1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu thuyết lịch sử của lan khai

179 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn 1930-1945 1945 trào lưu cách tân văn học diễn ra sôi nổi nhưng “trong cái mới vẫn còn rớt lại nhiều cái cũ” Một thời đại trong thi ca - Hoài Thanh với những quan niệm ngh

Trang 1

ĐỖ THỊ NHÀN

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Hà Nội - Năm 2020

Trang 2

ĐỖ THỊ NHÀN

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 9.22.01.20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRẦN MẠNH TIẾN

Hà Nội - Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêutrong luận án là trung thực, đảm bảo độ chính xác Các tài liệu tham khảo, trích dẫn cóxuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 09 năm 2020

Tác giả luận án

Đỗ Thị Nhàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báucủa các thầy cô, gia đình, anh chị em và bè bạn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Mạnh Tiến, người thầy

đã trực tiếp giảng dạy và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, hoànthành công trình nghiên cứu này

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giảng viên của Tổ Bộ môn Lí luận vănhọc, Khoa Ngữ Văn, Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tậntình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Hội đồng giáo dục trường THPTChuyên Trần Phú, Hải Phòng đã tạo điều kiện tốt để tôi học tập, nghiên cứu nângcao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, người thân, bạn bè, những người đã độngviên tôi trong quá trình tôi học tập và hoàn thành luận án

Hà Nội, tháng 09 năm 2020

Tác giả luận án

Đỗ Thị Nhàn

Trang 5

MỤC LỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới của luận án 5

6 Cấu trúc luận án 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử 6

1.1.1 Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử 6

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử trên thế giới 8

1.1.3 Các bài viết và công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam 13

1.2 Sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại 25

1.3 Tình hình nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông 26

1.3.1 Về nhà văn Lan Khai 26

1.3.2 Về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 30

1.4 Những vấn đề cấp thiết đặt ra trong nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 33

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT ĐẾN QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI 36

2.1 Về quan niệm của Lan Khai 36

2.1.1 Quan niệm về nhà văn 36

2.1.2 Quan niệm về văn học 39

Trang 6

2.1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết lịch sử của

Lan Khai 45

2.2 Quá trình sáng tác của Lan Khai 47

2.2.1 Sở trường sáng tác và thể tài tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 47

2.2.2 Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết lịch sử 49

2.2.3 Diễn trình sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 51

2.2.4 Tiểu thuyết lịch sử trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai và trong sự vận động của thể tài tiểu thuyết lịch sử Việt Nam 55

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3: TỪ HIỆN THỰC LỊCH SỬ ĐẾN BỨC TRANH NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI 63

3.1 Cảm hứng sáng tác trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 63

3.1.1 Ca ngợi truyền thống yêu nước của dân tộc 64

3.1.2 Ca ngợi cái đẹp, cái thiện 65

3.1.3 Phê phán xã hội phong kiến và chiến tranh phi nghĩa 67

3.2 Sự kiện trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 70

3.2.1 Sự hoán đổi ngôi vị của các triều đại phong kiến 70

3.2.2 Những cuộc nội chiến trong xã hội phong kiến 71

3.2.3 Những cuộc nổi dậy của nhân dân chống chế độ phong kiến 72

3.2.4 Những cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai 72

3.3 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 73

3.3.1 Nhân vật vua chúa, quan lại và tướng lĩnh 74

3.3.2 Nhân vật người anh hùng 79

3.3.3 Người phụ nữ trong xã hội phong kiến 85

3.3.4 Nhân vật binh sĩ và dân chúng 97

3.3.5 Nhân vật kẻ thù cướp nước và bán nước 102

Tiểu kết chương 3 106

Chương 4: CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ BIỆN PHÁP BIỂU HIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI 107

4.1 Sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 107

Trang 7

4.1.1 Nhân vật và sự kiện lịch sử 107

4.1.2 Nhân vật và tình huống hư cấu 111

4.2 Nghệ thuật kết cấu 115

4.2.1 Kế thừa và sáng tạo kết cấu của tiểu thuyết truyền thống 115

4.2.2 Kết cấu kiểu tiểu thuyết hiện đại 119

4.3 Các phương thức kiến tạo chân dung nhân vật 121

4.3.1 Qua giới thiệu tiểu sử, miêu tả ngoại hình 121

4.3.2 Khắc họa nhân vật qua hành động 123

4.3.3 Khắc họa tâm lí nhân vật 124

4.3.4 Qua bút pháp miêu tả thiên nhiên 128

4.4 Thời gian và không gian nghệ thuật 129

4.4.1 Thời gian nghệ thuật 129

4.4.2 Không gian nghệ thuật 131

4.5 Nghệ thuật trần thuật 138

4.5.1 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật 138

4.5.2 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật 140

KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC: DANH MỤC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN CỦA LAN KHAI

PHỤ LỤC: DANH MỤC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TIÊU BIỂU

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TTLS: Tiểu thuyết lịch sử

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Lan Khai là nhà văn nổi tiếng trong trào lưu cách tân văn học giai đoạnnửa đầu thế kỉ XX Sự nghiệp sáng tác của Lan Khai đa dạng về thể loại Đương

thời trong cuốn Nhà văn hiện đại (1942) nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã nhận

xét: Lan Khai là “lão tướng trong làng tiểu thuyết đang gắng tìm đường mới”.Nhiều tác phẩm của Lan Khai đã thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu

trong nước Thời gian gần đây thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn đường rừng cùng tên tuổi của Lan Khai đã được giới thiệu trên Tạp chí Quốc tế (ISSN 24103918) (tháng 7 năm 2019, tập 5, trang 2) của Học viện Kinh doanh hành chính, Luật và Khoa học xã hội châu Âu Tuy nhiên mảng TTLS của ông vẫn chưa được nghiên

cứu đầy đủ và hệ thống, mặc dù tính tới thời điểm hiện tại, ông là nhà văn có số

lượng tiểu thuyết lịch sử lớn nhất trong các nhà văn hiện đại Việt Nam (26 tác

phẩm) và là cây bút sớm có tinh thần tiên phong đổi mới, có ảnh hưởng lớn tới sángtác ở các giai đoạn sau

Trong giai đoạn 1930-1945 1945 trào lưu cách tân văn học diễn ra sôi nổi

nhưng “trong cái mới vẫn còn rớt lại nhiều cái cũ” (Một thời đại trong thi ca - Hoài

Thanh) với những quan niệm nghệ thuật mới, TTLS của Lan Khai đã làm sôi độngthêm không khí phê bình văn học, tạo ra những cuộc tranh luận xung quanh vấn đềlịch sử và hư cấu nghệ thuật, vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết v.v… Vớinhững đổi mới táo bạo, TTLS của Lan Khai đã có tác động mạnh mẽ đến không khíphê bình văn học đương thời và kích thích sự sáng tạo của các nhà văn về đề tài lịch

sử Tuy nhiên, do cái chết đầy bí ẩn của ông suốt thời gian dài chưa được công bốnên từ sau 1945 trở đi còn nhiều di cảo của Lan Khai và hàng chục TTLS của ôngchưa được tái bản, nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi đến bạn đọc Cho đến nay vẫnchưa có công trình nào có tính quy mô, toàn diện và hệ thống về thể tài TTLS củaLan Khai Vì vậy trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ tính

tiên phong trong hành trình cách tân thể loại của một cây bút tiểu thuyết giàu tài

năng và tâm huyết nửa đầu thế kỉ XX

Năm 2006, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ Kỷ niệm 100 năm sinh Lan Khai và Hội thảo Khoa học: Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại, Lan Khai được

hoàn nguyên, cho thấy di sản văn học của Lan Khai là rất lớn và các TTLS có vị tríquan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông và nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.Điều đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có một công trình nghiên cứu kịp thời, quy

mô và hệ thống, toàn diện các tác phẩm của nhà văn ở thể tài TTLS để thấy đượcnhững đóng góp của ông trong giai đoạn 1930 - 1945 và tiến trình phát triển của lịch

sử văn học dân tộc, đồng thời làm sáng tỏ thêm những vấn đề lí luận về thể loại.1.2 Những năm gần đây, TTLS của các nhà văn đất Việt đã vươn mình lớndậy với sự gia tăng không ngừng về số lượng tác phẩm và quy mô phản ánh, hình

Trang 10

thành nhiều khuynh hướng đa dạng, phong phú nên đã xuất hiện nhiều quan niệmnghệ thuật khác nhau trong sáng tác và tiếp nhận TTLS đã và đang trở thành tâmđiểm của thời sự văn học Trước trào lưu hội nhập quốc tế, ngày càng xuất hiệnnhiều công trình ứng dụng lý thuyết hiện đại phương Tây vào nghiên cứu văn họctrong đó có TTLS Tuy nhiên hệ thống lý thuyết về thể tài này còn khá khiêm tốn vàviệc giới thiệu ở trong nước còn phân tán, quan niệm về thể loại chưa thống nhất,sáng tác ngày càng diễn biến phức tạp lại tiếp tục nảy sinh nhiều cuộc tranh luận sôinổi xung quanh vấn đề lịch sử và hư cấu nghệ thuật.

Xuất phát từ thực trạng đó đòi hỏi chúng ta cần phải tìm hiểu những sáng tác

đã được trải nghiệm và cách tiếp cận thích hợp mới đem lại cái nhìn sáng rõ hơn về

sự hình thành phát triển của một thể tài văn học mang tính đặc thù trong nền vănhọc Việt Nam hiện đại Do vậy, chúng tôi chủ trương đi sâu nghiên cứu đề tài nàynhằm làm sáng tỏ những điểm mới mẻ, độc đáo trong TTLS của Lan Khai trênphương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Qua những thành quả nghiên cứuchúng tôi sẽ làm rõ thêm một số vấn đề lí thuyết về quan niệm sáng tác và thể loạinhằm góp thêm hướng tiếp cận toàn diện và hệ thống TTLS hiện nay

1.3 Công trình nghiên cứu của chúng tôi còn có ý nghĩa thiết thực trong việcgiảng dạy tích hợp môn Ngữ văn và Lịch sử trong Nhà trường Kết quả nghiên cứucủa công trình sẽ cung cấp thêm các tri thức lý luận và thực tiễn sáng tác đáp ứngnhu cầu mở rộng nhận thức của học sinh trong nhà trường phổ thông Nghiên cứuTTLS của Lan Khai góp phần làm cho bức tranh văn học sử Việt Nam toàn diệnhơn, giúp học sinh nhận thức lịch sử sâu sắc hơn, khơi dậy những cảm xúc thẩm mĩcho các em về truyền thống vẻ vang của dân tộc

Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trong nghiên cứu và học tập hiện nay cũng nhưgóp phần tổng kết các thành tựu tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ XX, chúng

tôi chọn đề tài Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lí

luận và thực tiễn sáng tác cũng như những đóng góp của Lan Khai trong hành trìnhđổi mới thể loại và hiện đại hóa nền văn học nước nhà giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát 20 TTLS tiêu biểu của

Lan Khai đã xuất bản và tái bản từ trước năm 1945 đến nay, bao gồm: Gái thời loạn, Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Ai lên phố Cát, Chế Bồng Nga, Bóng cờ trắng trong sương mù, Cánh buồm thoát tục, Đỉnh non Thần, Người thù của mặt trời, Gửi cái xuân tàn, Treo bức chiến bào, Chàng áo xanh, Tình ngoài muôn dặm, Trăng nước Hồ Tây, Trong cơn binh lửa, Thành bại với anh hùng, Rỡn sóng Bạch Đằng,

Ái tình và sự nghiệp, Chàng đi theo nước, Chàng kỵ sỹ ở cả hai bình diện nội dung

và hình thức Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra những kiến giải về sự vận động củaTTLS của Lan Khai trong quá trình sáng tác của ông và trong sự vận động của nềnvăn học hiện đại Việt Nam

Trang 11

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Công trình của chúng tôi tập trung đi sâu khảo sát 20 TTLS của Lan Khai (đã

nêu trong Đối tượng nghiên cứu), khi cần thiết chúng tôi có sự đối sánh với một số

TTLS tiêu biểu khác Đồng thời chúng tôi cũng quan tâm đến một số truyện ngắn,

kí về thể tài lịch sử của ông như: Sóng nước lô Giang, Mũi tên dẹp loạn, 8023; kết

hợp liên hệ với một số TTLS Việt Nam tiêu biểu và TTLS nước ngoài để nhìnnhận vấn đề nghiên cứu toàn diện hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ ý thức nghệ thuật vàthành quả đổi mới trong TTLS, những đóng góp quan trọng của Lan Khai đối với

sự phát triển của TTLS Việt Nam hiện đại trong trào lưu cách tân văn học 1930

-1945 Dựa trên lí thuyết về thể loại và thực tiễn sáng tác, chúng tôi chỉ ra quan niệmnghệ thuật, vốn văn hóa, cá tính sáng tạo của nhà văn, các nguồn ảnh hưởng,phương thức cách tân, các hình thức kết cấu tác phẩm, các nhân tố tạo nên thành tựunghệ thuật mới của Lan Khai, từ đó rút ra nhận định về lí luận và sáng tác

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ những bình diện cơbản sau:

Khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về TTLS trên thế giới và ởViệt Nam để liên hệ tới những sáng tác của Lan Khai Tổng hợp lại những kết quảnghiên cứu tiêu biểu về nhà văn Lan Khai và TTLS của ông Trên cơ sở đó, chúngtôi khảo sát quan niệm nghệ thuật và quá trình sáng tác TTLS của Lan Khai trongnền văn học Việt Nam thời kì đầu thế kỉ XX

Từ cơ sở lí luận, chúng tôi đi sâu phân tích, lý giải một số đặc trưng TTLS của Lan Khai ở các bình diện cảm hứng sáng tác, các sự kiện lịch sử và thế giới nhân vật để làm nổi rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn và những nhân tố chi phối

những sáng tác của ông

Khảo sát và chỉ ra một số phương thức và phương tiện biểu hiện nghệ thuậttrong TTLS của Lan Khai ở các bình diện như: nghệ thuật hư cấu, tổ chức kết cấu,việc lựa chọn cốt truyện và sự kiện; kiến tạo chân dung nhân vật, vấn đề không gian

và thời gian, nghệ thuật trần thuật; ngôn ngữ và giọng điệu trong TTLS của nhàvăn Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ ra những thành quả đổi mới về thể loại và nhữngđóng góp của Lan Khai cho sự phát triển rực rỡ của TTLS Việt Nam đương đạicũng như những thành công và những hạn chế trong TTLS của ông

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý thuyết

Trong điều kiện tồn tại nhiều hệ hình lý thuyết văn học đa dạng và phong phúhiện nay, chúng tôi chủ trương lấy học thuyết duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

Trang 12

của chủ nghĩa Mác Lê - nin làm nền tảng, đồng thời kết hợp với những tri thức của

lí thuyết phương Tây hiện đại để làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật trong TTLScủa Lan Khai Trong đó, chúng tôi chú ý tới đặc trưng của thể loại TTLS, ý thứccách tân nghệ thuật của nhà văn, kết cấu cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, tính chấtgiao thoa thể loại, vấn đề không gian, thời gian v.v Đồng thời chúng tôi cũng liên

hệ với những vấn đề lí luận của các trường phái văn học phương Tây như Trường phái văn hóa lịch sử, Phân tâm học, Chủ nghĩa Siêu thực, Lí thuyết tự sự học, Kí hiệu học đã ảnh hưởng ít nhiều tới sáng tác của nhà văn, cho thấy sự kế thừa và

sáng tạo, đổi mới cách nhìn lịch sử của tác giả trong sự vận động của thể loại;những đột phá của Lan Khai trong việc lựa chọn đề tài, chủ đề, khắc họa nhân vậtv.v… tạo dấu ấn riêng vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, chúng tôi chủ trương

phối hợp đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:

