; tăng cường năng lực quản lý môi trường trong các khu du lịch, trong đó cần có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể quản lý nhà nước với các công ty du lịch và cộng đồng dân cư địa phương; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường; Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội; phát triển sinh kế cho người dân góp phần bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, chú trọng phát triển dịch vụ du lịch tại địa phương, hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch dựa vào cộng đồng; tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa phương thức hợp tác trong phát triển du lịch bền vững
Trang 25- Bài viết “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản phục vụ chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Võ Quế [60] Từ
những đánh giá, phân tích về kết quả tích cực cũng như những vấn đề còn hạn chế
và nguyên nhân của hạn chế trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản của quốc gia - trong đó có các di sản văn hóa của vùng đất Tổ Phú Thọ - trong hoạt động du lịch, tác giả đề xuất một số giải pháp trọng tâm cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch bền vững, đó là: Hoàn chỉnh hệ thống chính sách về di sản, nhất là những chính sách xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích; giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; thực hiện nghiêm chỉnh 6 nguyên tắc của Công ước quốc tế về du lịch văn hóa (tạo cơ hội quản lý tốt và có trách nhiệm cho các chủ thể tham gia du lịch; quản lý bền vững mối quan hệ giữa các địa điểm di sản và du lịch; lên kế hoạch bảo vệ và du lịch cho các địa điểm di sản; các cộng đồng chủ nhà và dân chúng bản địa phải được tham gia vào việc lập kế hoạch bảo vệ và du lịch; hoạt động du lịch và bảo vệ phải có lợi cho cộng đồng chủ nhà; các chương trình xúc tiến du lịch phải bảo vệ và phát huy các đặc trưng của di sản)
- Cuốn “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” của Dương Văn Sáu
[66] Tác giả đã nghiên cứu tổng quan về lễ hội Việt Nam với ý nghĩa là một loại tài nguyên nhân văn cho phát triển du lịch, cụ thể những đặc điểm, tính chất, các hoạt động diễn ra và tác động của lễ hội đến du lịch, nêu những giải pháp bảo tồn lễ hội
và phát huy giá trị của các lễ hội cho phát triển du lịch, phân tích khía cạnh tích cực của du lịch trong việc thúc đẩy các hoạt động thực hành lễ hội theo hướng duy trì bản sắc và nét đẹp truyền thống, từ đó có ý nghĩa góp phần giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa của lễ hội
1.2.2.2 Nghiên cứu về một số hình thức, hướng phát triển du lịch có yếu
Trang 26quan hệ giữa du lịch sinh thái và phát triển Du lịch sinh thái, như những kiến giải của tác giả, có vai trò quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển cộng đồng, phát triển bền vững, do đó, hoạt động du lịch sinh thái mang tính bền vững Tác giả cũng phân tích những tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam; đề xuất định hướng và một số giải pháp cơ bản phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
- “Bộ công cụ du lịch có trách nhiệm”, do ESRT Việt Nam xây dựng [37]
Bộ công cụ này được ESRT xác định là một trong các mục tiêu xây dựng năng lực cho các bên liên quan trong ngành du lịch Việt Nam để đạt được các lợi ích tổng thể
về phát triển kinh tế - xã hội (trong khi vẫn bảo tồn được các nguồn lực về tự nhiên
và văn hóa từ du lịch) Tài liệu tổng hợp, phân tích một số vấn đề chung về du lịch
và du lịch có trách nhiệm (một hướng phát triển du lịch mà theo ESRT là lấy những nguyên tắc của du lịch bền vững làm cốt lõi) như: định nghĩa về du lịch, tác động của du lịch đến môi trường, kinh tế và xã hội, các nguyên tắc của du lịch có trách nhiệm, phát triển sản phẩm du lịch có trách nhiệm, marketing và truyền thông có trách nhiệm trong du lịch, sử dụng lao động có trách nhiệm, xây dựng năng lực trách nhiệm của một tổ chức, chuỗi cung ứng du lịch có trách nhiệm, giám sát tác động của du lịch có trách nhiệm, hoạch định và quản lý du lịch có trách nhiệm, trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh một số loại dịch vụ gắn liền với du lịch, vấn đề kiểm soát sử dụng nguồn nước, năng lượng và rác thải trong kinh doanh du lịch, chính sách và quy hoạch du lịch có trách nhiệm Tài liệu cũng đề cập vai trò, trách nhiệm của ba nhóm đối tượng trong phát triển du lịch có trách nhiệm: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các cộng đồng dân cư tại điểm đến có tham gia vào du lịch Tài liệu không thể hiện nhiều về quan điểm nghiên cứu đối với các vấn đề mang tính học thuật mà chủ yếu dưới dạng hệ thống hóa thông tin, tư liệu có gắn với ví dụ và phân tích thực tế Tuy nhiên, tài liệu có ý nghĩa tham khảo khá thiết thực nhất là trong quản lý du lịch và thực hành các hoạt động du lịch theo hướng bền vững đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở kinh doanh du lịch và với cộng đồng dân cư tại các điểm đến du lịch
