MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay ngành du lịch Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) nói chung, và tỉnh Luang Pra Bang nói riêng đang đứng trước nhu cầu lớn về sự phát triển. Du lịch được coi là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tếxã hội. Phát triển mạnh du lịch hình thành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng tương ứng với tiềm năng du lịch trong nước. Những năm qua, CHDCND Lào thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng. Tỉnh Luang Pra Bang là tâm điểm du lịch, kinh tế vừa là thành phố cố đô, di sản văn hóa thế giới của Nước CHDCND Lào. Tỉnh có tiềm năng nhiều mặt để phát triển du lịch, có điều kiện thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có truyền thống lịch sử lâu đời. Tỉnh cần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động du lịch trên cơ sở khai thác lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa lịch sử, để đáp ứng nhu cầu du lịch trong và phát triển du lịch quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có, tính tự phát còn lớn, hiệu quả thấp, sản phẩm và loại hình du lịch còn đơn điệu, ý thức trách nhiệm về phát triển du lịch bền vững, về giữ gìn bảo vệ tài nguyên môi trường chưa cao. Du lịch có những tác động tích cực, đồng thời cũng có những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn phát triển du lịch bền vững tỉnh Luang Pra Bang vừa mang tính cấp thiết trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài nhằm đề xuất các giải pháp phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này ở tỉnh Luang Pra Bang. Xuất phát từ lý do trên, em đã chọn đề tài: “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Luang Pra Bang, nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay ngành du lịch Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào(CHDCND Lào) nói chung, và tỉnh Luang Pra Bang nói riêng đang đứngtrước nhu cầu lớn về sự phát triển Du lịch được coi là ngành kinh tế quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Phát triển mạnh du lịch hìnhthành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng tương ứng với tiềm năng dulịch trong nước
Những năm qua, CHDCND Lào thực hiện đường lối đổi mới toàn diệnđất nước, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chếthị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩabước đầu đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng Tỉnh Luang PraBang là tâm điểm du lịch, kinh tế vừa là thành phố cố đô, di sản văn hóa thếgiới của Nước CHDCND Lào Tỉnh có tiềm năng nhiều mặt để phát triển dulịch, có điều kiện thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh nổitiếng, có truyền thống lịch sử lâu đời Tỉnh cần nâng cao chất lượng và hiệuquả hoạt động du lịch trên cơ sở khai thác lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinhthái, truyền thống văn hóa lịch sử, để đáp ứng nhu cầu du lịch trong và pháttriển du lịch quốc tế Tuy nhiên, sự phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềmnăng hiện có, tính tự phát còn lớn, hiệu quả thấp, sản phẩm và loại hình dulịch còn đơn điệu, ý thức trách nhiệm về phát triển du lịch bền vững, về giữgìn bảo vệ tài nguyên môi trường chưa cao
Du lịch có những tác động tích cực, đồng thời cũng có những hạn chếtrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Chính vì vậy, việcnghiên cứu thực tiễn phát triển du lịch bền vững tỉnh Luang Pra Bang vừamang tính cấp thiết trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài nhằm đề xuất
Trang 2các giải pháp phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này ở tỉnh Luang Pra Bang.
Xuất phát từ lý do trên, em đã chọn đề tài: “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Luang Pra Bang, nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay” làm
khóa luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ tính tất yếu và quan trọng của vấn đề phát triển du lịch bềnvững và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội, cho nên ngày càng cónhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu chủ đề này Vấn đềphát triển du lịch bền vững hiện nay ở tỉnh Luang Pra Bang chưa đượcnghiên cứu một cách đầy đủ, phân tích một cách hệ thống và toàn diện ở góc
độ kinh tế chính trị
3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận.
- Mục đích:
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển
du lịch bền vững cùng với việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động pháttriển du lịch bền vững ở tỉnh Luang Pra Bang thời gian qua khóa luận đưa racác quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục phát triển du lịchbền vững ở tỉnh Luang Pra Bang, CHDCND Lào trong thời gian tới
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
bền vững trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội
+ Phân tích, đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch bền vững
của tỉnh Luang Pra Bang, CHDCND Lào giai đoạn 2007 đến nay
+ Đề xuất quan điểm phương hướng và giải pháp phát triển du lịch bền
vững của tỉnh Luang Pra Bang, CHDCND Lào từ nay đến năm 2015 và 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 3- Đối tượng nghiên cứu: “Phát triển du lịch bền vững”.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian từ năm 2007-2012 và đề xuất phương hướng, giải pháp
đến năm2015 và 2020
+ Về không gian: Tỉnh Luang Pra Bang CHDCND Lào
5 Phương pháp nghiên cứu của khóa luận.
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử
- Kết hợp lý luận, quan điểm đường lối của Đảng với thực tiễn địaphương để lý giải những vấn đề mà đề tài đặt ra
- Khóa luận còn sử dụng các phương pháp như: trừu tượng hóa khoahọc, phân tích, so sánh, tổng hợp và kế thừa có chọn lọc những thành quảnghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài
6 Những đóng góp của đề tài
Qua nghiên cứu, khóa luận đề xuất những phương hướng cơ bản và giảipháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch hiệu quả, góp phần thúc đẩy quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Luang Pra Bang
Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy cũng như có thể sử dụng vào việc hoạch định chủ trương, chínhsách thuộc lĩnh vực kinh tế ở tỉnh Luang Pra Bang
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậngồm 3 chương, 9 tiết
Trang 4CHƯƠNG 1
DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA DU LỊCH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA DU LỊCH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1 Một số khái niệm du lịch.
- Khái niệm du lịch và hoạt động du lịch
Du lịch là hoạt động của con người đi tới một môi trường ngoài nơi cưtrú hoặc không cư trú, trong một khoảng thời gian nhất định nhằm nghỉ ngơi,chữa bệnh phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức kèmthem việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và nhu cầugiao lưu trong cuộc sống, đồng thời, du lịch là một nhân tố của phát triển kinh
tế - xã hội cho đến nay phát triển du lịch đang là hoạt động rất phổ biến ở hầuhết các quốc gia trên toàn thế giới
Từ định nghĩa trên, theo tác giả bản chất đích thực của du lịch là dungoạn để hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hóa cao, kể
cả việc kết hợp để dưỡng bệnh, thăm viếng và các hoạt động khác… Bản chấtkinh tế của du lịch là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hóa phục vụ việc thỏamãn nhu cầu vật chất và tinh thần của khách du lịch Và để đáp ứng nhu cầu
đó ngành du lịch ra đời và dần dần trở thành một ngành kinh tế độc lập chiếmmột vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước [3,tr.8 ]
Du lịch là hoạt động của con người, đã xuất hiện từ khi con người xuấthiện trên trái đất Thủa xa xưa, khi điều kiện kinh tế kỹ thuật còn ở trình độ
Trang 5thấp kém và lạc hậu cũng đã xuất hiện nhiều chuyến giao du dưới nhiều hìnhthức khác nhau của một số người trong xã hội Với thực tế đó du lịch là mộthoạt động mang tính tự nhiên, vì nó đáp ứng được nhu cầu của con người Xãhội loài người cũng phát triển, nhu cầu tự nhiên của con người cũng tăng, nhucầu đi du lịch trước đây chỉ có một số người này đã thành phổ biến Trước thế
kỷ XIX du lịch chỉ là hiện tượng đơn lẻ của một số ít người thuộc tầng lớpgiàu có và người ta coi du lịch như một hiện tượng nhân văn, làm phong phúthêm nhận thức của con người Sau đại chiến thế giới lần thứ II, khi dòngngười đi du lịch ngày càng tăng thì việc giải quyết nhu cầu về nơi ăn, chỗ ở,phương tiện vận chuyển vui chơi giải trí… cho du khách đã trở thành cơ hộikinh doanh cho việc doanh nghiệp lúc nào, du lịch không chỉ là hiện tượngnhân văn mà còn là một hoạt động kinh tế Vì vậy, người ta cho rằng, du lịch
là toàn bộ những hoạt động và công việc phối hợp, kết hợp nhằm thỏa mãnnhu cầu của khách du lịch Giáo sư Edmod Piease ( người Bỉ) cho rằng: “ Dulịch là tập hợp các tổ chức và các chức năng của nó, không chỉ về phươngdiện khách vãng lại mà cái chính là phương diện về giá trị mà khách du lịchmang lại” [2, tr 6]
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinhdoanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan đến
du lịch Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động của du lịch là khách dulịch Đó là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làmviệc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến Hoạt động du lịch tồn tạikhách quan của con người nằm trong nội tại của sự phát triển xã hội loạingười Thông qua du lịch, nhu cầu giao lưu và hưởng thụ vật chất, tinh thầncủa con người càng phát triển cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước, vùng, địa phương Do vậy, hoạt động du lịch luôn được đặt ra và pháttriển theo nhu cầu của con người
Hoạt động du lịch là nhân tố của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế
Trang 6Du lịch là một ngành “ kinh tế mũi nhọn” quan trọng trong sự phát triểnkinh tế - xã hội [5, tr 8].
Tóm lại, bản chất du lịch và hoạt động du lịch là du ngoạn của conngười để được hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính vănhóa cao, đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương đất nước họ, bao gồm hệthống di tích lịch sử - văn hóa - phong tục tập quán, cảnh quan thiên nhiên,văn học - nghệ thuật, món ăn - thức uống dân tộc, cơ sở nghỉ dưỡng - chữabệnh, cơ sở thể thao giải trí… Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử - vănhóa, danh lam thắng cảnh thiên nhiên và bản sắc văn hóa dân tộc, cộng đồnganh em ở địa phương đất nước Du lịch do ba yết tố cơ bản: chủ thể du lịch vàhoạt động du lịch ( du khách) khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) và môitrường du lịch cấu thành Loài người có ba nhu cầu lớn: nhu cầu sinh tồn, nhucầu hưởng thụ và nhu cầu phát triển Hoạt động du lịch phát triển với quy mô
to lớn như ngày nay chứng minh loài người đã bắt đầu vượt xa khỏi rang buộccủa nhu cầu sinh tồn, có điều kiện hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ
và phát triển là một phần trong sinh hoạt văn hóa của con người hiện đại.[3, tr9]
1.1.2 Đặc điểm của du lịch.