4.2.1 Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng: Chúng tôi sẽ đặt

các TTLS của Lan Khai vào hoàn cảnh sáng tác cụ thể trong giai đoạn 1930 - 1945

để khảo sát, đồng thời có liên hệ tới các giai đoạn trước và sau đó, nhằm lí giảinhững nguyên nhân và kết quả sáng tạo của ông Đây là phương pháp nghiên cứuchủ đạo nhằm khảo sát toàn diện cả về nội dung và hình thức nghệ thuật TTLS củaLan Khai

4.2.2 Phương pháp hệ thống: Chúng tôi sẽ tập hợp các TTLS của Lan Khai

thành hệ thống và khảo sát để thấy được quan niệm nghệ thuật, sở trường khám phálịch sử và những sáng tạo riêng, thể hiện tính tiên phong về nghệ thuật tiểu thuyếtcủa ông

4.2.3 Phương pháp so sánh: Trong quá trình khảo sát, khi cần thiết chúng tôi

có liên hệ, đối chiếu TTLS của Lan Khai với một số TTLS tiêu biểu thời kì trungđại và của các nhà văn cùng thời, với TTLS đương đại và nước ngoài để thấy rõnhững điểm mới, những sáng tạo độc đáo của nhà văn ở thể tài này

4.2.4 Phương pháp phân loại: Chúng tôi sẽ phân loại các kiểu dạng nhân vật,

sự kiện, kết cấu tác phẩm cho thấy các góc nhìn khác nhau về lịch sử trong tácphẩm của Lan Khai

4.2.5 Phương pháp liên ngành: Chúng tôi tiến hành phân tích mối tương đồng

và khác biệt giữa lịch sử với văn học trong một nền văn hóa nhằm chỉ ra tính đặcthù thẩm mĩ của văn chương và hiện thực trong quá khứ

4.2.6 Phương pháp loại hình: Chúng tôi đặt các TTLS của Lan Khai trong

cùng hệ thống nhằm xác định những đặc trưng về kiểu dạng kết cấu và chức năngvới cái nhìn bao quát về mô hình sáng tạo dựa trên các phương diện nội dung vàhình thức nghệ thuật

Ngoài những phương pháp trên, luận án của chúng tôi còn sử dụng linh hoạt

một số phương pháp tiếp cận khác như: Văn hóa học, Nữ quyền luận, Chủ nghĩa

Trang 13

tân lịch sử, Lí thuyết liên văn bản để hoàn thiện mục tiêu nghiên cứu Đồng thời

chúng tôi sẽ chú trọng sử dụng các thao tác phân tích tác phẩm để đi sâu khám phá

tư tưởng và bút pháp nghệ thuật của nhà văn, vừa soi sáng lí thuyết thể loại vừakhẳng định tinh thần đổi mới mạnh mẽ của Lan Khai ở thể tài này

5 Đóng góp mới của luận án

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính quy mô và hệ thống về TTLS củaLan Khai trên các phương diện quan niệm sáng tác, cảm hứng, sự kiện, nhân vật;đồng thời làm sáng tỏ những đổi mới trong sáng tạo mang tính đột phá của ông vềcác phương thức và biện pháp nghệ thuật, về tạo dựng cốt truyện, miêu tả nhân vật,

sử dụng ngôn ngữ và kết cấu thời gian, không gian nghệ thuật Chúng tôi chỉ ra conđường sáng tạo riêng của Lan Khai, những dấu ấn độc đáo và những cống hiến củaông trong công cuộc cách tân văn học giai đoạn 1930 - 1945 ở mảng sáng tác này.Luận án đã làm nổi bật tư tưởng và các phương thức sáng tạo nghệ thuật mớicủa Lan Khai đã vượt thoát lối mòn truyền thống, tạo nên những phẩm chất mới chonền văn học dân tộc và có ảnh hưởng nhất định tới TTLS Việt Nam đương đại Từ

đó, làm rõ hơn các vấn đề lý thuyết từ cách tiếp cận, lựa chọn sự kiện lịch sử; vấn

đề hư cấu khi phản ánh lịch sử; quan niệm về nhân vật lịch sử trong thời đại mớicũng như những đổi mới về thi pháp nghệ thuật trong TTLS của Lan Khai

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của

luận án bao gồm 4 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Từ quan niệm nghệ thuật đến quá trình sáng tác trong tiểu thuyết

lịch sử của Lan Khai

Chương 3 Từ hiện thực lịch sử đến bức tranh nghệ thuật trong tiểu thuyết

lịch sử của Lan Khai

Chương 4 Các phương thức và biện pháp biểu hiện nghệ thuật trong

tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử

1.1.1 Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử viết về các sự kiện và nhân vật của thời kì quá khứ nhưngkhông đồng nhất với cách viết của nhà sử học Nếu các sử gia mô tả lịch sử mộtcách khách quan bằng ngòi bút biên niên sử thì nhà văn gửi gắm cái nhìn chủ quan

và cảm xúc của mình trước hiện thực lịch sử Người nghệ sĩ nhạy cảm với nhữngchuyển biến lịch sử, nên quá khứ lịch sử được tái tạo sống động “thêm da thêm thịt”bởi tính uyển chuyển của nghệ thuật văn chương Là kết quả giao thoa giữa văn học

và sử học, TTLS thể hiện sự hấp dẫn, độc đáo trong việc nhận thức, phản ánh hiệnthực và khao khát khám phá, lí giải lịch sử của mọi người

TTLS Việt Nam hình thành và phát triển từ thời kì trung đại và không ngừnglớn mạnh từ đầu thế kỉ XX cho đến nay Suốt thời kì văn học trung đại, thể tài này

có mầm mống từ loại hình văn xuôi và mô hình tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, chủyếu sáng tác theo nguyên tắc mô phỏng lịch sử với hình thức chương hồi Đến giai

đoạn đầu thế kỉ XX mặc dù vẫn bị chi phối bởi quan niệm văn - sử - triết bất phân

nhưng TTLS Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và có giá trị nhiều hơn về văn hóanghệ thuật Càng về sau các tác giả càng tăng thêm yếu tố hư cấu, tưởng tượngkhiến thể loại này có sự chuyển mình mạnh mẽ thích ứng với nhu cầu tiếp nhận mớicủa người đọc Do vậy, lịch sử từ chỗ là những chứng tích trong quá khứ đã trở thànhnhân tố cho sự thăng hoa cảm xúc sáng tạo của người nghệ sĩ Đến thời kì đổi mới, đặc

biệt là trong những năm gần đây, TTLS phát triển rực rỡ đã tạo nên cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Như vậy, loại hình nghệ thuật độc đáo này đã phát

triển qua một chặng đường dài và càng ngày càng chứng tỏ sức hấp dẫn đặc biệt của

nó, đáp ứng nhu cầu khám phá lịch sử của con người đương đại Đáng chú ý, trongnhững năm gần đây sự biến đổi của tình hình văn hóa và thực tiễn sáng tác cùng với sựxuất hiện các hệ thống lí thuyết mới ở phương Tây như chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩatân lịch sử, chủ nghĩa hậu thực dân, chủ nghĩa hậu hiện đại thì không khí tranh luận vềthể tài này càng trở nên sôi nổi với nhiều ý kiến khác nhau Song song với sự ra đời cáctác phẩm mới thì cũng xuất hiện các quan niệm mới về TTLS

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (1992) của nhóm tác giả Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử có nhận định: “TTLS là các tác phẩm viết về đề tài lịch sử, chứa đựngcác nhân vật và chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và các sự kiện chính thìđược sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói,trang phục, phong tục tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm lịch sửthường mượn chuyện đời xưa để nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học trongquá khứ, bày tỏ sự đồng cảm đối với con người và thời đại đã một đi không trở lại.Song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể

Trang 15

loại này” [40; tr 352] Qua đó, các tác giả đã chỉ ra sự khác biệt cơ bản về đề tài vàcách thức phản ánh lịch sử của thể tài này so với các hình thức nghệ thuật khác vàthừa nhận sự kết hợp giữa lịch sử và hư cấu là đặc tính tất yếu tạo nên sức sốngvượt thời gian của TTLS.

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (1999) của tác giả Lại Nguyên Ân có nêu ý

kiến: “TTLS là tác phẩm tự sự hư cấu, lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính, lịch sửtrong ý nghĩa khái quát là quá trình phát triển tự nhiên của xã hội Các Khoa học Xãhội đều nghiên cứu quá khứ loài người trong tính cụ thể và đa dạng của nó Tuyvậy, những tiêu điểm chú ý của các sử gia cũng như các nhà văn khi quan tâm đến

đề tài lịch sử thường là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các quốc gia, dântộc, những biến cố lớn lao trong đời sống xã hội của cộng đồng, quốc gia, trong cácmối quan hệ của quốc gia như chiến tranh, cách mạng, cuộc sống và sự nghiệpcủa các nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử” [5; tr 262] Theo đó, các tácgiả cũng thừa nhận hư cấu là yếu tố tiên quyết của hoạt động sáng tạo nhưng vẫnnhấn mạnh nội dung trọng tâm là phản ánh các sự kiện, biến cố trọng đại hoặc cácnhân vật có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của lịch sử

Bên cạnh đó, bản thân những người sáng tác TTLS cũng bày tỏ những quan

điểm khác nhau Trong bài viết Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Tiểu thuyết lịch sử là sự

giải mã lịch sử của tác giả Cao Minh, trên báo Báo Sài Gòn giải phóng.org.vn có

nêu ý kiến của nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Lịch sử không bày, đặt sẵn mà lịch sử

chỉ giữ lại cho ta những tín hiệu, chẳng khác những mật mã Công việc của nhà văn

chính là giải mã lịch sử Chìa khóa để giải mã chính là sự trung thực của nhà văn và

những thẩm thấu văn hóa mà nhà văn tiếp nhận được Tiểu thuyết nói chung, kể cảTTLS đều phải lấy hư cấu làm phương tiện nghệ thuật và TTLS cũng không cóngoại lệ Cũng không có nghĩa là sự bịa tạc, mà là sự tìm tòi đi đến chân thực Sựthật lịch sử trong TTLS đáng tin cậy hơn vì nó được giải mã, nó có cuộc sống”[105] Như vậy, tác giả Hoàng Quốc Hải cũng coi hư cấu là một thuộc tính nổi bậtcủa thể tài này nhưng phải trong chừng mực nhất định, không được xuyên tạc lịch

sử Trong cách luận giải này, tác giả vẫn đặt ra yêu cầu đối với người sáng tác làphải tôn trọng chân lí lịch sử

Tác giả Nguyễn Văn Dân trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, một số xu hướng chủ yếu (http://vjol.info.vn) đã trích dẫn ý kiến của nhà TTLS

Thái Vũ: “Khi tôi nói tôi viết TTLS sự thật là tôi không viết tiểu thuyết mà tôi viếtlịch sử, trước hết phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử” [21] Như vậy, theo Thái

Vũ thì trung thực với lịch sử là nguyên tắc sáng tác và mục tiêu cần hướng tới củanhà văn

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trong bài viết Vài suy nghĩ về tiểu thuyết lịch sử

đã luận giải: “Những TTLS của chúng ta ngày nay đều chịu ảnh hưởng của phươngTây, tức là viết dưới quan niệm của Aristote Nghĩa là có sự phân biệt rõ ràng giữanhà chép sử và nhà TTLS Ðã là tiểu thuyết thì phải hư cấu, dù đó là TTLS, hư cấu

Trang 16

là đặc trưng của tiểu thuyết Hư cấu là đặc quyền của nhà văn” [79] Ông cũng chỉrõ: “TTLS không phải là sự kể lại lịch sử, minh họa lại lịch sử mà là phản ánhnhững vấn đề của con người trong biến cố lịch sử Người viết không hẳn đã dựnglại được lịch sử ngày xưa, điều cốt yếu là thuyết phục người đọc” [79] Nhà vănNguyễn Xuân Khánh coi tính hư cấu là một “đặc quyền” của người sáng tác và vìthế tác phẩm không bị lệ thuộc vào sự độc quyền của tư duy lịch sử

Trong bài viết Tác giả Trường An: Lịch sử ghi chép rất lạnh lùng của Thu

Hiền có nêu ý kiến của cây bút trẻ Trường An: “Lịch sử chỉ ghi chép số liệu mộtcách khô khan, nhiệm vụ của người viết TTLS là phải thêm da thêm thịt cho nhânvật” [50] Theo đó, TTLS đi liền với hoạt động hư cấu, sáng tạo để làm sống dậycác sự kiện và nhân vật lịch sử

Như vậy, tất cả các lập luận trên cho dù chưa hoàn toàn thống nhất nhưng đềudựa trên thực tiễn sáng tác và tính đặc thù của thể loại Xuất phát từ thực tiễn nghiên

cứu, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu như sau: TTLS là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết với những tài liệu của sử học trên cơ sở lấy lịch sử làm đề tài và tôn trọng sự kiện, nhân vật lịch sử Tác phẩm đưa ra những kiến giải sâu sắc về lịch sử, về cuộc sống bù lấp vào những khoảng trống của sử học Trong TTLS, hư cấu nhằm phản ánh lịch sử ở cả bề rộng, bề sâu và làm sống động bức tranh lịch sử, tăng tính chân thực nghệ thuật trong tiểu thuyết.

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử trên thế giới

TTLS là cầu nối gắn văn học với hiện thực đời sống đã có trong sự vận động

xã hội của nhân loại Vì vậy, các sáng tác về đề tài lịch sử nói chung và TTLS nóiriêng đã, đang và sẽ có chỗ đứng quan trọng trong văn học và thực tiễn đời sốngcủa con người Trải qua các thời kì lịch sử, cách văn học phản ánh lịch sử cũng cónhiều thay đổi Khi “Chủ nghĩa tân lịch sử”, “Chủ nghĩa hậu hiện đại” ra đời thìhầu như các thể loại văn học đều có những đổi thay Trong phạm vi lý thuyết cácnhà nghiên cứu chú ý hơn đến các thể tài tự sự khác, còn những biến đổi củaTTLS vẫn chưa được quan tâm toàn diện và sâu sắc Chúng tôi xin được trích lượcnhững ý kiến tiêu biểu của một số nhà nghiên cứu lý luận phê bình và nhà vănnước ngoài như sau:

Tiểu thuyết lịch sử (1937) của G Lukacs (Hungari) là công trình nghiên cứu chuyên sâu về TTLS Trong chuyên luận này, G Lukacs cho rằng “thể tài này ra

đời vào đầu thế kỷ XIX (khoảng thời gian Napoléon sụp đổ và chủ nghĩa tư bản ra

đời với tư cách là một cấu trúc kinh tế), đánh dấu bởi tác phẩm Waverley của tiểu

thuyết gia người Scotland Walter Scott (1771 - 1832), góp phần khẳng định cảmthức lịch sử như một tiến trình” Ông kỳ vọng: TTLS phải tái trải nghiệm (re-experience) tâm lý và đạo đức của con người quá khứ như một giai đoạn phát triểncủa nhân loại, có liên quan đến con người đương đại G Lukacs cũng nhấn mạnhvai trò của “sự sai lệch thời gian cần thiết” (necessary anachronism) hay hư cấutrong TTLS Hư cấu cho phép “các nhân vật diễn đạt tình cảm, tư tưởng về các

Trang 17

quan hệ lịch sử có thực rõ nét hơn những con người của thời ấy đã từng trảinghiệm” nhưng phải luôn xác thực về mặt lịch sử, xã hội” (Dẫn theo Nguyễn Nam,