- “Du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững” do Bộ VH, TT&DL phối hợp
với UNWTO tổ chức [7] Cuốn Kỷ yếu tập hợp một số bài nghiên cứu của các học
Trang 27giả quốc tế và trong nước về các nội dung liên quan đến chủ đề về du lịch tâm linh
vì sự phát triển bền vững Trong nội dung các bài viết, các tác giả đề cập một số vấn đề chung về phát triển bền vững và du lịch bền vững, các quan niệm về du lịch tâm linh, đặc điểm, xu hướng phát triển; nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tâm linh, đạo đức và du lịch bền vững, giữa di sản văn hóa với du lịch tâm linh và phát triển bền vững Các tác giả cũng đều khẳng định ý nghĩa, vai trò, tác động mạnh mẽ và tích cực của du lịch tâm linh trong xã hội, đối với các nền kinh tế nếu
du lịch đó được định hướng bởi các nguyên tắc phát triển bền vững và có trách nhiệm, với quan niệm rằng mục tiêu lợi nhuận không nên là ưu tiên tuyệt đối của phát triển du lịch; đề xuất các giải pháp kết nối văn hóa, truyền thống và tâm linh với du lịch trong quá trình phát triển theo hướng đảm bảo tôn trọng các trụ cột của phát triển bền vững, nhằm tăng cường ý nghĩa, vai trò, tác động tích cực nói trên của du lịch tâm linh Do chỉ tập trung vào chủ đề hội thảo nên trong các bài viết của
Kỷ yếu, nội dung lý thuyết về du lịch bền vững không mở rộng nhiều Tuy nhiên, đây là một tài liệu có ý nghĩa tham khảo trực tiếp đối với đề tài, đặc biệt là trong việc nghiên cứu các giải pháp phát triển du lịch tâm linh bền vững ở tỉnh Phú Thọ, một địa phương có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đặc thù gắn với truyền thống văn hóa thời kỳ các Vua Hùng dựng nước, với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và
có lợi thế cho phát triển du lịch tâm linh - hành hương về cội nguồn dân tộc
- Cuốn “Du lịch cộng đồng” của Bùi Thị Hải Yến [121] Trên cơ sở nghiên
cứu hệ thống lý luận và thực tiễn phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới cũng như trong nước, các tác giả đưa ra quan niệm về du lịch cộng đồng như một phương thức phát triển du lịch bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch; phân tích các nguyên tắc, đặc điểm của du lịch cộng đồng, vai trò của du lịch cộng đồng trong phát triển cộng đồng, bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch và phát triển du lịch theo hướng bền vững Cuốn sách cũng đề xuất một quy trình xây dựng quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng, các nội dung của quy hoạch, khuyến nghị những giải pháp cần thiết để tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng có kết quả, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch cộng đồng bền vững
Trang 28- Bài viết “Du lịch tâm linh ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển” của Nguyễn Văn Tuấn [101] Từ những tổng kết thực tế phát triển du lịch
tâm linh, tác giả khẳng định vai trò và những đóng góp tích cực của loại hình du lịch này cho phát triển bền vững, thể hiện qua việc cộng đồng địa phương được tham gia, tạo việc làm từ hoạt động du lịch, đặc thù của về tâm thế của đối tượng khách du lịch khiến du lịch tâm linh đạt tới sự phát triển cân bằng về các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững Nói cách khác, hoạt động du lịch tâm linh tích cực luôn chứa đựng các yếu tố bền vững, hướng đến sự phát triển bền vững Tác giả cũng phân tích các tiềm năng, xu hướng phát triển và kiến nghị những giải pháp phát triển hoạt động du lịch tâm linh thời gian tới
1.2.2.3 Nghiên cứu các kinh nghiệm, giải pháp cụ thể phát triển du lịch bền vững
- Các bài nghiên cứu, bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Phát triển du lịch bền vững khu vực duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam” [24] Ngoài các nội
