Nhưng để cáclàng nghề phát triển theo đúng định hướng và mang tính bền vững thì đó thực sự làmột bài toán nan giải, bởi chính sách quản lý, phát triển làng nghề; chính sách hỗtrợ về vốn,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục bảng biểu ii
Danh mục các hình vẽ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ .15
1.1 Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống 15
1.1.1 Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 15
1.1.2 Phân loại làng nghề 19
1.2 Đặc điểm của các làng nghề 20
1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm 20
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 21
1.3 Điều kiện hình thành của các làng nghề 22
1.3.1 Các điều kiện hình thành làng nghề 22
1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề truyền thống 23
1.4 Phát triển làng nghề theo hướng bền vững 26
1.4.1 Quan niệm về phát triển bền vững 26
1.4.2 Phát triển bền vững làng nghề 27
1.5 Vai trò của LNTT đối với việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội 31 1.5.1 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế 31
1.5.2 Tăng giá trị tổng sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân 32
1.5.3 Giải quyết việc làm 32
1.5.4 Hạn chế sự di dân tự do 33
1.5.5 Nâng cao thu nhập, cải thiện hệ thống hạ tầng nông thôn 34
1.5.6 Đa dạng hóa kinh tế nông thôn và thúc đẩy quá trình đô thị hóa 34 1.5.7 Bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa dân tộc 35
Trang 41.6 Phát triển làng nghề ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 36
1.6.1 Phát triển làng nghề ở một số nước trên thế giới
Trang 53.1.1 Đinḥ hướng chung
3.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển các làng nghề Thị xã từ Sơn 90
3.2.1 Quan điểm phát triển
Trang 63.4.1 Giải pháp về quy hoạch
KẾT LUẬN 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì một trong nhữngvấn đề nóng bỏng cần được quan tâm lớn của Việt Nam cũng như các nước đang pháttriển khác trên thế giới là công nghiệp hoá kinh tế nông thôn Cho đến nay Việt Namvẫn là một nước nông nghiệp Theo kết quả được thống kê dân số nông thôn ở nước tachiếm 69,6% vào năm 2010 và chiến khoảng 66,4% vào năm 2015 Nông nghiệp giữ vịtrí hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước ta Ngoài nghềchính là trồng trọt và chăn nuôi, ở nông thôn ngày nay nhiều ngành nghề được khôiphục và phát triển trở lại như mây tre đan, gốm sứ, dệt chiếu, thảm cói, thảm xơ dừa,hàng sơn mài, thêu ren, đồ gỗ, làm bún, miến, bánh, Trong quá trình tích tụ và liênkết, dần dần hình thành nên những làng nghề và gần đây xuất hiện thêm mô hình doanhnghiệp làng nghề chuyên sản xuất, kinh doanh một hoặc vài loại sản phẩm đặc trưngcho làng đó Những làng nghề, doanh nghiệp làng nghề đã giải quyết việc làm chongười nông dân trong thời kỳ nông nhàn và tăng thêm thu nhập cho họ, đồng thời cũng
là yếu tố quan trọng góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, thúc đẩy quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Làng nghề và doanh nghiệp làng nghề là nơi chủ yếu sản xuất và kinh doanhhàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, có vai trò quan trọng tới việc tăng kim ngạchxuất khẩu Trong xu thế tự do hoá và toàn cầu hoá về kinh tế và thương mại, vớiviệc Việt Nam gia nhập WTO, đang tạo ra những cơ hội để phát triển xuất khẩunhiều chủng loại hàng hoá của Việt Nam nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ nóiriêng Đồng thời với sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, cùng với cuộcsống đang thay đổi từng ngày của đa số người dân trên thế giới, nhu cầu về sử dụngnhững hàng hoá độc đáo, tinh xảo, mang tính văn hoá, nghệ thuật cao, gần gũi vớithiên nhiên sẽ tăng lên, tạo ra nhiều cơ hội cho sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ là sự đòi hỏi củathực tế hiện tại, mà còn là cả một quá trình lâu dài, góp phần quan trọng vào tiếntrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 11Vì vậy, một trong những nội dung trọng tâm của CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn mà Đảng và Nhà nước đã xác định là khôi phục các làng nghề truyềnthống, hình thành và phát triển các làng nghề mới Qua một thời gian dài, thực tếcho thấy rằng các làng nghề đã hoạt động khá hiệu quả, đóng vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy sự phát triển của sản xuất trong nước, tạo ra nhiều việc làm, thuhút lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp vào các hoạt động dịch vụ và sản xuất phinông nghiệp trên địa bàn nông thôn nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sốngcủa nông dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH,HĐH, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế mở, đẩy mạnh sản xuất hàng xuấtkhẩu Đây là nhiệm vụ không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị - xãhội to lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng XHCN.
Việc quản lý và phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp đã và đang là vấn đềđược ưu tiên trong bối cảnh phát triển kinh tế đất nước nói chung Nhưng để cáclàng nghề phát triển theo đúng định hướng và mang tính bền vững thì đó thực sự làmột bài toán nan giải, bởi chính sách quản lý, phát triển làng nghề; chính sách hỗtrợ về vốn, thị trường đầu ra cho sản phẩm,… cộng theo là sự du nhập của lối sốngmới, lối sống thị trường vào trong xóm làng đã tạo ra những biến đổi về các giá trịvăn hóa truyền thống và chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất là những địa phương có cácnghề truyền thống
Hiện nay các làng nghề phân bổ rộng khắp cả nước nhưng không đồng đều.Theo số liệu thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam năm 2009 Nguyên, vật liệucho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước và hầu hếtcác nguồn nguyên liệu vẫn lấy trực tiếp từ tự nhiên Phần lớn công nghệ và kỹ thuật
áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu tính cổ truyền vẫnchưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩmcòn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và giảm sức cạnh tranh
Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các các làng nghề vẫn sử dụngchủ yếu là lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả các công đoạn nặngnhọc và độc hại nhất Nhiều sản phẩm đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ
Trang 12thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là các làng nghề truyền thống, sản xuất cácsản phẩm thủ công mỹ nghệ Riêng về thị trường tiêu thụ sản phẩm thì trước đây về
cơ bản thị trường này nhỏ hẹp tiêu thụ tại chỗ do đó giá thành cũng thấp Nhưnghiện nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của Việt Nam đã mở rộngsang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các thị trường truyền thốngnhư Trung Quốc, Hồng Công, Singapo, thậm chí cả các thị trường khó tính như:Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU…Do đó giá trị sản lượng các làng nghề cùngphát triển nhanh đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Sự hình thành các làng nghề luôn gắn liền với lịch sử phát triển nền văn hoácũng như lịch sử phát triển nền kinh tế, với những lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội Mỗi nơi có những đặc điểm riêng, có thế mạnh vàhạn chế khác nhau nên mỗi nơi sẽ có các làng nghề với quy mô và mức độ hoạtđộng khác nhau
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong châu thổ sôngHồng, giáp thủ đô Hà Nội, là tỉnh có diện tích nhỏ, nhưng lại có tiềm năng lớn đểphát triển kinh tế nhất là phát triển công nghiệp Từ năm 2004 Bắc Ninh chính thứctrở thành một trong tám tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Trong nhữngnăm gần đây Bắc Ninh có vị thế mới trong nền kinh tế đất nước và là điểm sáng vềphát triển công nghiệp, Bắc Ninh đang chuyển mình mạnh mẽ với những bước đidài về công nghiệp hoá, hiện đại hoá phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2015 trở thànhtỉnh công nghiệp Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp là sự khôi phục vàphát triển các làng nghề (bao gồm làng nghề truyền thống và làng nghề mới) trênđịa bàn tỉnh Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp, thực hiệnQuyết định 132 năm 2000 và Nghị định 134 năm 2004 của Chính phủ về khuyếnkhích phát triển công nghiệp nông thôn, công tác quản lí nhà nước đối với các khucông nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề cũng được quan tâm đẩymạnh Từ Sơn (huyện Từ Sơn được thành lập năm 1999 trên cơ sở tách huyện TiênSơn thành hai huyện Tiên Du và Từ Sơn Ngày 24 tháng 9 năm 2008, Chính phủban hành nghị định thành lập thị xã Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ
Trang 13diện tích tự nhiên và dân số của huyện Từ Sơn Thị xã Từ Sơn gồm 7 phường và 5xã) là một thị xã với nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng từ lâu đời Sự phát triểncủa các làng nghề trong những năm qua đã góp phần không nhỏ đối với sự pháttriển kinh tế xã hội của Thị xã, của tỉnh Bắc Ninh Tuy nhiên, trong quá trình pháttriển các làng nghề, Thị xã cũng phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh hết sứcphức tạp đòi hỏi cần phải có các giải pháp phù hợp và cấp bách.