Cái chết của tác giả (tiểu thuyết lịch sử)? Những vấn đề nhân đọc Hoàng Việt xuân

thu, Nguồn: vanhoanghean.com.vn) G Lukacs phát triển thêm: “Không chỉ tiểu

thuyết nói chung, mà TTLS phải đạt tới chiều sâu của triết lí lịch sử TTLS khôngchỉ bảo đảm việc miêu tả hoàn cảnh duy trì được không khí lịch sử, mà quan trọnghơn là miêu tả trung thực bằng nghệ thuật một thời kì lịch sử cụ thể” [24; tr 299]

Từ đó, G Lukacs lý giải: “Việc mô tả hiện thực của một thời kì lịch sử có thể thànhcông qua việc mô tả đời thường của nhân dân, nỗi đau và niềm vui sướng của nhữngcon người bình thường Trong lĩnh vực xây dựng TTLS, tài năng bộc lộ qua việc phảnánh những nguyên nhân dẫn đến sự thật trong trái tim con người, những sự thật màbiến động của chúng đã bị giới sử học bỏ qua Các nhân vật của TTLS phải sinh độnghơn các nhân vật lịch sử, vì các nhân vật của TTLS được trao cho sự sống còn các cánhân lịch sử thì đã sống” [24; tr 62] Đó là do nhà sử học chỉ quan tâm sự kiện hoặcnhân vật bao trùm lịch sử, nhưng chính nhà văn mới quan tâm tới con người cá nhântrong những cơn biến động lịch sử Những luận điểm sắc bén của G Lukacs có tính

mở đường cho việc xác lập những đặc trưng tiêu biểu của loại hình nghệ thuật này dựatrên nguyên tắc sáng tác, mục đích nghệ thuật, khác với tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyếtkỳ ảo, tiểu thuyết viễn tưởng

Nhà lí luận Nga G Lenobl trong công trình Lịch sử và văn học (1960) nêu ra

ba tiêu chí của TTLS: “Một là nhân vật và sự kiện lịch sử Hai là nguyên tắc haychủ nghĩa lịch sử, tức là cho thấy sự xung đột các thời đại, sự quá độ các giá trị Ba

là nội dung của tiểu thuyết phải là hiện thực đã qua, mà tác giả và người đọc khôngphải là người đương thời của hiện thực đó Người đọc luôn cảm thấy có một sự

khác thời” (Dẫn theo Trần Đình Sử, Về tiểu thuyết lịch sử, nguồn:

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn) Như vậy, quan niệm nổi bật của G Lenobl làcoi tính xác thực của sự kiện và nhân vật phù hợp với sách sử là tiêu chí căn bảntrong nguyên tắc sáng tác Vi phạm điều này coi như thủ tiêu tính chất căn cốt củathể loại Tuy nhiên ý kiến của ông còn khá “cứng nhắc” bởi trong thực tế sáng tácluôn có sự mở rộng và xê dịch cách nhìn về con người và sự kiện lịch sử, nếukhông, tác phẩm khó tránh khỏi sự phỏng chép lịch sử một cách khiên cưỡng, vụng

về và thiếu đi tính uyển chuyển của nghệ thuật văn chương

Hai tác giả Drothy Brewster và John Angus Burrell trong cuốn sách Tiểu thuyết hiện đại (1971) cũng đã thể hiện quan niệm riêng về TTLS: “TTLS có thể

thoát thai từ ao ước của một tác giả muốn đào thoát khỏi hiện tại, đồng thời thỏamãn ước ao tương tự của độc giả Nhưng TTLS còn có nhiều tác dụng nữa Nó cóthể soi sáng những thời kì quá khứ con người đã qua, với những mục đích rõ ràng làgạn lọc những tình trạng tiến thoái lưỡng nan của hiện tại Nó giúp ta làm bảng sosánh, đối chiếu thời đại nọ với thời đại kia” [12; tr 213] Như vậy, TTLS vừa là kếtquả sáng tạo của nhà văn vừa là tư liệu khai sáng quá khứ

Trang 18

Hayden White, một trong những nhà lí luận của chủ nghĩa Tân duy sử bàn về

“siêu lịch sử” (metahistory) đã thể hiện cảm quan hậu hiện đại khá rõ nét Từ luậnđiểm nền tảng đó ông triển khai toàn bộ tư tưởng của mình: “Lịch sử như là tự sự”[130; tr 38] Hayden White khẳng định: “Để cho câu chuyện lịch sử hoàn chỉnh, cólogic sử học cũng phải hư cấu, và có bốn phương thức tu từ của tự sự lịch sử: lãngmạn khi kết thúc tốt đẹp; bi kịch khi thất bại bi đát, hài kịch, khi nhân vật lịch sửđóng vai hề, và châm biếm, khi một kẻ ngu dốt đóng vai vĩ nhân” [130; tr 117].Với mô hình đó, cách thể hiện lịch sử có nhiều mặt tương đồng với diễn ngôn vềlịch sử Lí thuyết lịch sử này được gọi là “thi pháp học văn hóa” Quan niệm trênkhác với ý kiến của Aristote, rằng ông chỉ nói đến “sự thật xảy ra” mà chưa thấyviệc diễn ngôn về lịch sử Muốn biểu hiện các tiềm năng của lịch sử trong tính chânthực đã làm cho lịch sử và tiểu thuyết gần nhau Tuy nhiên không có nghĩa là sử học

và tiểu thuyết sẽ đồng nhất Câu hỏi thứ ba của Hayden White: “Lịch sử nằm ở vị trínào trong hệ thống tri thức của nhân loại? Câu trả lời là “lịch sử nằm giữa khoa học

và nghệ thuật, và vì vậy nó mang bản chất hư cấu và tràn đầy định kiến” [130; tr.48] Quan niệm mới của Hayden White về lịch sử kích ứng trào lưu đối thoại lịch

sử, tìm lại lịch sử và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thể tài TTLS

Tác giả Karl Popper (1902 - 1994), một trong những triết gia có ảnh hưởng

nhất thế kỉ XX, trong cuốn Sự nghèo nàn của thuyết sử luận (2012, Chu Lan Đình

dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội) đã nhận ra: “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” bởi “họ”(các nhà sử luận) không nhìn ra sự cần thiết của tính đa dạng trong những cách diễngiải (lịch sử) về cơ bản tương đương nhau (cho dù một số trong những cách diễngiải ấy có thể nổi bật lên nhờ vào tính phong phú của chúng - một điều ít nhiều có ýnghĩa)” [125; tr 257] Như vậy, những lập luận của Karl Popper nhấn mạnh tới tính

đa dạng của cách diễn giải lịch sử trong các thời đại có vai trò quan trọng làmphong phú bức tranh lịch sử

Khi bàn về diễn ngôn qua các thời đại cụ thể trong lịch sử, Michel Foucaultcũng trình bày một số kiến giải mới về lịch sử có ý nghĩa làm phong phú thêm lí

thuyết thể loại Trong tác phẩm Triết học và mỹ học phương Tây hiện nay (1992,

Nxb Văn hóa, Hà Nội) có trích dẫn quan điểm của Michel Foucault: “Lịch sử là một

sự đứt đoạn” [116; tr 216] Nghĩa là khi đề cập đến sự diễn giải lịch sử, ông tánthành quan điểm coi “lịch sử như là một diễn ngôn” của Hayden White và bổ sungthêm luận điểm rất độc đáo Do vậy sẽ không có một sự trần thuật liền mạch màchúng ta giải mã trong dòng chảy lịch sử Đây là đóng góp quan trọng của MichelFoucault thúc đẩy tinh thần khám phá lịch sử, khai thác và kết nối những chỗ “đứtgãy” của lịch sử, thúc đẩy sự sáng tạo của nhà văn khi tiếp cận các đề tài lịch sử.Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX các nhà tư tưởng như P Valery, M.Heidegger cho đến J-P Sartre, C Levis Strauss và Michael Foucault đã bày tỏ sự

hoài nghi lịch sử như một khoa học khách quan Khi TTLS chưa phát triển thì

không phải chỉ có lịch sử tồn tại trong các ghi chép của sử gia mà đã được phản ánh

Trang 19

dưới nhiều hình thức khác như hình thức dã sử bổ sung hoặc đính ngọa chính sử.Mặt khác, khi đã khởi sắc rực rỡ cả về số lượng và chất lượng thì tiềm năng khaithác lịch sử của nó còn rộng và sâu hơn chính sử thậm chí còn xác lập những quanniệm mới về lịch sử Do vậy, nếu coi thể tài này chỉ là minh họa hoặc văn chươnghoá lịch sử thì đồng nghĩa với việc chưa đánh giá đầy đủ chức năng của TTLS, cònphiến diện trong cách nhìn nhận quy luật vận động và phát triển bên trong của thể

loại văn học Đó cũng là lí do khiến Iu Lotman trong bài Về bản chất của nghệ thuật phát biểu: “Sự thật lịch sử là sự thực hiện một trong vô vàn khả năng của hiện

thực quá khứ, sự thật đó đã làm cho vô vàn các khả năng lịch sử khác mất cơ hộiđược thực hiện, mà thiếu chúng, ta khó mà hiểu hết hiện thực” [94; tr 108]

Trong cuốn Nghệ thuật thi ca thời cổ đại Hi Lạp, Aritstote cho rằng: “Nhà sử

học nói về những điều xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói về những điều có thể xảy

ra” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133] Còn nhà văn Nga M Gorki (Nghệ thuật thi ca)

nhấn mạnh: “Lịch sử đích thực của con người phải do nhà văn viết chứ không phải

do nhà sử học viết” (Tiềm năng giáo dục nhân văn của tiểu thuyết lịch sử - Zolina

E N, Tạp chí của IEGU, tập 1, năm 2006, tr 1) [133] Hoặc tác giả trích dẫn quanđiểm của nhà mĩ học Đức F W Schelling: “Xem quá khứ là một nghệ thuật lịch

sử” (Triết học nghệ thuật của Schelling - Nguyễn Huy Hoàng dịch, Tạp chí Triết học, số 9, ngày 15 tháng 2 năm 2009) [135] Còn nhà triết học Ý Benedetto Croce (Lý thuyết và lịch sử của khoa ký sử, 1912) có nhận định: “Khái niệm lịch sử phù hợp với khái niệm chung về nghệ thuật” [134] Còn F Engels trong cuốn Triết học lịch sử (1939) lập luận: “Lịch sử thế giới là một nàng thơ vĩ đại, mở đầu là bi kịch,

kết thúc là hài kịch” [133] Các ý kiến trên đều nhấn mạnh tiềm năng của thể tài nàytrong việc tái tạo tính cách, tâm lí con người vốn mờ nhạt trong sử học Nhà văn,

viện sĩ André Maurois (1885-1967), Viện Hàn lâm Pháp có viết trong cuốn Lịch sử nước Pháp (1940): “May nhờ có Alexandre Dumas, cả thế giới bao gồm cả người

Pháp mới hiểu về lịch sử nước Pháp, cho dù lịch sử ấy chưa hẳn là chính xác tường

tận nhưng ít ra cũng không phải là vô căn cứ” (Dẫn theo Hiền Thương, Khi bạn chọn đọc ngôn tình để hiểu thêm về lịch sử, http://tuoitre.vn) Theo đó, lịch sử được

xem là yếu tố tồn tại khách quan, là cơ sở để nhà văn sáng tạo

Cùng quan điểm trên, tác giả Milan Kundera trong công trình Nghệ thuật tiểu thuyết (1998) đã chỉ ra sự khác biệt giữa nhà văn và nhà sử học: “Nhà sử học kể lại

các sự kiện đã xảy ra, còn nhà tiểu thuyết nắm bắt một khả năng của cuộc sống, khảnăng của con người và thế giới Nhà TTLS ghi nhận những kinh nghiệm nhân loại

mà sử gia không quan tâm hoặc không thấy giá trị Chính điều đó làm ngã bổ nhữngđịnh kiến chắc chắn, chính thống, làm sụp đổ những khái niệm vĩnh hằng của thếgiới vững tin đã định hình yên chí, nhất thành bất biến và thám hiểm những mặtkhác của vạn vật” [80; tr 135] Ông nhấn mạnh quyền năng của người sáng tác:

“Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũng chẳng phải nhà tiên tri: anh ta làngười thám hiểm cuộc sống” [80; tr 51] Như vậy kiến giải của Milan Kundera

Trang 20

thống nhất với các quan điểm trên khi nhấn mạnh hư cấu là một thuộc tính tất yếucủa TTLS.

Trong công trình Mỹ học của F Heghen (1999, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội)

có nêu ý kiến của nhà phê bình Biêlinxki: “Chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn về cái

đã qua để chúng ta giải thích hiện tại và chỉ ra tương lai cho chúng ta” [44; tr 58].Như vậy, lịch sử là căn nguyên nhận thức khám phá hiện thực Hay như chính trịgia kiêm nhà văn của nước Anh là George Otto Trevelyan (1838-1928) trong cuốn

Lịch sử xã hội Anh (1922) cũng bày tỏ sự hoài nghi về quá khứ: “Lịch sử không có

giá trị khoa học thực sự, mục đích duy nhất của lịch sử là giáo dục con người” [Dẫntheo Trần Đình Sử; 135] Cả hai ý kiến này lại thiên về việc nhấn mạnh vai trònhận thức, giải mã lịch sử và chức năng giáo huấn của TTLS Các quan niệm đócho thấy lịch sử và tiểu thuyết có nhiều điểm giao thoa Cả hai đều tồn tại như làtruyện kể, đều là ý thức xã hội Cả hai đều dùng tư liệu và tưởng tượng để tái hiệnquá khứ và bù đắp vào chỗ đứt gẫy, chỗ trống vắng trong sử học Song thực tế chothấy, không có căn nguyên hiện thực từ quá khứ, cũng không thể có hư cấu vàtưởng tượng

Còn Fredric Fukuyama lại thể hiện cảm quan hoài nghi lịch sử với tuyên bố:

“Lịch sử đã cáo chung” (Sự chấm dứt của lịch sử, 1989) [Dẫn theo Trần Đình Sử;

133] Ý kiến này đã từng tạo ra “cơn địa chấn” gay gắt trong giới nghiên cứu về bảnchất lịch sử Tuy nhiên, với sự ra đời của các trường phái lí thuyết như: chủ nghĩatân lịch sử, chủ nghĩa hậu thực dân, nữ quyền luận và nhiều hệ hình lý thuyết hiệnđại khác thì con người phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên là lịch sử đang đượcnhìn nhận một cách cởi mở hơn Thực chất lịch sử không phải đã “cáo chung” màđược đặt ở nhiều góc nhìn, nhiều hướng đối thoại và bổ sung nhau Tiểu tự sự bổ

sung cho đại tự sự và tiểu lịch sử sẽ bồi đắp đại lịch sử Khi Lí thuyết Hậu thực dân ra đời thì một số quốc gia trên thế giới nhìn nhận lịch sử càng cởi mở Như

vậy, điều thú vị là khi tồn tại những quan điểm chưa thống nhất về lịch sử cũng là

cơ hội mở rộng đường biên cho sáng tạo của nhà tiểu thuyết và cách tiếp nhận mới

ở người đọc

Bên cạnh những quan điểm của các nhà nghiên cứu, bản thân các nhà văn lớntrên thế giới cũng bày tỏ những kiến giải về TTLS qua thực tiễn sáng tác, góp phầnlàm đầy đặn thêm lý thuyết về thể tài này Tiêu biểu là ý kiến của nhà TTLS vĩ đại

người Pháp Alexandre Dumas (cha) thì lịch sử giống như một cái đinh để mọi người có thể tự do treo bức tranh của mình vào đó Theo ông, lịch sử là điểm tựa để người nghệ sĩ thỏa sức sáng tạo Trái lại, trong bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử (2012) của Hải Thanh trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã trích dẫn ý kiến của nhà văn lớn

nước Nga A Tônxtôi: “TTLS phải chính xác như một nghiên cứu lịch sử” [154]

