“Luật tố tụng dân sự” là một ngành luật độc lập bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự, bảo đảm giải quyết các vụ việc, vụ án dân s
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
Nội dung 4
I Khái quát chung lí luận 4
1 Vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng 4
2 Tập quán 4
3 Tương tự pháp luật 5
4 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng 6
II Trình tự giải quyết vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng 7
III Phân tích nguyên tắc 8
1 Nguyên tắc xác định thẩm quyền của Toà án trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng 8
2 Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng 10
2.1 Áp dụng tập quán 11
2.2 Áp dụng tương tự pháp luật 12
2.3 Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng .13
3 Đánh giá việc áp dụng theo trình tự của nguyên tắc 14
IV Ý nghĩa của nguyên tắc 15
Kết luận 17
Tài liệu tham khảo 18
1
Trang 2Các cụm từ viết tắt.
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
BLDS: Bộ luật dân sự
TAND: Tòa án nhân dân
TTDS: Tố tụng dân sự
Trang 3Lời mở đầu.
Trong cuộc sống hằng ngày, vụ việc dân sư luôn xuất hiện, tồn tại rất đa dạng dưới nhiều hình thức Chính vì tính phổ biến như thế nên sự phức tạp của các vụ việc dân sự là không thể tránh khỏi Vì vậy có nhiều vụ việc dân sự mà pháp luật chưa thay đổi kịp thời để điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh này điều này khiến cho nhiều vụ việc không có cách giải quyết Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp cho nên mọi tranh chấp, khiếu kiện, mọi yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân về dân sự nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác Tuy nhiên, không phải vụ việc dân
sự nào cũng được pháp luật điều chỉnh chính vì thế BLTTDS 2015 đã có quy định Tòa án phải có trách nhiệm giải quyết, không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng
Để làm rõ hơn vấn đề này, bài tiểu luận sẽ phân tích về vấn đề “Phân tích nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc “Giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng” đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự.”
3
Trang 4Nội dung.
I Khái quát chung lí luận.
1 Vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng.
“Luật tố tụng dân sự” là một ngành luật độc lập bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự, bảo đảm giải quyết các vụ việc, vụ án dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng, đúng đắn bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức lợi ích công cộng và lợi ích nhà nước
Luật tố tụng dân sự điều chỉnh mối quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng và các chủ thể khác phát sinh trong tố tụng dân sự Luật tố tụng dân sự có hai phương pháp điều chỉnh là: phương pháp mệnh lệnh phục tùng và phương pháp tự định đoạt Nhằm giải quyết các vụ án dân sự và các việc dân sự
Vụ việc dân sự bao gồm việc dân sự và vụ án dân sự Vụ việc dân sự chưa
có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng Khoản 2 Điều 4
BLTTDS 2015: “2 Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng ”
Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vvDS trong trường hợp chưa
có điều luật để áp dụng được quy định cụ thể tại Điều 43, 44, 45 BLTTDS 2015
2 Tập quán.
Theo khoản 1 Điều 5 BLDS 2015 thì “Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài,
Trang 5được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng
dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.”
Tập quán là một loại quy phạm xã hội tồn tại song hành cùng nhiều loại quy phạm xã hội khác như pháp luật, đạo đức, tín điều tôn giáo… nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội Với tư cách là một loại quy phạm xã hội, tập quán luôn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ dân sự nói riêng.1
Ví dụ: trong việc cân đo đong đếm… BLDS 2015 không quy định trực tiếp về vấn đề này nếu có tranh chấp xảy ra thì áp dụng tập quán tại địa phương
đó chẳng hạn trong đơn vị tính của địa phương chục là 10 hoặc 12 Hay vấn đề chia thịt thú rừng khi đi săn theo tập quán của từng dân tộc cũng rất khác nhau.2
3 Tương tự pháp luật.
Trên cơ sở cách hiểu về áp dụng pháp luật, chúng ta có thể hiểu: Áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó
Với cách hiểu này, ta thấy, áp dụng pháp luật tương tự vừa mang các đặc điểm của áp dụng pháp luật nói chung vừa có những đặc điểm riêng làm cho nó khác với các trường hợp áp dụng pháp luật khác Nếu như áp dụng pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể trên cơ sở quy pháp pháp luật trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật đó vào trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể thì áp dụng pháp luật tương tự lại là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể khi trong hệ thống
1 THS Đinh Thị Tâm – Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội - Tập quán và nguyên tắc áp dụng tập quán theo bộ luật dân sự 2015
2 PGS TS Nguyễn Văn Cừ PGS.TS Trần Thị Huệ - Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2015 – Nhà xuất bản Công an nhân dân – T23.
5
Trang 6pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó, tức
là không có khuôn mẫu trực tiếp do nhà nước quy định cho việc giải quyết vụ việc đó Vì thế, áp dụng pháp luật tương tự chỉ được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định nhằm hạn chế đến mức tối đa sự tuỳ tiện của người áp dụng
Các hình thức áp dụng pháp luật tương tự:
Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy
Áp dụng tương tự pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật và ý thức pháp luật
4 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.
Nguyên tắc là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật Dân sự vào trong thực tế BLDS năm
2015, các nguyên tắc cơ bản này đã được đưa vào thành 1 điều luật (Điều 3) với các khoản luật ngắn gọn, súc tích, rõ ràng
Khoản 2 Điều 6 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án
lệ, lẽ công bằng”
Cho đến nay, chưa có khái niệm thế nào là “lẽ công bằng” Có người cho rằng, lẽ công bằng là giá trị tư tưởng, giá trị đạo đức, là những gì phù hợp với đời sống xã hội, với con người trong quan hệ dân sự Có người lại cho rằng, đó
Trang 7là lẽ phải, là sự minh bạch, bình đẳng trong đời sống xã hội, nó phù hợp với luân
lý, đạo đức… nhưng chưa được pháp luật quy định, tập quán công nhận.1
Theo Điều 1 Nghị quyết số 03/2015 thì án lệ được định nghĩa là: “Những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” Như vậy, theo hướng dẫn này, thì án lệ là
“Những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể”, còn việc “lập luận, phán quyết” đó được “Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao lựa chọn và được Chánh án TAND tối cao công
bố là án lệ” chỉ là cách thức để xác lập án lệ Bên cạnh đó, cụm từ “bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật” có lập luận, phán quyết được chọn làm án lệ là để chỉ các bản án, quyết định dân sự (theo nghĩa rộng), phá sản, hình sự và hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm và quyết định giám đốc thẩm Với định nghĩa này thì khái niệm án lệ là chưa đủ rõ về mặt nội dung Vì vậy, khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 03/2015 đã tiếp tục cụ thể hóa nội dung của án lệ, theo đó án lệ là “Những lập luận làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng”.2
II Trình tự giải quyết vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng.
Theo quy định tại Điều 44 BLTTD năm 2015 “Trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.”
1 Lê Đức Khanh VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế Lẽ công bằng và bảo vệ quyền dân sự -Kiemsatonline.
xét xử - TẠP CHÍ KIỂM SÁT SỐ 6/2016.
7
Trang 8Vụ việc dân sự bao gồm việc dân sự và vụ án dân sự Việc dân sự là việc
cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, thương mai, lao động của mình hoặc của
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (quy định tại Điều 361 BLTTDS 2015)
So với BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011, BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể trình tự thủ tục chung về giải quyết việc dân sự và bổ sung một số thủ tục riêng cho những việc dân sự mang tính đặc thù Thủ tục chung về giải quyết việc dân sự gồm các bước: Thụ lý việc dân sự, chuẩn bị phiên họp và tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự được quy định cụ thể trong Phần thứ sáu Thủ tục giải quyết việc dân sự
Vụ án dân sự theo quy định của pháp luật TTDS hiện nay đó là các tranh chấp nảy sinh từ các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại và các quan hệ dân sinh trong đời sống xã hội khác Khác với việc dân sự,
vụ án dân sự sẽ được giải quyết qua các bước: thụ lý vụ án, hòa giải vụ án, chuẩn
bị xét xử và mở phiên tòa xét xử Thủ tục giải quyết vụ án dân sự được quy định
rõ tại BLTTDS Theo đó, giải quyết một vụ án dân sự được thực hiện theo chế
độ 2 cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Ngoài cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, pháp luật còn quy định một thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm
III Phân tích nguyên tắc.
1 Nguyên tắc xác định thẩm quyền của Toà án trong trường hợp chưa
có điều luật để áp dụng.
BLTTDS năm 2015 đã bổ sung những nội dung mới quan trọng nhất về những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự mà cụ thể là việc bổ sung nguyên
Trang 9tắc Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng Trong trường hợp này, việc giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo các nguyên tắc do BLDS và BLTTDS quy định (khoản 2 Điều 4)
Cụ thể, khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015 quy định:
“2 Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa
có điều luật để áp dụng
Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự
đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Toà án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng
Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do BLDS và Bộ luật này quy định.”
BLDS năm 2015 đã quy định rõ trong trường hợp vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng thì Toà án sẽ áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng để xem xét, giải quyết vụ việc dân sự Quy định này nhằm tạo điều kiện để Toà án thực hiện nhiệm vụ bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý Không những vậy mục đích còn để phù hợp với nguyên tắc “Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa
có điều luật để áp dụng”
Theo đó, Điều 43 BLTTDS 2015 quy định:
“Thẩm quyền của Toà án thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của Bộ luật này.”
9
Trang 10Tức là khi thụ lý, giải quyết những vụ việc dân sự mà chưa có điều luật quy định, Toà án có thẩm quyền theo cấp (Điều 35, 36, 37, 38 BLTTDS năm 2015), theo lãnh thổ (Điều 39 BLTTDS năm 2015) và có thể theo sự lựa chọn của nguyên đơn (Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp thụ
lý, giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật áp dụng
Theo quy định tại Điều 44 BLTTDS năm 2015 “Trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.”
So với BLTTDS năm 2004, BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể trình
tự thủ tục chung về giải quyết việc dân sự và bổ sung một số thủ tục riêng cho những việc dân sự mang tính đặc thù Thủ tục chung về giải quyết việc dân sự gồm các bước: Thụ lý việc dân sự, chuẩn bị phiên họp và tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự được quy định cụ thể trong Phần thứ sáu Thủ tục giải quyết việc dân sự
Vụ án dân sự theo quy định của pháp luật TTDS hiện nay đó là các tranh chấp nảy sinh từ các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại và các quan hệ dân sinh trong đời sống xã hội khác Khác với việc dân sự,
vụ án dân sự sẽ được giải quyết qua các bước: thụ lý vụ án, hòa giải vụ án, chuẩn
bị xét xử và mở phiên tòa xét xử Thủ tục giải quyết vụ án dân sự được quy định
rõ tại BLTTDS Theo đó, giải quyết một vụ án dân sự được thực hiện theo chế
độ 2 cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Ngoài cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, pháp luật còn quy định một thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm
2 Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng.
Quy định tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng quy định tại Khoản 2, Điều 4 BLTTDS năm 2015
Trang 11là một quy định tiến bộ, cần thiết và có lợi cho người dân, đảm bảo công dân có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Là căn cứ
để Tòa án phải nhận đơn, thụ lý, giải quyết những tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội mà pháp luật chưa quy định, không để người dân tự xử lý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội
Vậy Tòa án sẽ dựa vào cơ sở nào để xem xét, giải quyết vụ án, căn cứ vào đâu để bảo vệ quyền và lợi ích của người dân khi không có cơ sở pháp lý?
Trình tự giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng đó là: Đầu tiên nếu có tập quán thì sẽ áp dụng tập quán, nếu không có tập quán sẽ áp dụng tương tự pháp luật, và nếu không có cả tập quán và tương tự pháp luật thì sẽ áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng.
2.1 Áp dụng tập quán.
Đầu tiên tập quán đó đã phải thỏa mãn quy định tại Điều 5 BLDS 2015 Theo khoản 1 điều 45 BLTTDS về nguyên tắc giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng nêu rõ:
Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định Tập quán không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại điều 3 của Bộ Luật dân sự
Khi tòa án yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Toàn án xem xét, áp dụng Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự
11