Nhận thấy việc cần thiết phải có chiến lược phát triển làng nghề cụ thể và lâu
dài nên tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển các làng nghề ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” làm chủ đề nghiên cứu trong luận văn cao học Quản lý Kinh tế.
Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Khái niệm về làng nghề? Điều kiện hình thành và phát triển làng nghề?
- Vì sao nên phát triển làng nghề ở Thị xã Từ Sơn? Nêu rõ những lợi thế về điều kiện tự nhiên và con người?
- Thực trạng phân bố và phát triển của các làng nghề ở Từ Sơn – Bắc Ninh trong giai đoạn 2009-2013?
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại trong thời gian tới
2. Tình hình nghiên cứu
* Tình hình nghiên cứu đề tài ở nước ngoài
Trên thế giới, làng nghề và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu có ởcác nước châu Á và một số ít nước châu Phi, còn các nước công nghiệp phát triển
ở châu Âu, châu Mỹ thì rất ít làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Do vậy,các công trình nghiên cứu về đề tài này trên thế giới không có nhiều Các nướchoặc vùng lãnh thổ có làng nghề như Trung Quốc, Thái Lan, Malaisia, Inđônêxa,Philippin, Nhật Bản, Hàn Quốc, có một số đề tài nghiên cứu phục vụ cho việcxây dựng chính sách phát triển làng nghề của họ, nhưng thường trong phạm vi hẹp
và chưa được công bố rộng rãi
- Hai tác giả G Michon và F Mary nghiên cứu nội dung chuyển đổi khu vườnLNTT và chiến lược kinh tế mới của các hộ gia đình nông thôn trong khu vực Bogor,Indonesia Từ đó, tạo bước đệm để phát riển các làng nghề nơi đây gắn liền
Trang 14với hình thức du lịch sinh thái kết hợp với khu vườn LNTT, góp phần cải thiện thu nhập và tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn ở Indonesia [23].
- Tác giả Liu Peiln cho rằng nên thành lập một hệ thống bảo vệ cho "Làng nổitiếng của Trung Quốc tham quan lịch sử và văn hóa" Trong các di sản lịch sử và vănhóa của thế giới, những ngôi làng cổ xưa của Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng
Ở Trung Quốc, số lượng làng nghề truyền thống là rất lớn, phân bố rộng rãi và có giátrị lịch sử cao, được ví như "ngọc trai của văn hóa truyền thống" và "bảo vật quốc giacủa bộ sưu tập dân gian" Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát riển là chưa thỏa đáng Do
đó, việc cấp thiết rước mắt là lựa chọn và quyết định một số làng cổ đại diện cho cứu
hộ ngay lập tức và bảo vệ đặc biệt như "ngôi làng nổi tiếng lịch sử và văn hóa củaTrung Quốc" Nghiên cứu này xem xét lại các quan niệm về ý tưởng về một hệ thốngbảo vệ và thảo luận về các điều kiện để chấp thuận cho tình trạng, nội dung, nguyêntắc, phương pháp và biện pháp bảo vệ cũng như định hướng trong khai thác và phátriển của chúng Hệ thống bảo vệ sẽ đóng một vai trò tích cực trong việc bảo tồn hiệuquả cảnh quan và nền văn hóa cổ đại [24]
- Hai tác giả Che Zhenyu và Bao Jigang có nội dung nghiên cứu là phát riển
du lịch của làng nghề truyền thống và biến đổi của mẫu Xuất phát từ chỗ, trongngành du lịch của thập kỷ qua là sự bùng nổ phát triển du lịch làng nghề truyềnthống, tác giả đã nghiên cứu chi tiết về hiện tượng này dưới nhiều góc độ khácnhau như kiến trúc, địa lý, du lịch, Tuy nhiên, vấn đề phát riển du lịch và nghiêncứu về sự thay đổi hình thức của làng nghề truyền thống đang còn thiếu và đây lànguyên nhân cần thiết phải nghiên cứu nhằm phát triển du lịch làng nghề truyềnthống Dựa trên sự thay đổi hình thức của làng nghề truyền thống trong quá trìnhphát riển du lịch, làng nghề có khả năng phát riển du lịch có thể được chia thànhbốn loại: đó là sự thay đổi dần dần, những sự thay đổi ổn định, những thay đổi độtngột và những phục hồi [22]
- T.Sonobe, K.Otsuka và Vu Hoang Nam đã tìm hiểu quá trình phát triển củamột làng nghề truyền thống chuyên sản xuất mặt hàng may mặc đang phát triển
ở miền Bắc Việt Nam trong điều kiện các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đượcbiết là có nhiều tiềm năng để phát riển nhưng lại không được đầu tư Họ cho rằng
Trang 15có hai điều kiện quan trọng là con người và vốn xã hội (đo bằng các mối quan hệ
họ hàng với thương nhân Việt Nam ở nước ngoài) của các chủ sở hữu, điều này tạođiều kiện để mở rộng hoạt động trao đổi, mua bán vào thị trường xuất khẩu mới.Hơn nữa, trình độ và kinh nghiệm quản lý của nguồn nhân lực nói chung và nguồnnhân lực cụ thể góp phần nâng cao hiệu suất doanh nghiệp [25]
* Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước
Trong những năm gần đây, trong nước đã có một số công trình nghiên cứukhoa học có liên quan đến việc phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề, đẩymạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam
Trong các công trình này, chủ yếu là một số đề tài cấp Bộ, ngành, hiệp hội
có liên quan đến làng nghề và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
- Bộ Thương mại (nay Bộ Công Thương) đã có công trình “Đề án phát
triển xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đến năm 2010” đề án hoàn thành tháng
5/2007 Đề án tập trung vào đánh giá những yếu tố có tầm quan trọng quyết định sự
thành bại của tăng trưởng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, đề ra những khuyếnnghị nhằm khai thác hiệu quả nhất tiềm năng của Việt Nam, góp phần giải quyết
công ăn việc làm “Đề án phát triển xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đến năm
2010” cũng đưa ra những giải pháp, chính sách, cơ chế nhằm thực hiện những mục
tiêu về xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Phương pháp được sử dụng trongnghiên cứu là phân tích quy trình hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu liênquan đến bốn nhóm vấn đề về (1) sản xuất trong nước; (2) môi trường kinh doanh;(3) phát triển thị trường xuất khẩu; (4) phát triển bền vững [3]
- Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) có “Đề án phát triển xuất khẩu
giai đoạn 2006-2010” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đã xác định
mục tiêu, định hướng và những giải pháp lớn cho phát triển xuất khẩu, trong đó cóxuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong thời kỳ 2006-2010 [2]
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JICA), có công trình “Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành thủ
công mỹ nghệ theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam”, với các chuyên
Trang 16mục: Báo cáo cuối cùng, Báo cáo chính nghiên cứu quy hoạch tổng thể Công trìnhđược nghiên cứu dựa trên các số liệu điều tra thực tế từ sản xuất, kinh doanh củacác làng nghề Đề án hoàn thành tháng 2/2004 [1].
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo) “Xây dựng và
phát triển mô hình làng nghề du lịch của một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ”, mã số
B2005-40-5, do GS TS Hoàng Văn Châu chủ nhiệm đề tài Đề tài đã nhận địnhlàng nghề và doanh nghiệp làng nghề là nơi chủ yếu sản xuất và kinh doanh hàngthủ công mỹ nghệ của Việt Nam, có vai trò quan trọng nhất tới việc tăng kim ngạchxuất khẩu Trong xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế và thương mại, vớiviệc Việt Nam ra nhập WTO, đang tạo ra những cơ hội để phát triển xuất khẩunhiều chủng loại hàng hóa của Việt Nam nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ nóiriêng Đồng thời với sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, cùng với cuộcsống đang thay đổi từng ngày của đa số người dân trên thế giới, nhu cầu sử dụngnhững hàng hóa độc đáo, tinh xảo, mang tính văn hóa, nghệ thuật cao, gần gũi vớithiên nhiên sẽ tăng lên, tạo ra nhiều cơ hội cho sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ Hiện nay, các hộ kinh tế gia đình, các doanh nghiệp sản xuất trong cáclàng nghề vẫn hoạt động chủ yếu theo tính truyền thống và tự phát Việc nghiên cứu
có tính quy mô, khoa học cho sự phát triển làng nghề chưa được thực hiện thườngxuyên Do đó, hoạt động của làng nghề còn nhiều lung túng và hiệu quả chưa cao,chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh về nguồn lao động dồi dào ở khu vựcnông thôn và nguồn nguyên liệu còn khá phong phú Đề tài gồm ba chương chính:chương một: tổng quan về làng nghề, doanh nghiệp làng nghề và tiềm năng xuấtkhẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các doanh nghiệp làng nghề, chương hai: thựctrạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam và chương ba: giải pháp pháttriền làng nghề, doanh nghiệp làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹnghệ trong quá trình hội nhập [8]
Ngoài những công trình nghiên cứu tương đối quy mô này, nhiều hội thảo củacác bộ, ngành, Hiệp hội làng nghề cũng có những đề tài nghiên cứu trong từng lĩnh
vực Chẳng hạn, năm 2008, Hiệp hội làng nghề Việt Nam tổ chức Hội thảo: “Cơ
Trang 17hội đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trong bối cảnh mới”, và Hội thảo “Tiềm năng
và thực trạng làng nghề Việt Nam hiện nay” đã có nhiều tham luận, báo cáo nghiên cứu
tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và nêu ra những giải pháp pháttriển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề Trong đó, đáng lưu ý là những tham luận
như: “Bảo tồn và phát triển làng nghề”, “Phát triển nghề, làng nghề trong điều kiện
mới” của ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam, “ Một số vấn đề phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các địa phương - Kết quả nghiên cứu ở
2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ” của ông Lê Đức Thịnh và bà Lê Thị Phi Vân, “Định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề” của thạc sĩ Bùi Văn Vượng, “Vài suy nghĩ về
du lịch làng nghề Việt Nam” của ông Lưu Duy Dần, Phó chủ tịch Hiệp hội làng nghề
Việt Nam Bên cạnh đó, nhiều báo, tạp chí cũng có những bài viết về thực trạng, vaitrò, giải pháp phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề, nhưng chỉ ở từng khíacạnh riêng rẽ, không mang tính tổng kết [10]
Phát triển làng nghề là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vựckhác nhau quan tâm và đã đạt được những kết quả nhất định Cho đến nay, đã cónhiều công trình nghiên cứu công bố về làng nghề truyền thống
“Làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững”, Chu Thái Thành – Tạp chí cộng sản tháng 11 năm 2009 Chỉ ra những đóng
góp và thách thức trong sự phát triển làng nghề hiện nay Nêu lên những số liệu dẫnchứng các chỉ số mức độ ô nhiễm và bức xúc môi trường làng nghề Để giải quyếthậu quả ô nhiễm môi trường cần giải quyết các vấn đề sau: chú trọng chính sáchphát triển bền vững làng nghề; quy hoạch không gian làng nghề; tăng cường quản
lý môi trường tại các làng nghề; phát hiện và xử lý các làng nghề gây ô nhiễm môitrường; tổ chức thí điểm triển khai áp dụng sản xuất sạch tại các làng nghề [4]
Cuốn sách “Khám phá các làng nghề Việt Nam-10 tuyến đường vòng quanh
Hà Nội” giới thiệu tới người xem khoảng 40 làng nghề cũng như những kỹ thuật
thủ công truyền thống Đồng thời cuốn sách còn nói tới 10 tuyến đường quanh HàNội gắn liền với lịch sử, truyền thuyết các làng nghề Bên cạnh đó, những bức ảnhđược phóng to từ cuốn sách sẽ giới thiệu tới người xem vẻ đẹp, phương thức sản
Trang 18xuất của các làng nghề Cuốn sách là thành quả nhiều năm nghiên cứu của mộtnhóm các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Pháp là Nguyễn Xuân Hoản vàFanchette sẽ được ra mắt công chúng vào tháng 9/2009 tại Viện Goethe bằng mộtcuốn sách xuất bản 3 thứ tiếng: Pháp-Anh-Việt [18].
Hiệp hội làng nghề Việt Nam phối hợp với NXB Tài nguyên Môi trường và
bản đồ Việt Nam tổ chức xuất bản cuốn sách: “ Làng nghề du lịch Hà Nội và vùng
phụ cận” Cuốn sách ra đời nhằm giới thiệu các làng nghề truyền thống của Hà Nội
và các vùng phụ cận có sức hấp dẫn đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, góp phần quảng
bá về thương hiệu và nét đẹp văn hoá, các sản phẩm truyền thống đặc sắc, nổi tiếngcủa các làng nghề truyền thống, tháng 10/2010 [7]
Bộ sách “Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam” gồm 6 tập của Nhà xuất bản Khoa học xã hội; Viện Nghiên cứu Văn hóa Tập 1: “Tổng quan về
nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam”; dày 1170 trang, xuất bản năm 2012.
Các nghề truyền thống ở Việt Nam được chọn để đưa vào “Tổng tập nghề và làngnghề truyền thống Việt Nam” gồm: nghề chế tác đá; nghề chế tác kim loại; nghề chếtác gỗ; nghề đan lát; nghề sơn; nghề gốm; nghề dệt, thêu; nghề làm giấy, làm đồ mã;
nghề làm tranh dân gian; các nghề khác Tập 2 “Nghề chế tác kim loại”; dày 970
trang, xuất bản năm 2012 Trong lịch sử thủ công nghiệp Việt Nam, nghề đúc đồng
mở đầu cho các dạng nghề sử dụng nguyên liệu chính là kim loại (đồng, vàng,bạc…) Ngay từ khi xuất hiện, nghề đúc đồng đã phát triển nhanh và lan rộng tớicác vùng lãnh thổ Cũng như đồ gốm, đồ đồng trở thành vật chứng tiêu biểu nhấtchứng minh các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc Song hành với nghề đúc
đồng, gò đồng là nghề kim hoàn với nguyên liệu chính là vàng, bạc Tập 3: “Nghề
mộc, chạm”; dày 855 trang, xuất bản năm 2011 Dù xuất hiện muộn hơn các nghề
có niên đại từ thời tiền, sơ sử (như nghề chế tác đá, nghề đan, nghề làm đồ gốm…),nghề mộc vẫn được coi là một nghề nảy sinh và phát triển sớm ở Việt Nam, bởi nóphải đáp ứng một trong những nhu cầu thiết yếu của con người khi bước chân rangoài hang động – đó là sự ở Nghề mộc xuất hiện sớm, nhưng vào khoảng thế kỷXIV, XV các làng nghề mộc vùng châu thổ sông Hồng mới dần được hình thành và
Trang 19nằm rải rác ở nhiều nơi, do nhu cầu của đời sống và sự phân công một cách tự nhiêncủa xã hội Sản phẩm của nghề mộc là vật dụng thiết yếu và phổ cập của người dân
từ xưa đến nay nhưng lịch sử nghề mộc không được các sử gia phong kiến biênchép cẩn trọng, đến nay các công trình nghiên cứu về làng nghề truyền thống nói
chung cũng không dành nhiều sự quan tâm cho chúng Tập 4: “Nghề gốm”; dày
1310 trang, xuất bản năm 2011 Nghề chế tác đồ gốm xuất hiện ở nước ta từ rấtsớm, có niên đại từ thời tiền – sơ sử Dấu ấn của cuộc sống con người được lưu giữlại thông qua các hiện vật tồn tại trong lòng đất, trong đó nổi bật và đa dạng hơn cả
là đồ gốm – chúng được coi là những “vật chứng trung thành nhất cho từng thời kỳphát triển của nhân loại” Đồ gốm cũng như nghề chế tác gốm có lịch sử lâu đờinhưng lịch sử nghiên cứu gốm lại diễn ra rất muộn, vào nửa đầu thế kỷ XX nhữngphát hiện và nghiên cứu sớm nhất về gốm Việt Nam hầu hết đều do các học giảnước ngoài khởi phát, đến nửa sau thế kỷ XX công cuộc nghiên cứu của các học giảViệt Nam mới thực sự khởi động Việc nghiên cứu về đồ gốm của các nhà khảo cổhọc liên quan mật thiết đến với việc nghiên cứu nghề chế tác gốm, kết quả từ nhữngphát hiện mới về khảo cổ học là tác nhân, động lực thúc đẩy việc nghiên cứu đồgốm với tư cách là sản phẩm của nghề thủ công và làng nghề truyền thống Nộidung cuốn sách là tập hợp 50 công trình của các nhà nghiên cứu về lĩnh vực gốm
được các tác giả soạn thảo thu thập, tuyển chọn Tập 5: “Nghề đan lát; nghề thêu,
dệt; nghề làm giấy; đồ mã và nghề làm tranh dân gian”; dày 1502 trang, xuất bản
năm 2011 Theo sử liệu, nghề đan lát có từ thời tiền sử Ở Việt Nam, việc nghiêncứu về nghề đan lát chưa có nhiều thành tựu như các nghề thủ công khác, điều này
có thể do chất liệu của đồ đan không tồn tại được lâu như các đồ gốm, gỗ, kimloại… Nghề dệt được quan tâm nhiều, tư liệu khảo cổ học đã cung cấp cho chúng
ta những bằng chứng xác thực về nghề dệt thời Hùng Vương qua một số công cụdệt được làm từ chất liệu gốm (di chỉ gò Cây Táo, Thanh Trì, Hà Nội), đây là hiệnvật liên quan đến nghề dệt có niên đại sớm nhất giúp chúng ta xác định thời kỳ nàyngười Việt cổ đã biết dệt và dùng sản phẩm dệt để tạo nên trang phục cho mình.Cùng với các nghề đan lát, đúc đồng, chế tác vàng bạc… dệt là một trong những
Trang 20làm giấy có từ đầu Công nguyên, hiện nay một số loại giấy làm từ rong, rêu biểnkhông còn nữa nhưng nghề làm giấy và kỹ thuật “xeo giấy” bằng phương pháp thủcông của người Việt vẫn còn tồn tại đến cuối thế kỷ XX Sự ra đời, tồn tại và pháttriển của nghề làm tranh khắc gỗ dân gian không chỉ liên quan đến nghề làm giấy
mà còn liên quan đến nghề khắc in mộc bản Làng Đông Hồ (Thuận Thành, BắcNinh) là nơi có nghề làm tranh khắc gỗ dân gian sớm nhất (khoảng thế kỷ XV) Đếnnay nghề làm tranh ở nước ta trải qua nhiều thăng trầm và hiện chỉ còn được duy trì
qua một số cơ sở sản xuất nhỏ hẹp Tập 6: “Nghề chế tác đá, nghề sơn và một số
nghề khác”; dày 1146 trang, xuất bản năm 2012 Trong số các nghề thủ công truyền
thống ở Việt Nam, nghề chế tác đá và nghề sơn là những nghề có truyền thống lâuđời và phát triển bền bỉ, nhiều sản phẩm độc đáo của nghề này còn được gìn giữđến ngày nay Nếu như thời đồ Đá là thời kỳ mở đầu cho lịch sử loài người thì chếtác công cụ lao động và sản phẩm bằng nguyên liệu đá là nghề mở đầu lịch sử thủcông nghiệp Việt Nam Nghề chế tác đá khá đa dạng, bao gồm các nghề: khái thác
đá và chạm khắc đá, trong đó chạm khắc đá đòi hỏi người thợ phải có phải có taynghề cao và để lại nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị Nghề đá nổi tiếng với các địadanh Ngũ Hành Sơn (Quảng Nam), Bửu Long (Đồng Nai) Nghề sơn được biết đến
từ rất sớm, theo tư liệu khảo cổ học tại nhiều địa điểm ở hai huyện Phú Xuyên vàỨng Hòa (Hà Nội) người ta đã tìm thấy dấu vết của đồ sơn có niên đại cách ngàynay 2400-2500 năm Nghề sơn nước ta phát triển rực rỡ nhất vào thời Lý, Trần khiPhật giáo được Nhà nước phong kiến coi trọng Sơn ta được dùng vào việc tôtượng, trang trí toàn bộ Phật điện và nội thất đền chùa [19]
“Báu vật làng nghề Việt Nam”, Nhà báo Lưu Duy Dần - Phó chủ tịch Kiêm
Tổng thư ký - Hiệp hội Làng Nghề Việt Nam, NXB Lao động Xã hội xuất bảntháng 5/2012 “Báu vật làng nghề Việt Nam” chung đúc tinh hoa Việt, hồn quê Việt,tài năng Việt, hào khí Việt Cuốn sách giới thiệu tới bạn đọc trong nước và quốc tế
về những nghệ nhân tiêu biểu đã được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tôn vinh trongnhững năm vừa qua Đây sẽ là cầu nối đưa hình ảnh các nghệ nhân làng nghềtruyền thống, giới thiệu và quảng bá hình ảnh làng nghề Việt Nam đến với bạn bèthế giới Ban biên soạn và tập thể tác giả đã dành nhiều thời gian và công sức thu
Trang 21thập thông tin, gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với các nghệ nhân trong danh sách nghệnhân được chọn vào sách; lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nghệ nhântrong mỗi ngành nghề để có được những thông tin chính xác nhất và bài viết thểhiện được sâu sắc chân dung nghệ nhân, là những báu vật của làng nghề Việt Đâyđược coi là “một công trình văn hóa có ý nghĩa nhân văn cao đẹp, tôn vinh nhữngnghệ nhân tiêu biểu đã giương cao bó đuốc truyền thống vẻ vang của làng nghề ViệtNam trong hành trình hàng ngàn năm lịch sử phát triển dân tộc”- Giáo sư Vũ Khiêu[10].
Đề tài cấp Bộ “Bảo tồn và phát triển các làng nghề vùng đồng bằng sông
Hồng trong quá trình công nghiệp hóa” của Viện kinh tế học, Trung tâm Khoa học
xã hội và nhân văn quốc gia, thời gian thực hiện 01/01/2000 – 17/03/2014 Đề tàikhoa học do PTS Dương Bá Phượng làm chủ nhiệm Mục tiêu nghiên cứu của đềtài nhằm đánh giá thực trạng, xu hướng vận động phát triển của các làng nghề vùngĐồng bằng sông Hồng, tìm ra những mối quan hệ giữa các yếu tố truyền thống vàhiện đại trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Phát hiện những khó khăn,thuận lợi và các tiềm năng phát triển các làng nghề truyền thống ở vùng Đồng bằngsông Hồng; Đề xuất các phương hướng và giải pháp bảo tồn và phát triển các làngnghề vùng Đồng bằng sông Hồng trong tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp,nông thôn [5]
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
- Đúc kết những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến sựphát triển và những tác động của làng nghề
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng phát triển làng nghề, đánh giáhiệu quả kinh tế xã hội và những vấn đề kinh tế xã hội và môi trường đối với sựphát triển làng nghề của Từ Sơn trong giai đoạn 2009-2013
- Định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu cho việc phát triển phù hợp hơn làng nghề ở Từ Sơn theo hướng bền vững trong những năm tới
Trang 224 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng phát triển và những tácđộng kinh tế, xã hội, môi trường của các làng nghề ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đây làmột trong những thị xã nghề điển hình của tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của cả nướcnói chung
Về giới hạn nghiên cứu, luận văn tập trung vào đánh giá thực trạng tình hìnhsản xuất nghề mộc của Từ Sơn từ năm 2009 đến 2013, đồng thời chỉ ra sự tác độngmang tính tương hỗ của nó đến đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của người dântrong xã và đưa ra các giải pháp chiến lược nhằm phát triển nghề, phát triển làngnghề trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, xử lý số liệu:
Từ trước đến nay nghề và làng nghề là đối tượng nghiên cứu của đông đảo cácnhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Các tài liệu, số liệu về làng nghềđược lưu trữ và cập nhật ở nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau Việc tổng quan tàiliệu thu thập được cho phép tiếp cận với những kết quả nghiên cứu đã có, cập nhậtnhững vấn đề mới ở trong và ngoài nước
Tài liệu thống kê thứ cấp, thu thập được từ Chi Cục Thống kê Bắc Ninh, SởCông Thương Bắc Ninh, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh, Uỷ ban nhân dân thị xã
Từ Sơn, Chi cục Thống kê Thị xã Từ Sơn Giúp tác giả có cái nhìn tổng quát theocác tiêu chí cơ bản về quá trình phát triển của làng nghề Từ Sơn
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi thu thập các tư liệuliên quan đến các làng nghề tại Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh, phòngthống kê thị xã Từ Sơn, UBND và phòng kinh tế thị xã Từ Sơn… Cụ thể là các sốliệu về tình hình phát triển các làng nghề, sau đó tiến hành phân loại, xử lý, tổnghợp theo các tiêu chí trong phần nội dung đề cương đã xây dựng và kết luận
Phương pháp chuyên gia:
Là phương pháp dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của các chuyên gia qua đó nắmđược thực trạng tình hình, nắm được đánh giá, nhận xét, kết luận của các chuyêngia từ đó đi đến kết luận khoa học
Trang 23Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Để tiến hành các nội dung nghiên cứu, nhằm đạt được mục tiêu của đề tài cầnphải xây dựng đề cương nghiên cứu; chọn điểm nghiên cứu; xác định nội dung;mẫu điều tra và phương pháp điều tra; lựa chọn tài liệu tham khảo; chuẩn bị lựclượng tham gia khảo sát và xây dựng lịch thời gian tiến độ thực hiện đề tài
Điểm nghiên cứu phải là nơi đại diện cho phát triển làng nghề Qua nghiên cứukhảo sát cho thấy Thị xã Từ Sơn – Bắc Ninh là địa bàn có tiềm năng phát triển làngnghề nhưng việc phát triển còn có những hạn chế, đặc biệt là ở địa bàn Thị xã có mạnglưới giao thông thuận lợi cho việc phát triển, lực lượng lao động dồi dào nhưng chưađược khai thác một có hiệu quả, do đó việc phát triển làng nghề để phát triển kinh tế,tạo công ăn việc làm cho lao động nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân làmối quan tâm lớn của chính quyền địa phương và là nguyện vọng của người dân
Để phản ánh được thực trạng phát triển làng nghề của Thị xã Từ Sơn, chúngtôi đã trao đổi cùng cán bộ công nghiệp Thị xã để chọn ra một số xã có làng nghềphát triển, trên cơ sở đó chúng tôi đã chọn 3 nghề chủ yếu đó là nghề Mộc, nghề sảnxuất sắt thép, nghề dệt để tiến hành nghiên cứu
6 Dự kiến đóng góp của luận văn:
Về mặt khoa học: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vềthực trạng phát triển của một tổ chức, vận dụng cụ thể vào trường hợp làng nghề tại
Từ Sơn
Về mặt thực tiễn: Phân tích và làm rõ thực trạng phát triển làng nghề ở TừSơn, xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với hoạt độngcủa làng nghề Từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp thực hiện chiến lược pháttriển làng nghề ở Từ Sơn trong bối cảnh mới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển làng nghề
Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề ở Từ Sơn
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn Từ
Sơn đến năm 2015 tầm nhìn 2020.
Trang 24CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG
đã thực sự tạo cho làng xã Việt Nam có thể ổn định lâu dài, vững chắc
1.1 Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống 1.1.1 Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống
1.1.1.1 Nghề truyền thống
Nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú, đa dạng, đã hình thành và tồntại hàng trăm năm, tạo ra nhiều sản phẩm nổi tiếng trong nước và thế giới như gốmBát Tràng, nghề chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), nghề dệt tơ lụa Hà Đông Nghề truyền thống là những nghề thủ công được hình thành và phát triểntrong lịch sử lâu dài, tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, được sảnxuất tập trung, thu hút được nhiều lao động tham gia sản xuất và dần hình thành cáclàng nghề, phố nghề, xã nghề Đặc trưng cơ bản gắn với kỹ thuật và công nghệtruyền thống, sản phẩm có tính đơn chiếc, tính thẩm mỹ cao và mang đậm bản sắcvăn hóa dân tộc Điều đặc biệt là linh hồn của nghề, của làng nghề nằm trong yếu tốcon người, đó là những nghệ nhân và đội ngũ lao động lành nghề
Khi nền đại công nghiệp phát triển thì việc ứng dụng khoa học - công nghệvào trong sản xuất đã dần thay thế sức lao động trong một số công đoạn nhất định,điều đó phá vỡ tính truyền thống cố hữu trong sản xuất nghề truyền thống, do đóquan điểm ban đầu cũng có những thay đổi nhất định
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và côngnghệ đã khiến cho việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởiquy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên liệu mới Do vậy khái niệm nghề
truyền thống đã được nghiên cứu và mở rộng hơn và có thể hiểu như sau: “Nghề
Trang 25truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc”
* Phân loại nghề truyền thống
+ Phân biệt theo trình độ kỹ thuật
- Loại nghề có kỹ thuật giản đơn: đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm,làm gạch, nung vôi Sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, rất phùhợp với một nền kinh tế tự cấp, tự túc
- Loại nghề có kỹ thuật phức tạp: kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, khảm gỗ,dệt lụa Các nghề này không chỉ có kỹ thuật, công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ởngười thợ sự sáng tạo và khéo léo
+ Phân loại theo tính chất kinh tế:
- Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, sản phẩm ítmang tính chất hàng hóa, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ như sản xuất nông cụnhư cày, bừa, liềm, hái
- Loại nghề mà hoạt động độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp, sảnphẩm của nó thể hiện một trình độ nhất định của sự tách biệt thủ công nghiệp vớinông nghiệp, của tài năng sáng tạo và khéo léo của người thợ, tiêu biểu là các sảnphẩm nghề dệt, gốm, kim hoàn
1.1.1.2 Làng nghề
Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề, theo giáo sưTrần Quốc Vượng thì: Làng nghề (như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng,Hương Canh làng giấy vùng Bưởi, Dương Ổ làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực,
Đa Hội ) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổitrội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bánchuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đãchuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu bằng nghề đó
Trang 26và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, trởthành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xungquanh và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài Nhữnglàng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đivào lịch sử, vào ca dao tục ngữ” trở thành văn hóa dân gian.
Làng nghề là một phương diện mà rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đã
có nhiều quan điểm về làng nghề được xây dựng trên những tiêu chí khác nhau, tuynhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa chính thức, làm quy chuẩn về làng nghề.Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và pháttriển do nhu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầuphát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam vớinhững đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tựcấp, tự túc
Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó số người chuyên làmnghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm tỷ lệkhá lớn trong tổng dân số của làng Tiêu chí phân định cụ thể như sau:
Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công từ 40 – 50%; Thu nhập từnghề thủ công chiếm 50% tổng thu nhập của các hộ; giá trị sản lượng của nghềchiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương
Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ là một thước đo định lượng, bởi vì đối với mỗilàng nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên là cũng khác nhau Điều đó thể hiện rõ ở quy
mô sản xuất, tính chất của sản phẩm và số lượng người tham gia giữa làng nghềphát triển và làng nghề chậm phát triển
Trong thời kỳ CNH – HĐH hiện nay, việc phát triển và ứng dụng khoa học –công nghệ vào trong sản xuất đã phá vỡ tính thủ công truyền thống nhất thể trongsản xuất, thay vào đó là hình thức sản xuất bán cơ khí phổ biến Chính vì vậy kháiniệm về làng nghề được mở rộng hơn, không còn bó hẹp ở những làng chỉ có nhữngngười chuyên làm các nghề thủ công nghiệp Nó được nhìn nhận dưới hai giác độ:
Trang 27Những làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong sản xuất vànhững làng nghề phát triển sản xuất ở mức độ cao đã kéo theo nhiều nghề dịch vụ
ăn theo nhằm phục vụ nó như nghề cung ứng vật tư…
Theo tác giả Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyềnthủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Ngườithợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông nhưng yêucầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyềnthống ngay tại làng quê của mình ”
Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nôngthôn Việt Nam
Vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng nghề là
một thiết chế kinh tế-xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”
Qua khái niệm nghề truyền thống và làng nghề được trình bày ở trên thì làngnghề truyền thống trước hết là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời tronglịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụcác nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làmnghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêuthụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủnhững ước chế xã hội và gia tộc
Trang 28công duy nhất chiếm ưu thế tuyệt đối.
- Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số nghề thủ
công nghiệp
Phân loại theo thời gian, gồm có:
- Làng nghề truyền thống: là những làng xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và
còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàngnghìn năm
- Làng nghề mới: là những làng nghề phát triển do sự lan tỏa của các làng
nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, thời kỳchuyển sang nền kinh tế thị trường
1.1.2.2 Đối với làng nghề truyền thống
Hiện nay, có nhiều ý kiến đã thống nhất phân chia làng nghề truyền thống dựa trên cơ sở phân loại các nhóm nghề truyền thống thành 04 loại như sau:
- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, sơn mài, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, mạ tơ tằm, dệt lụa…
- Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống như nghề rèn sắt, làm bừa, đóng thuyền, đúc đồng, mộc, nề, sản xuất vật liệu xây dựng…
- Làng nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng như nghề dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, dệt vải…
- Làng nghề chuyên chế biến lương thực, thực phẩm như nghề xay xát, làm bún, bánh, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các loại…
Trang 29Các làng nghề truyền thống thường gắn liền với nghề truyền thống nhưngkhông hoàn toàn đồng nhất Bởi tính lan tỏa của các làng nghề truyền thống sangcác làng nghề mới cũng khiến cho làng nghề mới chứa đựng trong nó những ngànhnghề truyền thống, và ngược lại, cũng có một số nghề mới xuất hiện hoặc du nhập
từ nước ngoài vào trong làng nghề truyền thống
Như vậy, các cách phân loại về làng nghề ở trên không mang tính tuyệt đối vàchỉ áp dụng trong những trường hợp cụ thể
1.2 Đặc điểm của các làng nghề
1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm
+ Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ
- Đặc điểm, đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuậtthủ công mang tính truyền thống và bí quyết dòng họ Công cụ sản xuất chủ yếu làthô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra
- Công nghệ truyền thống không thể thay hoàn toàn bằng công nghệ hiện đại
mà chỉ có thể thay ở một số khâu, công đoạn nhất định Đây là một trong những yếu
tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm
-Kỹ thuật công nghệ trong các làng nghề truyền thống hầu hết là thô sơ, lạc hậu
- Thông qua sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, đã tạo ra sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất
+ Đặc điểm về sản phẩm
- Sản phẩm làng nghề truyền thống rất đa dạng và phong phú, nó có thể đượcsản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc Việc sản xuất hàng loạt sản phẩm giốngnhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc vừa Bên cạnh đó, sản phẩm mang tính đơnchiếc thường là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp, bởi những nét hoa văn, những phầntinh của chúng luôn được cải biến thêm thắt nhằm thu hút sự thưởng thức củanhững người sành chơi Nhìn chung, trong sản phẩm của làng nghề truyền thốngvẫn tồn đọng những hao phí lao động sống, đó là lao động thủ công của con người
- Sản phẩm của làng nghề truyền thống bao gồm nhiều chủng loại như sảnphẩm là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt và các sản phẩm nghệ thuật Sản phẩm
Trang 30không chỉ đáp ứng các nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu, đặc biệt là các mặthàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạm trổ, thêu ren, dệt tơ tằm đã được xuấtkhẩu đi nhiều nước trên thế giới và ngày càng được ưu chuộng.
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Việc dạy nghề theo phương thức truyền nghề từ đời này sang đời khác, tuynhiên việc đào tạo nghề hiện nay có sự kết hợp với phương thức mới, mở ra cáctrường, lớp đào tạo nghề nhưng đồng thời vừa học, vừa làm, có sự truyền nghề củacác nghệ nhân, thợ cả đối với thợ phụ, thợ học việc
+ Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề truyền thống được hình thành từnhu cầu tiêu dùng sản phẩm Nhu cầu tiêu dùng thường được phân chia thành cácnhóm sau:
- Sản phẩm tiêu dùng dân dụng: Được tiêu dùng khá phổ biến ở các tầng lớp
dân cư Đối với loại sản phẩm này, tiền công lao động thấp nên giá thành sản phẩmthấp, sản phẩm phù hợp với khả năng kinh tế, tâm lý và thói quen của đa số ngườitiêu dùng
- Sản phẩm mỹ nghệ cao cấp: Khi cuộc sống nâng cao nên tiêu dùng sản
phẩm cao cấp nhiều hơn Vì vậy nhu cầu về sản phẩm này ngày càng tăng, khôngchỉ về số lượng và chủng loại sản phẩm mà còn về chất lượng sản phẩm
- Sản phẩm xuất khẩu: Bao gồm cả sản phẩm dân dụng và sản phẩm thủ
công mỹ nghệ Người nước ngoài rất ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
và trầm trồ về những nét đẹp hài hoà, chứa đựng nhiều điển tích, hoa văn tinh tế vàtính chất dân gian của sản phẩm làng nghề qua bàn tay khéo léo của thợ thủ công
Trang 31Sản phẩm gốm sứ, đồ mộc được tiêu thụ với khối lượng ngày càng lớn ở Đài Loan,
Úc, Nhật Bản Sản phẩm mỹ nghệ khảm trai, ốc, mây tre đan được tiêu thụ rộngkhắp ở châu Âu Khách du lịch nước ngoài thường bỏ ra hàng giờ, nhiều lần đểngắm nhìn và lựa chọn những món quà đặc sắc được làm từ hòn đất, cành tre, khúc
gỗ, xương thú, sừng, thổ cẩm, sợi đay, bẹ ngô, kim loại đơn sơ như cuộc sống đờithường của người Việt Nam nhưng rất có hồn
+ Đặc điểm về tổ chức sản xuất
Trong lịch sử phát triển làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sản xuấtphổ biến nhất là hộ gia đình Ngày nay cùng với quá trình phát triển kinh tế và côngcuộc đổi mới của đất nước, đã xuất hiện nhiều hình thức tổ chức sản xuất mới:
- Xét theo hình thức sở hữu có các loại: Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, hộ sản xuất
- Xét theo phương hướng sản xuất có: Các cơ sở chuyên sản xuất hàng TTCN, các
cơ sở vừa làm hàng TTCN vừa làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, các cơ sở vừa sảnxuất hàng TTCN vừa sản xuất sản phẩm nông nghiệp
1.3 Điều kiện hình thành của các làng nghề
- Gần nơi tiêu thụ sản phẩm hoặc thị trường chính: Các làng nghề nói chungđều được đặt gần nơi tiêu thụ mà thường là các nơi tập trung dân cư với mật độ khácao, gần chợ, bến sông bãi, và đặc biệt là rất gần hoặc không quá xa các trung tâmthương mại
Trang 32- Gần nguồn nguyên liệu: Các làng nghề hầu như có mối quan hệ gắn bó chặtchẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho sản xuất Phần lớncác làng nghề truyền thống hình thành nghề chính của mình xuất phát từ nguồnnguyên liệu sẵn có tại địa phương.
- Sức ép về kinh tế: Sức ép về kinh tế nhiều khi lại là nguyên nhân trực tiếpthúc đẩy sự hình thành và phát triển của các làng nghề Biểu hiện rõ nhất là sự hình
và phát triển của các làng nghề ở những nơi diện tích đất chật, mật độ dân số cao,điều kiện canh tác nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, người nông dânphải tìm những ngành nghề phụ làm thêm để kiếm thêm thu nhập Đây là một trongnhững đặc điểm quan trọng dẫn đến việc hình thành và phát triển các làng nghề
- Lao động và tập quán sản xuất của từng vùng: Đây là điều kiện có ảnh hưởngnhất định tới sự hình thành và phát triển làng nghề Sự tồn tại và phát triển của làngnghề gắn với đội ngũ những nghệ nhân, những người có tâm huyết với nghề, có nhiềuquan hệ gắn bó với nghề và có những khả năng ứng phó với những tình huống xấu bấtlợi đến sự phát triển của làng nghề Ngoài ra, những kỹ năng, kỹ xảo của người thợ,những luật lệ, quy chế của làng, của các dòng họ, phường hội… là nhân tố không kémphần quan trọng trong sự tồn tại, phát triển và giữ những nét độc đáo, riêng biệt củalàng nghề Chúng tạo thành chất keo cho sự tồn tại và phát triển
bền vững của làng nghề
1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề truyền thống
Quá trình phát triển làng nghề truyền thống chịu sự tác động của nhiều nhân
tố khác nhau Ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nghề do có những đặc điểmkhác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa nên sự tác động của cácnhân tố không giống nhau Tuy nhiên hiểu một cách tổng quát chúng gồm có cácnhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất là thị trường sản phẩm của làng nghề: Thị trường có sự tác động
mạnh mẽ đến phương hướng phát triển, cách thức tổ chức, cơ cấu sản phẩm và làđộng lực thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển Sự tồn tại và phát triển củalàng nghề truyền thống phụ thuộc rất lớn vào thị trường Sản xuất càng phát triển
Trang 33càng thể hiện rõ sự chi phối quan hệ cung cầu, cạnh tranh trên thị trường Nhữnglàng nghề có sản phẩm độc đáo, kỹ thuật tinh xảo và luôn đổi mới để phù hợp vớinhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng sẽ có khả năng thích ứng và đủ sức cạnhtranh trên thị trường Ngược lại có những làng nghề không phát triển, mai một,thậm chí có nguy cơ mất đi là do sản phẩm không đủ sức cạnh tranh hoặc nhu cầucủa thị trường không cần đến sản phẩm đó nữa (như nghề sản xuất giấy dó, tranhdân gian ).
Thứ hai là vốn cho phát triển kinh doanh: Đây là nguồn lực vật chất quan
trọng đối với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Nhiệm vụ chủ yếu nhất của nguồnvốn là đầu tư phát triển sản xuất, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, công nghệ Dovậy sự phát triển thịnh vượng của làng nghề cũng thụ thuộc rất lớn vào các nguồnvốn được huy động Trước đây trong nền kinh tế tự cấp tự túc, vốn phục vụ cho sảnxuất thường nhỏ bé, vốn chủ yếu là tự có hoặc huy động từ người thân trong giađình Ngày nay để đáp ứng với nền sản xuất quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu cao củanền kinh tế thị trường thì lượng vốn cần lớn hơn để đầu tư đổi mới công nghệ, đưathiết bị, máy móc vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
Thứ ba là cơ sở hạ tầng: Bao gồm hệ thống đường giao thông, cấp nước,
thoát nước, thông tin liên lạc, các công trình dịch vụ thương mại, công cộng Đây
là yếu tố tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, khai thác và phát huy tiềm năng sẵn
có của mỗi làng nghề Đảm bảo cho quá trình cung cấp nguyên liệu sản xuất, tiêuthụ sản phẩm cũng như mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học,công nghệ vào sản xuất, đồng thời làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Do vậy ởnhững nơi có cơ sở hạ tầng đầy đủ và đồng bộ thì các làng nghề truyền thống cóđiều kiện phát triển mạnh Tuy nhiên hiện nay phần lớn các làng nghề truyền thốngcòn đang gặp rất nhiều khó khăn vì điều kiện cơ sở hạ tầng còn yếu kém và chưađồng bộ
Thứ tư là nguồn nhân lực: Trong các làng nghề truyền thống có các nghệ
nhân, thợ thủ công giỏi, trình độ rất tinh xảo Họ là những người tâm huyết và gắn
bó với nghề, đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời là
Trang 34người sáng tạo những sản phẩm độc đáo Hiện nay vẫn còn nhiều nghệ nhân tâmhuyết với nghề, muốn giữ gìn văn hóa dân tộc và truyền thống của ông cha Việctruyền nghề đã không còn tuân theo các quy định khắt khe như trong phường hộithời phong kiến, nhưng những bí quyết kỹ thuật, mẫu mã sáng chế có giá trị kinh tếcao vẫn được bảo vệ để tránh bị cạnh tranh Vấn đề đào tạo nâng cao trình độ kỹthuật còn nhiều hạn chế, chất lượng nguồn lao động chưa cao, trình độ chuyên môn
và văn hóa thấp, nhất là đối với các chủ doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầungày cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế
Thứ năm là trình độ kỹ thuật và công nghệ: Trong cơ chế thị trường sự phát
triển của làng nghề truyền thống đã thể hiện cuộc cạnh tranh gay gắt về năng suất,chất lượng, giá cả Sản phẩm sản xuất ra chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩmcùng loại trong nước cũng như nhập khẩu Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh
tế quốc tế như hiện nay, giao lưu thương mại mang tính toàn cầu thì việc ứng dụngcác thành tựu khoa học, công nghệ càng có tác động to lớn đến khả năng cạnh tranh,tăng năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm
Thứ sáu là nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất: Trong thời kỳ phương tiện
giao thông và phương tiện kỹ thuật chưa phát triển, thì gần các vùng nguyên liệuđược coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển các làngnghề truyền thống Hiện nay, các nguyên liệu khai thác phục vụ cho các làng nghềchủ yếu từ môi trường tự nhiên nên vùng nguyên liệu ngày càng suy giảm (như gỗ ), gây khó khăn cho sản xuất vì nguyên liệu đang bị cạn kiệt Do vậy khối lượng,chất lượng, chủng loại, khoảng cách của các nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng tớichất lượng và giá thành sản phẩm
Vậy qua sự hệ thống các khái niệm, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sựphát triển làng nghề truyền thống, cùng với công cuộc phát triển kinh tế của đất nước,quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong các làng nghề truyền thống, đặc biệt lànhững làng nghề phát triển gần các thành phố lớn Khi đó hoạt động sản xuất làng nghềgắn với nông nghiệp, nông thôn trước kia sẽ được thay thế bằng hoạt động sản xuấtquy mô lớn hơn, hình thành làng công nghiệp, ở đó sẽ có sự đầu tư về
Trang 35công nghệ, máy móc hiện đại thay thế cho thiết bị, công cụ lạc hậu, từ sản xuất quy
mô nhỏ lẻ sang quy mô lớn với năng suất và chất lượng cao hơn Tổ chức sản xuất
từ hộ gia đình sang các loại hình tổ chức sản xuất lớn như Công ty, HTX Do sựphát triển của làng nghề nói riêng và sự phát triển về kinh tế, xã hội nói chung trongquá trình đô thị hóa sẽ dẫn đến sự chuyển đổi từ nông thôn sang thành thị, khi đócác làng nghề, xã nghề trở thành phố nghề, phường Và các làng nghề truyền thốngkhông chỉ là nơi sản xuất như trước kia mà còn có sự phát triển của các hoạt độngthương mại, dịch vụ khác
1.4 Phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.4.1 Quan niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một thuật ngữ được toàn thế giới sử dụng rộng rãi, dotầm quan trọng mà khái niệm phát triển bền vững vẫn được tiếp tục sửa đổi, mởrộng và sàng lọc
Theo Ủy ban quốc tế về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc năm
1997 đã định nghĩa: Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đóviệc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của côngnghệ, kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng
về nhu cầu hiện tại và tương lai của con người
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tại Rio de Janeiro đưa ra địnhnghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là: Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế
hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệtrương lai
Phát triển bền vững cũng có thể được gọi bằng cách khác là phát triển “bìnhđẳng và cân đối”, có nghĩa là để duy trì sự phát triển cân bằng lợi ích của các nhómngười trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, thực hiện điều này đồng thời trên
cả ba lĩnh vực quan trọng có mối quan hệ qua lại với nhau, đó là kinh tế, xã hội vàmôi trường [10]
Trang 361.4.2 Phát triển bền vững làng nghề
Trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển, tôi cho rằng phát triển làngnghề là sự tăng lên về quy mô làng nghề và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuấtcủa làng nghề
Sự tăng lên về quy mô làng nghề được hiểu là sự mở rộng về sản xuất củatừng làng nghề và số lượng làng nghề được tăng lên theo thời gian và không gian(làng nghề mới), trong đó làng nghề cũ được củng cố, làng nghề mới được hìnhthành Từ đó giá trị sản lượng của làng nghề không ngừng được tăng lên, nó thểhiện sự tăng trưởng của làng nghề Sự phát triển làng nghề phải đảm bảo hiệu quảkinh tế, xã hội và môi trường
Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển làng nghề còn yêu cầu: Sựphát triển phải có kế hoạch, quy hoạch, sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiênnhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất đảm bảo hợp lý có hiệu quả, nângcao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn bản sắcvăn hoá dân tộc
1.4.2.1 Khái niệm phát triển bền vững làng nghề
Phát triển bên cạnh thu nhập bình quân đầu người còn bao gồm nhiều khía cạnhkhác Sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sựtăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hoá, sự thamgia của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là những nội dung của
sự phát triển Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩnsống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân.Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững về các tiêu chuẩn sống, baogồm tiêu dùng, vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường
Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển Nó lồng ghép quátrình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường: đảm bảo thỏamãn những nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng nhữngnhu cầu của tương lai Các thế hệ hiện tại khi sử dụng các nguồn tài nguyên cho sảnxuất ra của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô
Trang 37nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói Cần phải để cho các thế hệ tương lai đượcthừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục, kỹthuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường Tăng thu nhậpkết hợp với các chính sách môi trường và thể chế vững chắc có thể tạo cơ sở choviệc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển Điều then chốt đối với pháttriển bền vững không phải là sản xuất ít đi mà sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôivới việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường [10].
1.4.2.2 Nội dung phát triển bền vững làng nghề
Trên cơ sở lý luận về phát triển và phát triển bền vững, chúng ta thấy: Pháttriển làng nghề là sự tăng lên về qui mô làng nghề và phải đảm bảo được hiệu quảsản xuất của các làng nghề
Sự tăng lên về qui mô các làng nghề được hiểu là sự mở rộng về sản xuấtcủa từng làng nghề và số lượng ngành nghề được tăng lên theo thời gian và khônggian, trong đó làng nghề được củng cố, làng nghề mới được hình thành Từ đó giátrị sản lượng của các làng nghề không ngừng được tăng lên, nó thể hiện sự tăngtrưởng của các làng nghề
Sự phát triển của các làng nghề yêu cầu sự tăng trưởng phải đảm bảo hiệuquả kinh, tế xã hội và môi trường
Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển các làng nghề còn yêu cầu: Sựphát triển phải có kế hoạch, qui hoạch; sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiênnhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất, thị trường cung cấp nguyên liệu vàthị trường tiêu thụ sản phẩm đảm bảo hợp lý có hiệu quả; nâng cao mức sống chongười lao động; không gây ô nhiễm môi trường; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
* Phương hướng
- Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh phải đặt trong tổng thể quy hoạch pháttriển kinh tế - xã hội và phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng thời, cần có chínhsách đầu tư liên kết, hợp tác giữa các làng nghề với nhau, giữa làng nghề với cụm
Trang 38công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và với các doanh nghiệp công nghiệp lớn để hợptác gia công và tiêu thụ sản phẩm.
- Xác định phát triển làng nghề là góp phần tạo việc làm cho người lao độngngay tại địa phương, và thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo quan điểm "Lynông bất ly hương"
- Cần hình thành các khu sản xuất tập trung ở các làng nghề để tạo thuận lợi
về kết cấu hạ tầng, mặt bằng cho các cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng quy mô, pháttriển sản xuất kinh doanh
- Phát triển làng nghề cần theo hướng đa dạng hóa hình thức sở hữu, môhình tổ chức sản xuất, ưu tiên áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, kết hợp vớicông nghệ cổ truyền trong các làng nghề
- Song song với phát triển làng nghề, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề môitrường nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững; do đó cần tập trung di dời các cơ sởcông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm (không khí, nước, tiếng ồn) nằmxen kẽ trong khu dân cư đến các khu sản xuất tập trung để xử lý vấn đề ô nhiễm,bảo đảm sức khỏe cộng đồng
- Phát triển làng nghề phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, sản phẩm củalàng nghề phải có sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước
và sản phẩm nhập khẩu của nước ngoài
* Giải pháp
Việc giữ gìn và phát huy giá trị của các làng nghề ngoài ý nghĩa kinh tế còn
có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển du lịch
Do đó, để tiếp tục khai thác tiềm năng và phát triển làng nghề Bắc Ninh theo hướngbền vững, thiết nghĩ cần nhanh chóng thực hiện một số giải pháp sau:
- Tiến hành quy hoạch các làng nghề truyền thống, có các biện pháp hữuhiệu để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho các cơ sở mở rộng sảnxuất kinh doanh Cần quan tâm tới quy hoạch hạ tầng cho các làng nghề phát triểnbền vững gắn với làm tốt công tác bảo vệ môi trường
Trang 39- Có kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến tới thực hiện triệt để việc tách khusản xuất ra khỏi khu dân cư, quy hoạch xây dựng hợp lý khu công nghiệp làng nghềmới và có kế hoạch quản lý tốt môi trường, như: đề ra những quy định về quản lýbảo vệ môi trường và an toàn lao động trong các làng nghề; định mức và thu lệ phímôi trường đối với các hộ, tổ sản xuất để triển khai và duy trì các hoạt động quản lý
và bảo vệ môi trường của xã Thành lập đội quản lý vệ sinh môi trường của làngnghề kiểm tra thường xuyên tình trạng môi trường trong khu vực sản xuất, thu gomchất thải, xử lý bụi giao thông Có chế tài xử lý thật mạnh đối với những cơ sởkhông tuân thủ nghiêm túc việc bảo vệ môi trường Chẳng hạn như cắt điện, khôngcho vay vốn đối với các cơ sở này
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệmôi trường và sức khỏe cộng đồng cho các chủ sản xuất, người lao động và nhândân, kết hợp với thanh tra xử phạt thích đáng đối với những trường hợp vi phạm cácquy định về môi trường
- Triển khai áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất để nâng cao chất lượngsản phẩm, giảm lượng chất thải Từng bước hoàn phục môi trường ở khu dân cư, trảlại cảnh quan sạch đẹp cho làng, xã Đối với các lò đúc, cán, ủ kim loại, cần xây dựng
hệ thống xử lý bụi và khí SO2 bằng tháp rửa, dùng dung dịch nước vôi, quy định cácbãi tập kết xỉ than, xỉ kim loại để sử dụng làm vật liệu san nền Đối với những xưởng
mạ kẽm cần xây dựng hệ thống bể xử lý nước thải đơn giản, các thùng chứa a-xít, hóachất mạ phải được bảo quản đúng quy định, xử lý nước thải mạ theo
phương pháp kết tủa, huyền phù sau đó lắng và lọc bùn
- Xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề theo hướng phải bảo đảm đủ cáctiêu chí về điện, nước, hệ thống xử lý chất thải và có diện tích mặt bằng thuận lợicho việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm Liên quan vấn đề này, tỉnh cần có nhữngchính sách ưu đãi như: Hỗ trợ tiền vốn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho con
em bị thu hồi đất, chú trọng đưa các công nghệ tiên tiến vào sản xuất, tìm kiếm thịtrường tiêu thụ sản phẩm, nhất là thị trường ngoài nước, tạo điều kiện cho các cơ
sở yên tâm làm ăn lâu dài
Trang 40- Cuối cùng, rà soát, điều chỉnh, bổ sung, ban hành mới các chính sách hỗ trợphát triển làng nghề cho phù hợp với giai đoạn hiện nay Trong đó chú ý các chínhsách thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào việc phát triển các làng nghề Ưu tiêngiải quyết mặt bằng phù hợp cho các loại hình sản xuất trong làng nghề gắn với cáccụm công nghiệp.
1.5 Vai trò của LNTT đối với việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội
Sự tồn tại và phát triển của các LNTT có một vai trò rất to lớn, ảnh hưởngđến sự phát triển về mọi mặt kinh tế - văn hóa – xã hội, môi trường, an ninh quốcphòng và trật tự an toàn xã hội của làng, xã, của vùng và rộng hơn là của cả nước,nhất là trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn như hiện nay
1.5.1 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đô thị hóa trên thế giới được bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp, sau đó
là sự phát triển của công nghiệp hay công nghiệp hóa là cơ sở để phát triển đô thị.Đối với nước ta đang trong giai đoạn CNH-HĐH, thì phát triển làng nghề có vai tròtích cực làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từsản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thunhập cao, tạo ra cơ cấu kinh tế mới hợp lý và hiện đại ở nông thôn, chuyển nền kinh
tế nông thôn với cơ cấu thuần nông, sản xuất tự túc, tự cấp là chủ yếu sang nền kinh
tế nông thôn CNH với cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi từcác lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp Với mục tiêu này, quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội
bộ ngành nông nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nôngthôn Trong quá trình vận động và phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cựctrong việc góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thunhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Quá trình nàythấy rõ ở các vùng ven đô thị lớn và có nghề truyền thống phát triển Do từng bướcđược tiếp cận với nền kinh tế thị trường, người lao động cũng dần dần hình thành