1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận tố tụng dân sự chương 2: CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

10 3,5K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể nếu rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 52, 53 BLTTDS 2015 thì người tiến hành tố tụng không có quyền tham gia, giải quyết vụ việc dân sự.. Mặt khác, còn một số chủ tiến hành

Trang 1

THẢO LUẬN TỐ TỤNG DÂN SỰ CHƯƠNG 2: CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

I NHẬN ĐỊNH:

1 Chủ thể tiến hành tố tụng dân sự là những người có quyền tham gia, giải quyết vụ việc dân sự.

Nhận định này là sai

Vì không phải mọi trường hợp chủ thể tiến hành tố tụng đều có quyền tham gia, giải quyết vụ việc dân sự

Cụ thể nếu rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 52, 53 BLTTDS 2015 thì người tiến hành tố tụng không có quyền tham gia, giải quyết vụ việc dân sự Mặt khác, còn một số chủ tiến hành tố tụng dân sự cũng không có quyền giải quyết vụ việc dân sự chẳng hạn Thư ký tòa án (theo quy định tại Điều 51, BLTTDS), Kiểm sát viên (theo quy định tại Điều 58, BLTTDS) mà họ sẽ thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

2 Hội thẩm nhân dân có quyền tham gia vào việc giải quyết vụ án dân sự.

Nhận định này là sai

Không phải trong mọi trường hợp, hội thẩm nhân dân đều có quyền tham gia vào việc giải quyết

vụ án dân sự Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 11, BLTTDS 2015 về Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự:

“1 Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”.

Theo quy định trên, ta có thể thấy Hội thẩm nhân dân chỉ được tham gia vào việc giải quyết vụ án dân sự ở thủ tục sơ thẩm Do vậy, đối với các vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và theo thủ tục rút gọn thì Hội thẩm nhân dân không được tham gia vào việc giải quyết vụ án dân sự theo các thủ tục này

3 Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự.

Nhận định này là đúng

Trang 2

Căn cứ vào quy định tại Khoản 3, Điều 52, BLTTDS 2015 về Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng:

“3 Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ”.

Việc thẩm phán là người thân thích của người đại diện đương sự là một căn cứ cho thấy thẩm phán

có thể không vô tư khi thực hiện nhiệm vụ của mình nên theo khoản 3 Điều 52 BLTTDS 2015 Do vậy, thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp này để bảo đảm tính

vô tư của những người tiến hành tố tụng

4 Thẩm phán là người ghi biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Nhận định này là sai

Theo quy định tại Khoản 7, Điều 48, BLTTDS 2015 về Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán:

“7 Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này”.

Và quy định tại Khoản 4, Điều 51, BLTTDS 2015 về Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư kí Toà án:

“4 Ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng”.

Căn cứ vào các quy định trên, ta thấy nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán là tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, còn nhiệm vụ của Thư ký Tòa án là ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng Như vậy, thẩm phán không có nhiệm vụ ghi biên bản phiên họp mà chỉ kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và nhiệm vụ ghi biên bản phiên họp thuộc về Thư ký Tòa án

5 Đương sự là cá nhân chết thì Tòa án phải triệu tập người thừa kế của họ tham gia tố tụng.

Nhận định này là sai

Vì không phải trường hợp nào đương sự là cá nhân chết thì Tòa án cũng phải triệu tập người thừa

kế của họ tham gia tố tụng

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng:

“1 Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của

họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”.

Trang 3

Như vậy, chỉ trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự đã chết là quyền và nghĩa vụ về tài sản thì người thừa kế của họ sẽ phải tham gia tố tụng, còn đối với các quan hệ về nhân thân thì không có sự kế thừa về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, tức người thừa kế của họ không phải tham gia tố tụng

6 Người khởi kiện là nguyên đơn trong vụ án dân sự.

Nhận định này là sai

Không phải trường hợp nào người khởi kiện cũng là nguyên đơn trong vụ án dân sự Căn cứ theo qui định tại khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015 về Đương sự trong vụ việc dân sự:

“2 Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”

Theo quy định trên, ta thấy người khởi kiện ở đây có thể là người nộp đơn khởi kiện nhưng chưa chắc là người có quyền lợi bị xâm hại hay tranh chấp với bị đơn, mà nếu người khởi kiện này chỉ là người nộp đơn khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác thì người này sẽ không phải là nguyên đơn trong vụ án dân sự mà nguyên đơn sẽ là người được người đó khởi kiện thay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Cho nên, người khởi kiện chưa hẳn là nguyên đơn trong vụ án dân sự

7 Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị đơn.