dung nghiên cứu, hệ thống lý luận chung về phát triển du lịch bền vững, các bài nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học trong nước và quốc tế tập trung vào hai chủ đề chính: Những kinh nghiệm quốc tế về phát triển du lịch bền vững và thực trạng quản lý phát triển du lịch bền vững tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ; chính sách và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở duyên hải Nam Trung Bộ Trong các bài viết, các tác giả đã phân tích các kinh nghiệm thành công từ nhiều quốc gia (như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc…) trong phát triển du lịch bền vững; đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến trong bối cảnh toàn cầu hóa; đánh giá vai trò quản lý của các cấp chính quyền và đề xuất các chính sách tăng cường quản lý, xây dựng thương hiệu, định hướng liên kết, phát triển du lịch bền vững các tỉnh khu vực duyên hải Nam Trung Bộ dưới tác động của cộng đồng ASEAN và các Hiệp định
mà Việt Nam tham gia Các nội dung được đề cập, trao đổi, phân tích trong Kỷ yếu khá phong phú, phần lớn gắn với các vấn đề thực tế trong phát triển du lịch Kỷ yếu có ý nghĩa tham khảo quan trọng trong việc xây dựng các giải pháp phát triển
và quản lý phát triển du lịch bền vững đối với chính quyền địa phương cấp tỉnh
Trang 29- Bài viết “Định vị thương hiệu du lịch, nâng cao hình ảnh và vị thế của du lịch Việt Nam” của Đỗ Cẩm Thơ [83] Tác giả phân tích sự cần thiết phải định vị
thương hiệu du lịch Việt Nam và ý nghĩa của việc định vị thương hiệu đối với sự phát triển du lịch bền vững; đánh giá những thuận lợi, khó khăn cho việc định vị thương hiệu du lịch Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Từ đó, tác giả
đề xuất những giải pháp để định vị hiệu quả thương hiệu du lịch Việt Nam trong thời gian tới, bao gồm việc xác định rõ giá trị thương hiệu, xây dựng và thực hiện tốt các chiến lược định vị thương hiệu, chiến lược thị trường với các giải pháp cụ thể phù hợp Mỗi thương hiệu du lịch khi định vị được tích cực trong thị trường sẽ giúp du lịch Việt Nam từng bước khẳng định rõ giá trị trong thị trường, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế chung của cả quốc gia
- Bài viết “Định hướng đầu tư xây dựng thị trường - sản phẩm du lịch các tỉnh Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai” của Hà Văn Siêu [68] Trong bài viết, tác giả
đánh giá cụ thể thực trạng thị trường khách du lịch quốc tế và trong nước đến với ba tỉnh nằm trong mối liên kết tour du lịch về cội nguồn (Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai); nêu quan điểm về định hướng và đầu tư phát triển một số nhóm thị trường và sản phẩm du lịch chủ yếu cho các tỉnh Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai Về định hướng đầu tư phát triển các thị trường du lịch trọng điểm, tác giả cho rằng cần ưu tiên phát triển và thu hút các nhóm thị trường chất lượng cao; ưu tiên khai thác và phát triển các nhóm thị trường với mục đích tham quan du lịch thuần túy; tập trung khai thác hiệu quả các thị trường tiềm năng về nghỉ dưỡng núi và hồ; chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để khai thác các thị trường du lịch theo các chuyên đề Về định hướng đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch, tác giả đề nghị tập trung đầu tư xây dựng hệ thống các sản phẩm du lịch đặc trưng dựa trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch độc đáo, đặc sắc; sản phẩm du lịch đảm bảo tính bền vững lâu dài, mang tính đặc thù, mang thương hiệu và hình ảnh riêng có của mỗi địa phương, có chất lượng và tính cạnh tranh trên thị trường Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc xây dựng thị trường, sản phẩm du lịch ở các địa phương này, như đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao; đầu tư xây dựng
và phát triển các sản phẩm du lịch; xây dựng hình ảnh, thương hiệu và xúc tiến quảng bá; phối hợp và hợp tác liên kết giữa các ngành trong tỉnh, giữa các tỉnh
Trang 30trong khu vực, giữa các vùng phụ cận và hợp tác quốc tế trong phát triển du lịch Bài viết có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc xây dựng định hướng phát triển thị trường du lịch của tỉnh Phú Thọ
- Bài viết “Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù vùng miền núi phía Bắc” của
Đỗ Cẩm Thơ [84] Từ những phân tích, đánh giá tiềm năng lợi thế về tài nguyên du lịch của các tỉnh vùng núi phía Bắc, tác giả đề xuất xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù gắn với việc liên kết các điểm tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn cụ thể trong các cung đường du lịch vùng núi phía Bắc, trong đó các sản phẩm đặc thù