Hay trong bài Lịch sử và tiểu thuyết lịch sử (2012) của tác giả Trần Đình Sử trên Báo điện tử Quân đội nhân dân cũng nêu quan điểm của nhà văn Nhật Bản Kikuchi Kan (1888 - 1948): “Lịch sử trong tiểu thuyết phải là các sự kiện và nhân vật nổi

Trang 21

tiếng đã được ghi trong sách sử” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133] Trong công trình Tiểu thuyết lịch sử - một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX (2012) của Phan Mạnh Hùng cũng trích dẫn những kiến giải của nhà

văn Goncourt (Pháp): “Lịch sử là tiểu thuyết đã thành hiện thực, còn tiểu thuyết làlịch sử có khả năng thành hiện thực TTLS kết hợp hai yếu tố đối lập, nhà văn tùytheo cảm hứng mà kéo mạnh về cực này hay cực kia Người viết TTLS là một thầylang bốc hai vị thuốc kỵ nhau, nhưng liều lượng phải tính thế nào để chúng bổ sungcho nhau, để thuốc có hiệu quả - tác phẩm phải hay: vừa có vị tiểu thuyết vừa có vịlịch sử” [54; tr 32] Như vậy, tác giả nhấn mạnh tới tài năng của người viết đồnghành trong việc xử lí chất liệu lịch sử và kĩ thuật tiểu thuyết

Nhà TTLS nổi tiếng Hella S Haasse (Hà Lan) khẳng định: “Mặc dầu nhữngcuốn tiểu thuyết của tôi là TTLS nhưng chủ định của tôi không bao giờ lấy việc táihiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu Trong văn học, đề tài lịch sử là một phươngtiện chứ không phải là một cứu cánh… Viết TTLS chẳng khác nào một trò chơi útim trong bóng tối và nếu trong trò chơi này ta chộp được một bàn tay hay mộtkhuôn mặt, thì đã là may mắn lắm rồi” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh, 106; tr.31] Qua đó cho thấy phần lớn các nhà văn kiên quyết phản đối sự sao chép lạinhững gì xảy ra trong quá khứ và nhấn mạnh vai trò của hư cấu sáng tạo đối vớingười sáng tác khi đứng trước sự phức tạp của sử liệu

Qua một số bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu trên cho thấy các gócnhìn phong phú khác nhau tạo tiền đề để chúng ta khám phá TTLS một cách toàndiện và sâu sắc hơn trong trào lưu vận động và phát triển của văn học thế giới vàtrong nước Tuy nhiên, thực tiễn sáng tác ở các giai đoạn sau đã thể hiện khả năngtiềm tàng của thể tài này trong việc nhìn nhận và phản ánh lịch sử Do đó chỉ cónhững cách diễn giải về lịch sử khác nhau còn bản thân lịch sử là những biến cố xãhội có thời gian và không gian xác định chứ không phải là kết quả diễn ngôn chủquan của người cầm bút

1.1.3 Các bài viết và công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam

Nền văn học Việt Nam hiện đại đã cho thấy sự phát triển của TTLS trong từnggiai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là những thập niên cuối của thế kỉ XX cho đếnnay Tuy nhiên thực tiễn hoạt động nghiên cứu phê bình về TTLS còn khá hạn chế

Từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1930 tình nghiên cứu TTLS mới bắt đầu nhennhóm Đương thời các học giả nổi tiếng như: Trương Tửu, Trương Chính, Vũ NgọcPhan đã theo sát sự vận động của TTLS và trình bày những quan niệm về TTLS.Giữa nhà văn và nhà lí luận phê bình đã có những “đụng độ” quan niệm về thể loạinhưng chưa có lời giải đáp toàn diện và triệt để Để phác họa bức tranh nghiên cứuTTLS ở Việt Nam, chúng tôi khảo sát qua 3 giai đoạn sau đây dựa trên một số bàiviết và công trình tiêu biểu

1.1.3.1 Giai đoạn 1930 - 1945

Trong công trình Nhà văn hiện đại (1942), tác giả Vũ Ngọc Phan đã trình bày

Trang 22

một số nhận định về thể tài lịch sử qua thực tiễn nghiên cứu những gương mặt tiêubiểu đương thời như: Nguyễn Tử Siêu, Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, LanKhai Từ những thành tựu cụ thể, ông đã bày tỏ những nhận xét có ý nghĩa thiếtthực trong việc bổ khuyết, đối sánh về sáng tác của các nhà văn để độc giả có cáinhìn toàn diện hơn Khi nhận xét về sáng tác của Phan Trần Chúc, ông viết: “Mộtlối văn mạnh và cứng, nhưng không bao giờ tránh được những cái ngây ngô, gầnnhư dịch không thoát một câu tiếng Pháp làm cho người ta phải lấy làm lạ rằng ởmiệng cổ nhân mà sao lắm khi lại có những lời quá mới, ngây ngô như thế” [126; tr.

510] Về tác phẩm Chúa Trịnh Khải của Nguyễn Triệu Luật, Vũ Ngọc Phan cũng

phê bình thẳng thắn: “Nếu ông biết loại bớt những cái rườm rà đi, như những lờibàn, những lời so sánh vô lý, những sự giảng giải không đâu thì những thiên lịch sử

kí sự của ông sẽ được nhẹ nhàng biết bao!” [126; tr 547] Vũ Ngọc Phan nhấnmạnh: “Khi viết một quyển lịch sử, nhà chép sử không lưu tâm đến những việc cánhân không ảnh hưởng đến xã hội; nhưng khi viết những bài lịch sử ký sự, nhà văn

có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhân không ảnh hưởng gì đến dân chúng,chỉ có cái thi vị riêng của nó thôi Không những thế, khi viết một quyển lịch sử ký

sự, nhà văn lại cần phải lưu tâm đến những việc tư lắm lối ấy cũng gần như lối chép

dã sử vậy Còn như viết lịch sử tiểu thuyết, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài việc concon đã qua, rồi vẽ vời cho ra một chuyện lớn, cốt cho mọi việc đừng trái với thờiđại, còn không cần phải toàn sự thật.” [126; tr 541] Có thể thấy, đương thời VũNgọc Phan tuy có phê phán việc sử dụng ngôn ngữ nhân vật chưa hợp thời đại củamột số cây bút đương thời nhưng về cơ bản ông tán thành việc nhà văn có thể hưcấu, sáng tạo khi phản ánh lịch sử

Bên cạnh một số quan điểm của nhà nghiên cứu, xin điểm qua những ý kiến

tiêu biểu của những người trực tiếp sáng tác đương thời Trong Ai lên phố Cát

(1937), nhà văn Lan Khai nêu rõ: “Cho nên sưu tầm nguyên sự thực, nhà làm sử gác

bỏ những điều huyền hoặc đã đành Nhà tiểu thuyết trái lại, có thể tự do biên chéphết cả để thêm hứng thú cho câu chuyện mình kể” [63; tr 6] Theo đó, ý thức phảnánh chân thực chính xác hiện thực thuộc về nhà sử học, còn ý thức về tính sinhđộng là nhu cầu phản ánh nghệ thuật của nhà văn Không đồng tình với quan điểm

trên, tác giả Nguyễn Triệu Luật trong bài tựa của tác phẩm Bà Chúa Chè (1938) bày

tỏ: “Tôi chỉ là người thợ vụng, có thế nào làm nên thế, gốc tre già cứ để là gốc tregià, chứ không thể hun khói lấy màu, vẽ vân cho thành gốc trúc hóa long” [73; Phụ

lục TTLS Việt Nam tiêu biểu] Còn trong lời tựa cuốn Ngược đường trường thi

(1939), Nguyễn Triệu Luật có viết: “Người viết TTLS giống như nhà kim hoàn trộnlẫn vàng với bạc, với đồng Vàng thuần thì dễ mòn, đồng thuần tuy cứng nhưng rẻquá, không có giá, nay đem trộn lẫn với nhau - một sự hóa hợp chứ không phải hỗnhợp thì vẫn có giá Có giá vì không lừa ai, có giá vì không ai thấy nổi vết hàn gắn.Chín phần vàng không bị hạ giá bởi một phần đồng cho nên vẫn chân giá, tạo ramột giá trị mới” [74; Phụ lục] Như vậy, Nguyễn Triệu Luật quan niệm TTLS phải

Trang 23

tôn trọng sự kiện và nhân vật lịch sử nhưng không phải là sự “nệ sử” máy móc màphải “tạo ra giá trị mới” trên nền lịch sử Mặc dù những ý kiến đó còn thể hiệntính chủ quan nhưng là những quan niệm bắt nguồn từ nhu cầu của đời sống vănhọc Đó là những ý kiến cho thấy sự khác nhau về quan điểm sáng tác và tiếp nhậnlịch sử trong trào lưu cách tân văn học.

Như vậy, việc nghiên cứu TTLS Việt Nam ở giai đoạn này còn khá sơ lược.Các ý kiến hoặc một số công trình nghiên cứu mới dừng lại ở một vài nhận địnhkhái quát, chưa có sự khảo sát toàn diện, công phu về TTLS Đồng thời, có nhiềuTTLS của giai đoạn văn học này vẫn còn vắng bóng trong các bài nghiên cứu, phêbình về TTLS

1.1.3.2 Giai đoạn từ sau 1945 đến hết thế kỉ XX

TTLS từ sau 1945 đến hết thế kỉ XX được đánh giá ở nhiều góc độ, mức

độ, quy mô khác nhau; được đặt trong nhiều hệ hình lý thuyết khác nhau Hầuhết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào mối quan hệ giữa lịch sử và hưcấu, giữa văn và sử Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số bài viết và các côngtrình tiêu biểu:

Sau 1954, ở miền Bắc, trong công trình nghiên cứu Lịch sử văn học Việt Nam tập III của nhóm Lê Quý Đôn có giới thiệu một phần về Nguyễn Tử Siêu với

tư cách là một nhà văn viết TTLS Còn ở Nam Bộ có cuốn Văn học thời thuộc Pháp của Lê Văn Siêu và cuốn Văn học Việt Nam giản ước tân biên của Phạm

Thế Ngũ đề cập đến TTLS giai đoạn 1900 - 1945 nhưng mới chỉ dừng ở mức độgiới thiệu sơ lược

Trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng (1966) của Hà Minh Đức có nhận định: “Việc

nghiên cứu lịch sử là vô cùng cần thiết đối với nghệ sĩ Nhưng sự nghiên cứu ấykhông thể thay thế sự sáng tạo Có khi người nghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc trongđời sống của nhân vật lịch sử, có khi nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch

sử không quan trọng, thậm chí trong một chừng mực nào đó có quyền vi phạm sựđúng đắn về mặt sự kiện lịch sử Bởi vì tác giả chỉ cần đúng đắn lý tưởng mà thôi”[35; tr 132] Có thể thấy tác giả bài viết tán thành quan điểm coi lịch sử là chất liệusáng tác và đánh giá cao sự sáng tạo của nhà văn Quan điểm này phù hợp với cáchtiếp cận và phản ánh lịch sử linh hoạt của nhiều cây bút đương đại

Công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1) (1974) của Phan Cự Đệ đã

vận dụng phương pháp phê bình Mác - xít phân tích và nhận định những thành công

và hạn chế của tiểu thuyết Việt Nam qua các thời kì trước 1930, 1930-1945,

1945-1975 Đặc biệt, trong công trình này, ông còn phân loại một số kiểu tiểu thuyết Việt

Nam hiện đại: tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết tâm lý… và nêu bật những vấn đề thời sự được phản ánh trong TTLS:

“Trong thời kỳ 1900 - 1930, TTLS là một hình thái mới của văn học yêu nước vàcách mạng TTLS tuy viết về quá khứ nhưng lại mang một ý nghĩa rất hiện đại… đó

là nhiệm vụ của các nhà văn khi họ khai thác những đề tài lịch sử” [31; tr 37]

Trang 24

Trong tập 1 của cuốn sách, tác giả Phan Cự Đệ đánh giá: “Trùng Quang tâm sử của

Phan Bội Châu là truyện khởi nghĩa chống Minh đầu thế kỷ XV của một số anhhùng hào kiệt ở miền Nghệ An, lấy danh nghĩa nhà Trần để mưu khôi phục đấtnước Nhưng tác phẩm này đồng thời lại là một TTLS có luận đề, luận đề về cáchmạng Việt Nam Người viết luôn hướng về hiện đại, kêu gọi đồng bào trong nướcnổi dậy làm cách mạng” [31; tr 38]

Cũng nhìn nhận về Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, bài viết Tìm hiểu quan niệm anh hùng của Phan Bội Châu của Nguyễn Đình Chú đăng trên Tạp chí Văn học, số 12/1967 khẳng định: “Lần đầu tiên trong văn học nước nhà có một tác

phẩm viết về một tập thể anh hùng… Phan Bội Châu đã dựng lên mấy nhân vật phụ

nữ cũng anh hùng tuyệt đẹp như ai” [18; tr 19] Như vậy tác giả đã chỉ ra nhữngđóng góp mới của Phan Bội Châu khi xây dựng những nhân vật anh hùng, làmphong phú thêm hình tượng người anh hùng trong văn chương truyền thống

Tác giả Nguyễn Phương Chi trong bài Từ tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử nghĩ về đề tài lịch sử chống Trung Quốc xâm lược qua một số sáng tác hiện nay in trên Tạp chí Văn học, số 4/1980 đã nghiên cứu Trùng Quang tâm sử từ góc nhìn thể

loại và từ đề tài lịch sử Từ đó, tác giả chỉ ra được những đóng góp của Phan BộiChâu trên phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật

Trong công trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 (1983) của Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng đã đề cập đến hai TTLS giai đoạn này là Ngọn

cờ vàng của Đinh Gia Thuyết và Hai Bà đánh giặc của Nguyễn Tử Siêu với những

nhận xét tinh tế, sắc sảo Hai nhà phê bình dành nhiều trang viết cho Nguyễn TửSiêu nhưng nhận định còn khá dè dặt: “Nguyễn Tử Siêu đã viết nhiều TTLS hơn cả

Ý nguyện của ông rất rõ ràng: bồi đắp được chút đỉnh về cái quan niệm đối với đấtnước…; cũng như Đinh Gia Thuyết, Nguyễn Tử Siêu có ý thức dùng lịch sử để kêugọi lòng yêu nước, tình đồng bào” [57; tr 334]

Trong Lời giới thiệu cuốn Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng (1984), qua việc đề cập tới hai cuốn tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và An Tư của Nguyễn Huy Tưởng,

nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nêu nhận xét: “Những sự kiện lịch sử lớn lao đãđược làm sống dậy chân thực, hào hùng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng

Có thể nói chất sử thi đã nảy nở trong cảm hứng lịch sử sâu sắc về đất nước trongnhững phút trọng đại với những trang viết nhiều khói lửa về một dân tộc anhhùng” [35; tr 22]

Tác giả Bùi Văn Lợi trong phần Tổng quan về tình hình nghiên cứu của luận

án Tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1945 (Diện mạo và đặc điểm) (1998) đã khảo cứu khá công phu tình hình nghiên cứu

TTLS Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 qua việc trích dẫn nhiều công trình có

giá trị Đó là cuốn sách Ngô Tất Tố tác phẩm (1961, Tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội)

của Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức đã đề cập tới một số TTLS của Ngô Tất Tố như:

Lịch sử Đề Thám (1935), Vua Hàm Nghi và việc kinh thành thất thủ (1935), Gia

Trang 25

đình Tổng trấn quân Lê Văn Duyệt (1937) Tiếp theo là cuốn sách viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Khắc Viện Apercu sur la littérature Vietnamienne (Tổng quan về văn học Việt Nam, in tại Hà Nội năm 1976) Công trình Văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu (1989) của Kiều Thu Hoạch dựa trên việc nghiên cứu mối quan

hệ giữa văn học dân gian với TTLS đã khẳng định vị trí tiêu biểu của Phan Bội

Châu, Nguyễn Tử Siêu, Đinh Gia Thuyết trong số các nhà TTLS đương thời và Các thế hệ nhà văn trong ngót một trăm năm nối tiếp nhau soi lại lịch sử (1981) của

Nguyễn Đình Chú đều nhắc tới Nguyễn Tử Siêu với những nhận định trân trọng.Đặc biệt Bùi Văn Lợi đã trích dẫn những bài nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Tử

Siêu trong Hội thảo khoa học Nhà văn - Lương y Nguyễn Tử Siêu, 1888-1965 do Sở

Thông tin tỉnh Hà Tây (cũ) tổ chức vào tháng 12/1995 như bài viết của NguyễnĐình Chú, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Huệ Chi… Việc sưu tầm, hệ thống của tác giả

đã góp phần khái quát khá trọn vẹn tình hình nghiên cứu một thể tài văn học trongmột giai đoạn lịch sử đầy biến động

Trong luận án của mình, Bùi Văn Lợi cũng nêu nhận định: “Ở TTLS, nhà văn

có quyền hư cấu, do đặc trưng mang tính chất thể loại của TTLS quy định Trongkhi đó bút pháp của chính sử chỉ có một con đường duy nhất là trung thành chínhxác với sự thật Nói cách khác phận sự của nhà sử học là “truyền tin”, quý ở cái

“chân” còn phận sự của nhà tiểu thuyết là “truyền kỳ”, quý ở “truyền” Ngòi bút củanhà sử học là “thực lục” còn ngòi bút của nhà tiểu thuyết là “hư bút” Ở tiểu thuyết,nhà văn thường hư hóa cái thực, thực hóa cái hư Nó khêu gợi trí tưởng tượng vàtăng cường tính mĩ cảm văn học” [92; tr 30] Điều đó cho thấy vai trò độc lập củatừng loại hình ý thức xã hội khác nhau trong đời sống Đồng thời trên cơ sở so sánh,tác giả nhấn mạnh: Chính yếu tố hư cấu tạo nên diện mạo, sức sống của TTLS.Bên cạnh các công trình nghiên cứu thì giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều bài

viết chuyên sâu về TTLS Trong bài Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử phục vụ các em (Tạp chí Văn học số 3/1979), tác giả

Hà Ân đã đặt ra câu hỏi: “Gia giảm, chế biến thêm nếu cần, cách đó có nên có trong

hư cấu nghệ thuật chăng? Mặt hư cấu về một nhân vật là cuộc sống đời thường củanhân vật đó Xưa nay sử học chép về một nhân vật qua các sự kiện lịch sử chínhyếu Nhưng trong một sáng tác văn học, một nhà văn cần phải gần gũi người đời

hơn” [Dẫn theo Trần Mạnh Tiến, Tiểu thuyết lịch sử và người đầu tiên mở hướng cách tân; 149] Điều đó cho thấy nhu cầu hư cấu nghệ thuật là tất yếu để hình tượng

nhân vật lịch sử “gần đời thiết thực” (Vũ Bằng)

Năm 1988, khi bộ ba truyện lịch sử Vàng lửa - Phẩm tiết - Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên báo Văn nghệ số ra ngày 26/5 và ngày 16/7/1988 đã như một tâm bão làm “khuấy đảo” không khí phê bình văn học và kích ứng sự tranh

luận sôi nổi về truyện lịch sử Không khí tranh luận xung quanh hiện tượng văn học

Nguyễn Huy Thiệp được tác giả Phạm Xuân Nguyên tổng hợp trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (2001) (Nxb Văn hóa Thông tin ấn hành) đã tạo tiền đề cho cuộc

Trang 26

tranh luận chưa có hồi kết về tính chân thực lịch sử và tính hư cấu của các tác phẩm

viết về đề tài lịch sử Tiêu biểu là bài viết của Tạ Ngọc Liễn Về truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên báo Văn nghệ số 26 ngày 26/6/1988 cho rằng:

“Vàng lửa là một truyện chứa không ít sai lầm và lệch lạc” [113; tr 170] Thậm chí

Đỗ Văn Khang còn thể hiện thái độ phê phán gay gắt và phủ nhận giá trị của Vàng lửa qua bài viết Có một cách đọc Vàng lửa trên báo Văn nghệ số 36 - 37 ngày 3/9/1988 hay Nguyễn Thúy Ái với bài Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ v.v Trái lại, có nhiều nhà nghiên cứu lại khẳng định những sáng tạo táo bạo, độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp như: Đọc văn phải khác với đọc sử của Lại Nguyên Ân, Bàn thêm về truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp của Ngô Văn Giá, Về một lối cảm thụ và phê bình bắt vít của Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh Nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm của G Lucacs in trên Tạp chí Văn học, số 5 năm 1994 cũng nêu ý kiến:

“Phải dựa trên cơ sở sự thật lịch sử, hư cấu có mức độ, không cho phép quá đà và sự

hư cấu này có khả năng đạt tới một sự chân thật, chân thật hơn cả sự thật ngoài đờihay sự thật đã diễn ra trong chính sử” [23; tr 64] Theo đó, Trương Đăng Dung tánthành việc hư cấu của nhà văn khi sáng tác TTLS nhưng sự hư cấu đó phải ở một

ngưỡng nhất định nhằm làm sống động lịch sử chứ không thể là sự hư cấu tùy tiện Năm 1998, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác được Nxb Văn học tái

bản lần đầu trong nước đã gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học Việt Nam, cuốnhút sự say mê của đông đảo công chúng, sau đó đã được Đài truyền hình Thành phố

Hồ Chí Minh mua bản quyền để dựng thành phim truyền hình dài tập Trên cơ sở đó,nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng đã bày tỏ những quan điểm khác nhau

về tác phẩm cũng như về thể tài TTLS Tiêu biểu là ý kiến của Phan Cự Đệ đánh giá

sự thành công của Sông Côn mùa lũ là do người viết “thiên về tiểu thuyết hơn là về

lịch sử” [32; tr 66] Như vậy, yếu tố nghệ thuật sẽ định hình sáng tạo của nhà văn tạo

ra sự khác biệt giữa tác phẩm văn học với công trình lịch sử Còn nhà văn Nguyễn

Mộng Giác trong bài Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử đăng trên nguyenmonggiac.com

lý giải: “Nhiệm vụ của người viết tiểu thuyết nếu có là phức tạp hóa những điềutưởng là đơn giản để người ta nhớ rằng con người, đời sống là cái gì mong manh, dễ

vỡ, phải cố gắng thông cảm với những tế vi phức tạp của nó, nhẹ tay với đồng loạinhững lúc bất đồng, kiên nhẫn với những yếu đuối khó hiểu” [19]

Tiếp đó, trong Lời ngỏ của tiểu thuyết Gió lửa (1999), nhà văn Nam Dao đã

khẳng định: “Tiểu thuyết là cách tác giả đối thoại với lịch sử Tất nhiên đối thoại đóchỉ một chiều và chủ quan Thậm chí tác giả không câu nệ bất cứ điều gì, kể cả đôikhi phải cưỡng bức lịch sử để thai nghén ra tiểu thuyết” [16; tr 3; Phụ lục]

Có thể thấy không khí tranh luận sôi nổi về TTLS trong giai đoạn này đã gópphần khuấy động ý thức truy tìm chân lí nghệ thuật của nhà văn và bạn đọc trêndiễn đàn văn học, góp phần gợi mở nhiều hướng tiếp cận mới về TTLS

1.1.3.3 Giai đoạn từ thế kỉ XXI cho đến nay

Trang 27

Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI xuất hiện nhiều TTLS cỡ lớn với việc

đa dạng hóa quy mô phản ánh hơn các giai đoạn trước, làm nảy sinh các quan niệmtiếp nhận khác nhau Nhiều cây bút tỏa sáng trên văn đàn như: Hoàng Quốc Hải với

hai bộ TTLS đồ sộ là Bão táp triều Trần (2009; 6 tập) và Tám triều vua Lý (2010; 4 tập) và hàng loạt TTLS cỡ lớn khác như: Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu (2005) của Võ Thị Hảo khi vừa ra

đời đã được công chúng quan tâm sâu sắc Đó là chưa kể đến các yêu cầu khắt khecủa độc giả như kì vọng về sự trùng khít giữa lịch sử và văn học Do vậy xungquanh các buổi tọa đàm, hội thảo và các công trình, các bài nghiên cứu đã diễn ranhững cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề sự thật lịch sử và quyền năng sáng tạo củangười viết Từ đó gợi mở những góc độ mới về lý luận và thực tiễn sáng tác TTLS

Tiêu biểu là ý kiến của tác giả Trần Vũ trong Tiểu luận Lịch sử trong tiểu thuyết, một tùy tiện ý thức (2003) qua việc đặt ra những câu hỏi khá bức xúc: “Tại sao

tiểu thuyết phải y chang như thật vậy? Nhà văn, anh tìm thấy gì? Và có gì để trìnhbày với nhân loại?” [171] Trần Vũ cũng bày tỏ quan niệm trong cách viết về những

nhân vật lịch sử: “Trong hình học không gian, đường cong khi cắt ra làm trăm triệu

đoạn nhỏ, mỗi đoạn sẽ là một đường thẳng, và trên đường thẳng đó các giá trị khôngứng nghiệm trên các mặt phẳng khác, sẽ có nghiệm số ở mặt phẳng tí teo này Định lýtoán học trên cũng có thể hỗ trợ cho các nhà văn đem nhân vật lịch sử ra cắt làm trăm

triệu khúc và khảo sát phần nhỏ nhất” [171] Khi “khảo sát phần nhỏ nhất” ấy, Trần

Vũ cho mình quyền “hư cấu tùy tiện” và (cả quyền) “phóng đại” tới mức “tiểu thuyết” Quan niệm và cách viết của Trần Vũ gây ra những ý kiến trái chiều nhưng đã

nêu bật được cách phán ánh lịch sử táo bạo, thoát khỏi tư duy “nệ sử” và gợi mởnhững hướng tiếp cận mới với cả người sáng tác và người thưởng thức văn học

Trong công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lí luận (2004), mục Tiểu thuyết lịch sử, tác giả Phan Cự Đệ đã giới thiệu một số quan

niệm của các học giả lớn như P Louis - Rey, G Lukacs, M Kundera ; đồng thờiông viện dẫn những đặc trưng cơ bản của thể loại này vừa bám vào lịch sử nhưngvừa hư cấu nghệ thuật, không chỉ trong văn học Việt Nam mà cả trong văn học thế

giới Ông coi kĩ thuật tiểu thuyết là yếu tố quan trọng tạo nên sự độc đáo và sức

“sự pha trộn” giữa yếu tố lịch sử và hư cấu để tạo cho nhân vật một đời sống thật

Để làm sáng tỏ quan điểm đó, tác giả Nguyễn Văn Dân trích dẫn khái niệm được

nêu trong cuốn Từ điển bách khoa toàn thư (Encyclopedia Britannica, 1995):“TTLS là tiểu thuyết lấy một giai đoạn lịch sử làm khung cảnh và mong

Trang 28

muốn truyền bá cái tinh thần, kiểu cách, và các điều kiện xã hội của một thời kỳ quákhứ với những chi tiết hiện thực và trung thành với sự thật lịch sử (tuy nhiên trongmột số trường hợp sự trung thành này chỉ là giả tạo) Công trình sáng tạo đó có thể

đề cập đến những nhân vật lịch sử có thật hoặc có thể bao hàm một sự pha trộnnhân vật lịch sử với nhân vật hư cấu” [21]

Công trình Bão táp triều Trần, tác phẩm và dư luận (2006, Nhiều tác giả) do

Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành đã tập hợp nhiều bài viết của các nhà văn, nhà nghiêncứu và các sử gia như nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơBằng Việt - Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội, nhà thơ NguyễnQuang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Phùng Văn Khai, nhàvăn Hoàng Công Khanh, Tiến sĩ Sử học Đinh Công Vỹ về TTLS của Hoàng QuốcHải Tiêu biểu như ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh: “Đây là một sự kiện quan trọngtrong đời sống văn học Tôi biết nhà văn Hoàng Quốc Hải có khi vắng nhà đến mộtnăm liền để đi điền dã, tập hợp tư liệu và cho ra đời hai bộ tiểu thuyết vô cùng đồ sộ

và có chất lượng” [122; tr 34] Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh: “Tác giả

đã chọn những sự kiện quan trọng nhất, chứa đựng tất cả các vấn đề văn hóa, lịch sửcủa đất nước với cách viết khúc chiết, không dàn trải” [122; tr 42] Tiến sĩ Sử họcĐinh Công Vỹ khẳng định: “Hoàng Quốc Hải không viết theo lối thông sử mà cắtngang, chọn những thời điểm gay cấn nhất để làm nền cho cốt truyện” [122; tr 47]v.v Những kết quả đánh giá đã khẳng định phong cách độc đáo của Hoàng QuốcHải cũng như sự thành công của tác phẩm này trong việc tôn trọng tính khách quan,tái hiện chân thực bức tranh quá khứ để từ chân lí lịch sử thăng hoa thành sự thựcnghệ thuật

Có thể thấy sau khi những TTLS có dung lượng lớn ra mắt độc giả đã xuấthiện hàng loạt các cuộc hội thảo, các bài viết trên các tờ báo uy tín tranh luận về thểtài này Không khí phê bình văn học diễn ra hết sức sôi nổi, thu hút sự quan tâm củanhiều nhà nghiên cứu Bên cạnh các buổi tọa đàm, hội thảo được tổ chức quy mô,còn có các bài viết, bài nghiên cứu công phu của nhiều tác giả như: Trần Đình Sử,Nguyễn Văn Dân, Lại Nguyên Ân, Phan Cự Đệ, Trần Mạnh Tiến, Nguyễn ThịTuyết Minh với nhiều kiến giải sâu sắc

Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử và người đầu tiên mở hướng cách tân (2011) (Tạp chí Nhà văn, số 1, tr 78 - 84), tác giả Trần Mạnh Tiến đã điểm qua ý kiến của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề nguyên mẫu lịch sử và việc hư cấu nghệ thuật.