Sự phát triển của du lịch hiện nay có xu hướng đại chúng hóa Thunhập cá nhân và tố chất văn hóa của toàn thể loài người ngày càng cao, từ đólàm cho hoạt động du lịch phát triển thành một hoạt động mang tính quầnchúng Nếu nói rằng chủ thể của lữ hành và du lịch trước đây là người giàu
có, thì trong giai đoạn hiện nay, quần chúng lao động đã trở thành người thamgia chủ yếu của hoạt động du lịch Hình thức “ du lịch đại chúng” đây là đặcđiểm nội bật nhất của du lịch hiện đại Sự phát triển của du lịch hiện nay ngàycàng đa dạng hóa “ Hoạt động du lịch thời kỳ đầu là du lịch thương mại lấykinh tế làm mục đích chính, du lịch làm điều kiện và du lịch học lấy giáo dụclàm mục đích cũng đã có lịch sử tương đối lâu đời nhưng vẫn không có sự
Trang 7phát triển đáng kể” [15, tr 45] Cùng với sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ
về văn minh vật chất, văn minh tinh thần của loài người, du lịch nghỉ phép,nghỉ ngơi mang tính vui chơi, giải trí dần dần trở thành thói quen của du lịchhiện nay
- Du lịch vừa là lịch sử kinh tế, vừa là lĩnh vực văn hóa, tinh thần.Ngành du lịch chỉ trở thành kinh tế mũi nhọn, khi phải được quốc gia
đó lựa chọn làm chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và đủ điềukiện cần thiết khác như: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực nhân văn, nguồn lực
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở hạ tầng, các cơ hội và nguồn lực bênngoài…
Để xác định ngành du lịch có phải là ngành kinh tế của một quốc gia,một địa phương cần làm rõ một số nội dung sau đây
Thứ nhất, phân tích sự đóng góp của ngành du lịch vào GDP, trên góc
độ kinh tế, người ta xếp du lịch là ngành dịch vụ rất được coi trọng ở cácnước công nghiệp phát triển và đã đóng góp một số tỷ trọng rất lớn vào GDPcủa một quốc gia
Thứ hai, mức độ tác động của ngành du lịch đối với chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của nền kinh tế phát triển du lịch tạo ra một thị trường tiêu thụ rộnglớn cho cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ không chỉ là thị trường tiêuthụ nội địa mà cả thị trường xuất khẩu tại chỗ
Thứ ba, khả năng tạo ra việc làm của ngành du lịch, giải quyết các vấn
đề kinh tế-xã hội của quốc gia Theo quy luật chung, đối với mỗi quốc gia khithực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì lực lượng laođộng ở khu vực I, khu vực II, sẽ giảm rất nhanh, khu vực III là khu vực dịch
vụ sẽ đóng góp một vai trò quan trọng việc thu hút lực lượng lao động trong
xã hội
Trang 8Thứ tư, do ảnh hưởng của du lịch tới sự phát triển kinh tế của các vùng
miền khó khăn và thực hiện xóa đói giảm nghèo Do những điều kiện kháchquan, chủ quan về phát triển du lịch, nhằm phát triển kinh tế ở những vùnghoặc địa phương từng bước khắc phục sự chênh lệch giữa các vùng miền,thực hiện tạo công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư
Thứ năm, khả năng đóng góp của ngành du lịch vào việc phục hồi phát
huy bản sắc dân tộc với mục tiêu không những thu hút khách mà còn giớithiệu truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc với bạn bè trên thế giới vàgiáo dục lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước Điều này phải được thể hiện
cụ thể trong mọi hoạt động du lịch
Thứ sáu, bản chất của du lịch là du ngoạn của con người để được
hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn hóa cao, đặc sắc,độc đáo, khác lạ với quê hương đất nước, bao gồm hệ thống di tích lịch sử -văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, phong tục tập quán văn học - nghệ thuật, món
ăn thức uống dân tộc, cơ sở nghỉ dưỡng - chữa bệnh, cở sở thể thao giải trí…Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnhthiên nhiên và bản sắc văn hóa dân tộc, cộng đồng anh em ở địa phương đấtnước, nhằm thỏa mãn nhu cầu và sự hài lòng của khách du lịch nội địa vàkhách quốc tế
Điều này chứng minh rằng loài người đã thoát ra sự rằng buộc của nhucầu sinh tồn, có điều kiện hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và pháttriển một bộ phận trong sinh hoạt văn hóa của con người hiện đại
- Du lịch gắn với điều kiện thiên nhiên, khí hậu phong tục tập quán
Du lịch luôn gắn liền với thiên nhiên, là tài nguyên thiên nhiên ban tặng
để cho con người tiến hành các hoạt động du lịch như: nghỉ ngơi điều dưỡng,
du ngoạn tham quan bao gồm: sông núi, hang động, thác, rừng, ánh sáng,chim thú quý hiếm, hoa thơm, cỏ lạ… tóm lại có thể chia ra ba phạm vi chủlực là, tài nguyên du lịch sông núi, tài nguyên du lịch khí hậu và tài nguyên
Trang 9du lịch sinh vật… Cụ thể đó là do thuận lợi vị trí địa lý mang lại như thôngthường với các nước dễ dàng, có đường sông đường suối, đường bộ, đườnghàng không là trung tâm của vùng kinh tế phát triển năng động, trên thế giới.Đây là một nhân tố cơ bản để phát triển du lịch Quốc gia nào có nhiều tàinguyên tự nhiên thì quốc gia đó có tiềm năng lớn để thu hút được nhiều khách
du lịch đến tham quan
Do ảnh hưởng của nhân tố địa lý tự nhiên và thời tiết, khí hậu nên dulịch ở hầu hết các nước đều mang tính thời vụ đặc trưng Đối với một nướcthuộc khu vực nhiệt đới, gió mùa đông bắc, khí hậu bốn mùa thay đổi ( xuân,
hạ, thu, đông) Khách du lịch nội địa, quốc tế đi du lịch tham quan thắng cảnh
ai cũng hưởng thụ khí hậu ấm áp, thời tiết trong sạch thoáng mát, loại trừ gâyhại ô nhiễm môi trường, bên cạnh những tiềm năng du lịch rất lớn và đa dạng,thì tính thời vụ trong du lịch càng rõ nét
Du lịch gắn liền với phong tục tập quán, phong tục tập quán là nhữngthói quen được đưa vào nếp sống hàng ngày Một dân tộc đều có những thóiquen cá biệt lúc ban đầu, về sau do sự tiếp súc với nhau nên có sự ảnh hưởng,bắt trước và có những cái lẫn nhau Phong tục tập quán có hai loại: mỹ tục lànhững tập tục tốt, như thờ phụng tổ tiên, và hủ tục là những tập tục xấu như
mê tín dị đoan, tin vào bùa phép Thế giới văn minh mỗi ngày thay đổi, vànếp sống cũng vậy, nhân loại ngày càng đều cố gắng phát huy mỹ tục và đẩylùi hủ tục vào bóng tối lãng quên [7]
Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng lịch sử và truyền thống củaphong tục tập quán và văn hóa dân tộc thể hiện rằng di tích lịch sử văn hóaphong tục tập quán Lễ hội các món ăn, uống các loại hình nghệ thuật, các lốisống, nếp sống của các dân tộc người mang bản sắc độc đáo còn lưu giữ đếnngày nay Những nguồn lực ấy được phân loại theo nhiều thời gian lịch sử từ
cổ đại, trung đại, cận đại Chẳng hạn nền văn minh Ai Cập cổ đại với kim tựtháp nổi tiếng, nền văn hóa Hy Lạp cổ đại hoặc phong tục tập quán ở Việt
Trang 10Nam, Lào như: Các lễ cưới của các dân tộc, các lễ hội Với nhiều thành tựuđặc sắc về văn hóa nghệ thuật của các dân gian v.v… có vai trò rất quan trọngđối với phát triển du lịch trong thời đại hiện nay.
Trong phát triển du lịch trình độ văn hóa của người dân cũng góp phầnvào phát triển du lịch, con người thân thiện, hiền hòa, khiến họ truyền bánhững điều tốt đẹp về đất nước, con người của điểm đến cho những ngườithân quen có thể tạo được làn song du lịch mới Phần lớn những người kháchtham quan và hành trình du lịch, đều là người có trình độ văn hóa nhất làngười đi du lịch nước ngoài Người có trình độ văn hóa càng cao, thì đòi hỏi
đi du lịch càng lớn, đòi hỏi chất lượng du lịch, muốn khám phá những néttruyền thống, văn hóa, phong tục tập quán của điểm đến
- Những yêu cầu và tổng hợp đối với sản phẩm và dịch vụ du lịch.Đối với sản phẩm và dịch vụ du lịch đa dạng, độc đáo, hấp dẫn lôi cuốn
sự chú ý khách du lịch Trước hết phải tạo ra những sản phẩm du lịch có chấtlượng cao, hấp dẫn mạnh tới khách trong và ngoài nước phải được coi là côngviệc quan trọng bậc nhất cho hoạt động kinh doanh du lịch của mỗi quốc gia,mỗi địa phương, sự hấp dẫn của những sản phẩm du lịch phụ thuộc vào chínhnhững quốc gia và địa phương mình đã và đang có, đồng thời không tách khỏi
sự cố gắng sáng tạo của mỗi nhân viên trong ngành và sự phối hợp của cácđơn vị có liên quan, sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là những dịch vụ,nhưng không phải là những dịch vụ độc lập, riêng biết mà là “ chuỗi dịch vụ”vừa kết hợp với nhau vưa đan xen với nhau, vừa lặp đi lặp lại nhiều lần
Chất lượng của chuỗi dịch vụ này sẽ quyết định thỏa mãn nhu cầu củakhách cả về vật chất và tinh thần Hơn nữa, nhiều dịch vụ lại được thực hiệnbởi nhiều doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau Vì thế sảnphẩm du lịch, có chất lượng, có uy tín của ngành là sự phấn đấu của toàn côngđoạn, từng doanh nghiệp và của sự phối hợp liên ngành, cuối cùng phải được
du khách chấp nhận Nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch sẽ trở thành
Trang 11một chiến lược trong hoạt động kinh doanh du lịch Ở một số nước một sốnước phát triển sử dụng rất nhiều hình thức độc đáo, nên thu hút được kháchtrong và ngoài nước đến ngày càng đông.