có thể được tạo nên từ các tài nguyên du lịch nổi tiếng bao gồm: Nhóm sản phẩm du lịch chinh phục thiên nhiên và thể thao mạo hiểm; nhóm sản phẩm tìm hiểu và trải nghiệm cuộc sống cộng đồng dân tộc thiểu số; nhóm sản phẩm du lịch về nguồn; nhóm sản phẩm du lịch sinh thái nông nghiệp Theo tác giả, các sản phẩm du lịch đặc thù được xác định đúng với tiềm năng, lợi thế vốn có và được đầu tư hợp lý chính là yếu tố cần thiết để phát triển du lịch bền vững; đồng thời trong quá trình đầu tư sản phẩm, cần coi trọng các giá trị làm nên tính đặc thù này để có định hướng phát triển phù hợp
- Cuốn “Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam” do
ITDR và JICA phối hợp xây dựng [46] Cuốn sách tóm tắt một số nhận thức lý luận
cơ bản về du lịch nông thôn, trong đó nhấn mạnh khía cạnh bền vững về mặt văn hóa xã hội, môi trường của du lịch nông thôn, thể hiện qua vai trò của các hoạt động
du lịch nông thôn trong việc bảo vệ di sản văn hóa, xã hội và văn hóa truyền thống
ở làng xã, phục vụ lợi ích lâu dài của cộng đồng dân cư, bảo vệ môi trường Sách cũng phân tích phương pháp và quy trình phát triển du lịch nông thôn; đánh giá và rút ra kinh nghiệm từ một số điển hình thực tế phát triển du lịch nông thôn dựa trên các mô hình đã thực hiện; hệ thống các địa danh, khu vực có nhiều tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam; đề cập vai trò của các cơ quan liên quan, đề xuất các chính sách liên quan để có thể vận dụng cẩm nang cho phát triển du lịch nông thôn Việt Nam
- Bài viết “Phát triển bền vững du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Văn Mạnh [58] Tác giả đã trình bày quan điểm chung
về phát triển du lịch bền vững, phân tích ba trụ cột của phát triển du lịch bền vững
Trang 31(kinh tế, xã hội, môi trường), đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển bền vững của du lịch Việt Nam sau một năm gia nhập WTO, đề xuất một
số giải pháp cơ bản để khắc phục những yếu kém, thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển bền vững hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Có thể kể đến những công trình nghiên cứu khác trong nước với các hướng
nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững như: “Tài nguyên du lịch”của Bùi Thị Hải Yến [120]; “Việt Nam văn hóa và du lịch” của Trần Mạnh Thường [91]; “Du lịch và Du lịch sinh thái” của Thế Đạt [32]; “Du lịch sinh thái” do tác giả Lê Huy
Bá làm Chủ biên [1]; “Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với
du lịch Việt Nam bước sang thập kỷ tới 2011-2020” của Hà Văn Siêu [69] Các
công trình nói trên đề cập đến một số khía cạnh lý luận liên quan đến phát triển du lịch bền vững; đồng thời phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch của một số địa phương, điểm đến, trong một số loại hình du lịch, trong bối cảnh và những điều kiện cụ thể Những nội dung lý luận và những giải pháp thực tế trong các bài viết có ý nghĩa tham khảo nhất định cho đề tài luận án của tác giả
1.3 NHẬN XÉT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Các nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững đã xuất hiện trên thế giới từ khoảng cuối những năm 80 của thế kỷ trước Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về vấn đề này được đặt ra sau đó, trên cơ sở tiếp cận, tiếp thu những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn của quốc tế Từ đó đến nay, phát triển du lịch bền vững ngày càng thu hút sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu, vừa bởi
ý nghĩa của vấn đề này với các quốc gia, các nền kinh tế - xã hội cả trước mắt cũng như lâu dài; vừa vì việc nghiên cứu và thực hành phát triển du lịch bền vững đã trở thành yêu cầu mang tính thời sự và ngày càng trở nên bức thiết hơn cho mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế trong thời đại ngày nay Số lượng các nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ngày càng phong phú, đa dạng hơn
- Khái quát chung tình hình nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững cho thấy: + Phần lớn các nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững xuất phát từ góc nhìn của phát triển bền vững nói chung để hình thành nên những nội dung lý
Trang 32luận về phát triển du lịch bền vững Chính vì vậy, các yếu tố có tính nguyên tắc chung, các trụ cột của phát triển bền vững cũng đều được thể hiện trong khung lý thuyết về phát triển du lịch bền vững, đó là các yếu tố, khía cạnh về kinh tế, văn hóa - xã hội và tài nguyên môi trường, sự cân đối và tương tác giữa các yếu tố
đó, cân đối giữa phát triển trước mắt và phát triển lâu dài nhằm đảm bảo mục tiêu bền vững dài hạn