Theo Trần Mạnh tiến: Lan Khai là một trong những nhà văn tiên phong đổi mới vềtiểu thuyết lịch sử Trong các ý kiến tiêu biểu phải kể đến quan niệm của Vương TríNhàn: “Có muôn vàn cách thức của người viết văn làm cho trang sách của mìnhkhác đi so với quá khứ, và ở đây không ai có quyền tuyên bố mình có trong tay cái

chìa khóa duy nhất” (Đề tài lịch sử cảm hứng sáng tạo từ sự suy ngẫm về hai cuốn tiểu thuyết Chốn xưa và Ngân thành cố của nhà văn Trung Quốc Lý Nhuệ, Báo Văn Nghệ, số 16, ngày 21 tháng 4 năm 2007) Theo Vương Trí Nhàn thì nhà văn phải là

Trang 29

chủ thể sáng tạo chân dung lịch sử Việc nhận thức lại lịch sử của nhà tiểu thuyết làđiều tất yếu khi quá khứ đã khép lại, kể cả độ tin cậy từ các tài liệu sử học còn hạn

chế, hoặc sự chi phối của các thể chế chính trị Bài viết Về nhân vật lịch sử trong văn chương hiện đại (Báo Văn Nghệ, số 36, 6/9/2008), Phạm Quý Bính lại cho

rằng: “Nhân vật lịch sử trong văn chương trước hết là một hình ảnh… đây khôngphải là một hình ảnh bịa đặt tự do, vì nhân vật lịch sử bao giờ cũng có nguyên mẫutrong trí tưởng tượng của bạn đọc, dù các nguyên mẫu ấy đậm hay nhạt Nếu nhàvăn bất chấp cái nguyên mẫu đó, nhân vật có nguy cơ không được độc giả chấp

nhận” Trong bài viết Xin đừng nhầm lẫn giữa tiểu thuyết và lịch sử (Báo Văn nghệ,

số 45, 8/1/2008) gửi nhà văn Cao Duy Thảo, tác giả Đình Kính nhấn mạnh: “Đừngbiến các nhà văn thành các nhà báo, lẽo đẽo chạy theo các sự kiện như kiểu: đã viết

về chiến tranh nhất thiết phải có “bóng dáng lính Mĩ và chư hầu” để đúng với lịch

sử, “chưa thay đổi tư duy chúng ta chưa thể nâng cao tính chuyên nghiệp của vănchương” Như vậy, cả hai tác giả trên đều coi lịch sử là yếu tố cốt lõi nhưng không

vì thế mà đòi hỏi sự trùng khớp giữa tính chân thực nghệ thuật với lịch sử của sửhọc Mặc dù còn tồn tại một số ý kiến chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên cứuđều coi tác phẩm văn học là kết quả của hoạt động sáng tạo của nhà văn nên cần

tránh các lối mòn, khuôn mẫu khi sáng tác Đến bài viết Đề tài lịch sử không bao giờ xưa (Văn Nghệ trẻ số 44, 26/10/2008), tác giả Hà Ân quan niệm: “Nhân vật trong TTLS cho phép sai biệt với nhân vật trong chính sử: Có thể có những sai biệt

cho phép Như nhân vật trong chính sử có khi chỉ là một cái tên Ví dụ: Thái hậuDương Vân Nga hay công chúa An Tư hay các anh hùng, dũng sĩ…” Các bài viếttrên được tác giả Trần Mạnh Tiến tán thành về sự linh hoạt, tinh tế của người cầmbút khi sáng tạo tiểu thuyết trên nền lịch sử

Trong bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử (2012), tác giả Hải Thanh cũng bày tỏ:

“TTLS là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vậtlịch sử Nhà TTLS có thể tha hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạonhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làmgiàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử Nghĩa là qua sáng tạo mới, nhàtiểu thuyết phải làm cho bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu, thêm quý trọng nhân vật lịch

sử, nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngược lại” [154; tr 6] Như vậy, quanđiểm của Hải Thanh lại nghiêng về việc đề cao tính chân thực lịch sử trong TTLS.Cho dù nhà văn được quyền hư cấu, sáng tạo nhưng không được phép làm sai lệchchân dung nhân vật hoặc làm mất đi tính xác thực của sự kiện lịch sử

Trên báo Văn hóa Nghệ An ngày 17/3/2012, tác giả Ngô Thời Tân có bài viết:

“Tứ đại kì thư” của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc: tên gọi - văn bản - tác giả đã lược thuật về thành tựu to lớn của bốn tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa (Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Tây Du Ký, Kim Bình Mai) Tác giả đã điểm qua tình hình

nghiên cứu ở Trung Hoa và ảnh hưởng của những kiệt tác này với nền văn học hiện

đại Trung Hoa, trong đó có đề cập tới tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thể hiện mối

Trang 30

liên hệ khăng khít giữa lịch sử và văn học Công trình này gợi cho chúng tôi nhiều ýkiến quý báu trong việc tiếp cận, khám phá TTLS

Sau các TTLS Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2008) của Nguyễn Xuân

Khánh ra mắt bạn đọc đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình.Ngày 15/10/2012 Viện Văn học tổ chức Hội thảo đánh giá thành công cũng như hạnchế trong TTLS của Nguyễn Xuân Khánh và của văn học Việt Nam những năm gần

đây Trong đó có rất nhiều bài viết đáng chú ý như: Một cách luận giải lịch sử dân tộc của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nhân đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Đỗ Ngọc Yên, Mẫu thượng ngàn - con đường tìm về cội nguồn văn hóa và sức sống dân tộc của Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Khánh và sự va chạm với cái vảy ngược trên ngực của những con rồng của Phan Tuấn Anh, Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa - phong tục của Nguyễn Hoài Nam… Các tham luận trong buổi Hội thảo được tập hợp trong công trình Lịch sử và văn hóa, cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh (2012) của Nguyễn Đăng Điệp (Chủ biên) góp

phần làm sống động bức tranh thể loại và gợi mở nhiều giá trị nhân sinh khác củađời sống văn hóa dân tộc mà nhà văn cần sáng tạo Tiêu biểu là ý kiến của nhà

nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp (tiểu luận Đề dẫn Hội thảo) đã nêu ra nhiều luận điểm sắc bén về TTLS: “Khác với truyền thống coi lịch sử là đại lịch sử (đã xong

xuôi), lý thuyết hiện đại, hậu hiện đại khẳng định lịch sử là quá trình chưa hoàn tất

mà đang được cấu tạo lại với sự xuất hiện của các tiểu lịch sử Do đó, lịch sử được

hình dung như những mảnh vỡ… Có người khẳng định, nhà văn có quyền tưởngtượng đến vô hạn và tác phẩm của họ thực chất là cách cấu tạo lịch sử theo quanđiểm cá nhân Tại đó, có một thứ lịch sử khác (ngoại vi) so với lịch sử được thừanhận (trung tâm), và lịch sử, khi đi vào lãnh địa tiểu thuyết, phải được tổ chức trên

cơ sở hư cấu vốn là một đặc trưng của nghệ thuật” [29; tr 8]

Cuối năm 2012, Hội đồng Lí luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã

tổ chức buổi Hội thảo khoa học Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử.

Trong báo cáo Đề dẫn Hội thảo, Phan Trọng Thưởng đề cập đến những nguyên tắcsáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử Mặc dù bàn về kịch lịch sử nhưng những kiếngiải của tác giả có ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu TTLS Các tham luậnkhác vừa đưa ra nhiều vấn đề lí luận cơ bản vừa đặt mục tiêu giải quyết những vấn

đề có tính thời sự từ thực tiễn sáng tác về đề tài lịch sử Hội thảo tập trung vào một

số nội dung quan trọng như điều kiện, môi trường sáng tác, vai trò trách nhiệm củangười nghệ sĩ, động cơ sáng tác, mối quan hệ giữa hư cấu và sự thật lịch sử Tạicuộc Hội thảo, các nhà văn, các nhà nghiên cứu đã tranh luận, đối thoại sôi nổi để đitới sự đồng thuận Mặc dù vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất nhưng đa số các ýkiến đều cho rằng TTLS phải sáng tạo trên nền lịch sử

Chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 (2012) của Nguyễn Thị

Tuyết Minh là công trình nghiên cứu công phu, hệ thống, bao quát sự vận động vàphát triển của TTLS qua hai giai đoạn: 1945 - 1975 và từ sau 1975 đến nay Đóng

Trang 31

góp của công trình này là tác giả đã khảo sát kĩ lưỡng tư duy tự sự lịch sử và cácphương thức nghệ thuật tự sự trong TTLS Việt Nam sau 1945; đặt TTLS trong sựvận động, đổi mới của nền văn học Trên cơ sở đó, tác giả đã chia thành hai khuynhhướng “lịch sử hóa tiểu thuyết” và “tiểu thuyết hóa lịch sử” và phân loại hai dạngcảm thức lịch sử: “Lịch sử như một đối tượng được chiêm bái và ngưỡng vọng” và

“Lịch sử như một đối tượng phân tích và giả định” [106; tr 35]

Tiếp đến trong bài viết Suy nghĩ mới về tiểu thuyết lịch sử (2013), tác giả Trần

Đình Sử nêu ý kiến: “Nhu cầu sáng tác chính là nhu cầu đối thoại, phản biện lại vớilịch sử, nhu cầu khôi phục những sự thật đã khuất lấp, những góc nhìn mới nhưngkhông thể đòi hỏi hoàn nguyên lịch sử, một việc mà bản thân sử học quan niệm vềlịch sử Từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân

lịch sử, người ta nhận rõ lịch sử chỉ là sự trần thuật về lịch sử, tạo nên sự hoài nghi

đối với tính chân thực của văn bản lịch sử” [134] Theo đó việc yêu cầu TTLS phảiphản ánh trung thực lịch sử là không hợp lí, bản thân sử học cũng chỉ là một loại

diễn ngôn, một sự trần thuật chủ quan về lịch sử Như vậy, tác giả bài viết đề cao

vai trò của hư cấu trong sáng tác Đây là ý kiến cần tiếp tục nghiên cứu cho thấuđáo hơn bởi thực tế lịch sử là những sự kiện gắn với nhân vật xác định, việc nhậnthức về lịch sử còn tùy thuộc ở các nhà văn Nhà văn có thể dùng cái nhìn chủ quan

để miêu tả, nhận thức lịch sử, nhưng không thể thay thế sự kiện và nhân vật lịch sửbằng thiên kiến cá nhân Khi con người và sự kiện đã thành lịch sử được cộng đồngthừa nhận thì đó là căn cứ để nhận thức về quá khứ và đó là tài liệu cho các nhàTTLS sau này sáng tạo

Tại Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết lần 2 của Hội Nhà văn tại Hà Nội

ngày 28 tháng 2 năm 2018 (đăng trên baovannghe.com.vn ngày 2/3/2018) đã tríchđưa những ý kiến tiêu biểu của các nhà văn về TTLS Trong bản tham luận nhan đề

Với tiểu thuyết lịch sử, nhà văn Vũ Xuân Tửu nhấn mạnh: “Với TTLS, không phải

mọi sự thật đều được viết ra, và cũng không phải mọi điều viết ra đều là sự thật.Tuy nhiên, dù ngòi bút có thăng hoa đến mức nào đi nữa, thì cũng không được viếtsai lệch bản chất lịch sử Sự thật lịch sử không chỉ nằm trong sách giáo khoa mà tồntại khách quan trong xã hội, có khi ẩn hiện đâu đó, khiến người cầm bút phải tìmtòi, suy ngẫm” Còn nhà văn Nguyễn Thế Quang khẳng định: “Đổi mới tư duy tiểuthuyết là yêu cầu hàng đầu, tất yếu của TTLS Nhà khoa học tìm hiểu lịch sử quachứng cứ cụ thể, còn nhà văn khám phá bề sâu phong phú vô cùng phức tạp của tâmhồn con người Viết TTLS không phải chỉ quay lại tìm vẻ đẹp của người xưa vớitinh thần hoài cổ mà cái chính là để đối thoại với hiện tại, chia sẻ cùng bạn đọc,hướng tới sự tiến bộ” Nhà văn Trần Thanh Cảnh thì cho rằng: “Việc hư cấu trongTTLS là không giới hạn, nó hoàn toàn tùy thuộc vào trí tưởng tượng của nhà văn.Tuy nhiên việc sáng tạo đến đâu, như thế nào tùy thuộc vào vị trí, góc nhìn, phôngvăn hóa của nhà văn” Cũng tại buổi Hội thảo, nhà văn, nhà báo Trần Mai Hạnh -từng là nhân chứng trực tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đại thắng mùa

Trang 32

xuân 1975, tác giả của các kí sự lịch sử nổi tiếng, đã trình bày bài tham luận nhan

đề Về một cách nhìn lịch sử trong tiểu thuyết đương đại Với bài viết này, ông nêu

nhiều ý kiến sắc sảo, đúng đắn về cách nhìn lịch sử bằng tiểu thuyết: “Không aiđược phép độc quyền về cách nhìn, cách phán xét cũng như cách thức xây dựng tácphẩm văn học từ các sự kiện lịch sử của dân tộc Nhưng chỉ có điều bất kì góc độ

nào, cách nhìn nào, người viết cũng phải tôn trọng sự thật lịch sử, góp phần làm bật lên sự thật và giá trị của các sự kiện và tình tiết quan trọng của lịch sử Trong Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.1975, tôi đã sử dụng không gian 4 chiều để soi rọi làm rõ

sự thật ” Ông đưa ra 4 tiêu chí then chốt đối với người viết TTLS: “Thứ nhất Phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử: Lịch sử là tự nó viết ra, đó chính là sựthật Điều cốt lõi của lịch sử chính là sự thật Sự thật lịch sử không hề bị hoen gỉ bởithời gian, nó thách thức những mưu toan xuyên tạc, bóp méo của con người Sự thậtrồi cuối cùng cũng trở về với sự thật Nói như vậy không phải là hạ thấp khả năngtưởng tượng phong phú và giá trị sáng tạo của nhà văn Chỉ có điều khả năng sángtạo, hư cấu của nhà văn phải hướng tới việc khắc họa trung thực và nâng tầm lịch sửchứ không phải xuyên tạc, bóp méo, đổi trắng thay đen các sự kiện, các nhân vậtcủa lịch sử nhằm phục vụ ý đồ riêng của mình Thứ hai - Phải chinh phục niềm tincủa người đọc: Những sự kiện, tình tiết, nhân vật thuộc về một phần của lịch sử mànhà văn xây dựng trong tác phẩm của mình, trước hết phải là sự thật Không thể đùanghịch, bỡn cợt với lịch sử Không thể lên mặt với lịch sử, tùy tiện sửa chữa, nhàonặn lịch sử theo ý đồ riêng của mình Thứ ba - Viết về đề tài lịch sử đương đại phảirất khắt khe về sự thật Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, những sự kiện,tình tiết trong tác phẩm phải có bằng chứng vững chắc mới có thể đứng vững được.Thứ tư - Yêu cầu về tính chân thật của các sự kiện lịch sử mà tác phẩm đề cập Đó

-là những tài liệu nguyên bản, văn bản tin cậy đã được kiểm chứng” Đó -là những ý

kiến xác đáng của Trần Mai Hạnh về TTLS rút ra từ thực tiễn sáng tác Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 đã vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của dư luận và được thời

gian sàng lọc Bởi lẽ, nếu sự thật về các sự kiện lịch sử mà tác phẩm đề cập tới bị đổ

vỡ thì đương nhiên giá trị văn chương cũng sẽ bị khai tử Do vậy, cho dù là tác phẩmnghệ thuật nhưng không thể thoát li sự thực lịch sử mới có giá trị thuyết phục ngườiđọc Qua đó cho thấy TTLS đang được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng,phần nào đã đáp ứng được với thực tiễn sáng tác vô cùng phong phú của nó

Có thể nói, chưa bao giờ TTLS được nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhaunhư thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, nữ quyền luận, các trường phái tân lịch

sử, hậu thực dân, hậu hiện đại như hiện nay Mỗi đề tài, mỗi công trình nghiêncứu là một cách nhìn, cho thấy sự đa dạng, khác biệt cũng như sự đổi mới tư duy,những thành công và hạn chế của thể tài này trong đời sống văn học, thể hiện tư duycủa nhà văn về lịch sử là không ngừng vận động Trong những năm gần đây nhiềuluận văn, luận án, tiểu luận nghiên cứu tại các trường Đại học, các cơ sở nghiên cứucũng góp phần đa dạng hóa bức tranh tiếp nhận, đánh giá TTLS Có thể thấy, càng

Trang 33

ngày TTLS càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như khẳng định vịtrí quan trọng của nó trong đời sống văn học Với sự đa dạng của các hướng tiếp cận,tình hình nghiên cứu TTLS cũng có nhiều thay đổi và hầu như các nhà nghiên cứuđều thừa nhận hư cấu là thuộc tính tất yếu của thể loại này, nhưng phải dựa trên cáinền lịch sử Các bài viết và các công trình nghiên cứu trên đã góp thêm những ý kiếnquan trọng trong việc xác lập tính liên tục của quá trình nghiên cứu TTLS ở nước ta.