Xã hội càng văn minh, kinh tế càng phát triển nhu cầu của du kháchcàng phong phú đa dạng Do vậy, việc tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo hấpdẫn khách du lịch là một tất yếu khách quan, nhằm phát triển du lịch ở nhiềuquốc gia hiện nay
1.1.3 Vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế-xã hội.
- Về kinh tế:
Du lịch trước hết là một thị trường vừa rộng vừa lớn với nhu cầu dulịch rất đa dạng và khả năng thanh toán của khách hàng khá cao, vừa mangtính đặc thù Thị trường du lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ nhấtđịnh Thị trường lại hoàn toàn có khả năng “ xuất khẩu tại chỗ” nhiều hànghóa, đặc biệt là hàng hóa mang tính chất đặc trưng của dân tộc phân bổ rải ráckhắp mọi miền của đất nước như món ăn dân tộc, hàng thủ công mỹ nghệ lưuniệm
Những hàng hóa này thường có giá trị và giá trị sử dụng không đáng kểđối với thị trường nội địa nhưng lại có giá trị cao, lợi nhuận lớn do thỏa mãnđược sở thích nào đó của khách du lịch nước ngoài Mặt khác, có rất nhiềuloại hàng hóa phục vụ du khách không thể vận chuyển đi bán ở thị trường thếgiới được thì lại có thể bán với giá cả cao, thu lợi nhuận lớn tại nước minhnhư cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, di tích lịch sử, công trình văn hóa nổitiếng, phong tục tập quán đặc sắc [4, tr 8]
Xuất phát từ những đặc điểm kinh tế và khả năng kinh doanh như trên,nền du lịch và lĩnh vực kinh doanh có khả năng thu lợi nhuận cao và do đóthu hồi vốn đầu tư nhanh hơn so với các lĩnh vực khác Đây là một lợi thế rấtquan trọng của ngành du lịch, mà nếu được đầu tư khai thác tốt sẽ góp phần
Trang 12tăng nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế Ngày nay, ở nhiều nước côngnghiệp, thu nhập từ du lịch thường chiếm 20% hoặc cao hơn trong tổng sảnphẩm quốc gia (GDP) Hoạt động du lịch tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế
- xã hội như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng các nghề thủcông truyền thống, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, giải quyết việc làmtăng thêm cơ hội đầu tư… tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế - văn hóaphát triển
Có thể khẳng định, sự phát triển vượt bậc của ngành du lịch Lào trongnhững năm qua đã góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đấtnước và các địa phương, giải quyết nhiều vấn đề xã hội thiết thực, giải quyếtviệc làm, tăng thu nhập của một bộ phận dân cư, góp phần quảng bá và giớithiệu hình ảnh Lào trên trường quốc tế, mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tếcủa Lào
- Về xã hội:
Trước hết hoạt động du lịch đòi hỏi nhiều lao động dịch vụ với nhiềungành và nhiều trình độ khác nhau, do đó du lịch càng phát triển thì càng cónhiều cơ hội có việc làm cho xã hội, góp phần giải quyết một vấn đề bức xúcnhất của xã hội hiện nay
Du lịch càng phát triển, càng tạo điều kiện để mở rộng giao lưu vănhóa, tăng cường sự hiểu biết và mở rộng tầm nhìn, học hỏi thêm kinh nghiệmlàm ăn buôn bán của nhiều nước, nhiều khu vực khác nhau trên thế giới thôngqua đó đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí Tuy những mặt này đượctiến hành một cách không chính thức, “ phi chính phủ” nhưng thường mangtính quảng đại hơn và có hiệu quả cao Càng thông qua sự tiếp xúc trực tiếp
và rộng rãi với du khách nhiều nước, ngoài vùng mà nhân dân ở vùng sở tại,nước sở tại có điều kiện tiếp thu những tinh hoa văn hóa, những lối sống đẹp,phong cách giao tiếp lịch sự văn minh của văn hóa nói chung ngày càng mởrộng ra những lĩnh vực mang tính nhân văn cao mà trước đây chúng ta thường
Trang 13xem nhẹ như sự hiểu biết và thái độ ứng xử đối với việc bảo vệ và phát huybản sắc văn hóa truyền thống, đối với các công trình văn hóa nghệ thuật củadân tộc đối với môi trường sinh thái…thông qua đó mà giáo dục truyền thốngdân tộc, lòng tự hào về lịch sử văn hóa… đối với các thế hệ công nhân trong
xã hội
- Những mặt tiêu cực chủ yếu.
Du lịch là sự di chuyển của những bộ phận dân cư, bao gồm rất nhiềugiai cấp xã hội của vùng này đến vùng khác và nước khác
Sự tiếp nhận đó bao gồm cả những mặt tốt như trên, nhưng đồng thời
du khách cũng mang theo cả những mặt tiêu cực về chính trị - xã hội khôngnhỏ và không ít khó khăn phức tạp
Vấn đề lớn đầu tiên là phải biết và có đủ bản lĩnh để chắt lọc và tiếp thu
có phê phán nền văn minh nhân loại, văn minh thời đại sao cho phù hợp vớitruyền thống văn hóa, lịch sử và con người Lào, đề phòng ngay từ đầu tìnhtrạng lai căng nền văn hóa ngoại lai, hỗn tạp là một vấn đề có ý nghĩa sốngcòn đối với tương lai dân tộc, vấn đề đặt ra không phải là tinh thần dân tộccực đoan, bài ngoại mà là sự chắt lọc một cách thủ động những gì phù hợptrên nền tảng kinh tế của Lào
Điều này đòi hỏi nhà nước phải với tư cách là chủ thể định hướng chứkhông thể để nhân dân tự sàng lọc một cách tự nhiên chủ nghĩa
Đã có không ít những quốc gia đã và đang đứng trước nguy cơ nền vănhóa dân tộc bị băng hoại, lai căng và do vậy sự phát triển không những phảitrả giá quá đắt mà sẽ không bền vững
Sự mở rộng hoạt động du lịch, nhất là du lịch hướng ngoại, đồng thờicũng tạo ra những điều kiện và cơ hội cho một số dịch bệnh phát triển từ một
số người nhập cư bất hợp pháp hoặc một số tệ nạn xã hội như: cờ bạc, mạidâm, nghiện hút, lối sống hiện sinh…nảy nở Cùng với sự phát triển du lịch
Trang 14thì yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, chống sự lợi dụng để hoạt động pháhoại gây mất ổn định về chính trị - xã hội càng đặt ra một cách gay gắt hơn.Chính vì vậy, công tác quản lý nhà nước đối với du lịch được đặt ra nhiều nộidung phong phú và phải được thực hiện với những yêu cầu rất riêng của dulịch.
1.2 NỘI DUNG VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lích sử, di tích cách mạng,giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sửdụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để có thể hình thànhcác điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” [6, tr 2] Tàinguyên du lịch là cơ sở phát triển du lịch bao gồm:
Một là, nguồn lực thiên nhiên Nguồn lực thiên nhiên bao gồm vị trí địa
lý, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, núi rừng, hang động, sông, thác nước,suối, môi trường sinh thái… cụ thể đó là sự thuận lợi do vị trí địa lý mang lạinhư thông thường với các nước có đường bộ, đường sông, đường hàng không
là trung tâm của vùng kinh tế phát triển năng động trên thế giới Đây là mộtnhân tố cơ bản để phát triển du lịch Quốc gia nào có nhiều tài nguyên tựnhiên thì quốc gia đó có tiềm năng lớn để thu hút khách du lịch đến thamquan
Hai là, nguồn lực nhân văn bao gồm bề dày lịch sử và truyền thống văn
hóa, thể hiện bằng hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hóa, phong tục tậpquán, lễ hội, các món ăn uống dân tộc, các loại hình nghệ thuật, các lối sốngnếp sống của các tộc người mang bản sắc độc đáo còn lưu giữ được đến nay,với nhiều thành tựu sâu sắc về văn hóa nghệ thuật, toán học vật lý học, hóahọc… có vai trò rất quan trọng đối với phát triển du lịch
Trang 15Ba là, dân cư lao động là một nguồn lực để phát triển du lịch, bao gồm
hai yếu tố chính là người làm ra sản phẩm du lịch và người tiêu thụ sản phẩm
du lịch Thời gian nhàn rỗi và mức sống thu nhập của người dân là điều kiệnquan trọng tạo nên khối lượng khách du lịch Điều kiện này phụ thuộc vàochế độ làm việc và sức sản xuất, phát triển sản xuất như thu nhập của ngườidân mỗi quốc gia Các chuyên gia du lịch cho rằng, ở các nước kinh tế pháttriển, khi thu nhập của người dân tăng 1% thì chi phí cho du lịch tăng 1,5%.Dân cư và lao động là nguồn cung cấp lao động cho các hoạt động dịch vụ dulịch Thực tế cho thấy việc phục vụ một khách du lịch có thể tạo ra việc làmcho 3-5 lao động Với một tỷ lệ đó rõ ràng một bước phát triển du lịch, phải
có thị trường sức lao động tương ứng
Trình độ văn hóa cũng góp phần vào phát triển du lịch Con người thânthiện, hiền hòa, mến khách, ứng xử văn minh lịch sự sẽ tạo nhiều thiện cảmcho khách du lịch, từ đó tạo điều kiện phát triển du lịch Phần lớn nhữngngười khách tham gia vào hành trình du lịch, đề là người có trình độ văn hóa,nhất là người đi du lịch nước ngoài Người có trình độ văn hóa cao, thì nhucầu đòi hỏi du lịch càng lớn, đòi hỏi chất lượng du lịch cũng phải hoàn thiện
Dựa vào khái niệm trên có thể hiểu du lịch là ngành kinh tế có tính tổnghợp, lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm, du lịch cần thiếtcho khách du lịch tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch của khách du
Trang 16Phát triển du lịch bền vững là quá trình chuyển dịch cơ cấu, tăng trưởngkinh tế trong lĩnh vực du lịch đi liền với thúc đẩy tiến bộ xã hội trong khikhông xâm hại vào sự cân bằng tự nhiên môi trường
1.2.1.2 Nội dung
Phát triển du lịch bền vững là sự thống nhất của ba nội dung kinh tế, xãhội và môi trường Xét trên phương diện dịch vụ thì ba nội dung phản ánh sựbền vững trong phát triển kinh tế-xã hộivà sự bền vững môi trường sinh thái
+ Nội dung kinh tế của phát triển du lịch bền vững là: sự phát triển duytrì được tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn ngành cao ổn định, mục tiêu pháttriển văn hóa-xã hội, gắn với phát triển nguồn lực con người, bảo đảm chấtlượng, có giá trị kinh tế cao
+ Nội dung xã hội của phát triển du lịch bền vững, trước hết thể hiện sựphân phối công bằng các nguồn lực giữa du lịch với các lĩnh vực khác; Nhànước có chính sách trong việc đảm bảo an ninh xã hội, nâng dần mức sốngcủa nhân dân đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, ý tế, xây dựng kết cấu hạtầng
+ Nội dung bảo đảm môi trường cho phát triển du lịch bền vững là bảo
vệ môi trường nước, môi trường không khí, bảo vệ rừng và chú ý tới bảo vệmôi trường và sức khỏe của con người
Có thể cụ thể hóa theo một số nội dung sau:
- Bền vững về kinh tế
Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi đảm bảo kết hợp hài hòa, hợp lýgiữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa - xã hộitrong đó xác lập được sự cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sửdụng các nguồn lực con người, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ,đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ thân thiện với môi trường
- Bền vững về xã hội
Trang 17Phát triển bền vững về xã hội là sự phát triển trong đó trước mắt xã hội
có nền kinh tế tăng trưởng và ổn định gắn liền với xây dựng chế độ dân chủ,công bằng và tiến bộ xã hội, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xãhội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong toàn xãhội
- Bền vững về môi trường
Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là sự phát triển trong
đó các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được sử dụng trong phạm vi chophép và có khả năng khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạngtài nguyên không tái tạo được phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môitrường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…) và môitrường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động
và học tập của con người…) nhìn chung không bị các hoạt động của conngười làm ô nhiễm suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp vàsinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, conngười được sống trong môi trường trong sạch…
1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triên du lịch bền vững ở tỉnh Luang pra Bang.
1.2.2.1 Nhân tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên
+ Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Điều kiện đất đai:
Đất đai là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển dulịch bền vững Đây chính là tiền đề ban đầu cho mọi quá trình phát triển dulịch, sự tác động của yếu tố đất đai rất rõ ràng; nếu muốn phát triển du lịch đấtđai mà không đủ đáp ứng nhu cầu của con người để mở rộng kinh doanh hoặcsản xuất ra sản phẩm để phục vụ cho khách du lịch thì sẽ dẫn đến khó khăn về
Trang 18lương thực và chỗ ăn ở của khách du lịch Một vùng hay một quốc gia mà đấtđai bị bó hẹp về diện tích thì rất khó khăn về việc phát triển mở rộng kinhdoanh đặc biệt là ngành du lịch
- Địa hình:
Đi đôi với yếu tố đất đai thì yếu tố địa hình cũng có sự tác động đến sựphát triển du lịch theo hướng bền vững Nếu địa hình thuận lợi tức là không bịchia cắt xé nhỏ và phức tạp sẽ thuận lợi cho việc mở rộng kinh doanh vàngược lại nó cản trở việc mở rộng quy mô đầu tư và giao lưu giữa các vùng,cản trở việc đầu tư cho giáo dục, y tế cũng như việc bảo vệ an ninh quốcphòng
- Thời tiết:
Nhân tố này cũng có sự tác động lớn đến quá trình phát triển du lịch.Nếu khí hậu, thời tiết thuận lợi sẽ tác động tích cực đến việc tham quan củakhách du lịch, sẽ làm cho việc chuyến thăm của khách du lịch thuận lợi hơn.Ngoài ra sẽ là cho việc đầu tư cho các ngành kinh tế được mở rộng Việc traođổi mua bán sản phẩm để phục vụ cho khách du lịch sẽ được mở rộng Ngượclại, nếu khí hậu, thời tiết diễn biến phức tạp như nắng lắm, mưa nhiều, biên độnóng, lạnh quá lớn, hoặc xảy ra động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán… thì sẽlàm tổn thất về người, tài sản và môi trường bị huỷ hoại… nó dễ dẫn đến sựnghèo đói đây là vấn đề khó tránh khỏi Đó là cơ sở tự nhiên để phát triển dulịch bền vững
- Tình hình kinh tế xã hội trong nước và thế giới
Cơ chế chính sách của nhà nước về kinh tế đây là một tiền đề quantrọng trong công cuộc phát triển du lịch Nếu có đồng bộ các chính sách phùhợp với điều kiện, khả năng thực tế từng các vùng miền thì nó sẽ thúc đẩy nềnkinh tế phát triển một cách đồng bộ, hạn chế việc chỉ thiên về mặt kinh tếhoặc chỉ thiên về mặt xã hội thì khó có giải pháp phát triển du lịch một cách
Trang 19toàn diện, bền vững hoặc có phát triển thì chỉ được cho một vài bộ phận,mang tính không bền vững.
- Dân số cũng là nhân tố thường xuyên liên quan đến phát triển du lịchbền vững Vì dân số vừa là chủ thể vừa là đối tượng của khai thác cạn kẹt tàinguyên thiên nhiên, làm cho xã hội mất trật tự, nó có tác động tích cực và tiêucực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội Nếu dân số hài hoà hợp lý nó sẽtác dụng kích thích du lịch có sự phát triển, giải quyết được những nhu cầucần thiết của khách du lịch Ngược lại nếu dân số bất hợp lý nó sẽ khó khăncho việc phát triển kinh tế làm cho ngành du lịch ngày càng phức tạp, khókhăn
Vậy, sự bất hợp lý đó là dân số quá cao so với các yếu tố liên quan đếnđời sống, văn hóa, mức sinh hoạt, và yếu tố cơ sở vật chất khác
- Đa dân tộc, trình độ dân trí và phong tục tập quán đây cũng là yếu tốthường liên quan hữu cơ với nhau, có tác động hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau đếnquá trình phát triển kinh tế - xã hội Nếu quốc gia đa dân tộc sẽ có nhiềuphong tục tập quán khác nhau và trình độ dân trí cũng khác nhau Do đó, nócũng là yếu tố vừa tích cực và vừa tiêu cực trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội trong phát triển du lịch Nó đa dạng, phong phú về kinh nghiệm, về cácsản phẩm của các vùng miền tạo ra nhưng do lối sống và tín ngưỡng khácnhau, chính vì vậy sự nhận thức, sự hiểu biết của người dân sẽ khác nhau, làmcho khó khăn cho việc hình thành các chính sách phát triển du lịch, phát triểncho phù hợp với các vùng miền khác nhau
Ngoài những nhân tố cơ bản đã nêu trên, nghèo đói còn có những nhân
tố khác ảnh hưởng đến như: bệnh dịch, chiến tranh, di dân… sự ảnh hưởngcủa từng nhân tố còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của các vùng miền và địaphương Song những nhân tố luôn là một sự hoà quyện gắn bó tác động đếnphát triển du lịch
Trang 20ngoài tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Lào nói chung, tỉnhLuang Pra Bang nói riêng đó là: do sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế-tàichính của thế giới, do giá xăng dầu, giá lương thực thực phẩm có nhiều thayđổi, do một số nước bất an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch đã tạo
sự anh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội của Lào
1.2.2.2 Nhân tố chủ quan
a- Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển du lịch bền vững
Để thực hiện phát triển du lịch bền vững tỉnh Luang Pra Bang cần thựchiện như sau:
Thứ nhất : Cần có chính sách, hệ thống pháp luật đồng bộ và tạo môi
trường thông thoáng, minh bạch để hỗ trợ và tăng sức hấp dẫn cho các nhàđầu tư
Thứ hai: Cần tập trung đầu tư có trọng điểm cho phát triển và nâng cấp
các nguồn tài nguyên du lịch thông qua huy động đa dạng nguồn lực Ưu tiênphát triển kết cấu hạ tầng, các khu vui chơi, các nhà đầu tư mang tính chuyênnghiệp
Thứ ba: Cần kết hợp đồng bộ và có hiệu quả công tác xúc tiến, tuyên
truyền, quảng bá du lịch trong nước và quốc tế Thực hiện liên kết du lịchtheo vùng, tuyến, và giải quyết tốt quan hệ cung - cầu trên thị trường du lịch,đảm bảo phát triển ổn định
Thứ tư: Sớm xây dựng một trong những trung tâm du lịch mang tầm cỡ
quốc tế Có cơ chế để thực hiện thí điểm kêu gọi đầu tư trong và ngoài nướcxây dựng một số khu du lịch cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế, trong đó chophép mở dịch vụ vui chơi có thưởng dành riêng cho người nước ngoài
Thứ năm: khắc phục những yếu kém đang nảy sinh trong hoạt động du
lịch như: tên nạn xã hội, xêm hại cảnh quan thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nhằm tạo môi trường du lịch sạch đẹp, văn minh, lịch sử và bền vững
Trang 21b-Đầu tư kết cấu hạ tầng.
Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng, đây là một nguồn lực mộtđiều kiện không thể thiếu được để phát triển du lịch bền vững Cơ sở vật chất
kỹ thuật và kết cấu hạ tầng tốt, đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
du lịch bền vững, ngược lại sẽ gây khó khăn cho phát triển du lịch Đầu tư cơ
sở hạ tầng bao gồm:
- Đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nhằm đảm bảonơi ăn, chỗ ở cho khách du lịch Đây là hai dịch vụ đặc trưng nhất của hoạtđộng kinh doanh du lịch, chúng đáp ứng nhu cầu bản năng của con người ( ăn
và ngủ), khi họ sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Dịch vụ lưu trú vàdịch vụ ăn uống chếm tỷ trọng lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch
Đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật kết cấu hạ tầng và dịch vụ ăn uống:Bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất, tham gia vào việc sản xuất vàcung ứng các dịch vụ hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và giải trí của
du khách Chúng bao gồm tất cả các phòng ăn, phòng uống nhà kho, nhà bếp,các trang thiết bị tiện nghi phục vụ khách ngủ qua đêm Các loại hình cơ sởlưu trữ gồm: khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, làng du lịch, trang trại
- Mạng lưới bán hàng: là một thành phần trong cơ sở vật chất kỹ thuật
du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch về mua sắm, bằng việc báncác hàng hóa đặc trưng của địa phương mình, của đất nước mình, hàng thựcphẩm và các hàng hóa khác Cơ sở vật chất kỹ thuật này gồm hai phần: mộtphần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu,phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương, với nhiệm vụ phục vụnhân dân địa phương, đồng thời càng đóng vai trò quan trọng đối với phục vụkhách du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nơi đó
- Đầu tư cơ sở thể thao: là bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch,
có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách làm cho nó trở
Trang 22phòng thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗiloại thể thao như: bể bơi, xe đạp nước, sân quần vợt, sân bóng đá, sân golf…Ngày nay, công trình thể thao là một bộ phận không thể tách rời, cơ sở vậtchất của trung tâm du lịch Chúng làm phong phú và đa dạng các loại hìnhhoạt động du lịch, làm tăng sự hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú của khách,làm tăng hiệu quả sử dụng khách sạn, nhà nghỉ….
- Đầu tư vào cơ sở y tế: Nhằm mục đích phục vụ du khách chữa bệnh
và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật ởđây bao gồm: các trung tâm chữa bệnh ( bằng nước khoáng, ánh nắng mặttrời, xông hơi nóng, mát xa, các món ăn kiêng), các phòng y tế khác
- Đầu tư vào công trình phục vụ văn hóa thông tin: bao gồm các trungtâm văn hóa thông tin, phòng chiếu phim, câu lạc bộ, phòng triển lãm,internet,
phòng đọc sách….hoạt động văn hóa thông tin có thể được tổ chứcthông qua các buổi hội hữu nghị, dạ hội hóa trang, đêm ca nhạc, tổ chức cácbuổi gặp gỡ trao đổi giữa những người khách du lịch cùng nghề, buổi chiếuphim, xem kịch, tham quan bỏa tàng…
- Đầu tư vào giao thông vận tải: bao gồm đường bộ, đường hàngkhông, đường sông Mạng lưới giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc địlại của khách một cách dễ dàng Đồng thời tạo điều kiện khai thác tối đa tiềmnăng du lịch của một vùng, một địa phương, một đất nước
- Đầu tư vào cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung khác bao gồm: trạm xăngdầu, thiết bị cấp cứu như du lịch mạo hiểm, xưởng sửa chữa dụng cụ thể thao,phòng rửa tráng phim ảnh, hiệu cắt tóc, gội đầu, cửa hiệu sửa chữa thiết bịliên lạc, giặt là, bưu điện, phòng sao chép…
Trang 23Ngoài ra đảm nhận việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng
và kịp thời, góp phần đắc lực vào thực hiện giao lưu các vùng và các khu vựccác nước
c- Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch bền vững
Bộ môn “ kinh tế phát triển” đưa ra khái niệm, nguồn nhân lực là một
bộ phân dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồnnhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng, đó là tổng số những ngườitrong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian laođộng có thể huy động từ họ, về chất lượng, đó là sức khỏe và trình độ chuyênmôn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động làmột bộ phân dân số trong tuổi quy định đang tham gia lao động và nhữngngười không có việc làm đang tích cực tìm việc làm Cũng như nguồn nhânlực, nguồn lao động được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Theokhái niệm này, có một số người được tính là nguồn nhân lực, nhưng lại khôngphải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưng khôngtích cực tìm việc làm, tức là
những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổilao động quy định nhưng đang đi học
Như vậy, có thể hiểu chung, nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng laođộng xã hội của một quốc gia với những năng lực, thể chất và tinh thần, trình
độ nghề nghiệp, kinh nghiệm và phong cách, phẩm chất nhất định đang và sẽtham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội
Đối tượng phục vụ du lịch là con người, bao gồm cả người trong nước
và khách du lịch nên đòi hỏi trình độ của cán bộ, nhân viên du lịch phải cao
Do vậy, việc đào tạo bồi dưỡng, giáo dục cho đội ngũ nhân viên có ý nghĩaquan trọng nên nhiều nước phát triển du lịch đều rất chú ý vấn đề này Cho
Trang 24nên người làm việc trong ngành du lịch phải được đào tạo, huấn luyện mộtcách chính quy, ngày càng được nâng cao trình độ bằng nhiều phương phápnhư: vừa học vừa làm, tập huấn nâng cao trình độ hiểu biết cho cán bộ nhânviên trong ngành du lịch… việc nâng cao trình độ hiểu biết du lịch cho toàndân là vô cùng quan trọng.
d-Cơ chế, chính sách phát triển du lịch bền vững.
Đảng và Nhà Nước có đường lối chính sách đúng đắn định hướng pháttriển du lịch Đây là yếu tố rất quan trọng để phát triển du lịch thành ngànhkinh tế mũi nhọn
Bởi lẽ đường lối, chính sách phát triển du lịch bền vững xác định rõ vịtrí của ngành du lịch trong tổng thể các ngành kinh tế-xã hội và các địnhhướng, biện pháp đúng đắn để phát triển ngành này Tổ chức thương mại thếgiới (WTO), trong một báo cáo của mình năm 1978 đã nhận xét: “ kinh tế dulịch ở một số nước phát triển mạnh, đây không phải là một sự ngẫu nhiên, độtxuất mà do một số chính phủ các nước đã quan tâm, đặt du lịch theo hướngphát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn Do đó, ngành du lịch phát triển rấtnăng động trong việc kế hoạch hóa đầu tư thành ngành du lịch quốc gia liênkết chặt chẽ với ngành thương mại du lịch của các nước trên thế giới” Nướcnào có đường lối chính sách phát triển du lịch đúng đắn thắt chặt sẽ làm ổnđịnh chính trị-kinh tế và xã hội Các nước có nền kinh tế phát triển, chính trịtrong nước ổn định, có đường lối hòa nhập cộng đồng, làm bạn với tất cả mọingười thì nhu cầu đi du lịch của người dân đến các nước khác để du lịch ngàycàng tăng
Nếu kinh tế có nhiều biến động, chính trị bất ổn, đồng tiền lạm phát thìhoạt động du lịch sẽ giảm đáng kể
Tiềm lực kinh tế, đó là sự phát triển kinh tế của một nước, như côngnghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, giao thông vận tải, tài chính ngânhàng… kéo theo nó là sự gia tăng các doanh nhân, những nhà đầu tư, những
Trang 25nhà tiếp thị đến với các nước mình Chính nguồn khách này sẽ tiêu dùng cácsản phẩm dịch vụ, dịch vụ của ngành du lịch như dịch vụ lưu trú, dịch vụ ănuống, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ tham quan…Một đất nước trong một năm
tổ chức được nhiều hội trợ quốc tế về thương mại, công nghiệp, thì đồng thờicũng là nguồn cung ứng khách du lịch Một cửa khẩu mà mật độ, khối lượngcao, nhận hàng hóa với khách hàng quốc tế lớn, thì ở đó số lượng khách quacửa khẩu sẽ nhiều và như vậy sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh khách sạn, nhàhàng Đó là đường lối chính sách phát triển du lịch bền vững đúng đắn
e- Hoạt động quảng bá thương hiệu và khuyến khích phát triển du lịch bền vững.
Mục đích của hoạt động quảng bá thương hiệu khuyến khích phát triển
du lịch bền vững là nhằm cung cấp thông tin cho du khách bao gồm thông tincác khu du lịch, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, cơ sở thể thao, các
di tích lịch sử-văn hóa, truyền thống và phong tục tập quán của các dân tộc…làm cho khách du lịch họ nhạn thức đúng và đẩy đủ hơn các sản phẩm du lịch,đồng thời thuyết phục họ mua hàng, mua sản phẩm ở các khu du lịch
Tuyên truyền, quảng bá phải hướng vào thị trường khách cụ thể để đạtđược mục đích ở thị trường đó Như vậy dựa vao thị trường mục tiêu để xáclập mục tiêu cổ đông Cần lựa chọn biện pháp xúc tiến là một trong năm hìnhthức sau: tuyên truyền, quảng bá, khuyến khích, trao hàng và xúc tiến bánhàng trực tiếp Trên cơ sở đó xác định được thời gian tiến hành tuyên truyềnquảng bá thương hiệu, khuyến mại để phát triển du lịch
Tuyên truyền, quảng bá đòi hỏi một chi phí khá lớn, nhưng rất cần thiếttrong các hoạt động quảng cáo sản phẩm của các kinh doanh du lịch, bởi vìhiệu quả nó rất lớn, khó lượng hóa hết Theo tổ chức thương mại thếgiới(WTO), ngân sách về tuyên truyền quảng bá thương hiệu và khuyến khíchcủa các nước đều tăng Có nhiều nước đã dành một khoản ngân sách rất lớnchi cho hoạt động này như: Canada, Hồng kông, Sinhgapore… Theo các nhà
Trang 26kinh tế, nếu bỏ ra 1 USD cho việc tuyên truyền quảng bá du lịch thì sẽ thuđược 150 USD Nhưng ở Châu Âu lại tăng lên đến 360 USD Như vậy, đâycũng là yếu tố rất quan trọng để phát triển du lịch của nước mình Ngoài ranhà nước cũng đã có những chính sách và biện pháp hữu hiệu để xúc tiếnquảng bá du lịch, đẩy mạnh đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kếtcấu hạ tầng cho khách du lịch, điểm du lịch trọng điểm.
f- Quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững.
Trước đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn phát triển du lịch bền vững, vấn đềtăng cường quản lý nhà nước về du lịch cần được tiến hành khẩn trương đồng
bộ Về thể chế quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch cần coi hoạt độngcủa khách du lịch là đối tượng quản lý phải xác định rõ và đủ mọi hoạt độngcủa khách du lịch để không bỏ sót các lĩnh vực cần quản lý Bảo vệ quyền vàlợi ích của khách du lịch, chính là bảo vệ danh tiếng, giữ gìn sự hấp dẫn dulịch của cả nước và uy tín, thể hiện của quốc gia Bên cạnh đó, cần có nhữngyêu cầu và quy định đối với khách du lịch Vì vậy, thể chế quản lý du lịchkhông những phải điều chỉnh quan hệ mua và bán mà còn hàm chứa cả việchoạt động khác của khách như thủ tục xuất nhập cảnh, qua cảnh, đi lại, tiếptục, giao lưu… Do đó, hệ thống văn bản về pháp luật về du lịch phải đồng bộ,nhất quán giữa các cấp, các ngành, tránh dùng biện pháp hành chính máymóc, cần vận dụng linh hoạt và phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế
Hiện nay, đòi hỏi của khách du lịch về sản phẩm du lịch rất cao, xuấtphát từ sự đa dạng trong văn hóa tín ngưỡng, phong tục và kinh nghiệm đi dulịch, quen tiếp xúc với sản phẩm cao cấp, hoàn chỉnh của các nước phát triển
Vì vậy, để lưu giữ khách cần phải tôn tạo, nâng cấp các danh thắng, tàinguyên để khai thác lâu dài, bền vững chứ không thể chạy theo lợi nhuận kinh
tế trước mắt Vai trò của quy hoạch trong quá trình xây dựng các điểm dulịch, khu du lịch, tuyến du lịch hết sức quan trọng Trong quy hoạch và xâydựng dự án phải hướng tới đạt hiệu quả nhiều mặt, không chỉ về kinh tế mà
Trang 27còn đảm bảo tính thẩm mỹ, văn hóa và giữ gìn bản sắc dân tộc Hoạt động dulịch đa dạng mang tính liên ngành, liên vùng nên quản lý nhà nước về pháttriển du lịch là quản lý liên ngành Bộ máy quản lý nhà nước về phát triển dulịch trong hoạt động của mình cũng thể hiện tính liên ngành rõ rệt Ngoài cơquan đảm nhiệm trược tiếp chức năng quản lý nhà nước về phát triển du lịch,còn có những bộ phận của các cơ quan khác thực hiện chức năng quan lý pháttriển du lịch Những hoạt động quản lý du lịch của tất cả các cơ quan này rấtcần sự điều phối, chỉ đạo tập trung của chính phủ Hoạt động du lịch của mộtđất nước, tự thân nó, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, thườnggắn chặt với nhau và tùy thuộc vào không ít mối quan hệ với các nước và các
tổ chức quốc tế về du lịch Vì vậy, một trong những chức năng của bộ máyquản lý nhà nước về phát triển du lịch là chức năng quản lý kinh tế đối ngoại
Do có sự trùng hợp của đối tượng quản lý và kinh doanh đều là khách
du lịch nên việc tách bạch giữa quản lý kinh doanh rất khó khăn Việc xâydựng thể chế cần phải làm rõ hai chức năng đó Nhưng trong công việc cụ thể,trong thực thi thì hai chức năng gắn bó với nhau trong một cơ cấu tổ chức,thậm chí trong một con người Người đứng đầu một doanh nghiệp du lịch,một khách sạn, không thể không chịu trách nhiệm về an ninh chính trị, vềhướng dẫn khách tuân thủ luật pháp và tôn trọng phong tục tập quán của nướcđến
Những người đứng đầu một doanh nghiệp kinh doanh du lịch, tronghoạt động của mình thực hiện cả hai chức năng quản lý nhà nước và quản lýkinh doanh Khi khách đến tham quan, không thể có một cơ quan nhà nướcnào đi theo để quản lý, mà chỉ có hướng dẫn viên du lịch quản lý Vì vậy,trong từng hoạt động cụ thể người cán bộ trong hoạt động kinh doanh đồngthời cũng sẽ thực thi chức năng quản lý nhà nước về du lịch Do yêu cầu quản
lý và đặc điểm của đối tượng quản lý, những công thức làm chức năng quản
lý nhà nước về du lịch, một số cán bộ doanh nghiệp, nhất là cán bộ trực tiếp
Trang 28tiếp xúc với khách không chỉ cần thông thạo pháp luật và nghiệp vụ, có phẩmchất tốt, ý thức trách nhiêm cao mà còn cần phải am hiểu phong tục tập quáncủa từng địa phương, từng vùng và quốc tế, có trình độ văn hóa cao trong ứng
xử giao tiếp, trong việc yêu cầu khách nước ngoài tuân thủ pháp luật, trong xử
lý sai phạm xảy ra
- Quản lý nhà nước đối với hướng dẫn viên
Ngày nay, đi du lịch không chỉ tham quan các cảnh đẹp mà du kháchcòn muốn khám phá những nét truyền thống văn hoá, phong tục tập quán củađiểm đến Chính vì vậy, những người làm công tác hướng dẫn, thuyết minhcho khách tại điểm đó rất quan trọng Làm thế nào để đội ngũ này thật sựtuyên truyền đúng, đầy đủ và tạo ấn tượng tốt cho du khách đang là câu hỏiđặt ra, nhất là đối với những di tích quan trọng có nội dung nhạy cảm
Việc thuyết minh cho du khách hiểu những giá trị văn hoá, lịch sử củamột địa danh nào đó có ý nghĩa rất quan trọng đặc biệt là khách quốc tế.Trong đó, xu thế du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng ngày càng được khẳngđịnh và phát triển Do vậy, đội ngũ hướng dẫn viên khó có thể đáp ứng đượcnhững nhu cầu của du khách khi họ muốn khám phá, tìm hiểu giá trị văn hoá,lịch sử, phong tục tập quán của người dân bản địa
Bên cạnh đó, hướng dẫn viên thường không phải là người địa phươngnên ít có điều kiện tìm hiểu sâu cũng như việc đào tạo đội ngũ này lại mất khánhiều thời gian và chi phí Như vậy, có thể thấy rằng, đội ngũ thuyết minhviên tại chỗ là khá quan trọng và cần thiết Mặc dù có thể nhìn thấy rằng, độingũ thuyết minh viên vẫn còn một số hạn chế nhất định: trình độ văn hoá cònthấp, không đồng đều, đặc biệt là về kỹ năng nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữcòn yếu
- Quản lý nhà nước đối với cảnh quan môi trường
Trang 29Phát triển du lịch có tác động thúc đẩy cải tạo môi trường, làm chocảnh quan, môi trường sinh thái xanh, sạch đẹp hơn Mặt khác, phát triển dulịch là động lực thúc đẩy xây dựng các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật,các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng quốc gia đều là điều kiện tốt đểbảo vệ các loài động vật hoang dã, thực vật quý hiếm, bảo vệ môi trường.
Bên cạnh những mặt tích cực, phát triển du lịch có nguy cơ làm hủyhoại, phá vỡ hệ sinh thái môi trường, làm ô nhiễm nguồn nước, tàn phá cácdanh lam thắng cảnh, làm cạn kiệt dần nguồn tài nguyên thiên nhiên
Du lịch là ngành hoạt động đòi hỏi môi trường và khoảng không rất lớn
là yếu tố nội tại của ngành du lịch Văn hoá và môi trường là nguyên liệu thôcủa ngành công nghiệp du lịch Vấn đề đặt ra cho người lãnh đạo, người quản
lý, người kinh doanh là phải có chiến lược phát triển du lịch đúng đắn để pháthuy mạnh mẽ những thế mạnh và hạn chế đến mức tối đa những mặt tiêu cực
do phát triển du lịch đem lại Đồng thời, đây cũng là trách nhiệm của mỗingười dân, là trách nhiệm chung của toàn xã hội Mục tiêu chủ yếu của côngtác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:
+ Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm về môi trường phátsinh trong hoạt động sống của con người
+ Phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia, xét theo các khía cạnhphát triển bền vững bao gồm: phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ nguồn tàinguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trườngsống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội
+ Xây dựng công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và cácvùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địaphương và cộng đồng dân cư
Trang 30Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sáchkinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của một quốc gia
- Quản lý nhà nước đối với bảo tồn di tích và giữ gìn bản sắc văn hoá
Từ xưa, nền văn hoá lâu đời của dân tộc đã có trong niềm tự hào củacha ông ta khi khẳng định về độc lập, chủ quyền của đất nước trước kẻ thùxâm lược Văn hoá là một di sản cực kỳ quý báu được kế thừa từ thế hệ nàysang thế hệ khác Ngày nay, văn hoá xuất hiện trên hầu hết các lĩnh vực củacuộc sống: văn hoá tình cảm, văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh, văn hoátranh luận, phê bình văn hoá là hành trang của đất nước
Tính dân tộc là nội dung quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước đặtlên vị trí hàng đầu, vì đó là tính chất cốt lõi của một nền văn hoá Nó là cơ sởcủa nền văn hoá tiên tiến, kết tinh thành nguồn nội lực để xây dựng một quốcgia giầu mạnh và phát triển bền vững Chính do tác động của quy luật tínhdân tộc mà văn hoá mang bản sắc dân tộc Lịch sử đã chứng kiến biết baocuộc đấu tranh oanh liệt, bao người sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bản sắc vănhoá của dân tộc mình trước kẻ thù xâm lược Nhưng ngày nay biết bao ngườidân ở hải ngoại khát khao muốn hành hương tìm về cội nguồn, tìm về bản sắcvăn hoá dân tộc
Văn hoá - dân tộc là hai phạm trù khác nhau nhưng liên quan chặt chẽvới nhau, vì sự khác nhau giữa các dân tộc là sự khác nhau về văn hoá Bảnsắc mỗi dân tộc được thể hiện tập trung ở bản sắc văn hoá của chính dân tộc
đó Mặt khác, chính đời sống văn hoá và giá trị tinh thần của một dân tộc làdấu hiệu để đánh giá nền văn hoá đó ở trình độ nào thuộc các cộng đồng nàotrên thế giới Như vậy, đánh mất bản sắc riêng là đánh mất dân tộc
Qua giao lưu hội nhập, nền văn hoá nước ngoài song song tồn tại cùngvăn hoá các dân tộc Dân tộc không đồng nghĩa với quá khứ, nó vẫn khôngngừng tiếp thu những cái mới để làm phong phú cho mình, tuy nhiên cái bản
Trang 31chất, tinh hoa thì không bao giờ được thay đổi mà phải được giữ gìn, vun đắp.
Đó là khí phách, tâm hồn, bản lĩnh dân tộc, là cơ sở để dân tộc hoà nhập vớitiến trình giao lưu quốc tế mà không tự đánh mất mình
Quản lý nhà nước đối với bảo tồn di tích và giữ gìn bản sắc văn hoá cóhiệu quả đối với hoạt động văn hoá, xuất bản báo chí, bảo tồn các giá trị vănhoá, biểu diễn nghệ thuật, bản quyền tác giả, quảng cáo, các hoạt động dịch
vụ văn hoá, karaoke, vũ trường, internet công cộng, kinh doanh văn hoáphẩm, in, nhân băng, đĩa hình Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộquản lý, chuyên môn nhiệm vụ cho ngành văn hoá để góp phần nâng cao yêucầu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ mới để pháttriển du lịch của đất nước [1, tr.13-14]
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG CỦA MỘT SỐ TỈNH Ở LÀO, VIỆT NAM VÀ THÁI LAN.
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch tỉnh Viêng Chăn Nước CHDCND Lào.
Tỉnh Viêng Chăn, khu du lịch Văng Viêng, các hoạt động du lịch đãphát triển trong vài thập niên gần đây, tạo nên thành thị mới sôi động có sứcthu hút, lôi cuốn ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế, nhất là dukhách quốc tế Mới đầu các điểm du lịch của Văng Viêng chủ yếu là phục vụngười dân địa phương Cùng với sự phát triển của du lịch thì các điểm nàyphát triển nhờ khách du lịch đến tham quan Văng Viêng Đồng thời VăngViêng không chỉ là điểm đến của khách du lịch mà còn là điểm xuất phát chocác chuyến du lịch đến Luang Pra Bang Đó chính là “ cổng vào” để hìnhthành chương trình du lịch của du khách quốc tế và trong nước chính vì vậy
đã tập trung làm tốt một số mặt sau đây:
- Tạo ra các “ cổng vào” thuận tiện, dễ dàng, nhanh chóng cho dukhách đến Văng Viêng
Trang 32- Quy hoạch, nâng cao các điểm tham quan du lịch, các điểm vui chơigiải trí trong thành phố và các điểm phụ cận phục vụ khách.
- Xây dựng các trung tâm thương mại, trung tâm hội chợ triển lãm vàtrung tâm hội nghị phục vụ du khách
- Đa dạng hóa các cơ sở kinh doanh du lịch lưu hành
- Xây dựng các cơ chế, chính sách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi đểthu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.[34]
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch của tỉnh Pattaya, Thái Lan.
Du lịch Thái Lan trong mấy thập niên qua đã đóng vai trò quan trọng,góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, bảo đảm cuộc sống cho người dân.Chính phủ Thái Lan đã xác định hướng chiến lược là xây dựng ngành dịch vụchất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh, do đó trong những năm gần đây ThaiLan tập trung mũi nhọn vào ngành du lịch, dịch vụ và tập trung sản xuất rasản phẩm để phục vụ cho khách du lịch
Chính phủ Thái Lan còn chú trọng xây dựng các tổ chức du lịch và pháttriển hệ thống điều hành du lịch trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên mộtcách khoa học, hợp lý hướng tới phát triển bền vững
Thái Lan lại tiếp tục thuyết phục thế giới trong lĩnh vực du lịch, khiđược nhận giải "The world’s best tourist country 2006" (Quốc gia du lịch tốtnhất thế giới năm 2006), do Tạp chí The trevel News Na Uy trao tặng Tạpchí The Luxury Trevel Úc cũng đã công bố "Danh sách vàng năm 2006" chocác giải thưởng trong ngành du lịch, và Thái Lan cũng giành được nhiều giảicao: BangKoc được xếp thứ 8 trong số các thành phố giành giải "Thành phốtốt nhất"; 8 khu nghỉ mát của Thái Lan lọt vào danh sách top 30 "Khu nghỉmát tốt nhất" Để đạt những giải thượng trên, nhiều năm qua ngành du lịchThái Lan đã có nhiều cố gắng vượt bậc đó là:
Trang 33- Hệ thống hạ tầng khu du lịch đã hoàn thiện và đồng bộ, mạng lướigiao thông đô thị đến các điểm du lịch với các tuyến đường cao tốc dưới đất,trên không chằng chịt nhưng không kém phần duyên dáng bởi những đườngcong uốn lượn Bên cạnh nét hiện đại của các thành phố du lịch vẫn thấy dángdấp những nét huyền bí từ những đền đài cung điện với kiểu kiến trúc chópnhọn và mái cong vút và điều đó đã tạo nên cảnh quan vừa hiện đại, vừa cổkính rất hấp dẫn thu hút du khách đến tham quan.
- Kinh doanh dịch vụ du lịch thực sự là một ngành kinh doanh chuyên nghiệp Sự chuyên nghiệp được thể hiện trong từng chi tiết nhỏ, từ sắpxếp lại lịch trình cho hợp lý, từ sự đón tiếp nồng hậu của mỗi khách sạn, chođến những người giới thiệu ngắn gọn mà vô cùng bài bản của mỗi nơi thamquan
- Các sản phẩm du lịch rất đa dạng, dưới biển có thể tham gia đánh cá,bơi thuyền, lái thuyền scooter, trượt sóng , còn trên bờ có thể tham gia tròchơi như: săn bắn, đua xe, cưỡi ngựa, voi, đánh golf hoặc có thể xem cácchương trình nghệ thuật ca múa nhạc
- Nội dung đa dạng với sáng tạo riêng của ngành du lịch Thái Lan như
du lịch sinh thái, du lịch văn hóa mang đậm chất Phật giáo, du lịch mạo hiểm,
du lịch chữa bệnh, du lịch khám phá và du lịch tình nguyện tạo nên đặc sắcriêng có của Thái Lan Đến các loại dịch vụ du lịch này, du khách đượcthưởng thức các chương trình ca múa nhạc dân tộc và có thể tham quan cáccông viên vườn sinh thái, vườn thú, vườn trồng cây ăn quả, vườn nuôi ong tất cả các hoạt động này đều tạo ra sức hấp dẫn cho du khách
- Cung cách phục vụ của nhân viên du lịch và người dân Thái rất cởi
mở và thân thiện với du khách Họ tranh thủ tiếp thị, chụp ảnh lưu niệm cho
du khách Không có chuyện níu kéo, tranh giành khách, hoặc bán phá giá.Bên cạnh đó hướng dẫn viên du lịch cũng có phong cách làm việc thật chuyên
Trang 34nghiệp mà cũng thật uyển chuyển, khéo léo và thân thiện, tạo nhiều thiện cảmđối với mỗi thành viên trong đoàn.
- Hệ thống các trung tâm thương mại rất sầm uất, sản phẩm bày bán rất
đa dạng, đảm bảo chất lượng và giá cả hấp dẫn Nhân viên bán hàng phục vụrất nhiệt tình, giới thiệu mặt hàng một cách kỹ càng, làm cho du khách khólòng mà từ chối mua hàng khi tham quan tại các trung tâm thương mại.[37]
1.3.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam
Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định:
"Phát triển nhanh khu vực dịch vụ đáp ứng yêu cầu và phù hợp với tiềm năngcòn rất lớn của Việt Nam và xu hướng phát triển chung của thế giới Khuyếnkhích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch, đadạng hóa sản phẩm và loại hình du lịch" [8]
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã sử dụng rất nhiều hình thứcphục vụ khách, với nhiều hình thức độc đáo, nên đã thu hút được lượng kháchtrong nước và quốc tế đến ngày càng đông Như ở Việt Nam có các cửa hàngmiễn thuế, bán các sản phẩm truyền thống giá rẻ, chất lượng cao, các mặthàng xa xỉ phẩm của các nước nổi tiếng, quần áo hợp thời trang nhằm thu hútkhách du lịch, tư tưởng chỉ đạo của Việt Nam là: luôn luôn tìm cách thỏa mãnmột cách tối đa nhu cầu của khách cả về vật chất lẫn tinh thần, tâm lý, khẩuhiệu phục vụ khách hàng là “ gây ấn tượng tốt cho khách ngay từ bước chânđầu tiên và làm cho khách hài lòng đến bước chân cuối cùng”
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Luang pra Bang
Theo những kinh nghiêm của các nước đã nêu trên để làm cho ngành
du lịch của tỉnh Luang Pra Bang ngày càng phát triển Tỉnh Luang Pra Bang
đã rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Trang 35Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách
giải pháp để thúc đẩy ngành du lịch phát triển
Chiến lược phát triển ngành du lịch phù hợp với chiến lược phát triểnkinh tế đất nước, phát triển du lịch đồng bộ, kiện toàn mối quan hệ giữangành du lịch với các ngành khác có liên quan
Chiến lược tiếp thị, quảng cáo năng động đáp ứng được thị hiếu củakhách du lịch
Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, đồng thời tíchcực tuyên truyền giáo dục mọi người dân hiểu rõ tầm quan trọng của du lịch
Đã đem lại kết quả đáng kể, mang lại nguồn thu ngoại tệ hàng năm 2-3 tỷUSD
Chiến lược sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, chú trọng pháttriển sản phẩm du lịch đến với mọi tầng lớp nhân dân, có môi trường du lịch
an toàn thuận tiện, có nền kinh tế và chế độ chính trị ổn định
Hai là, mạnh dạn đầu tư cơ sở vật chất nhằm phát triển du lịch.
Để phát triển kinh tế, trước hết phải xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuậtđặc biệt là công nghệ thông tin, ở nhiều nước công nghiệp phát triển côngnghệ thông tin du lịch đang được ứng dụng phổ biến như nước Mỹ là 37%, ởPháp là 35,1% Đây là tiền đề cho ngành du lịch phát triển
Ngoài kết cấu hạ tầng chung như mọi ngành kinh tế khác, ngành du lịchcòn có cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù như khách sạn, nhà hàng, khu vui chơigiải trí…Du lịch phát triển thì cơ sở vật chất kỹ thuật càng được nâng cao vàtính đồng bộ của nó ngày càng tăng
Ba là, tạo ra những sản phẩm đa dạng, độc đáo, hấp dẫn lôi cuốn sự chú
ý của khách
Tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, hấp dẫn mạnh tới khách
Trang 36động kinh doanh du lịch của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Sự hấp dẫn củanhững sản phẩm du lịch phụ thuộc vào chính những thứ mà quốc gia và địaphương mình đã và đang có, đồng thời không tách khỏi sự cố gắng sáng tạocủa mỗi nhân viên trong ngành du lịch phối hợp với các đơn vị có liên quan.Sản phẩm du lịch chủ yếu là những dịch vụ, vì thế sản phẩm du lịch phải cóchất lượng, uy tín của toàn ngành là sự phấn đấu trong từng công đoạn, từngdoanh nghiệp và của sự phối hợp liên ngành, cuối cùng phải được du kháchchấp nhận Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch sẽ trở thành một vấn đềchiến lược trong hoạt động kinh doanh du lịch Kinh nghiệm ở một số nước
sử dụng rất nhiều hình thức sản xuất ra sản phẩm, nhiều hình thức độc đáo,nên đã thu hút được nhiều khách trong nước và quốc tế
Bốn là, tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch.
Mục đích của tuyên truyền quảng bá hay kinh doanh du lịch là nhằmcung cấp thông tin cho khách du lịch, làm cho họ nhận thức đúng và đẩy đủhơn các sản phẩm du lịch, đồng thời thuyết phục họ mua sản phẩm
Tuyên truyền, quảng bá phải nhằm vào thị trường khách cụ thể để đạtđược mục đích thị trường đó Như vậy, dựa vào thị trường mục tiêu để xác lậpmục tiêu cổ động, cần lựa chọn biện pháp xúc tiến, trên cơ sở đó xác địnhđược thời gian tiến hành
Năm là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch.
Đối tượng phục vụ du lịch là con người, bao gồm cả người trong nước
và khách du lịch nên đòi hỏi trình độ của cán bộ, nhân viên du lịch phải cao
Do vậy, việc đào tạo bồi dưỡng, giáo dục cho đội ngũ nhân viên có ý nghĩaquan trọng nên nhiều nước phát triển du lịch đều rất chú ý vấn đề này Chonên người làm việc trong ngành du lịch phải được đào tạo, huấn luyện mộtcách chính quy, ngày càng được nâng cao trình độ bằng nhiều phương phápnhư: vừa học vừa làm, tập huấn nâng cao trình độ hiểu biết cho cán bộ nhân
Trang 37viên trong ngành du lịch… việc nâng cao trình độ hiểu biết du lịch cho toàndân là vô cùng quan trọng
Sáu là, phát triển du lịch đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên môi trường.
Việc phát triển du lịch hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề không thểxem nhẹ: gây tổn hại môi trường, tài nguyên sinh thái ở nhiều vùng, các côngtrình văn hóa lịch sử, các tệ nạn xã hội Tình trạng rác thải, tắc nghẽn giaothông… cũng là hiện tượng phổ biến Phân tích theo cặp phạm trù “ nhânquả” giữa du lịch và môi trường, thì du lịch là nguyên nhân gây ô nhiễm môitrường và đến lượt du lịch phải chịu hậu quả của môi trường ô nhiễm tácđộng, hạn chế đến khả năng phát triển của ngành du lịch
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
Ở TỈNH LUANG PRA BANG.
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.
Theo bản đồ của nước CHDCND Lào cho thấy tỉnh Luang Pra Bangnằm ở miền Bắc Lào, ở đường kinh tuyến 210 - 100 và đường vĩ tuyến 190 -
150, nằm ở vị trí địa lý Bắc Lào Tỉnh Luang Pra Bang còn là cổng thành của
7 tỉnh miền Bắc: Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam (CHXHCN Việt Nam) và tỉnh Phông Xa Lỳ CHDCND Lào, Phía Namgiáp tỉnh Viêng Chăn, Phía Đông giáp tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Hủa Phăn,Phía Tây giáp tỉnh U Đôm Xay và tỉnh Xay Nha Bu Ly
Trang 38- Địa hình: Tỉnh Luang Pra Bang cách Thủ đô Viêng Chăn 360 km
theo con đường quốc lộ số 13, từ Bắc đến Nam phần lớn địa hình của lãnh thổtỉnh là đồi núi cao từ 1.600 mét, thấp nhất là 247 mét so với mặt nước biển,85% diện tích là vùng đồi núi cao, đồng bằng ven sông Mê Kông nhỏ hẹp.Địa hình này có cả thuận lợi và khó khăn cho tỉnh Luang Pra Bang về pháttriển kinh tế - xã hội
- Khí hậu: Nằm trong khu vực có đồi núi cao, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ
thấp nhất là 120C, cao nhất là 400C Số lượng mưa hằng năm đo được1.200mm/năm, ánh sáng mặt trời chiếu trung bình mỗi ngày khoảng 8 tiếngđồng hồ
Qua đặc điểm khí hậu cho chúng ta nhận xét khí hậu của tỉnh LuangPra Bang khá thuận lợi cho hoạt động du lịch, vì nhiệt độ không quá nóng vàcũng không quá lạnh
- Tài nguyên đất: Với diện tích 16.875 km2, bằng 1.687.500 ha, diệntích rừng chiếm 47% Diện tích rừng tự nhiên 1.191.955 ha, diện tích rừngtrồng 119.307 ha, diện tích nông nghiệp - lâm nghiệp 275.395 ha Điều đánglưu ý là đang trong quá trình diễn biến theo xu hướng giảm dần diện tích rừnggià, giảm diện tích rừng trung bình và tăng diện tích rừng hỗn hợp tre, nứa và
do sự không hiểu biết của dân trong quá trình khai thác, phá rừng làm nươngquá mức làm cho chất lượng tài nguyên rừng giảm sút [35, tr.16]
2.1.2 Đặc điểm dân số và điều kiện kinh tế - xã hội.
- Đặc điểm dân số:
Qua 5 năm từ năm 2005-2010 dân số của tỉnh Luang Pra Bang có sựphát triển khá nhanh, tăng 1,65 lần và tốc độ tăng bình quân là 3,35 %, (Bìnhquân cả nước là 1,7%), đứng thứ 3 trong 17 tỉnh cả nước
Tỉnh Luang Pra Bang bao gồm 12 huyện, 99 cùm bản(nhóm làng), baogồm 774 làng, có 74.511 hộ gia đình; dân số 421.745 người, trong đó có
Trang 39209.072 nữ Dân số tỉnh gồm có 3 bộ tộc lớn như: Lào Lum chiếm 33,41%,Lào Thâng chiếm 50,82%, Lào Xủng 15,66%, kiều dân người nước ngoài0,09% Cơ cấu xã hội dân số của tỉnh Luang Pra Bang phần lớn làm nôngnghiệp nông thôn, nghề làm ruộng 14.509 hộ gia đình, làm nương 38.301 hộ,làm cả ruộng và nương 4.337 hộ, làm dịch vụ 12.455 hộ và 4.909 là nghềnghiệp khác Tổng nguồn lao động năm 2010 là 121.150 người, chiếm tỷ lệ34,85% dân số thành thị và nông thôn Tổng nguồn lao động nước ngoài1.381 người đến từ Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan So với năm 2005 tănglên 112.750 người trong đó nguồn lao động nước ngoài tăng lên 953 người.Trình độ học vấn trong lực lượng lao động của tỉnh đang có xu hướng nânglên và có khả năng tăng nhanh trong các năm sau [18]
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Quá trình đổi mới về kinh tế đất nước đã và đang tạo nhiều thuận lợicho sự phát triển kinh tế cả nước nói chung và cho mỗi địa phương nói riêng,trong đó có tỉnh Luang Pra Bang Sự tăng trưởng liên tục và ổn định của kinh
tế cả nước trong những năm qua và trong những năm sắp tới sẽ tạo ra nhữngtác động thuận lợi cho sự phát triển của tỉnh Luang Pra Bang , cũng như cónhiều lợi thế hấp dẫn các nhà đầu tư như vị trí thuận lợi, cơ sở hạ tầng tươngđối hoàn chỉnh, cơ chế chính sách tương đối thông thoáng…
Luang Pra Bang là một trung tâm du lịch lớn của nước CHDCND Lào.Với những tiềm năng về tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội vừa là thành phố
cố đô ngàn năm lịch sử lâu đời, là di sản văn hóa thế giới được Tổ chứcUNESCO công nhận ngày 2/2/1995
Hàng năm, du lịch Luang Pra Bang đã tiếp nhận được số lượng lớnkhách nội địa và quốc tế, năm 2011 Luang Pra Bang đón được 1.921.542 lượtkhách, trong đó có 294.213 lượt khách quốc tế Trong vòng 6 năm liền (2006,
2007, 2008,2010,2011 và 2012) và năm 2010, Cổ đô Luông Pha Bang đã đạt
danh hiệu "Thành phố du lịch văn hóa tốt nhất" được Tổ chức UNESCO trao
Trang 40tặng huân chương vàng và được ASEAN trao giải "Asean Green HotelStandards" (Đạt tiêu chuẩn khách sạn xanh) Thu nhập từ du lịch ngày càngtăng, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển mạnh và tăng liêntục, năm 2010 doanh thu từ du lịch đạt 110 triệu USD [20, tr 65] Nhịp độtăng trưởng kinh tế của tỉnh 9,4%/năm, lĩnh vực dịch vụ chiếm 37% GDP.Trong đó, du lịch ngày càng tăng và đóng vai trò quan trọng, có tính quyếtđịnh trong lĩnh vực này.
- Sự phát triển kinh tế-xã hội
Luang Pra Bang được xác định là trung tâm kinh tế - văn hóa - khoahọc và công nghệ của khu vực miền Bắc, nhìn chung Luang Pra Bang có tốc
độ phát triển kinh tế năng động và liên tục tăng trong những năm qua Giaiđoạn 2001 - 2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7%/năm, tổng GDP đạt 1.643
tỷ kíp; trong đó nông nghiệp 789 tỷ kíp, chiếm 48% của GDP; công nghiệp
279 tỷ kíp, chiếm 17% của GDP và dịch vụ 575 tỷ kíp, chiếm 35% của GDP;thu nhập bình quân đầu người là 355 USD [21] So với kế hoạch 5 năm (1995
- 2000) tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được 85,5%, thu nhập bình quân đầungười đạt được 68% Giai đoạn 2006 - 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt9,4%/năm, tổng GDP đạt 3.001,43 tỷ kíp; trong đó nông nghiệp 1.290,615 tỷkíp, chiếm 43% của GDP; công nghiệp 600,286 tỷ kíp, chiếm 20% của GDP
và dịch vụ 1.110,529 tỷ kíp, chiếm 37% của GDP; thu nhập bình quân đầungười là 6.980.000 kíp, bằng 821 USD Nhìn chung cơ cấu kinh tế của tỉnhtrong những năm qua đã đạt mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có xu hướngchuyển biến tiến bộ, đúng hướng làm cho nông nghiệp giảm, công nghiệp vàdịch vụ trong GDP và GDP bình quân đầu người tăng [18]
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng cơ cấu kinh tế của tỉnh Luang Pra
Bang giai đoạn năm 2001 – 2011
Đơn vị tính: %