+ Các quan điểm lý luận về phát triển du lịch bền vững đã dần đi đến những điểm chung nhất về những vấn đề lớn và có tính bao trùm; khung lý thuyết về phát triển du lịch bền vững ngày một được bổ sung hoàn chỉnh hơn Các công trình nghiên cứu, ở từng thời điểm cụ thể, với chủ đề, quy mô, phương pháp tiếp cận khác nhau đã khai thác khá đa dạng, ở nhiều góc độ và mức độ về phát triển du lịch bền vững Nhiều công trình khá công phu về lý luận, có sự bổ sung, cập nhật các thành tựu cả về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn Các nghiên cứu về sau có xu hướng ngày càng tiếp cận sâu và chi tiết những vấn đề cụ thể,
có tính ứng dụng trực tiếp vào thực tế, gắn với yếu tố bền vững trong một số loại hình, sản phẩm du lịch, với một số khía cạnh của phát triển du lịch bền vững và nghiên cứu vận dụng các nội dung lý luận chung về phát triển du lịch bền vững cho xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, hoạch định chính sách và đề xuất các biện pháp phát triển du lịch bền vững ở các vùng miền, khu vực, địa phương, điểm đến du lịch cụ thể
+ Do tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng và xã hội hóa rất cao của hoạt động
du lịch nên vấn đề phát triển du lịch bền vững thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ chuyên ngành như kinh tế, môi trường, địa lý, văn hóa, lao động xã hội Các công trình nghiên cứu trong nước về phát triển du lịch bền vững phần nhiều được tiếp cận, trình bày dưới góc độ của các chuyên ngành quản lý kinh tế, kinh tế môi trường, tài nguyên, môi trường, văn hóa Các công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề phát triển du lịch bền vững dưới góc độ kinh tế phát triển chưa nhiều
1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Một là, vẫn còn có những quan điểm chưa thống nhất hoàn toàn về khái
niệm, nội dung, tiêu chí và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững
Trang 33- Một số tác giả tiếp cận nội dung theo nội hàm ba trụ cột của phát triển bền vững (phát triển kinh tế, xã hội và môi trường theo hướng bền vững); một số tác giả khác tiếp cận nội dung theo hướng làm gì để phát triển du lịch bền vững, theo
đó các nội dung chủ yếu của phát triển du lịch bao gồm quy hoạch và kế hoạch
phát triển du lịch; huy động và sử dụng các nguồn lực theo hướng hiệu quả
- Từ cách tiếp cận khác nhau về nội dung phát triển du lịch bền vững dẫn đến
sự thể hiện khác nhau về nội dung, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững
Hai là, mức độ tương quan như thế nào để được coi là “kết hợp” hoặc “cân
đối hợp lý” giữa ba trụ cột kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường trong phát triển
du lịch bền vững chưa được phân tích sâu ở góc độ lý thuyết chung Đây là vấn đề phức tạp, khó đưa ra một phương án chung mang tính định lượng về các mối tương quan này để có thể áp dụng cho tất cả các mô hình thực hành phát triển du lịch bền vững, trong mọi giai đoạn phát triển Song, để phát triển du lịch bền vững có tính khả thi trên thực tế, vấn đề này cần được nghiên cứu sâu hơn, gắn với không gian, thời gian và các điều kiện cụ thể mà lý thuyết về phát triển du lịch bền vững sẽ được vận dụng
Ba là, các công trình nghiên cứu lý luận về phát triển du lịch bền vững đều
tiếp cận và phân tích vấn đề nghiên cứu ở khía cạnh mục tiêu hướng đến, những yêu cầu và nguyên tắc của sự phát triển dưới góc độ quản lý kinh tế, chưa có công trình nào tiếp cận và phân tích sâu về mặt lý luận để làm rõ các nội dung, đặc biệt là đặc điểm của phát triển du lịch bền vững
Bốn là, hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững chưa có sự
thống nhất, phần lớn các công trình mới chỉ đưa ra các tiêu chí định tính, khó cụ thể hóa thành các chỉ tiêu đánh giá phát triển du lịch bền vững có tính khả thi để áp dụng trên thực tế; chưa có công trình nào phân tích và đề xuất được bộ tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững phù hợp với phạm vi, quy mô, đặc thù về điều kiện phát triển du lịch, năng lực phân tích, đánh giá của các địa phương cấp tỉnh
Năm là, vấn đề nghiên cứu ở cấp độ Tiến sĩ, dưới góc độ kinh tế phát triển về
phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ - với những đặc trưng riêng về điều kiện
tự nhiên, văn hóa và xã hội - chưa được công trình nào đặt ra Vì vậy, có thể khẳng
Trang 34định, đề tài “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” không trùng lắp với các
công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước
Trên cơ sở kế thừa và chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố, Luận
án nghiên cứu đề tài “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” tiếp tục giải
quyết những vấn đề cụ thể sau:
- Về mặt lý luận:
+ Hệ thống hóa và đề xuất khái niệm, nội dung phát triển du lịch bền vững, đề xuất bộ tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh;
+ Phân tích đặc điểm và vai trò của phát triển du lịch bền vững;
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh;
- Về thực tiễn:
+ Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng mô hình phát triển du lịch bền vững ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ, một số địa phương, khu du lịch trong nước và rút ra những giá trị tham khảo cho phát triển du lịch bền vững ở cấp tỉnh
+ Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch Phú Thọ trên cơ sở các nội dung lý luận chung về phát triển du lịch bền vững; chỉ rõ những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ dưới góc
độ phát triển bền vững; phân tích những cơ hội và thuận lợi, khó khăn và thách thức của Phú Thọ cho phát triển du lịch bền vững;
+ Đề xuất mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ trong những năm tới
Trang 35Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
2.1.1 Khái niệm phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững
2.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững từng bước được hình thành cùng với quá trình nhận thức về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của các quốc gia trên thế giới Đối mặt với những hậu quả do tham vọng thúc đẩy phát triển kinh tế thật nhanh chóng từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, con người bắt đầu nhìn nhận về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên và sự cần thiết phải gắn các mục tiêu về tiến bộ xã hội trong quá trình phát triển kinh tế Vào khoảng những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường được công bố Năm 1980, thuật ngữ “phát triển
bền vững” lần đầu tiên được đề cập trong bản Chiến lược bảo tồn thế giới do IUCN,
với sự hợp tác của UNEP và WWF công bố, với nội dung: “để sự phát triển bền vững thì cùng với yếu tố kinh tế, nó phải tính đến cả các yếu tố xã hội và sinh thái; yếu tố tài nguyên tái tạo và không tái tạo; và tính đến những thuận lợi, khó khăn cả trước mắt cũng như lâu dài trong các phương án hành động” [130, tr.11]
Năm 1987, báo cáo Tương lai chung của chúng ta (còn gọi là Báo cáo Brundtland) do WECD ấn hành đưa ra quan điểm của Liên hiệp quốc về phát triển
bền vững, theo đó phát triển bền vững được hiểu là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [149, tr.43]
Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về Môi trường và Phát triển của
Liên hiệp quốc họp tại Rio de Janeiro (Brazil) thông qua Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) [141] Với 27 nguyên
tắc trong Tuyên bố, cùng 40 nhóm nội dung được thể hiện trong Chương trình nghị
sự, quan niệm về phát triển bền vững được hoàn chỉnh hơn, không chỉ bao gồm các yếu tố tăng trưởng gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, mà còn đề cập đến các
Trang 36khía cạnh về bảo đảm sự tiến bộ xã hội cho con người trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển Các nội dung này tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững (WSSD) họp tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 Theo đó, quan niệm về phát triển bền vững được Liên hiệp quốc đưa ra là: “bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định trong mối quan hệ với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống” [141, tr.15,16; 142, tr.16] Phát triển bền vững theo quan điểm của Liên hiệp quốc tập trung vào ba khía cạnh (trụ cột) mà sự phát triển đó muốn đạt đến là: bền vững về mặt kinh tế; bền vững về mặt
xã hội; bền vững về môi trường sinh thái
Bước sang thế kỷ XXI, trước những diễn biến mới của các yếu tố toàn cầu hóa, hội nhập và biến đổi khí hậu với xu hướng ngày càng nhanh hơn, quan điểm phát triển bền vững với ba trụ cột của sự phát triển một mặt nhìn chung tiếp tục nhận được sự đồng thuận từ nhiều nghiên cứu cũng như tại các chương trình nghị sự lớn của thế giới (như RIO+20, COP 21), mặt khác nội hàm của các trụ cột, phạm vi của sự phát triển được mở rộng, đề cập sâu hơn các vấn đề toàn cầu mà mọi quốc gia đều phải đối mặt
Ở Việt Nam, quan điểm về phát triển bền vững được tiếp cận nghiên cứu và từng bước vận dụng trong hoạch định chủ trương, chính sách phát triển từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước và ngày càng được bổ sung, hoàn thiện Năm 1991,