1.2 Sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại

Sự khác nhau của TTLS trung đại và hiện đại trên những phương diện nộidung và hình thức cho thấy quá trình chuyển biến của TTLS Việt Nam từ tiểuthuyết truyền thống (chương hồi) sang tiểu thuyết hiện đại ở các mặt sau:

Về văn tự: Tất cả các TTLS trung đại như Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh

Thị, Hoàng Việt Long hưng chí của Ngô Giáp Đậu và kí sự lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái v.v… đều viết bằng chữ Hán Đến TTLS hiện đại chỉ còn tác phẩm Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu viết bằng chữ Hán, còn

lại đều được viết bằng chữ Quốc ngữ

Về đề tài: Tiểu thuyết trung đại nhằm phục hiện diện mạo của một giai đoạn

lịch sử hoặc làm nổi nhân vật, sự kiện lịch sử Cụ thể như: Hoan Châu ký phản ánh quá trình trung hưng của nhà Lê sau khi họ Mạc tiếm ngôi, Nam Triều công nghiệp diễn chí mô tả lại 133 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, Hoàng Lê nhất thống chí phản

ánh sự suy thoái, sụp đổ của chế độ phong kiến Lê Trịnh và cuộc khởi nghĩa Tây

Sơn Nguyễn Huệ thế kỷ XVIII, Hoàng Việt Long hưng chí dựng lại quá trình “phục

hưng” nhà Nguyễn của Nguyễn Ánh v.v… Còn TTLS hiện đại thì chỉ một số tác

phẩm khai thác chủ đề này (Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Gia Long tẩu quốc của Tân Dân Tử, Trần Nguyên chiến kỷ của Nguyễn Tử Siêu) Còn đa số các

tác phẩm khác tập trung khai thác một sự kiện lịch sử đặc biệt của một triều đại đểkhám phá lịch sử đời tư của những con người có liên quan tới biến cố lịch sử đó

như: Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng khi miêu tả Đặng Thị Huệ, Tiếng sấm đêm đông của Nguyễn Tử Siêu khi miêu tả thế giới nội tâm của Đinh Tiên Hoàng hoặc nỗi tương tư của Lý Chiêu Hoàng trong Chiếc ngai vàng và nhiều tác

phẩm khác của Lan Khai

Về kết cấu: Tiểu thuyết trung đại được kết cấu theo kiểu chương hồi, chia làm

nhiều tiết, nhiều hồi Cụ thể: Hoan Châu ký có 16 tiết, Hoàng Việt Long hưng chí có

34 hồi, Việt Lam xuân thu có 64 hồi, Nam Triều công nghiệp diễn chí có 8 quyển (8 hồi) Riêng Hoàng Lê nhất thống chí là loại kí sự lịch sử có tính tiểu thuyết, bởi nó

vừa mang tính kí sự vừa mang tính tiểu thuyết TTLS hiện đại có sự kế thừa hìnhthức tiểu thuyết chương hồi nhưng các dấu vết của tiểu thuyết chương hồi rất mờnhạt, càng về sau các nhà văn càng sử dụng lối kết cấu của tiểu thuyết hiện đạiphương Tây với cốt truyện cơ động, lấy nhân vật và quá trình phát triển tính cách

Trang 34

nhân vật làm nòng cốt Về cơ bản TTLS giai đoạn đầu vẫn kết thúc có hậu như: Cái hột mận, Cánh buồm thoát tục của Lan Khai, Việt Thanh chiến sử của Nguyễn Tử Siêu, Vua Quang Trung của Phan Trần Chúc v.v… nhưng từ sau 1930 trở đi các

tác phẩm có kết thúc tự nhiên hơn, hợp lí hơn, không khiên cưỡng

Về nghệ thuật trần thuật: Loại hình này vừa kế thừa tiểu thuyết truyền thống

vừa sáng tạo TTLS hiện đại Người kể toàn tri dần dần được lồng ghép vào các ngôi

kể khác tạo nên sự đa thanh, nhiều bè của TTLS hiện đại Điều này có thể thấy rõqua các TTLS của Nguyễn Tử Siêu, Lan Khai, Trương Tửu

Về ngôn ngữ: Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu được viết bằng lối văn

cổ điển của TTLS thời kì trung đại với tần suất lớn các câu văn biền ngẫu, nhiều từ

ngữ Hán Việt, lối chuyển hồi, chuyển đoạn: Có 121 từ “rằng”, 125 từ “mà”, 306 từ

“là”, 305 từ “thì” trên tổng số 140 trang của tác phẩm Tuy nhiên TTLS của Phan

Bội Châu cũng đã có một số điểm bước sang địa hạt của TTLS hiện đại Tiêu biểu

là cách giới thiệu nhân vật qua một nhân vật khác hoặc các hồi được đặt tên cụ thể,

ngắn gọn, tóm tắt nội dung của hồi đó như: Bỏ nhà cứu bạn, Lộ gan anh hùng, Tráng sĩ đăng đàn… Còn TTLS hiện đại nhìn chung chỉ kế thừa TTLS trung đại ở

một vài biểu hiện về từ ngữ cổ, một số yếu tố tượng trưng, ước lệ để gợi lại khôngkhí lịch sử

Qua sự so sánh trên có thể thấy được tính chất giao thời của TTLS hiện đạigiai đoạn 1900-1945 Đây là giai đoạn văn học có tính bản lề và cũng là giai đoạnthể hiện sự đổi mới mạnh mẽ của các nhà TTLS góp phần vào công cuộc hiện đạihóa nền văn học TTLS hiện đại trên cơ sở kế thừa và tiếp biến có chọn lọc nhữngảnh hưởng của quan điểm mỹ học phương Đông và phương Tây đã chứng minhđược sức sống tiềm tàng, sự nhạy bén, cơ động của nó trên hành trình tự đổi mới vàbắt kịp với sự phát triển của TTLS thế giới, cũng như thích ứng được với những đòihỏi ngày càng khắt khe của độc giả Đây cũng là cơ sở để đánh giá khách quan,khoa học TTLS của Lan Khai

1.3 Tình hình nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông

1.3.1 Về nhà văn Lan Khai

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lan Khai đã để lại dấu ấn rõ nét trong nềnvăn học Việt Nam hiện đại giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX Nhưng do cái chết bí ẩncủa ông (11/1945) nên gần 20 năm sau các cây bút ở hai miền Nam Bắc mới đề cậptới thân thế và văn nghiệp của Lan Khai nhưng trong số đó còn có những thông tinthiếu khách quan và không chính xác

Trước 1945 đã có nhiều học giả nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Lan Khai,tiêu biểu như Trương Tửu, Hải Triều, Trần Huy Liệu, Vũ Ngọc Phan, Phạm MạnhPhan… Các tác giả đương thời đều đánh giá cao tài năng và sức sáng tạo dồi dào củacây bút Lan Khai, tiêu biểu là nhận định của tác giả Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan về

sở trường của Lan Khai ở đề tài lịch sử Trên tờ báo Loa năm 1935, trong mục Văn

học Việt Nam hiện đại, Trương Tửu gọi Lan Khai là: “Nhà nghệ sĩ của rừng rú”, “là

Trang 35

đàn anh trong thế giới sơn lâm”, “là cây đa cổ thụ giữa cánh đồng bát ngát” [147; tr.26].

Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan mệnh danh Lan Khai là “lão

tướng trong làng tiểu thuyết đang gắng tìm đường mới” [126; tr 176] Từ sau 1945đến 1965 tên tuổi Lan Khai trên văn đàn hầu như vắng bóng Từ 1965 - 1985 trên

một số cuốn sách ở miền Bắc như Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán của Nguyễn Đức Đàn, Lược truyện về các nhà văn hiện đại (Tập 2, 1972, Trần Văn

Giáp chủ biên) đã đưa một số thông tin sai lệch về ông

Hồi kí nhan đề Truyện lầm than của chúng tôi (1989) của bà quả phụ Hà Thị

Minh Kim đã ghi lại chân thực cuộc đời hoạt động cách mạng và sáng tác của LanKhai gắn với những chuyển động của lịch sử đất nước (từ 1926 đến 1945) Đây làmột tài liệu quý về chân dung một nhà văn yêu nước và tận hiến tài năng trí tuệ cho

nghệ thuật: Năm 1936, ông được trao Giải nhất văn học của Hội Trí tri cho cuốn Tiếng gọi của rừng thẳm Năm 1938, ông cho xuất bản cuốn Lầm than liền bị thực

dân Pháp bắt giam Bên cạnh thiên chức một nhà văn, Lan Khai còn là một nhà giáo

và tham gia vào Hội Trí tri của nhà trí thức cách mạng Nguyễn Văn Tố Ông thườngxuyên tham gia diễn thuyết văn học cho các tổ chức văn hóa giáo dục đương thời

Năm 1943, Lan Khai gia nhập Hội văn hóa cứu quốc do Đảng cộng sản Đông

Dương lãnh đạo làm nhiệm vụ tuyên truyền cho mặt trận Việt Minh và phát hànhbáo chí cách mạng Năm 1944, ông cùng gia đình hồi hương từ Hà Nội về TuyênQuang Tháng 8 năm 1945, Lan Khai tham gia cướp chính quyền tại quê nhà và là

vị Chủ tịch lâm thời đầu tiên của Khu Xuân Hòa thị xã Tuyên Quang; sau đó đượcđiều vào Khu ATK làm nhiệm vụ dạy học và mất vào ngày 29/11/1945 tại bản Lũng

Cò, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang “do một tên côn đồ ám sát” (Lời Thiếutướng Hoàng Mai) Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Lan Khai là một cây bút tiêubiểu của giai đoạn văn học 1930 - 1945 Năm 1938, ông cùng với nhà văn Lê VănTrương đã trở thành hai cây bút trụ cột của Nhà xuất bản Tân Dân Năm 1939, ông

làm Tổng thư kí Tạp chí Tao Đàn của nhà xuất bản Tân Dân, một nhà xuất bản lớn

ở Việt Nam thời đó Ông sớm được đông đảo bạn đọc đương thời biết đến bằng

những cuốn tiểu thuyết tâm lí xã hội như Nước Hồ Gươm (1928), Cô Dung (1936), Lầm than (1938),… những truyện đường rừng như Mũi tên độc (1932), Rừng khuya (1935), Tiếng gọi của rừng thẳm (1936), Suối Đàn (1941)… và tuyển truyện ngắn Truyện đường rừng (1940) Đặc biệt ông để lại 26 cuốn TTLS và trên

30 tác phẩm kí, các công trình dịch thuật và sưu tầm văn học dân gian miền núicùng nhiều tranh kí họa Cho đến nay Lan Khai là cây bút có số lượng TTLS nhiềunhất ở Việt Nam Tuy nhiên do “cái chết đầy bất ngờ của ông trong hoàn cảnh cónhiều tao loạn lịch sử đã không được công bố và giải thích rõ ràng đã phủ lên dưluận một màn đêm kéo dài gần sáu mươi năm” [147; tr 22] nên trong danh sách cácnhà văn tiêu biểu của giai đoạn 1930 - 1945 hầu như ít người nhắc đến Lan Khai, vìvậy việc nghiên cứu sự nghiệp văn học của ông vẫn còn nhiều khoảng trống

Trang 36

Từ năm 1990 trở đi sự thật về cái chết của Lan Khai dần dần được phát lộ.

Năm 2006 Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Kỷ niệm 100 năm sinh Lan Khai và Hội thảo khoa học: Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại, thân thế và sự nghiệp sáng tác của ông đã hoàn toàn sáng tỏ Tất cả đã được trình bày rõ trong cuốn “Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc” (2006) của tác giả Trần Mạnh Tiến (Chủ biên).

Do vậy, chúng tôi chỉ điểm qua một số những nét chính như sau: Lan Khai từng làmột chiến sĩ cách mạng yêu nước; ông tham gia tổ chức Quốc dân Đảng do lãnh tụNguyễn Thái Học lãnh đạo từ năm 1928 đến năm 1930 và bị thực dân Pháp bắt tù

đày Khi ra tù, Lan Khai để lại cuốn bút kí nhan đề 8023 in nhiều số trên báo Loa

năm 1935 Tập bút ký đã ghi lại tinh thần yêu nước quả cảm của các chiến sĩ cáchmạng quyết tâm chống thực dân Pháp để giành quyền độc lập tự do cho dân tộc vớichân dung những nhà yêu nước như Nguyễn Thái Học, Trần Huy Liệu Đó là nguồntài liệu lịch sử quý của Lan Khai về một thời kì đấu tranh chống thực dân cướpnước của lịch sử dân tộc đầu thế kỉ XX Sau khi ra tù, ông dồn tâm sức vào sáng tácvăn chương, lí luận, phê bình, sưu tầm, dịch thuật và hội họa

Từ năm 1990 trở đi, trong hoạt động nghiên cứu nhiều cây bút đã cung cấpthêm những tư liệu về các nhà văn và tác phẩm trước 1945 Tiêu biểu là một số bài

viết, bài nghiên cứu về Lan Khai như: Đôi điều về nhà văn Lan Khai (Báo Văn Nghệ cuối tuần tháng 8/1990) của tác giả Gia Dũng đã cho thấy nhiều chi tiết quan

trọng, mới mẻ về Lan Khai qua tìm hiểu những người thân của nhà văn thời tiền

chiến Cùng thời gian trên, trong bài viết Hành hương về thủ đô kháng chiến (1990)

của Hoàng Minh Tường đã bổ sung thêm những tư liệu tin cậy về Lan Khai

Sau đó, nhiều bài viết, hồi kí về Lan Khai cũng được công bố Công trình Đốt lò hương cũ (1992) (Nxb Khánh Hòa) của Ngọc Giao có bài: Lan Khai với chuyện lạ đường rừng và Chơi sách (1996) đã đề cao tài năng sáng tạo và phẩm chất nghệ sĩ của

Lan Khai cũng như cái chết oan khuất của ông Nhà văn Ngọc Giao đã nhấn mạnh cátính, sở trường và tinh thần dân tộc của Lan Khai thể hiện qua nhiều tác phẩm

Công trình Văn thi sĩ tiền chiến (Nxb Hà Nội, tái bản 1994) của Nguyễn Vĩ với hai bài viết: Lan Khai và Cái hột mận của Lan Khai đã cung cấp những thông

tin mới, hữu ích về đời tư và cá tính sáng tạo của Lan Khai Tác giả bài viết thể hiện

sự hiểu biết sâu sắc về Lan Khai và khẳng định TTLS là sở trường sáng tác của ông

Trong từ điển Tác gia văn hóa Việt Nam và Từ điển nhân vật lịch sử (1996,

Nhiều tác giả) cũng công bố những tư liệu về thân thế và văn nghiệp của Lan Khai,đồng thời có đề cập tới một số TTLS của ông nhưng còn rất sơ lược

Đặc biệt, từ năm 2000 trở đi các công trình nghiên cứu về Lan Khai của tác

giả Trần Mạnh Tiến như: Lan Khai - Tác phẩm nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học (2002), Lan Khai - Truyện đường rừng (2004) viết chung với Nguyễn Thanh Trường; Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc (2006); Lan Khai tuyển tập (2 tập, 2010); Lan Khai - Tuyển truyện ngắn (2011) và Lan Khai - Ký (2015); Lan Khai – Truyện cổ và thơ ca dân gian (2016) Người viết đã sưu tầm, nghiên cứu và đáng

Trang 37

gía tòa bộ những thành tựu sáng tác, lí luận phê bình, sưu tầm dịch thuật trong cuộcđời lao động nghệ thuật của Lan Khai Đồng thời, tác giả Trần Mạnh Tiến đã làmsáng tỏ cuộc đời hoạt động cách mạng và hoạt động văn học của Lan Khai bằng các

tư liệu lịch sử từ gia đình, quê hương nhà văn, các nhân chứng cùng thời với LanKhai và các bậc lão thành cách mạng tiền bối hiểu biết về Lan Khai Đây là nguồn

tư liệu đã được kiểm chứng và tin cậy giúp chúng tôi nghiên cứu toàn diện và hệthống sự nghiệp cách mạng và những đóng góp của Lan Khai cho nền văn học dântộc những năm đầu thế kỉ XX Trong đó đáng chú ý nhất là phóng sự của tác giả

Trần Mạnh Tiến nhan đề Cuộc gặp với Thiếu tướng Hoàng Mai ngày 10/5/2003 đăng trên báo Văn Nghệ ngày 15/4/2006 đã nêu rõ ý kiến của Thiếu tướng Hoàng Mai sự thật về cái chết của Lan Khai Tiếp theo đó là bài “Sáu mươi năm chúng tôi

đi tìm cha” (Văn nghệ 22/4/2006) của Lan Phương, đã nhắc lại ý kiến của Thiếu

tướng Hoàng Mai: “Lịch sử không bao giờ lầm lẫn, nhà văn Lan Khai là người cócông với nước” [147; tr 7] Điều đó đã làm sáng rõ các ý kiến sai lầm, phiến diện,

vô căn cứ của một số cây bút phê bình văn học ở miền Bắc như Hồng Chương,Nguyễn Đức Đàn, Trần Văn Giáp, Phan Cự Đệ từ 1965 đến trước 1990 khi nhận

xét về tác giả Lan Khai Đặc biệt trong lời khai mạc “Lễ Kỷ niệm 100 năm sinh Lan Khai” (26/7/2006) nhà thơ Hữu Thỉnh đã khảng định: “Lan Khai là một trong

những nhà văn trưởng thành rất sớm về ý thức xã hội và lí tưởng nghệ thuật Cuộcđời và sự nghiệp của Lan Khai thật trong sáng và cao đẹp Đáng lẽ ông phải đượcnghiên cứu, đánh giá công bằng trong văn học sử như là một trong những nhà vănxuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại, một người có công với cách mạng”[147; tr 30-31] Đó là nhận định khách quan về tài năng và vị trí của nhà văn LanKhai trong lịch sử văn học dân tộc

Tiếp theo phải kể đến cuốn sách nhan đề Thao thức (2009; Nxb Lao động) của

cụ Minh Mị, người bạn thân thiết của Lan Khai qua bài viết Với Lan Khai đã hồi ức

lại những kỉ niệm thời tiền chiến ở Hà Thành với nhà văn: Khi Lan Khai còn là sinhviên Trường Bưởi ông đã tham gia vào phong trào yêu nước của học sinh, sinh viênthời đó Vì tham gia đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinhnên Lan Khai đã bị nhà cầm quyền Pháp bắt giam và buộc thôi học Cuốn sách cònnói tới tình bạn thắm thiết giữa Lan Khai và nhà thơ Trần Huyền Trân, nhà vănTrần Huy Liệu và cái chết oan khuất của ông Qua đó cho thấy Lan Khai là một tríthức yêu nước, một nhà văn tài năng đã sớm tham gia vào công cuộc đấu tranh giải

phóng dân tộc Bài viết Cha tôi - nhà văn Lan Khai của Lan Phương, con trai của cố nhà văn đăng trên Tapchisonghuong.com.vn cũng là những tư liệu quý để chúng tôi

tìm hiểu con người, cá tính của nhà văn Trên trang báo điện tử www.tinmoi.vn

cũng đăng bài Cuộc đời khốn khó của nhà văn Lan Khai của tác giả Đơn Thương,

ghi chép chân thực về cuộc đời Lan Khai Bài viết cung cấp thêm một tư liệu để độcgiả hiểu sâu sắc những trăn trở của ông về số phận con người Gần đây nhất trên

Tạp chí Quốc tế (ISSN 24103918) của Áo (trang 2 tập 5 tháng 7/2019) của Học

Trang 38

viện Kinh doanh, Hành chính, Luật và Khoa học xã hội châu Âu đã đăng bài viết: Lan Khai - Người mở đường vào thế giới sơn lâm của nền văn học Việt Nam hiện đại của Trần Mạnh Tiến đã đề cập tới tiểu thuyết và truyện ngắn đường rừng của

Lan Khai, cho thấy tên tuổi Lan Khai đã đến với bạn bè quốc tế

Những năm gần đây, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lan Khai đã trởthành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, lý luận trên cảnước Đặc biệt, sau khi sự thực về cái chết của Lan Khai được sáng tỏ, thân thế và

sự nghiệp của ông càng nhận được sự quan tâm sâu sắc của độc giả Đã có nhiềuluận văn Cao học ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam đề cao, trân trọng tài năng và đónggóp của Lan Khai cho nền văn học cũng như đã khẳng định những thành tựu trong

sự nghiệp sáng tác nói chung và TTLS của Lan Khai nói riêng nhưng vẫn còn nhiềukhoảng trống

1.3.2 Về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai

1.3.2.1 Trước năm 1945

Bên cạnh sự thành công ở các thể loại khác như truyện ngắn, tiểu thuyết tâm lí

xã hội, truyện đường rừng, TTLS của Lan Khai cũng được các học giả nổi tiếngđương thời như: Trương Tửu, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan quan tâm và đánh giácao Các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn đến những nhân tố đột phá của Lan Khai

Trên báo Loa trong mục Văn học Việt Nam hiện đại có bài Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử (Số 82, Thứ Năm, 12/1935), Trương Tửu đã dự báo chính xác về Lan Khai

“có thể trở nên một nhà TTLS có tài”: “Rừng rú và lịch sử là hai thế giới mà ôngLan Khai là người thứ nhất đem vào tiểu thuyết hiện đại, có lương tâm và nghệthuật” [142; tr 35] Nhận xét về ngôn ngữ tiểu thuyết của Lan Khai, Trương Tửuviết: “Ông lại làm giàu văn tự Việt Nam bằng nhiều thổ ngữ lạ lùng mà cuốn từđiển tương lai không có quyền bỏ sót” [142; tr 35] Tuy nhiên Trương Tửu khôngđồng tình với cách miêu tả nhân vật của Lan Khai: “Ông cho những người ở thế kỷtrước sống những tình cảm và tư tưởng chỉ riêng có ở thế kỷ XX” Cũng với cáchnhìn truyền thống, Trương Tửu không tán thành với bút pháp hư cấu của Lan Khaikhi xây dựng nhân vật khác với nguyên mẫu lịch sử Đây thực chất là ý thức đổimới thể loại của Lan Khai bởi đương thời ông là nhà văn đã phê phán lối viết sáomòn hay sao chép của cổ nhân; khẳng định cá tính sáng tạo và những nỗ lực đổimới trong sáng tác của nhà văn về mọi mặt

Trong cuốn sách Dưới mắt tôi (1939) qua phê bình 5 tiểu thuyết Gái thời loạn, Chiếc ngai vàng, Chế Bồng Nga, Ai lên phố Cát, Cái hột mận của Lan Khai, tác giả

Trương Chính đánh giá khách quan những thành công trong TTLS của Lan Khainhưng ông cũng thể hiện sự chưa đồng tình với cách xây dựng nhân vật không theo

“nguyên mẫu lịch sử” của Lan Khai Qua những ý kiến trên đã cho thấy sự đổi mớitáo bạo của Lan Khai trong việc xây dựng nhân vật đã vượt thoát những lối mòn

truyền thống Đúng như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại

Trang 39

(1942) đã nhận xét: “Lan Khai là một cây bút luôn gắng tìm đường mới”.

Cũng trong Nhà văn hiện đại, mục Lan Khai (tập IV quyển thượng, 1942), Vũ

Ngọc Phan tán thành với Trương Tửu khi cho rằng: “Ngôn ngữ và cử chỉ của một

số nhân vật chưa hợp với thời đại” Vũ Ngọc Phan đã nhận xét về tác phẩm Ai lên phố Cát của Lan Khai như sau: “Trong một quyển lịch sử tiểu thuyết, việc không

cần hoàn toàn đúng sự thật, nhưng ngôn ngữ cử chỉ các nhân vật cũng cần phải hợpvới thời đại” [124; tr 272] Mặc dù vậy, ông vẫn đánh giá cao tài năng của LanKhai khi cho rằng đương thời chỉ có Lan Khai mới thực sự là nhà lịch sử tiểu thuyếttrong khi các cây bút khác như Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Trúc Khê Ngô

Văn Triện… chỉ thiên về lịch sử kí sự Đến tiểu thuyết Gái thời loạn, Vũ Ngọc Phan

viết: “Về mặt quan sát, Lan Khai đã tiến một bậc Ông đã chịu tra cứu sử sách để tảcho đúng hình dung, y phục và những hành động đáng ghê sợ của quân Cờ Đen”[126; tr 973] Điều đó cho thấy, trong quá trình sáng tác, Lan Khai luôn có sự điềuchỉnh bút pháp để mỗi sản phẩm nghệ thuật sau cao hơn sản phẩm nghệ thuật trước.Đương thời TTLS của Lan Khai đã có chỗ đứng riêng trong lòng bạn đọc bởi mỗitác phẩm là một chứng nhân cho sự nỗ lực làm mới tiểu thuyết của nhà văn

Trong giai đoạn này, tình hình nghiên cứu về Lan Khai và TTLS của ông còn rất

sơ lược, chưa tương xứng với những thành tựu nghệ thuật của nhà văn ở thể tài này

1.3.2.2 Sau năm 1945 đến nay

Trong khoảng hai mươi năm (từ 1946 - 1965), trừ một số cây bút như PhạmThế Ngũ, Nguyễn Văn Xung ở miền Nam nhắc tới Lan Khai trong một số côngtrình biên khảo, còn tên tuổi của Lan Khai trên văn đàn miền Bắc dường như vắngbóng Các công trình nghiên cứu chưa quan tâm tới thân thế và sự nghiệp của LanKhai cũng như chưa khảo sát toàn diện về TTLS của ông như một thể loại riêng, màchỉ đề cập đến một vài sự kiện và nhân vật một cách sơ lược, thậm chí bỏ quanhững đóng góp quan trọng của Lan Khai trong hành trình cách tân tiểu thuyết củanền văn học Việt Nam hiện đại

Từ sau 1965 trở đi, tình hình nghiên cứu về Lan Khai diễn ra không đồng đềutrong từng giai đoạn và trong cả nước Sự đánh giá về ông chưa thống nhất ở haimiền Nam, Bắc Sự xuất hiện các bài viết về Lan Khai ở miền Bắc từ 1965 đến

trước 1990 của các cây bút Hồng Chương (Mấy vấn đề lý luận về phê bình văn nghệ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1965), Nguyễn Đức Đàn (Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán, 1968), Trần Văn Giáp (Lược truyện các tác gia Việt Nam,1972), Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt nam hiện đại, 1975) đã đưa ra các nhận xét lệch lạc,

phiến diện về sáng tác của Lan Khai Một số ý kiến cho rằng TTLS của Lan Khaitheo “khuynh hướng lãng mạn”, xem như đó là mặt trái của nền văn học dân tộc.Trong khoảng 25 năm trên miền Bắc, các bài viết và hoạt động nghiên cứu về TTLScủa Lan Khai còn nhỏ lẻ, mang tính chất lược thuật, chưa khảo sát hệ thống và đánhgiá toàn diện những thành công và hạn chế các tác phẩm của Lan Khai ở thể tài này

Trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1967) xuất bản ở Sài

Trang 40

Gòn, tác giả Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Trong những nhà văn của nhóm Tân Dân,

có lẽ Lan Khai là cây bút biết tự săn sóc và có nhiều đức tính văn chương hơn cả ”

và nhấn mạnh sở trường của Lan Khai “khi tả những cảnh oanh liệt và những cảnhsay sưa tình ái ” [147; tr 283] Một mặt Phạm Thế Ngũ tán thành các ý kiến củacác nhà nghiên cứu trước 1945, mặt khác ông đề cao kĩ thuật tiểu thuyết và sự tàihoa của Lan Khai trong nhiều mảng sáng tác và đồng tình với tác giả Trương Tửukhi nhấn mạnh “sở trường” của Lan Khai trong nghệ thuật miêu tả làm gia tăng tính

tiểu thuyết ở thể tài lịch sử Cùng quan điểm trên, trong cuốn Văn học đại cương

(1972) (Nxb Sống Mới, Sài Gòn), tác giả Nguyễn Văn Xung đã khẳng định vị tríquan trọng của Lan Khai trên văn đàn và ca ngợi Lan Khai “có lối hành văn trongsáng và tươi thắm” [144; tr 123] Đó là cái nhìn khách quan và thống nhất với cácnhà phê bình nổi tiếng trước 1945

Từ sau 1990 trở đi các bài viết về sáng tác của Lan Khai lần lượt xuất hiện với

cái nhìn cởi mở, khách quan hơn Tác giả Ngọc Giao trong Chân dung và giai thoại (1992) cũng khẳng định tinh thần dân tộc mạnh mẽ của Lan Khai qua bài Lan Khai với “Truyện lạ đường rừng” có đoạn viết: “Lan Khai nói với tôi: Ở thời này nên viết

nhiều về lịch sử, lấy người xưa việc cũ áp dụng vào chính sự và thế sự, nâng caotinh thần dân tộc, ngòi bút được thả sức tung hoành ” [118; tr 349]

Trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (2000) (Nxb Đại học Quốc gia),

Nguyễn Đăng Mạnh đã đề cập tới “TTLS mang đậm nét lãng mạn” [102; tr 66]

của Lan Khai và cuốn Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX (2002) của Viện Văn

học (Nxb Chính trị Quốc gia) cũng khẳng định vị trí của “cây bút lão luyện Lan

Khai” với các tác phẩm tiêu biểu như: Trong cơn binh lửa, Ai lên phố Cát, Treo bức chiến bào Đó cũng là những nhận định khách quan về sự tài hoa của cây bút

Lan Khai

Tác giả Hoài Anh với bài viết Lan Khai từ khuynh hướng lãng mạn thoát

li đi đến hiện thực xã hội (2001) cũng đã bàn về thể tài lịch sử trong sáng tác của

Lan Khai trong sự so sánh với TTLS nói chung: “Viết về những thời kì xa xưacủa dân tộc nhưng Lan Khai đã chịu ảnh hưởng của văn chương Pháp, cốt truyệncủa ông mang tính chất éo le như những vở kịch của Corneille, Racine ” [144;tr.296] Điều đó cho thấy những nỗ lực đổi mới của Lan Khai để mỗi tác phẩm làmột sinh thể nghệ thuật độc đáo

Tác giả Vũ Đức Hoan với công trình Nhóm Tân Dân trong đời sống văn học Việt Nam trước 1945 (2011) cũng nêu nhận xét: “Khi viết TTLS, Lan Khai chủ yếu

quan tâm đến khía cạnh nghệ thuật, tức ở sự hư cấu, sáng tạo thêm chi tiết Lan Khaicho rằng nếu nhà lịch sử đi tìm cái “nguyên sự thực” gác bỏ lại những điều huyềnhoặc, mơ hồ thì nhà TTLS lại được quyền “biên chép tất cả để thêm hứng thú cho câuchuyện mình kể” [147; tr 56] Như vậy, Vũ Đức Hoan cũng đánh giá cao những đổimới của Lan Khai theo khuynh hướng thẩm mĩ mới của văn chương nghệ thuật

Trong các công trình nghiên cứu về Lan Khai, từ năm 2000 trở đi có bài viết

Ngày đăng: 28/09/2020, 20:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w