1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững

108 700 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế đã chứng minh, sự phát triển các làng nghề đã góp phần to lớn trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, phát huy được các nguồn lực tại địa phương, theo đó,

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỞ ĐẦU i

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 8

1.1 Làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội 8

1.1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề 8

1.1.2 Vai trò của làng nghề 12

1.2 Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 15

1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 15

1.2.2 Nội dung phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 20

1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 24

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề theo hướng bền vững 28

1.3 Kinh nghiệm phát triển làng nghề theo hướng bền vững của một số địa phương và bài học cho các làng nghề ở Hà Tĩnh 36

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở các địa phương 36

1.3.2 Bài học rút ra cho các làng nghề ở Hà Tĩnh 40

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 42

2.1 Chính sách phát triển làng nghề ở Hà Tĩnh 42

2.2 Tình hình phát triển làng nghề theo hướng bền vững tại Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay 43

2.2.1 Tổng quan sự phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 43

Trang 4

2.2.2 Tác động của làng nghề đến sự phát triển kinh tế - xã hội và môi

trường 56

2.3 Đánh giá chung về tính bền vững trong phát triển làng nghề 72

2.3.1 Những thành tựu chủ yếu 72

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 73

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH HÀ TĨNH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 78

3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững đến năm 2020 78

3.1.1 Mục tiêu 78

3.1.2 Định hướng phát triển 78

3.2 Một số giải pháp chủ yếu tiếp tục phát triển các làng nghề theo hướng bền vững ở Hà Tĩnh đến năm 2020 80

3.2.1 Hoàn thiện quy hoạch phát triển theo hướng gắn quy hoạch không gian làng nghề với bảo vệ môi trường 80

3.2.2 Tăng cường trang bị công nghệ hiện đại, công nghệ xanh cho các làng nghề 83

3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trong các làng nghề 86

3.2.4 Đa dạng hóa loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh đi đôi với lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp và hiệu quả 90

3.2.5 Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tạo thu nhập cao và ổn định cho người lao động 92

3.2.6 Tăng cường kiểm soát tình trạng sử dụng lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường tại các làng nghề 94

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

9 SX VLXD Sản xuất vật liệu xây dựng

13 TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Số lượng và cơ cấu làng nghề theo nhóm ngành năm

2 Bảng 2.2 Số lượng sản phẩm của một số làng nghề ở Hà Tĩnh 49

5 Bảng 2.5 Cơ cấu giá trị sản lượng theo nhóm ngành 52

6 Bảng 2.6 Thị trường tiêu thụ sản phẩm các làng nghề ở Hà

7 Bảng 2.7 Nộp ngân sách của các làng nghề ở Hà Tĩnh năm

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành nghề nông thôn nói chung và các làng nghề nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Thực tế đã chứng minh, sự phát triển các làng nghề đã góp phần to lớn trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, phát huy được các nguồn lực tại địa phương, theo đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống của người dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về phát triển giữa thành thị và nông thôn, đẩy nhanh sự nghiệp xây dựng nông thôn mới

Vì vậy, sự phát triển làng nghề vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa văn hóa

- xã hội sâu sắc

Theo thống kê của hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện nay, cả nước có khoảng 2790 làng nghề, riêng ở Hà Tĩnh có khoảng 44 làng nghề Làng nghề

ở Hà Tĩnh có lịch sử phát triển từ hàng chục năm, trong đó, nhiều làng nghề

có bề dày lịch sử đến hàng trăm năm như làng nghề chiếu cói, nón lá… đã tạo

ra nhiều sản phẩm tiêu dùng cần thiết cho xã hội và tham gia xuất khẩu, tạo nên giá trị kinh tế và văn hóa ở khu vực nông thôn, đặc biệt là tại các làng quê Theo đó, sự phát triển các làng nghề cũng đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, tạo thêm công ăn việc làm cho lao động nông nhàn và những vùng đất chật người đông, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho bộ phận dân cư nông thôn

Cùng với những đóng góp tích cực trên, các làng nghề Việt Nam nói chung, ở Hà Tĩnh nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong sự phát triển bền vững Một số làng nghề thiếu vốn và thiếu nguyên liệu trầm trọng, thị trường tiêu thụ không ổn định, thậm chí có làng nghề thủ công truyền thống đã bị mai một Những làng nghề còn tồn tại được thì quy mô nhỏ

Trang 8

bé, phân tán và tự phát Sản phẩm của các làng nghề còn ít và đơn điệu, chất lượng chưa cao vì vậy sức vươn của sản phẩm nghề còn thấp Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đó là do thiết bị công nghệ thiếu và lạc hậu, trình độ quản lý thấp, thiếu thông tin về thị trường Đặc biệt, vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đang gây bức xúc xã hội rất lớn

Mặc dù Hà Tĩnh đã có Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn nhưng đến nay sự phát triển của các làng nghề vẫn chưa xứng với tiềm năng

và thiếu tính bền vững Đặc biệt, hầu hết các làng nghề vẫn chưa xây dựng được hệ thống xử lý rác thải cũng như giảm thiểu ô nhiễm môi trường, mà điều này lại ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân địa phương Nguyên nhân chủ yếu là do tỉnh chưa có nhiều biện pháp hữu hiệu cũng như các giải pháp mang tính đột phá để các làng nghề có điều kiện phát triển theo hướng bền vững

Vậy vấn đề đặt ra cho sự phát triển các làng nghề theo hướng bền vững

ở Hà Tĩnh hiện nay là gì? Tỉnh và các làng nghề cần phải thực hiện giải pháp

gì để nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo tính bền vững trong phát triển

của các làng nghề? Đó là những câu hỏi nghiên cứu mà đề tài luận văn: “Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững” phải giải đáp

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Làng nghề và phát triển làng nghề Việt Nam là vấn để được quan tâm nhiều hiện nay Phát triển làng nghề vừa mục đích phát triển kinh tế vừa bảo

vệ làng nghề Việt Nam như nét văn hóa đặc trưng lâu đời của dân tộc Những tác phẩm, tài liệu nghiên cứu về làng nghề và phát triển làng nghề đã công bố liên quan đến đề tài luận văn có thể kể đến như:

+ Đề án phục hồi làng nghề truyền thống Việt Nam của Th.S Bùi Văn

Vượng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002

Trang 9

Tác phẩm đưa ra cách nhìn tổng quan về làng nghề Việt Nam, các mặt còn hạn chế, những yếu kém, manh mún trong phát triển làng nghề truyền thống Từ đó, tác giả đưa ra đề án phục hồi làng nghề truyền thống, các giải pháp nhằm phục hồi các làng nghề truyền thống đã bị mai một như là: Tạo lập thị trường cho các làng nghề, đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, tác phẩm này chỉ xoay quanh những làng nghề truyền thống, chưa tổng quát thành các làng nghề Việt Nam nói chung, trong khi hiện nay, các làng nghề mới đang xuất hiện ngày càng nhiều và có sự phát triển khá mạnh

+ Làng nghề Việt Nam và môi trường, của nhóm tác giả Đặng Kim Chi,

Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh, NXB Khoa học - kỹ thuật, 2005

Tác phẩm đưa ra các phân tích, đánh giá ảnh hưởng qua lại giữa sự phát triển làng nghề và môi trường, các làng nghề càng phát triển thì càng sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu từ tự nhiên, đồng thời quá trình sản xuất tạo ra nhiều chất thải, nước thải độc hại, gây ô nhiễm môi trường vì vây, nhóm tác giả nghiên cứu định hướng sự phát triển làng nghề theo hướng thân thiện môi trường, các làng nghề phát triển phải song hành với quá trình bảo vệ, tái tạo lại môi trường Tuy nhiên, tác phẩm này mới chỉ phân tích một trong những khía cạnh ảnh hưởng tới phát triển làng nghề đó là khía cạnh môi trường, chưa nêu tổng quan được các mặt ảnh hưởng khác như khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội

+ Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển,

của các tác giả Vũ Quốc Tuấn (chủ biên), Nguyễn Vi Khải, Bùi Văn Vượng, NXB Hà nội, 2010

Tác phẩm nêu lên những đặc điểm của làng nghề, phố nghề của Hà Nội, nét văn hóa đặc trưng của các làng nghề, phố nghề nằm giữa lòng thủ đô, hay các thành phố lớn và những thách thức đối với làng nghề, phố nghề Hà Nội trong

Trang 10

tiến trình hội nhập, phát triển Khi nền kinh tế phát triển sôi động, nhất là ở thủ

đô hay các thành phố lớn, việc gìn giữ, phát huy nét truyền thống của một làng nghề, phố nghề là rất khó khăn Tuy nhiên, chưa có các giải pháp cụ thể để phát triển các làng nghề theo hướng bền vững làng nghề, phố nghề

+ Phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của TS Nguyễn Văn Hiến đăng trên Tạp chí

Phát triển và Hội nhập Số 4, Tháng 5-6/2012

Tác phẩm phân tích những đóng góp của làng nghề đối với phát triển kinh tế, trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, làng nghề có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nhờ có làng nghề, hàng triệu người lao động

đã được tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập.Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng làng nghề đang đứng trước những thách thức đặt ra trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như: Đầu ra cho các sản phẩm, đào tạo nghề cho người lao động, ô nhiễm môi trường làng nghề… Từ đó, tác phẩm đề xuất các giải pháp phát triển các làng nghề theo hướng bền vững, các giải pháp đưa ra xoay quanh các vấn đề khắc phục về môi trường, lấy tiêu chí môi trường là trọng tâm đánh giá mức độ phát triển theo hướng bền vững của làng nghề như là quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi trường, tăng cường công tác quản lý môi trường tại các làng nghề Tuy nhiên, phát triển làng nghề bền vững có nhiều yếu tố, cần thiết phải phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp để thực hiện

+ Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một số làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, của PGS.TS Nguyễn Trường Sơn,

Tạp chí Kinh tế và Phát triển Số 176, tháng 02 năm 2012

Tác phẩm xây dựng hệ thống tiêu chí đầy đủ hơn để đánh giá phát triển theo hướng bền vững tại các làng nghề Hệ thống tiêu chí được đề xuất với các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá cả 3 khía cạnh của sự phát triển bền vững, kinh

Trang 11

tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, tác phẩm mới chỉ dừng lại ở khía cạnh đưa ra các tiêu chí đánh giá, chưa đưa ra được định hướng, giải pháp để thực hiện các tiêu chí đó

Các tác phẩm trên đã nghiên cứu làng nghề gắn liền với các vấn đề liên quan có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển làng nghề, và quá trình tác động ngược lại của làng nghề đến môi trường trong quá trình phát triển Đó là nguồn tài liệu quý giá để luận văn sử dụng, kế thừa và phát triển Tuy nhiên, các tác phẩm này mới chỉ nghiên cứu các khía cạnh tác động riêng biệt, cụ thể

là khía cạnh môi trường chứ chưa nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện

sự phát triển làng nghề trên cả ba trụ cột: Kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường Một số công trình tuy có nghiên cứu tính bền vững của sự phát triển làng nghề nhưng chỉ dừng lại ở việc đưa ra định hướng, chứ chưa có các giải pháp toàn diện để phát triển làng nghề theo hướng bền vững Đặc biệt, sự phát triển các làng nghề ở Hà Tĩnh theo hướng bền vững thì cho đến nay, theo những gì mà tác giả đọc được, thì chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện và hệ thống

Luận văn này sẽ nghiên cứu, giải quyết các vấn đề còn dang dở của các nghiên cứu trên Luận văn tiếp cận nghiên cứu từ thực tiễn làng nghề Hà Tĩnh giai đoạn 2008 đến nay Nghiên cứu một cách tổng quan làng nghề tại

Hà Tĩnh, phân tích thực trạng và đánh giá các mặt thành tựu, hạn chế của làng nghề Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm đạt được các tiêu chí và hoàn thành định hướng phát triển làng nghề theo hướng bền vững

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là dựa vào những thành tựu và hạn chế rút ra từ phân tích thực trạng phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay, tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó và

Trang 12

đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện Hà Tĩnh, nhằm đưa các làng nghề tiếp tục phát triển theo hướng bền vững

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của phát triển làng nghề theo hướng bền vững, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững

- Phân tích thực trạng phát triển làng nghề và tính bền vững trong sự phát triển làng nghề tại Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay, từ đó, đánh giá những thành tựu đạt được và những mặt còn tồi tại, hạn chế trong phát triển làng nghề theo hướng bền vững

- Tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất những giải pháp phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Hà Tĩnh trong giai đoạn tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự phát triển của các làng nghề, bao gồm cả các làng nghề truyền thống và làng nghề mới cả trên phương diện

lý thuyết và thực tiễn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các làng nghề trên địa bàn Hà Tĩnh, các làng nghề truyền thống và làng nghề mới Bên cạnh đó, luận văn cũng có tham khảo kinh nghiệm phát triển bền vững các làng nghề của một số tỉnh khác

Phạm vi thời gian: từ năm 2008 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê so sánh, phân tích, tổng hợp… về các tài liệu thu thập qua thống kê và các tài liệu đã được nghiên cứu trước Tác giả

Trang 13

nghiên cứu làng nghề trong trạng thái luôn phát triển và xem xét làng nghề trong mối quan hệ với kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, từ đó đưa ra các phân tích, đánh giá Bên cạnh đó, tác giả đã sử dụng các số liệu thống kê thu thập được, phân tích số liệu, so sánh sự phát triển qua các thời kỳ, tổng hợp lại để đưa ra kết luận quan trọng cho bài viết

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp chuyên gia Tác giả đã

sử dụng các ý kiến chuyên gia am hiểu về làng nghề, sự phát triển làng nghề, cũng như các nghệ nhân tại các làng nghề để hoàn thiện bài luận văn

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hóa và khái quát hóa những vấn đề lý luận về phát triển làng nghề nói chung và phát triển bền vững các làng nghề nói riêng

- Đánh giá thực trạng phát triển các làng nghề ở Hà Tĩnh hiện nay theo mức độ đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững làng nghề Đề xuất các giải pháp, nhằm phát triển làng nghề ở Hà Tĩnh theo hướng bền vững đến năm

2020

- Luận văn cung cấp số liệu về thực trạng phát triển làng nghề ở Hà Tĩnh, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, quản lý các làng nghề phát triển theo hướng bền vững trên địa bàn Hà Tĩnh từ nay đến năm 2020

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về phát triển làng nghề theo hướng bền vững

Chương 2 Thực trạng phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở tỉnh

Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay

Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM

VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1.1 Làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội

1.1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề

1.1.1.1 Khái niệm làng nghề

Làng nghề được cấu tạo bởi hai yếu tố là “làng” và “nghề” Vì thế khái niệm

về làng nghề cũng được hiểu thông qua phân tích khái niệm “làng” và “nghề”

Làng - theo Từ điển tiếng Việt, là một khối người quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất

Hiện nay, do tác động của quá trình đô thị hóa, khái niệm làng có thể được hiểu một cách tương đối Có một số cách gọi khác với làng đó là phố, khối phố, tổ dân phố, khóm Tuy là cách gọi có thể khác đi nhưng về bản chất của cộng đồng dân cư đó nếu gắn với nông thôn thì vẫn được xem như là làng

Như vậy, làng nghề là một làng ở nông thôn nhưng ngoài việc làm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) còn có hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sản phẩm làm ra của họ ngoài việc đáp ứng nhu cầu bản thân, gia đình còn dùng để trao đổi, buôn bán, sản phẩm từ làng nghề phải là hàng hóa

Còn “nghề” có thể được hiểu là công việc mà người dân làm để kiếm sống hàng ngày Các nghề trong hoạt động của làng nghề thường là thủ công, tiểu thủ công nghiệp, vì thế những sản phẩm làm ra luôn mang đậm dấu ấn của chủ nhân làm ra nó

Các nghề thủ công ở làng quê ban đầu chỉ xuất hiện dưới dạng là nghề phụ, chủ yếu được bà con nông dân làm vào thời kỳ nông nhàn Nhưng sau

Trang 15

này, do sự phân công lao động mà các ngành nghề thủ công tách dần khỏi sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn phục vụ trực tiếp cho hoạt động nông nghiệp Và lúc đó, những người thợ thủ công ở làng nghề có thể là không còn làm nông nghiệp nhưng họ vẫn gắn liền với làng quê mình Cho tới khi nghề thủ công phát triển mạnh, những người làm nghề thủ công và sống nhờ nghề này tăng lên nhanh chóng Đó chính là cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của các làng nghề

ở nông thôn cho đến ngày nay

Thông qua những lí luận đó mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về làng nghề như:

- “Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), cùng làm một nghề tiểu thủ công nghiệp mà các hộ đó có thể sinh sống bằng nghề

đó, thu nhập từ nghề đó chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ Ngoài ra giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương” [30, tr.9]

- “Làng nghề là nơi hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động nghề cho nghề đó và lấy đó làm nguồn sống chủ yếu” [2, tr.3] Với quan niệm như thế thì hiện nay ở Việt Nam tồn tại rất ít (như làng gốm Bát Tràng,…)

- “Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân

và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề, giữa các hộ sản xuất có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội” [29, tr.2] Quan niệm này chưa phản ánh được đầy đủ tính chất, đặc điểm của làng nghề, nó vẫn chưa thể hiện được sự khác biệt giữa làng nghề ở nông thôn với những trung tâm sản xuất thủ công nghiệp ở thành thị, trị trấn

- “Làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên cùng một địa bàn nông thôn Trong làng đó, có một bộ phận dân cư tách ra cùng nhau sinh sống bằng việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ; trong đó có

ít nhất một loại hàng hóa, dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc

Trang 16

hộ gia đình trong làng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỉ trọng lớn so với thu nhập dân cư tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân

cư đó” [5, tr.5]

- Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra khái niệm làng nghề như sau:

“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,

phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [4, tr.2]

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: “Làng nghề là làng (thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân sống trong làng Về mặt định lượng, làng nghề là làng có từ 35% đến 40% số hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề, thu nhập từ ngành nghề chiếm từ 50% tổng thu nhập của các hộ gia đình, và giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương” [3, tr.1]

- Tại Hà Tĩnh làng nghề được xác định: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các đểm dân cư tương

tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [23, tr.2] Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, làng nghề sẽ được xem xét theo cách hiểu này

1.1.1.2 Phân loại làng nghề

Làng nghề được phân loại thành hai nhóm chính: làng nghề truyền thống và làng nghề mới Làng nghề truyền thống là làng nghề có truyền thống được hình thành từ lâu đời Đó là những thôn làng làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là nhiều thế hệ, ít nhất cũng là hàng chục năm Nhiều làng nghề thậm chí đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước, tạo ra được những sản phẩm có tính độc đáo, có độ tinh xảo cao, đã được tiêu thụ tại

Trang 17

nhiều nơi khác nhau trên thế giới Dù nghề thủ công được du nhập vào làng bằng con đường nào thì sự phát triển cũng diễn ra dưới hình thức có tồn tại một số hạt nhân (nghệ nhân, gia đình, dòng họ…) làm nòng cốt, từ đó mở rộng ra phạm vi cả làng Theo quy định của UBND tỉnh Hà Tĩnh, làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời

“Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề” [23, tr.2]

Ngày nay khi nền kinh tế càng phát triển các làng nghề mới hình thành ngày một nhiều Chúng được hình thành do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống và sự ra đời của các ngành nghề mới Các làng nghề mới ra đời ban đầu nhằm giải quyết lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn lúc nông nhàn Sau này, một số làng nghề phát triển mạnh tách dần khỏi nông nghiệp, tạo thành các làng nghề mới

Bên cạnh đó, các làng nghề ở Việt Nam có thể được chia thành 5 nhóm,

đó là:

- Nhóm thứ nhất: Bao gồm các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm, sứ, sơn mài, thêu ren, khảm, chạm khắc gỗ, đá…

- Nhóm thứ hai : Là các ngành nghề sản xuất công cụ như rèn đúc, làm cày bừa, nông cụ, đóng thuyền…

- Nhóm thứ ba: Là các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: làm lược, dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, sọt

bồ, bện thừng, dệt vải, may mặc

- Nhóm thứ tư: Bao gồm các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống: như nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang, sản xuất vật liệu xây dựng…

Trang 18

- Nhóm thứ năm: Bao gồm các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm như: xay xát, làm bánh, làm bún, đường, mật, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các loại…

Ngoài ra còn có thể phân lo ại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bình); phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; theo li ̣ch sử phát triển ; theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại và phát triển…

Nhiều làng nghề nổi tiếng phát triển mạnh làm giàu từ hiện đại hóa công nghệ truyền thống, nắm bắt nhu cầu của thị trường, nhờ đó các sản phẩm làng nghề đã tìm được đầu ra, nhiều làng nghề đứng vững và phát triển Đời sống của người lao động tại các làng nghề này ổn định, thu nhập từ làng nghề cao hơn từ 4 - 5 lần so với làm nông nghiệp “Trong những năm gần đây, số

hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ

8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng

tăng lên Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo

việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có

Trang 19

thể thu hút 200 - 250 lao động” [12, tr.39-40] Thu nhập của người dân tại các

làng nghề cao gấp 3 - 4 lần so với những nơi thuần nông, không phát triển làng nghề Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động

1.1.2.2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

Bảo tồn và phát triển làng nghề có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại

hóa Hiện nay, các làng nghề phân bổ rộng khắp cả nước nhưng không đồng đều “Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề VN, đến năm 2012, nước ta có 2.790 làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề Làng nghề nước ta phân

bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%)” [12, tr.39] Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các tỉnh tập trung phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề để giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, thu hút tối thiểu 50% lao động trong nông thôn vào làm việc tại các cụm công nghiệp và làng nghề Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch

vụ đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40% Số lượng, tỷ

trọng hộ hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản ngày càng giảm, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng Số hộ hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thuỷ sản là 9,53 triệu hộ, giảm 248 nghìn hộ so với năm

2006 Số hộ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và hộ dịch vụ đạt 5,13 triệu hộ, tăng 1,67 triệu hộ so với năm 2006 Nếu xét về cơ cấu, năm

Trang 20

2011 tỷ trọng hộ nông, lâm, thủy sản giảm nhanh, chỉ còn 62,2% so với 71,1% so với năm 2006 Tính chung trong giai đoạn 2001 - 2011, số hộ nông, lâm, thủy sản cứ qua 5 năm lại giảm đi khoảng từ 9% đến 10%.trong khi đó 2 khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ lại tăng lên: khu vực công nghiệp, xây dựng tăng ở mức 4,5 - 5%, khu vực dịch vụ tăng chậm hơn ở mức từ và 3,5 - 4,5% Do việc thực hiện đúng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông thôn dẫn đến cơ cấu lao động trong các lĩnh vực ngành nghề có sự thay đổi rõ rệt Tính đến 2011, lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 59,6%, giảm đáng kể so với mức 70,4% của năm 2006 và 79,6% của năm 2001; Tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng lần lượt ở các năm 2011,

2006 và 2001 là 18,4%, 12,5% và 7,4%; tỷ lệ lao động dịch vụ là 20,5%, 15,9% và 11,9% ở 3 năm tương ứng Các làng nghề phát triển nở rộ, đến năm

2011, khu vực nông thôn có 961 xã có làng nghề, chiếm 11% tổng số xã (tỷ lệ tương ứng của các năm 2001 và 2006 lần lượt là 6% và 8%)

1.1.2.3 Tạo kim ngạch xuất khẩu, góp phần tích lũy vốn cho nền kinh tế

Những thay đổi trong xu thế hội nhập kinh tế vừa mang lại những thuận lợi vừa tạo ra thách thức đối với các làng nghề trong quá trình phát triển Mở cửa, hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài Theo thống kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng Nếu như năm 2008 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt hơn 776 triệu USD thì trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt hơn 1,5 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm

2008 Đến năm 2012, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tăng lên 1,8 tỷ USD, đóng góp xuất khẩu đạt 2,2 tỷ đồng Các làng nghề tạo kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, góp phần to lớn trong việc tích lũy vốn cho nền kinh tế

Trang 21

1.1.2.4 Góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc

Do hầu hết các làng nghề có khởi nguồn từ sáng tạo của dân cư địa phương nên trong sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều có những dấu ấn riêng về bản sắc văn hoá của từng địa phương Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, trong đó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân có bàn tay khéo léo cùng những bí quyết nghề quý giá và thông qua đó bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc Việt Nam nói chung và của các địa phương nói riêng trong cộng đồng quốc tế

Ngoài việc tạo sản phẩm, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, nhiều làng nghề đã hình thành việc liên kết có tính cộng đồng theo từng nhóm làng nghề, duy trì các truyền thống, lễ hội theo nhóm ngành nghề Thông qua việc tạo ra các sản phẩm của làng nghề, cộng đồng dân cư trở nên gắn bó hơn trong cuộc sống, góp phần hạn chế và đẩy lùi những tiêu cực của văn hoá ngoại lai, không lành mạnh Với vai trò quan trọng của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội, việc định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề trong

xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là việc làm cần thiết hiện nay

Trang 22

khác, nhất là thiên nhiên Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là một phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt là một phát triển không bền vững

Phát triển theo hướng bền vững được hiểu là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” [15, tr.2] Phát triển theo hướng bền vững được cấu tạo bởi 3 nhân tố là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội

và bền vững về môi trường

Từ khái niệm phát triển theo hướng bền vững có thể đưa ra khái niệm phát triển các làng nghề theo hướng bền vững Khái niệm này được đặt ra trong khuôn khổ quan niệm về phát triển theo hướng bền vững của đất nước

và mang yếu tố đặc thù của các làng nghề Theo đó, phát triển các làng nghề theo hướng bền vững được hiểu là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có hiệu quả cao trong các làng nghề, nâng cao đời sống gắn liền với việc khai thác hợp lý, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống và đảm bảo

sự ổn định, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn có làng nghề

Việc phát triển các làng nghề theo hướng bền vững thể hiện trước hết ở việc duy trì tính chất bền vững và hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh

và dịch vụ trong bản thân các làng nghề Cụ thể:

- Đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động của làng nghề để đảm bảo tái sản xuất: quy mô, tốc độ gia tăng giá trị sản lượng, trình độ công nghệ, giải quyết được lao động việc làm, thay đổi thu nhập bình quân đầu người, phát triển hoạt động sản xuất theo hướng tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu

- Duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của các làng nghề Khả năng cạnh tranh nói lên tính chất vượt trội trong quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác có cùng tiêu chí so sánh như môi trường pháp lý và hành

Trang 23

tế nói chung và phát triển các làng nghề trong khu vực

1.2.1.2 Sự cần thiết phát triển các làng nghề theo hướng bền vững

Phát triển bền vững các làng nghề là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia

và các vùng lãnh thổ Điều đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:

Thứ nhất, do yêu cầu của sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định

Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làng nghề cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Ở các nước phát triển cũng có những mô hình như “mỗi làng một sản phẩm” ở Nhật Bản, Thái Lan, “Mỗi phố một sản phẩm” ở Thượng Hải, Trung Quốc; “trở về làng quê” của Indonexia… và những mô hình này ra đời từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ Sự phát triển các mô hình đó cũng cho thấy sự phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển nền công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của mỗi quốc gia

Sự phát triển của làng nghề cùng với các điều kiện thuận lợi về cơ sở

hạ tầng, các loại hình dịch vụ tiểu thủ công nghiệp sẵn có trên địa bàn và sự liên kết hợp tác một cách rộng lớn giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề thì

sẽ tạo bước chuyển biến lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Phát triển theo hướng bền vững các làng nghề sẽ tạo điều kiện cho sự trao đổi mua bán sản phẩm cũng như các hoạt động dịch vụ khác ngay trong nội bộ làng nghề Điều đó sẽ có tác dụng làm giảm thiểu chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi cơ sở và từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của làng nghề Phát triển theo hướng bền vững góp phần

Trang 24

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở chỗ nó tạo ra cơ cấu kinh tế mới, hợp

lí và hiện đại ở nông thôn Ngoài ra, sự phát triển của làng nghề cũng góp phần mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất cũng như tạo ra nguồn sản phẩm phong phú đa dạng cho xã hội

Sự phát triển của làng nghề cũng sẽ lan tỏa tác động sang các vùng khác, thu hút lao động từ các vùng khác khi hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng, từ đó sẽ góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương

Ngoài ra ta cũng thấy được rằng, hoạt động làng nghề chủ yếu là quy

mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động cũng không lớn, trong khi đó, một khi hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển mở rộng thì nhu cầu vốn cũng như lao động cần được huy động ngày càng lớn, mà nguồn vốn như thế này lại có thể huy động trực tiếp từ dân cư Do vậy, đó sẽ là điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn vốn còn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề

Thứ hai, do yêu cầu tạo công ăn việc làm đầy đủ và nâng cao chất lượng

cuộc sống cho người lao động

Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững sẽ tạo công ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động Việc phát triển làng nghề sẽ thu hút thêm lao động tham gia vào làm việc, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nông thôn, đồng thời cũng sẽ tăng thêm đội ngũ những người làm dịch vụ phục vụ tại các làng nghề Từ đó sẽ góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho lực lượng lao động ở nông thôn và nó còn có tác động lan tỏa kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề khác ở nông thôn Hơn nữa, còn có những làng nghề mà người lao động hoàn toàn làm việc phục vụ làng nghề chứ không còn tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp nữa Điều này sẽ làm cho người lao động ở địa phương yên tâm vào ổn định cuộc sống ở làng quê

Trang 25

Thứ ba, do yêu cầu sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường

Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững cũng có tác động lớn tới công tác hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở địa phương Nhất là đối với hoàn cảnh ở nước ta, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn còn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội thì để có thể phát triển làng nghề, cần phải chú trọng hoàn thiện hơn hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật để có thể phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của mỗi làng nghề cũng như là của đất nước

Nếu làng nghề phát triển theo hướng bền vững có nghĩa hoặc là các cơ

sở sản xuất sẽ tập trung vào một khu vực chung, không còn nhỏ lẻ như trước; hoặc là cũng có thể phân tán các hộ gia đình riêng lẽ (trường hợp các làng nghề chế biến thực phẩm) Thông qua đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ, các doanh nghiệp sẽ quan tâm chú trọng vào các công tác xử lý chất thải, nước thải và các hoạt động bảo vệ môi trường khác Đó sẽ là điều kiện thuận lợi để có thể quy hoạch phát triển làng nghề một cách cụ thể và có hiệu quả, phục vụ mục tiêu phát triển theo hướng bền vững

Thứ tư, do yêu cầu gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc

Ngoài ra, phát triển các làng nghề theo hướng bền vững sẽ là cơ hội để

có thể quảng bá hình ảnh riêng có của địa phương nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung Thông qua các sản phẩm độc đáo của mỗi làng nghề, cũng thể hiện được nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, qua các thế hệ phát triển, các giá trị văn hóa này sẽ được gìn giữ, bảo tồn và không ngừng phát triển Thông qua “Thương hiệu” riêng của làng

Trang 26

nghề mà địa phương sẽ được nhiều vùng khác, nơi khác biết đến Cũng từ đây, tạo điều kiện cho sự phát triển ngành du lịch, vì nếu làng nghề càng phát triển, điều kiện kinh tế càng phát triển thì sẽ thu hút du khách đến tham quan, giải trí để tìm hiểu, thỏa mãn những nhu cầu của mình

Sự phát triển theo hướng bền vững của hệ thống các làng nghề sẽ đóng vai trò, vị trí nhất định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, tùy thuộc vào mức độ phát triển của mỗi làng nghề sẽ xác định một ý nghĩa nhất định của mình Qua quá trình phát triển của các làng nghề ở nước ta thời gian qua, chúng ta cũng thấy rõ được rằng, hệ thống làng nghề đã đóng góp đáng kể vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và đất nước nói chung, góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn cũng như chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.2.2 Nội dung phát triển các làng nghề theo hướng bền vững

Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững là sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã ghi rõ: “ Phát triển theo hướng bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh kinh tế Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường” Cụ thể, để phát triển các làng nghề theo hướng bền vững cần thực hiện các nội dung chủ yếu sau:

1.2.2.1 Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế làng nghề cao và ổn định

Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững nhằm giữ vững ổn định kinh tế, đảm bảo an ninh kinh tế của địa phương nói riêng, cả nước nói chung

Trang 27

tế, đảm bảo cân bằng cơ cấu kinh tế Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Từ đó, cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng của các làng nghề theo hướng: Chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và đầu tư vốn lớn sang mô hình dựa trên các yếu tố tăng trưởng không chỉ dựa vào việc khai thác các lợi thế sẵn có (lao động và tài nguyên) để thực hiện tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn sang mô hình tăng trưởng dựa trên cơ sở nâng cấp các lợi thế, tạo dựng lợi thế mới dựa trên các tiêu chí nâng cao năng suất, hiệu quả cao, sức cạnh tranh lớn; chuyển từ mô hình tăng trưởng có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc bảo vệ môi trường và có những tiêu cực về xã hội sang mô hình tăng trưởng mang tính bền vững trong dài hạn với mục tiêu thân thiện với môi trường và vì sự phát triển của con người Người lao động có công việc ổn định, mức thu nhập đảm bảo chất lượng cuộc sống, tạo sự gắn bó mật thiết giữa người lao động - nghề - làng nghề

1.2.2.2 Tăng việc làm và thu nhập cho người lao động trong các làng nghề

Văn hóa - xã hội hiện hữu trong tất cả mọi mặt của đời sống con người,

nó là những gì do con người và vì con người Văn hóa - xã hội là nền tảng

Trang 28

tinh thần cho sự phát triển, là yếu tố làm nên giá trị ổn định, lâu bền của một quốc gia, hình thành bản sắc riêng của một dân tộc Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về xã hội là phải phát triển về mặt xã hội ngang tầm và hài hòa với phát triển kinh tế Cần phát triển các làng nghề theo hướng toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, của các làng nghề từ xa xưa, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về xã hội là nền tảng, động lực phát triển kinh tế Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về xã hội nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, quảng bá hình ảnh đất nước, con người qua các sản phẩm của làng nghề

Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về mặt xã hội nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, gắn tăng trưởng với xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của những người lao động trong làng nghề Người lao động có thể sống với nghề, tạo ra kinh tế ổn định cho người lao động

1.2.2.3 Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên cho phát triển làng nghề

Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên làng nghề thể hiện ở việc sử dụng

có hiệu quả, hợp lý các tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên môi trường làng nghề và các vùng xung quanh Việc khai thác, sử dụng tài nguyên của làng nghề không chỉ thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu của nhiều thế hệ Bên cạnh đó trong quá trình phát triển, tác động của làng nghề đến môi trường phải được hạn chế đi đôi với những đóng góp cho các nỗ lực cải tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường Điều đó được thể hiện:

Phát triển bền vững làng nghề nhằm bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp

Phát triển bền vững làng nghề phải gắn liên tái tạo tài nguyên, có ý thức nâng cao chất lượng môi trường sinh thái làng nghề

Trang 29

Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có kế hoạch, quy hoạch vùng nguyên liệu cho làng nghề Hoặc làng nghề phải tự nỗ lực nghiên cứu, hướng tới sử dụng nguyên liệu nhân tạo, đa dạng hóa, thay thế nguồn nguyên liệu

1.2.2.4 Hiện đại hóa công nghệ sản xuất trong các làng nghề

Được hình thành tự phát trên cơ sở thiết bị công nghệ truyền thống, một

số người lao động, hộ thủ công đã tách ra chuyên sửa chữa, cải tiến một số công đoạn cho hiệu quả hơn Hoặc một số hộ có số vốn dồi dào chuyển sang buôn bán máy móc, thiết bị trong phạm vi làng Vì vậy, nhìn chung thị trường công nghệ cho làng nghề còn nhỏ hẹp, chắp vá chưa đáp ứng nhu cầu hiệu đại hóa làng nghề Đặc thù nghề thủ công truyền thống đòi hỏi công nghệ tùy thuộc từng công đoạn làm sản phẩm mà áp dụng cho phù hợp để hạn chế ảnh hưởng môi trường, tăng năng suất, công nghệ hóa sản xuất, giảm bớt tính lao động nặng nhọc nhưng phải đảm bảo tính độc đáo, tinh xảo của sản phẩm Công nghệ trong các làng nghề đặc biệt trong vấn đề tiêu hao năng lượng sẽ tác động trực tiếp đến năng suất lao động, giá thành sản phẩm, năng lực cạnh tranh trên thị trường Áp dụng công nghệ tiên tiến giúp làng nghề tăng năng suất, hạ giá thành, đáp ứng được những đơn hàng lớn, đa dạng hóa sản phẩm, doanh thu tăng

1.2.2.5 Giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường

Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về môi trường nghĩa là các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiệt bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh tại các làng nghề hiện có phải đạt chuẩn về về môi trường Các làng nghề cần có khu xử lý nước thải tập trung, chất thải cần phải được xử lý đạt tiêu chuẩn Các làng nghề cần cải thiện, phục hồi môi trường tại các khu vực sản xuất kinh doanh bị ô nhiễm nặng, hạn chế các tác hại của thiên tai đến hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề Tăng cường phát

Trang 30

triển khoa học kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất tại các làng nghề nhằm sử dụng nguồn tài nguyên một các hợp lý, khoa học, đạt hiệu quả cao Trong quá trình phát triển các làng nghề theo hướng bền vững cần đổi mới kỹ thuật với yêu cầu đặt ra là khởi điểm kỹ thuật phải cao, phải lựa chọn công nghệ kỹ thuận tiêu hao ít nguyên, vật liệu, ít ô nhiễm hiệu quả cao, chú trọng phát triển các làng nghề thân thiện với môi trường

1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển các làng nghề theo hướng bền vững

Chỉ số này càng cao chứng tỏ sự phát triển các làng nghề càng nhanh

và ngược lại Các làng nghề phát triển có bền vững hay không thì trước hết phải xét xem trong quá trình phát triển, các làng nghề đạt được mức tăng trưởng cao hay thấp, có đạt được chỉ tiêu đề ra hay không hay trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đạt được mức lợi nhuận là bao nhiêu Đó chính

là sự tăng lên không ngừng qua các năm về số lượng và giá trị sản phẩm của mỗi làng nghề Có như vậy mới thể hiện được rằng số lượng sản phẩm từ làng nghề vẫn đang được duy trì và phát triển

b Tỷ lệ thu nhập từ ngành nghề so với tỷ lệ thu nhập của làng ( hay hộ)

Giá trị sản lượng năm sau – Giá trị sản lượng năm trước

Giá trị sản lượng năm trước

Trang 31

Chỉ số này cho biết thu nhập từ ngành nghề chiếm bao nhiêu phần trăm

so với tổng thu nhập của làng (hay hộ gia đình)

Công thức tính:

Thu nhập từ ngành nghề Tổng thu nhập

Chỉ số này càng cao chứng tỏ thu nhập từ ngành nghề chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập của làng ( hay hộ gia đình) Chỉ số này tăng qua các năm thể hiện sự phát triển của ngành nghề tạo ra thu nhập cao và ổn định, khả năng phát triển của ngành nghề ngày càng mạnh mẽ trong tương lai Ngành nghề có xu hướng trở thành ngành nghề chính, thiết yếu của làng ( hay hộ gia đình)

1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu về văn hóa - xã hội

a Tỷ lệ lao động làng nghề trong tổng số lao động xã hội

Chỉ số này cho biết số lượng lao động làng nghề chiếm bao nhiêu phần trăm so với tổng số lao động trong xã hội Đối với từng làng nghề, chỉ số này được tính là số lao động tham gia hoạt động sản xuất trong các cơ sở sản xuất

so với tổng số lao động trong làng nghề

Công thức tính:

Số lao động làng nghề Tổng số lao động xã hội

Chỉ số này càng cao chứng tỏ lao động làng nghề chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội Chỉ số này tăng qua các năm chứng tỏ sự phát triển lớn mạnh về số lượng lao động làng nghề Điều này cũng thể hiện sự phát triển làng nghề đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều lao động, gián tiếp thể hiện sự phát triển về quy mô làng nghề

Trang 32

b Thu nhập bình quân của người lao động trong các làng nghề

Thu nhập của lao động làm việc trong làng nghề cũng là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ phát triển bền vững của làng nghề Thu nhập là yếu tố quan trọng để người lao động xác định lựa chọn nghề và sống nhờ vào nghề đó Nếu mức thu nhập bình quân của người lao động đủ đảm bảo trang trải cho những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của người lao động cũng như gia đình họ, đồng thời mức thu nhập đó nếu cao hơn mức thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì người lao động sẽ chọn làm việc ở làng nghề và gắn bó hơn với nghề đó Thu nhập bình quân của người lao động trong các làng nghề tăng lên qua các năm chứng tỏ làng nghề ngày càng phát triển, thị trường được đảm bảo Người lao động có thể an tâm gắn bó với nghề, làng nghề

c Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc

Phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phương là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống, tiêu dùng của dân cư Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố quan trọng quá trình phát triển các làng nghề theo hướng bền vững Làng nghề là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn hóa dân tộc, là nơi lưu giữ truyền thống một cách cụ thể nhất Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua các sản phẩm thủ công, nó thể hiện giá trị thẩm mỹ trước, sau đó mới đến giá trị kinh tế, kỹ thuật Trong quá trình hội nhập hiện nay, người ta coi sản phẩm của làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống là di sản văn hóa vật thể của dân tộc trên thế giới Vì vậy phát triển làng nghề chính là gìn giữ văn hóa vật thể cho đất nước, nhân loại Đây là chỉ tiêu định tính nhưng quan trọng để phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về văn văn hóa

1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu về môi trường

a Tỷ lệ làng nghề ( hay hộ nghề) sử dụng nguyên liệu và công nghệ sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường

Trang 33

Công thức tính:

Tỷ lệ LN sử dụng nguyên liệu và

CNSX đạt tiêu chuẩn môi trường

Số LN sử dụng nguyên liệu và CNSX đạt tiêu chuẩn môi trường

Tổng số làng nghề

Chỉ số này càng cao chứng tỏ số làng nghề ( hộ nghề) sử dụng nguyên liệu và công nghệ sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường càng cao Điều này, đảm bảo sự phát triển lâu dài, bền vững cho các làng nghề (hộ nghề) này, và sự phát triển chung cho các làng nghề (hộ nghề) trên cả nước Chỉ số này tăng qua các năm chứng tỏ sự phát triển có quy hoạch, có ý thức của các làng nghề trong vấn đề sử dụng nguyên liệu và công nghệ sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường Chỉ số này tăng ổn định đảm bảo sự phát triển bền vững cho các làng nghề trong tương lai

b Tỷ lệ hộ sản xuất làng nghề có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường

Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển bền vững các làng nghề về môi trường Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa số hộ sản xuất làng nghề có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường với tổng

số hộ sản xuất làng nghề

x 100%

=

Trang 34

Tổng số hộ SX LN

Chỉ số này càng cao chứng tỏ số hộ sản xuất làng nghề có hệ thống xử

lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường càng cao Điều này đảm bảo môi trường làng nghề không bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi sự phát triển nhanh chóng của làng nghề Chỉ số này tăng qua các năm chứng tỏ càng nhiều hộ sản xuất làng nghề quan tâm, đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường Chỉ

số này càng tăng cao đảm bảo khả năng phát triển bền vững của các làng nghề

về khía cạnh môi trường

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề theo hướng bền vững

1.2.4.1 Quy hoạch phát triển làng nghề

Quy hoạch làng nghề là quá trình sắp xếp, bố trí các làng nghề vào một không gian nhất định nhằm đạt được các mục tiêu của kế hoạch đề ra

Việc quy hoạch phát triền làng nghề của các địa phương sẽ tạo nên sự phát triển làng nghề một cách có hệ thống, có định hướng và có sự hỗ trợ của địa phương, hỗ trợ cả về nguồn vốn cũng như là xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại khu vực có làng nghề hoạt động Việc quy hoạch mặt bằng tập trung sản xuất sẽ góp phần giải quyết được vấn đề môi trường, đưa ra được các biện pháp bảo vệ môi trường cũng như xử lý ô nhiễm môi trường một cách có

hệ thống Quy hoạch phát triển làng nghề sẽ định hướng phát triển, khôi phục, phát triển các cơ sở ngành nghề nông thôn, các làng nghề truyền thống và thực hiện chính sách “mỗi làng một nghề” của nhà nước Việc quy hoạch phát triển làng nghề cũng sẽ tạo điều kiện phát triển các ngành nghề có lợi thế về nguyên

Trang 35

liệu tại chỗ, có thị trường tiêu thụ ổn định, và thông qua đó sẽ gắn kết các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường với nhau

Sự phát triển của hệ thống đô thị tạo nên một nền văn minh đô thị, quy

mô và chức năng đô thị, không gian quy hoạch và kiến trúc của đô thị, cơ sở

hạ tầng đô thị, kinh tế đô thị… Sự phát triển của hệ thống đô thị có vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như địa phương, vùng lãnh thổ, và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế -

xã hội nói chung

Quá trình đô thị hóa cũng có những tác động ngược chiều đối với sự tồn tại phát triển của hệ thống các làng nghề Trước hết, về mặt tích cực, quá trình đô thị hóa sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn, góp phần làm tăng nguồn thu nhập, nâng cao đời sống của dân cư ở làng nghề cũng như vùng lân cận Khu vực thành thị chính là những đối tượng có thu nhập cao hơn, qua đây sẽ có điều kiện tăng tiêu dùng những sản phẩm từ làng nghề phù hợp, đặc biệt là những sản phẩm mang đậm dấu ấn thủ công mỹ nghệ, có tính trang trí, lụa tơ tằm, sản phẩm thêu ren, thảm len và từ đó tạo nên thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn Ngoài ra, quá trình đô thị hóa cũng sẽ tạo điều kiện cho người dân vùng làng nghề nâng cao dân trí, trình độ để có thể tiếp cận một cách tốt hơn với sự phát triển của khoa học công nghệ mới, từ đó họ có thể biết cách áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động của mỗi cơ sở làng nghề

Tuy nhiên, ngoài tác động tích cực thì quá trình đô thị hóa cũng mang lại không ít những tác động không tốt cho mỗi làng nghề Trước hết, quá trình

đô thị hóa sẽ đi đôi với sự thu hẹp các diện tích đất nông nghiệp, đất trồng nguyên liệu cũng như là đất đai phục vụ nhà xưởng gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của làng nghề Đô thị hóa nhanh chóng cũng sẽ tác động đến lối sống cũng như cách nhìn nhận của người làm nghề, họ sẽ có những thay

Trang 36

đổi trong phong cách làm sao để phù hợp với hoàn cảnh mới Như vậy, quá trình đô thị hóa ngoài những ảnh hưởng mang tính tích cực thì cũng cần phải chú ý đến những ảnh hưởng xấu của nó để có thể có những biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo cho sự phát triển của mỗi làng nghề mang tính bền vững

Bên cạnh quá trình đô thị hóa thì sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng cũng là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển theo hướng bền vững của làng nghề Nếu hệ thống cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là hệ thống giao thông ngày càng phát triển và được hoàn thiện thì sẽ tạo điều kiện cho mỗi làng nghề có thể mở rộng quy mô sản xuất

Ngoài hệ thống giao thông ở khu vực làng nghề thì hệ thống điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện ứng dụng các loại máy móc thiết bị hiện đại vào hoạt động sản xuất, góp phần làm tăng năng suất lao động cũng như là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, chống ô nhiễm môi trường… Hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt là trong thời điểm bùng nổ Internet như hiện nay cũng sẽ giúp cho các hộ sản xuất nhanh chóng cập nhật các thông tin cần thiết cũng như là

có thể tìm kiếm những nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình, đồng thời qua đó cũng có thể thực hiện các hoạt động quảng

bá sản phẩm, giới thiệu một cách rõ hơn về làng nghề mình để sản phẩm của làng nghề được mọi nơi, mọi đối tượng biết đến

1.2.4.2 Nguồn vốn sản xuất

Nguồn vốn cho phát triển sản xuất cũng là một yếu tố đầu vào quan trọng,

có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp

và cơ sở sản xuất Trong điều kiện phát triển như ngày nay thì nguồn vốn cũng chính là điều kiện cần thiết không thể thiếu cho các làng nghề

Ngày nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi nên kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì nhu cầu về vốn để mở rộng sản

Trang 37

xuất ngày càng gia tăng Cuộc điều tra do tổ chức ILO và SIDA thực hiện cho thấy có 65,7% ý kiến ở nông thôn cho rằng thiếu vốn là nguyên nhân quan trọng nhất cản trở hoạt động của các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh Theo số liệu nghiên cứu của CIEM thì hệ thống tài chính chính thức chỉ đáp ứng được 25,6% nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp dân doanh Điều này gây khó khăn rất lớn cho việc mở rộng quy mô và ứng dụng công nghệ hiện đại trong các làng nghề

Trước đây, quy mô của các làng nghề thường nhỏ bé, và quy mô vốn của các hộ kinh doanh ở đây cũng rất nhỏ bé, chủ yếu là vốn tự có của gia đình hay của bà con họ hàng Vì vậy rất khó khăn cho các hộ gia đình trong việc mở rộng quy mô sản xuất Hầu hết các hộ sản xuất, các doanh nghiệp làng nghề đều có quy mô nhỏ và vừa, lại thuộc vào thành phần kinh tế dân doanh nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng cũng gặp rất nhiều khó khăn Do đó, khi các hộ sản xuất nông nghiệp với vốn đầu tư không lớn thì có xu hướng chuyển sang sản xuất làng nghề nhiều hơn, tức là vừa làm nông nghiệp vừa có thể tham gia đầu tư để làm nghề hay cung cấp dịch vụ phục vụ làng nghề, phục vụ sản xuất nông nghiệp Việc này sẽ kéo theo việc gia nhập ngày càng nhiều hơn số hộ gia đình và số lao động vào làng nghề

Như vậy, để có thể phát triển các làng nghề theo hướng bền vững thì đòi hỏi phải đảm bảo được nguồn lực đầu vào về số lượng cũng như chất lượng, và phải mang tính ổn định lâu dài Nếu nguồn lực đầu vào không ổn định, không đủ mạnh thì đó là yếu tố gây nên sự không bền vững của sự phát triển làng nghề

1.2.4.3 Trình độ của đội ngũ lao động

Nói đến nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất thì không thể không nói đến nguồn lao động, đó là nguồn lực đầu vào không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế của tất cả các ngành, lĩnh vực chứ không riêng gì

Trang 38

hoạt động sản xuất của làng nghề Nếu đội ngũ lao động tham gia sản xuất tại các làng nghề ổn định thì sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất ổn định và phát triển Trên thực tế, để có thể sáng tạo ra được những sản phẩm có sự tinh xảo thì ngoài khả năng bẩm sinh, người lao động cũng cần phải được đào tạo một thời gian dài sau quá trình học việc và đôi khi cũng có thể có đối tượng không đủ kiên nhẫn để theo đuổi công việc đến cùng Hơn nữa công việc của các làng nghề lại mang nặng đặc trưng là thực hiện phương thức đào tạo theo dạng truyền nghề, những kỹ năng bí quyết nghề nghiệp nhiều khi họ chỉ truyền lại cho một số ít người đáng tin cậy trong gia đình Chính vì vậy, điều này làm cho số lượng các thợ cả, nghệ nhân mới ngày càng bị thu hẹp trong khi đội ngũ nghệ nhân cũ tuổi tác càng cao, sức khỏe càng giảm sút Như vậy, những tinh hoa của làng nghề ngày càng bị mai một dần

Thời đại ngày nay, khi làng nghề cũng tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì ngoài kỹ năng, bí quyết riêng của người thợ, sự phát triển của làng nghề cũng đòi hỏi người sản xuất, đặc biệt là các chủ hộ cũng phải trau dồi cho mình những kiến thức, thông tin nhất định về lĩnh vực kinh doanh, quản lý sản xuất, tổ chức tiêu thụ sản phẩm cũng như là công việc quảng bá, marketing cho sản phẩm…

Như vậy, nguồn lực lao động tham gia vào các làng nghề nếu ổn định về

số lượng và đảm bảo về chất lượng thì sẽ góp phần không nhỏ giúp cho làng nghề hạn chế được những biến động, đảm bảo sự ổn định về sản phẩm, từ đó

mà có thể tác động đến sự phát triển theo hướng bền vững của làng nghề

1.2.4.4 Nguyên liệu đầu vào

Nguyên liệu là một yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh

và có tầm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của làng nghề Khối lượng, chủng loại, phẩm cấp của nguyên liệu và khoảng cách từ nơi cung cấp nguồn

Trang 39

nguyên liệu đến nơi sản xuất đều đóng vai trò quan trọng, chính vì thế nguồn

nguyên liệu đầu vào thường được các làng nghề rất chú trọng

Từ những ngày đầu hình thành, mỗi làng nghề đều có nguồn nguyên liệu tương đối sẵn có và gần với nơi sản xuất Tuy nhiên, do quá trình khai thác trong thời gian dài, dần dần những nguồn nguyên liệu sẵn có này cũng đến lúc cạn kiệt và trong đó có những nguồn nguyên liệu lại không thể tái tạo được như đất sét, đá… vì thế các làng nghề phải tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào từ các địa phương khác

Tuy ngày nay càng có thêm nhiều làng nghề mới xuất hiện ở các địa phương nhưng nói chung sản phẩm từ các làng nghề đều mang tính truyền thống, nguồn nguyên liệu đầu vào của các làng nghề để tạo ra sản phẩm chủ yếu bắt nguồn từ thiên nhiên và điều kiện thuận lợi của địa phương đối với việc khai thác nguồn tài nguyên đó

Nếu nguồn nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất của làng nghề luôn ổn định thì sẽ tạo điều kiện cho sự hoạt động của làng nghề được thông suốt, người sản xuất không bị phân tán tư tưởng của mình vì nguồn nguyên liệu mà có thể tập trung cho hoạt động sản xuất sản phẩm của mình Một số nguồn nguyên liệu làng nghề có thể tái tạo, do đó vấn đề ở đây là cần phải chú trọng trong công tác khai thác nguồn nguyên liệu và thực hiện các biện pháp

để nguồn nguyên liệu đó được đảm bảo lâu dài

Quá trình khai thác nguyên liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của làng nghề cũng ảnh hưởng đến sự phát triển theo hướng bền vững của làng nghề Việc khai thác nguyên liệu, đặc biệt là nguồn nguyên liệu có sẵn trong

tự nhiên cũng sẽ gây nên những tác động đến môi trường, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Đơn cử như việc khai thác nguyên liệu là đất sét, đá… sẽ tác động đến cảnh quan môi trường, nếu việc khai thác kéo dài thì sẽ làm cạn kiệt tài nguyên đồng thời gây nên sự hủy hoại môi trường thiên nhiên Đối với

Trang 40

nguồn nguyên liệu như gỗ thì nếu việc khai thác một cách bừa bãi, không có quy hoạch và không chú trọng đến việc tái tạo thì sẽ gián tiếp tác động đến điều kiện tự nhiên, và gây ra lũ lụt, sạt lở hay xói mòn… chính những tác động đó cũng là gây nên sự thiếu bền vững về môi trường

1.2.4.5 Trình độ công nghệ - kỹ thuật sản xuất

Trình độ công nghệ - kỹ thuật sản xuất ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm đó Và như vậy trình độ công nghệ - kỹ thuật sản xuất sẽ ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm, không chỉ của làng nghề mà là bất kỳ ngành nghề nào

Lao động trong các làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống, là lao động sáng tạo kỳ diệu của những nghệ nhân và thợ nghề Không giống sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt theo công nghệ dây chuyền Mỗi sản phẩm của làng nghề được coi là tác phẩm nghệ thuật, chứa đựng phong cách riêng, nét sáng tạo, trình độ tay nghề của người làm ra chúng Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ vừa phải đảm bảo có giá trị sử dụng nhưng cũng có tính nghệ thuật cao Do đó, chúng phải kết hợp giữa kỹ thuật thủ công truyền thống với kỹ năng tinh xảo

Từ trước đến nay, các làng nghề thông thường là sử dụng các thiết bị thủ công, công nghệ sản xuất sản phẩm nhiều khi còn bị lỗi thời, theo kiểu truyền từ đời xưa để lại nên không có sự đổi mới Điều này dẫn đến tình trạng các làng nghề cũng chỉ sản xuất với một số lượng nhất định, chất lượng sản phẩm cũng không đồng đều làm ảnh hưởng đến sự phát triển theo hướng bền vững của làng nghề, và làm hạn chế năng lực cạnh tranh của các làng nghề trên thị trường Do đó, các làng nghề cần phải có những biện pháp cải tiến công nghệ kỹ thuật, không ngừng đổi mới máy móc thiết bị sản xuất nhằm mở rộng quy mô sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, có như vậy mới đảm bảo được sự phát triển một cách bền vững Công nghệ hiện đại không thể

Ngày đăng: 17/03/2015, 13:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (2005), Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam - NXB Thống Kê, Hà Nội 2. Bộ công nghiệp (1996), Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam" - NXB Thống Kê, Hà Nội 2. Bộ công nghiệp (1996), "Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân (2005), Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam - NXB Thống Kê, Hà Nội 2. Bộ công nghiệp
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1996
5. Đặng Kim Chi, Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường, NXB Khoa học - kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Tác giả: Đặng Kim Chi, Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh
Nhà XB: NXB Khoa học - kỹ thuật
Năm: 2005
8. Cục thống kê Hà Tĩnh (2008), Niên giám thống kê Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 9. Trần Văn Chử (2005), Kinh tế học phát triển, NXB lý luận chính trị Hà Nội 10. Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh (2000), Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ 15 11. Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh (2006), Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Hà Tĩnh", tỉnh Hà Tĩnh 9. Trần Văn Chử (2005), "Kinh tế học phát triển", NXB lý luận chính trị Hà Nội 10. Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh (2000), "Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ 15" 11. Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh (2006)
Tác giả: Cục thống kê Hà Tĩnh (2008), Niên giám thống kê Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 9. Trần Văn Chử (2005), Kinh tế học phát triển, NXB lý luận chính trị Hà Nội 10. Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh (2000), Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ 15 11. Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh
Nhà XB: NXB lý luận chính trị Hà Nội 10. Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh (2000)
Năm: 2006
12. Nguyễn Văn Hiến (2012) “Phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” Thời báo Phát triển và Hội nhập Số 4, trang 39-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” "Thời báo Phát triển và Hội nhập Số 4
13. Lê Hồng Kế và cộng sự (2006), Phân tích những tác động của chính sách đô thị hóa với phát triển theo hướng bền vững ở Việt Nam - NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích những tác động của chính sách đô thị hóa với phát triển theo hướng bền vững ở Việt Nam -
Tác giả: Lê Hồng Kế và cộng sự
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2006
14. Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Vũ Thị Ngọc Phùng
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2005
15. Nguyễn Trường Sơn(2012), Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển theo hướng bền vững tại một số làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ KTPT Số 176, trang 53-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển theo hướng bền vững tại một số làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Trường Sơn
Năm: 2012
16. Sở công thương Hà Tĩnh (2008,2009,2010,2011,2012), Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh
17. Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Tĩnh (2008,2009,2010,2011,2012), Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến, kinh doanh nông lâm sản tỉnh Hà Tĩnh, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến, kinh doanh nông lâm sản tỉnh Hà Tĩnh
18. Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Tĩnh (2008), Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Hà Tĩnh đến năm 2020, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Hà Tĩnh đến năm 2020
Tác giả: Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Tĩnh
Năm: 2008
20. Nguyễn Hữu Tăng (2003), Bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Tăng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
22. Tổ chức dự án VIE 01/021, Kỷ yếu hội nghị phát triển theo hướng bền vững toàn quốc lần thứ hai, Nxb lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị phát triển theo hướng bền vững toàn quốc lần thứ hai, Nxb lao động xã hội
Nhà XB: Nxb lao động xã hội"
31. Bùi Văn Vượng (2002), Đề án phục hồi làng nghề truyền thống Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phục hồi làng nghề truyền thống Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Thông tư 46/2011/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2011 của quy định về bảo vệ môi trường làng nghề Khác
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn Khác
7. Chính phủ (2012), Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công Khác
19. Sở Tài nguyên môi trường Hà Tĩnh (2008, 2009, 2010,2011,2012), Báo cáo hiện trạng môi trường Hà Tĩnh Khác
21. Tỉnh uỷ Bắc Ninh (2009), Báo cáo thực trạng phát triển ngành nghề phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh; Phương hướng, giải pháp và cơ chế chính sách phát triển gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH đến năm 2015, tầm nhìn 2020 Khác
23. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2012), Quyết định số 59/2012/QĐ-UBND, Quyết định ban hành quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lƣợng và cơ cấu làng nghề theo nhóm ngành năm 2012 - Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững
Bảng 2.1. Số lƣợng và cơ cấu làng nghề theo nhóm ngành năm 2012 (Trang 50)
Bảng 2.2. Sản phẩm của một số làng nghề ở Hà Tĩnh  Nhóm làng - Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững
Bảng 2.2. Sản phẩm của một số làng nghề ở Hà Tĩnh Nhóm làng (Trang 55)
Bảng 2.3. Cơ cấu vốn theo nhóm ngành - Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững
Bảng 2.3. Cơ cấu vốn theo nhóm ngành (Trang 56)
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động theo nhóm ngành - Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động theo nhóm ngành (Trang 57)
Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị sản lƣợng theo nhóm ngành - Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững
Bảng 2.5 Cơ cấu giá trị sản lƣợng theo nhóm ngành (Trang 58)
Bảng 2.7: Nộp ngân sách của các làng nghề ở Hà Tĩnh - Phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững
Bảng 2.7 Nộp ngân sách của các làng nghề ở Hà Tĩnh (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w