bản Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000
được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành, trong đó một số nội dung được tiếp cận theo quan điểm phát triển bền vững của quốc tế ở thời điểm đó Tại Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị khẳng định quan điểm “bảo vệ môi trường
là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [4] Quan điểm phát triển bền vững được bổ sung và khẳng định rõ hơn trong các Văn kiện của Đảng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định con đường phát triển kinh tế - xã hội của nước ta là
“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [28, tr.162] Các văn kiện Đại hội
Trang 37Đảng các khóa X, XI tiếp tục nhấn mạnh quan điểm này Đại hội XII nhấn mạnh quan điểm phát triển bền vững, đồng thời bổ sung định hướng “Phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu” [31, tr.270] và chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu
- một mô hình thực định của phát triển bền vững
Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ Quyết định ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam),
trong đó đã đưa ra mục tiêu tổng quát và các nguyên tắc chính để phát triển bền vững [86] Những mục tiêu này tiếp tục được khẳng định, bổ sung phù hợp trong
Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 ban hành năm
2012, với nội dung “Tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến độ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”
[88, tr.2] Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 cũng xác
định ba nhóm định hướng ưu tiên nhằm phát triển bền vững trong cả giai đoạn, tương ứng với ba khía cạnh của phát triển bền vững (gồm các định hướng ưu tiên về kinh tế, về xã hội, về tài nguyên và môi trường) Luật Bảo vệ môi trường do Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014, tại khoản 4, Điều 3 đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ
sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo
vệ môi trường” [65]
Như vậy, có thể thấy trong các nghiên cứu cũng như các chương trình nghị sự của thế giới và ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững ngày càng được bổ sung
và đã đi dần đến những nhận thức chung nhất về nội hàm của khái niệm này, trong
đó cho rằng phát triển bền vững là sự phát triển đạt được sự kết hợp hài hòa, chặt chẽ, hợp lý giữa cả ba khía cạnh (trụ cột) kinh tế, xã hội và môi trường
Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ giữa ba trụ cột của phát triển bền vững như thế nào là “hài hòa”, “chặt chẽ”, “hợp lý” thì nhìn chung các nghiên cứu lại chưa có sự chú ý đầy đủ hoặc chưa thống nhất về quan điểm Gần đây, một số nghiên cứu về phát triển bền vững, đặt trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội
Trang 38nhập quốc tế và biến đổi khí hậu đã tập trung phân tích sâu hơn về vấn đề này Theo các tác giả Ngô Thắng Lợi, Vũ Thành Hưởng, phát triển bền vững là:
Sự phát triển dựa trên kết hợp giữa nội lực của Việt Nam với sức mạnh của hội nhập quốc tế, nhằm tạo ra và duy trì được trước hết là sự bền vững trong tăng trưởng kinh tế Đồng thời những thành quả đạt được của tăng trưởng kinh tế vừa có sự lan tỏa tích cực, vừa chịu sự ràng buộc bởi yêu cầu của các khía cạnh xã hội và môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển vì con người [52, tr.105]
Tác giả thống nhất việc cần làm rõ hơn nội hàm và mối quan hệ, sự ràng buộc, liên kết cũng như tương quan giữa các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường trong phát triển bền vững như quan điểm tiếp cận trên Trên cơ sở đó, trong luận án này tác giả cho rằng: “Phát triển bền vững là sự phát triển đạt được tăng trưởng kinh
tế bền vững đồng thời thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng cao và dựa trên
cơ sở khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường và phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh”
Trong định nghĩa vừa nêu, phát triển bền vững bao gồm ba nội dung (trụ cột)
cơ bản sau:
- Tăng trưởng kinh tế bền vững: Tăng trưởng với tốc độ cao hợp lý, ổn định dài hạn Tăng trưởng có chất lượng trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển và gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo xu hướng tiến bộ
Tốc độ tăng trưởng cao hợp lý và ổn định dài hạn được đánh giá bởi các thước đo (tiêu chí) được xây dựng phù hợp với tiềm năng các nguồn lực và tốc độ