Nhận định này là sai

Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn vẫn có thể trở thành bị đơn

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 68, BLTTDS 2015 về Đương sự trong vụ việc dân sự:

“3 Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.

Theo đó, bị đơn là người giả thiết có hành vi xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn hoặc bị đơn

có thể là người không có hành vi xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn nhưng pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại mà nguyên đơn có Căn cứ vào quy định tại Khoản 5 và 6, Điều 69, BLTTDS 2015, cụ thể tại các trường hợp người gây thiệt hại cho nguyên đơn là người chưa

đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự; đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ

Trang 4

mười lăm tuổi thì người đại diện hợp pháp của họ sẽ thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự Lúc này, người đại diện dù không gây thiệt hại cho nguyên đơn sẽ là bị đơn trong vụ án dân sự

8 Người chưa thành niên không thể trở thành người làm chứng trong tố tụng dân sự.

Nhận định này là sai

Người chưa thành niên vẫn có thể trở thành người làm chứng trong tố tụng dân sự

Căn cứ vào quy định tại Điều 77, BLTTDS 2015 về Người làm chứng:

“Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng Người mất năng lực hành vi dân sự không thể

là người làm chứng”.

Theo quy định trên thì chỉ có người mất năng lực hành vi dân sự mới không thể là người làm chứng Do vậy, khi thỏa điều kiện người chưa thành niên đó biết được các tình tiết có liên quan đến

vụ việc được đương sự đề nghị và được Tòa án triệu tập với tư cách là người làm chứng thì vẫn trở thành người làm chứng trong tố tụng dân sự

9 Khi có đương sự là người dân tộc, người nước ngoài tham gia tố tụng, bắt buộc phải có người phiên dịch cho họ.

Nhận định này là sai

Không phải trong mọi trường hợp, khi có đương sự là người dân tộc, người nước ngoài tham gia tố tụng, đều bắt buộc phải có người phiên dịch cho họ

Theo Khoản 1, Điều 81, BLTTDS 2015 về Người phiên dịch:

“1 Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt Người phiên dịch được một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch”.

Căn cứ vào quy định trên, trường hợp bắt buộc phải có người phiên dịch cho người dân tộc, người nước ngoài chỉ khi họ không sử dụng được tiếng Việt (tức họ không nói được và không viết được tiếng Việt) khi tham gia tố tụng Vì vậy người dân tộc, trong trường hợp người nước ngoài tham gia

tố tụng nhưng họ sử dụng được tiếng Việt (tức họ nghe được và nói được tiếng Việt) thì không nhất thiết phải có người phiên dịch

Trang 5

10 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác khi được đương sự ủy quyền.

Nhận định này là sai

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn có thể được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác khi không được đương sự ủy quyền

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 76, BLTTDS 2015 về Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự:

“4 Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này”.

Theo quy định trên, việc cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác là quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Do vậy, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn có thể được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia

tố tụng khác khi không có sự uỷ quyền của đương sự

II BÀI TẬP:

Câu 1: Năm 1976, ông N cho ông Q ở nhờ trên phần đất của mình có diện tích khoảng 300 m2 Năm 1994, ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông để lại thừa kế cho con ông là ông M Năm 2000, ông Q chết, con của ông là A tiếp tục ở trên phần đất này Năm 2008, ông M có nhu cầu sử dụng phần đất trên nên đã yêu cầu ông A giao trả đất lại cho ông nhưng ông A không đồng ý Ông M đã khởi kiện ông A ra Tòa án để đòi lại phần đất trên Sau khi Tòa án thụ lý, trong quá trình giải quyết, ông A thỏa thuận và cam kết trong thời hạn 01 năm sau, ông A sẽ di dời để trả lại phần đất trên cho ông M Ông M đã rút đơn khởi kiện và Thẩm phán B ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Sau đó, ông A đã khởi kiện ông M ra Tòa án

về việc tranh chấp phần đất đang ở Do các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa ra xét xử và Thẩm phán giải quyết vụ án này lại là Thẩm phán B Sau khi xét xử sơ thẩm, ông A kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết lại, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm trên và cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, do Thẩm phán B đã 2 lần giải quyết vụ án giữa ông M và ông A Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?

Trang 6

Hành vi tố tụng của Tòa án phúc thẩm trong trường hợp này là không phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều

26 BLTTDS 2015

Xét về tính chất của vụ án dân sự:

- Vụ án thứ 1 là: Ông M đã khởi kiện ông A ra Tòa án để đòi lại phần đất trên (Phần đất mà cha ông M đã cho cha ông A ở nhờ lâu nay)

- Vụ án thứ 2 là: ông A đã khởi kiện ông M ra Tòa án về việc tranh chấp phần đất đang ở (Cũng là diện tích phần đất ban đầu)

Cả 2 vụ án trên xảy ra đều cùng là về tranh chấp phần đất của ông N (cha ông M) Tuy nhiên, chủ thể khởi kiện là khác nhau, vụ án đầu là ông M khởi kiện ông A, vụ án 2 là ông A khởi kiện ông M, các đương sự của 2 vụ án này là khác nhau, vì thế đây không phải là cùng 1 vụ án

Vụ án 1 là Thẩm phán B giải quyết, vụ án 2 cũng là Thẩm phán B giải quyết, điều này không trái với thủ tục tố tụng trong BLTTDS theo quy định tại Khoản 3, Điều 53, BLTTDS 2015

Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì căn cứ cho rằng Thẩm phán B đã 2 lần giải quyết vụ án giữa ông M và ông A là không đúng Thẩm phán B không thuộc trường hợp phải thay đổi Thẩm phán tại Điều 52, 53 BLTTDS 2015 Đồng thời đây là 2 vụ việc khác nhau nên Thẩm phán B vẫn được quyền tham gia xét xử 2 vụ việc này

Câu 2: TAND thành phố Y thụ lý một vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T (nguyên đơn) và bà H (bị đơn) và Chánh án đã phân công cho một Thẩm phán B giải quyết Sau đó, Thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Một thời gian sau, Thẩm phán B được điều chuyển công tác về TAND tỉnh P, nên Chánh án TAND thành phố Y đã giao

vụ án cho Thẩm phán khác giải quyết

Sau phiên xử sơ thẩm của TAND thành phố Y, đương sự kháng cáo Thẩm phán B được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này Tại phiên tòa, đương sự yêu cầu thay đổi Thẩm phán

B Hội đồng xét xử tuyên bố hoãn phiên tòa để thực hiện việc thay đổi Thẩm phán B Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?

Hành vi tố tụng trên của Tòa phúc thẩm là hợp lý

Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều

26 BLTTDS 2015

Trang 7

Ban đầu, khi Toà án thụ lý vụ án trên thì đã giao cho thẩm phán B giải quyết Sau đó, thẩm phán B

đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Khi có kháng cáo của đương sự, thẩm phán B được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này

Theo khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015 về Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân:

“3 Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm”.

Trong tình huống trên, B là thẩm phán đã tham gia giải quyết vụ việc này theo thủ tục sơ thẩm và

B cũng đã ra quyết đình đình chỉ giải quyết đối với vụ việc này, mặt khác B cũng không là thành viên của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, Uỷ ban thẩm phán TAND cấp cao nên thuộc trường hợp thay đổi thẩm phán và B sẽ không được tiếp tục tham gia giải quyết vụ việc trên

Và theo quy định tại Khoản 2, Điều 56, BLTTDS 2015 về Quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định hoãn phiên toà khi phải thay đổi Thẩm phán

Câu 3: Chị Tiên kết hôn với anh Sỹ năm 1995, sinh được 3 con là Sử 1996, Sự 1998, Sáng 2008.

Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị Tiên nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, đơn này được Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án Trong đơn khởi kiện, chị Tiên yêu cầu được được ly hôn, được nuôi 3 con chung, không yêu cầu anh Sỹ cấp dưỡng, yêu cầu được chia 50% giá trị tài sản chung là căn nhà trị giá khoảng 7 tỷ tại quận 8 hiện anh chị và các con đang ở, yêu cầu anh Sỹ phải trả số nợ chung 2 tỷ đồng cho chủ nợ là ông Hùng Hỏi:

a Xác định tư cách của đương sự.

Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo Khoản 1, Điều 28, BLTTDS 2015

- Nguyên đơn: chị Tiên

Theo khoản 2, Điều 68, BLTTDS 2015 thì chị Tiên là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc ly hôn và chia tài sản với anh Sỹ Đồng thời, chị Tiên cũng đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi tố tụng dân sự theo khoản 3 Điều 69 BLTTDS

Trang 8

- Bị đơn: anh Sỹ

Theo khoản 3, Điều 68, BLTTDS 2015 thì anh Sỹ là người bị chị Tiên khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc ly hôn và chia tài sản Đồng thời, anh Sỹ cũng đáp ứng điều kiện về năng lực hành

vi tố tụng dân sự theo khoản 3 Điều 69 BLTTDS

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hùng

Theo Khoản 4 Điều 68 thì chị Tiên có yêu cầu anh Sỹ trả số nợ chung 2 tỷ đồng cho ông Hùng Điều này có liên quan đến quyền lợi của ông Hùng nên theo Khoản 2 Điều 68 BLTTDS, ông Hùng

là người có quyền và nghĩa vụ liên quan Đồng thời, anh Sỹ cũng đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi tố tụng dân sự theo khoản 3 Điều 69 BLTTDS

b Nguyên đơn, bị đơn có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng không?

Nguyên đơn, bị đơn không thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 85, BLTTDS 2015 về Người đại diện:

“Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”.

Đây là việc ly hôn giữa anh Sỹ và chị Tiên thì theo quy định trên, pháp luật không cho phép nguyên đơn, bị đơn được ủy quyền cho người khác thay mặt họ tham gia tố tụng Mặt khác, anh Sỹ

và chị Tiên cũng không thuộc trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết

ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân nên anh Sỹ và chị Tiên phải tự mình tham gia tố tụng

Câu 4: Bà Lan cho ông Tú vay 300 triệu đồng, không lãi suất, để mở cửa hàng bán thức ăn gia súc, thời hạn 2 năm, có hợp đồng tay ngày 10/10/2014 Do ông Tú không trả nợ vay, ngày 20/01/2017, bà Lan khởi kiện ông Tú đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu xét xử buộc ông Tú trả nợ vay 300 triệu đồng, không yêu cầu trả lãi Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông Tú có đơn yêu cầu bà Lan trả 40 triệu đồng tiền thức ăn gia súc bà Lan mua từ tháng 01/2014 đến tháng 7/2016 chưa trả, được Tòa án chấp nhận giải quyết trong cùng vụ án do bà Lan khởi kiện Hỏi:

a Xác định tư cách của đương sự.

Đây là tranh chấp về hợp đồng vay thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo Khoản 3, Điều

26, BLTTDS 2015

- Nguyên đơn: bà Lan

Trang 9

Theo khoản 2, Điều 68, BLTTDS 2015 thì bà Lan là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc ông

Tú trả khoản tiền 300 triệu đồng mà ông Tú đã vay từ bà Đồng thời, bà Lan cũng đáp ứng điều kiện

về năng lực hành vi tố tụng dân sự theo khoản 3 Điều 69 BLTTDS

- Bị đơn: ông Tú

Theo khoản 3, Điều 68, BLTTDS 2015 thì ông Tú là người bị bà Lan khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc trả tiền vay Đồng thời, ông Tú cũng đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi tố tụng dân sự theo khoản 3 Điều 69 BLTTDS

b Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tú trong cùng vụ án do bà Lan khởi kiện là đúng pháp luật không?

Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tú trong cùng vụ án do bà Lan khởi kiện là đúng pháp luật

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông Tú có đơn yêu cầu bà Lan trả 40 triệu đồng tiền thức ăn gia súc bà Lan Do đó, theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 200, BLTTDS 2015 về Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của ông Tú là yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn là

bà Lan Do vậy, nếu yêu cầu của ông Tú đưa ra tại thời điểm trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Toà án có thể chấp nhận giải quyết trong cùng vụ

án do bà Lan khởi kiện để giải quyết vụ án nhanh hơn

c Giả sử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là cháu rể của ông Tú Theo quy định của pháp luật, bà Lan cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là cháu rể của ông Tú nên giữa thẩm phán được phân công và ông Tú có quan hệ về mặt gia đình Do vậy, đây là một căn cứ rõ ràng để cho rằng thẩm phán có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nên theo quy định tại Khoản 3, Điều 52, BLTTDS

2015 thì Thẩm phán trong trường hợp này phải được thay đổi

Căn cứ vào quy định tại Khoản 14, Điều 70, BLTTDS 2015 về Quyền, nghĩa vụ của đương sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì bà Lan có thể yêu cầu thay đổi Thẩm phán trong trường hợp này

d Ông Tú có quyền ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng không?

Ông Tú có quyền ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng

Theo quy định tại Khoản 13, Điều 70, BLTTDS 2015 về Quyền, nghĩa vụ của đương sự, ông Tú có quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Cụ thể là uỷ quyền cho luật sư tham gia tố tụng

Trang 10

Tranh chấp giữa ông Tú và bà Lan là tranh chấp về hợp đồng vay thuộc trường hợp được được quy định tại Khoản 3, Điều 26, BLTTDS 2015 Do vậy, đây không thuộc trường hợp không được uỷ quyền tham gia tố tụng theo Khoản 4, Điều 85, BLTTDS 2015 Vì vậy, ông Tú có thể uỷ quyền cho Luật sự của mình tham gia tố tụng

Ngày đăng: 19/08/2018, 12:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w