đó phải đạt được trong dài hạn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo xu hướng tiến bộ là sự chuyển dịch hướng tới một cơ cấu kinh tế - xã hội có khả năng phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng các nguồn lực phát triển gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng ổn định, gia tăng năng lực nội sinh cho nền kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế bền vững đồng thời thúc đẩy tiến bộ và công bằng về
xã hội đạt được ngày càng cao hơn: Tăng trưởng kinh tế cao hợp lý và ổn định tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội tham gia làm việc, tỷ lệ thất nghiệp giảm,
Trang 39thu nhập ngày càng tăng; tác động lan tỏa tích cực đến công tác xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ nghèo, xóa nghèo bền vững (tái nghèo được khống chế) Tăng trưởng kinh tế đồng thời đảm bảo khả năng tiếp cận các nguồn lực, tiếp cận các dịch
vụ công (dịch vụ y tế, giáo dục, các công trình phục vụ cộng đồng) của các thành phần kinh tế và của mọi người đều bình đẳng
- Tăng trưởng kinh tế bền vững trên cơ sở khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát
có hiệu quả ô nhiễm môi trường và phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh:
Quá trình tăng trưởng kinh tế phải bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và không khai thác quá mức nguồn lực tài nguyên thiên nhiên đồng thời tái tạo, phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh; xây dựng các phương án tăng trưởng thân thiện với môi trường và có những biện pháp đồng bộ phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường trong suốt quá trình tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế đạt được trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên không chỉ không làm suy giảm chất lượng môi trường mà còn tạo nguồn lực, điều kiện để bảo vệ tốt môi trường sống, bảo tồn đa dạng sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường
2.1.1.2 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
- Khái niệm du lịch và phát triển du lịch
Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người và ngày nay
du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mang lại nguồn thu nhập quan trọng của nhiều quốc gia, nhiều nền kinh tế trên thế giới Ý nghĩa và tầm quan trọng của du
lịch đã được ghi nhận trong Tuyên bố Manila về Du lịch thế giới năm 1980 là “một
hoạt động cần thiết cho cuộc sống của các dân tộc do tác dụng trực tiếp của nó trên các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, và với các thành phần kinh tế trong mỗi nền kinh tế cũng như trong các mối quan hệ quốc tế” [150, tr.1]
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, với nhiều góc
độ tiếp cận khác nhau, từ đó đưa ra khá nhiều định nghĩa khác nhau về vấn đề này
Định nghĩa đầu tiên về du lịch tại Anh “là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giải trí Ở đây sự giải trí
là động cơ chính” [trích theo 34, tr.13]
Trang 40Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tại Otawa, Canada đưa ra định nghĩa:
Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm [trích theo 34, tr.15]
Theo UNWTO,
Du lịch là một hiện tượng văn hóa, xã hội và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của con người đến những quốc gia hay những địa điểm khác bên ngoài khu vực sinh sống thường ngày của họ cho mục đích cá nhân hoặc công việc Những người này được gọi là du khách (mà có thể là khách du lịch hoặc người đi chơi, người cư trú hoặc không cư trú) và du lịch đã thực hiện những hoạt động đó cho họ, một số trong đó có liên quan đến chi tiêu du lịch [146, tr.1]
Trên cơ sở tổng hợp những quan điểm lý luận và thực tiễn về du lịch trên thế giới và trong nước, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đưa ra định nghĩa:
Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp [34, tr.16]
Qua một số định nghĩa trên, có thể nói rằng du lịch là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều chủ thể tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội
Nghiên cứu các định nghĩa khác nhau về du lịch, tác giả cơ bản thống nhất với nội dung định nghĩa của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Tuy nhiên,
để có được cách tiếp cận bao quát và đầy đủ hơn về du lịch như một ngành kinh tế của một địa phương và quốc gia, theo tác giả, “Du lịch là một ngành kinh tế bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch
vụ của những doanh nghiệp và của người dân, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch