1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử đương đại việt nam

165 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những biểu tượng nghệ thuật ở đây không thuộc về điển cố, điển tích, không thuộc về ký hiệu chỉ dẫn, nó có thể hình thành từ những cổ mẫu mang tâm thức văn hoá cộng đồng, từ khả năng sán

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THANH LIÊM

HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các dẫn liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những phát hiện trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án

Tác giả luận án

Đoàn Thanh Liêm

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THANH LIÊM

HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9 22 01 21

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi

dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Đăng Điệp Các kết quả nêu ra trong luận

án là hoàn toàn trung thực; các kết luận được đưa ra chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2020

Tác giả

Đoàn Thanh Liêm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 6 1.1 Vấn đề nghiên cứu biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử 6 1.2 Cơ sở lí thuyết và hướng tiếp cận của luận án 17 CHƯƠNG 2 HỆ BIỂU TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH

SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 32 2.1 Các biểu tượng Nước, Lửa, Đất, Trời 32

2.2 Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử đương đại

Việt Nam 55 Chương 3 HỆ BIỂU TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH

SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 68 3.1 Các biểu tượng đấng minh quân, kẻ sĩ, liệt nữ 68

3.2 Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử đương

đại Việt Nam 95 CHƯƠNG 4 HỆ BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 106 4.1 Các biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội 106

4.2 Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam 133

KẾT LUẬN 143 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Biểu tượng hiện hữu trong đời sống nhân loại ngay từ khi loài người biết tư duy về tự nhiên và xã hội với những hình ảnh đơn giản nhất Từ xã hội nguyên thủy cho đến xã hội văn minh, từ con người tiền sử cho đến con người hiện đại, biểu tượng luôn được tạo ra như là một công cụ thực hiện chức năng xã hội, thể hiện nhận thức của con người về tự nhiên và xã hội Cùng với trình độ tư duy của con người ngày càng phát triển, thế giới biểu tượng càng ngày được thiết tạo phong phú và sinh động, sử dụng rộng rãi trên các mặt đời sống xã hội Biểu tượng “không chỉ là hiện tượng văn hóa thông thường, hệ thống biểu tượng là nền tảng cơ bản của một nền văn hóa dân tộc” [31, tr.9] Hệ thống biểu tượng ấy không hề tồn tại độc lập mà xuyên thấu vào nhau vừa mang bản sắc văn hóa của thời đại mà nó được sản sinh ra vừa không ngừng được bổ sung các giá trị qua lịch sử phát triển

1.2 Biểu tượng không chỉ có trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, trong chính trị, hoạt động quảng cáo sản phẩm… mà biểu tượng cũng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật rất phong phú, đa dạng Nó không chỉ là một hiện tượng văn hóa mà còn là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, thực hiện chức năng giao tiếp gắn kết giữa mĩ học sáng tạo và mĩ học tiếp nhận Nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm không chỉ có nghĩa định danh, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu cảm mà còn có nghĩa “siêu niệm” Tầng nghĩa ấy vừa mang tính phổ quát cộng đồng vừa mang cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ trước thời đại, vừa lưu giữ nguồn gốc khởi thuỷ của nó vừa phảng phất vốn văn hoá, vốn sống của mỗi nhà văn, sự chi phối của tư duy nghệ thuật mỗi thời đại Đặc biệt hơn, tầng nghĩa ấy không bao giờ giống nhau qua cách tiếp cận đồng đại và lịch đại

1.3 Về mặt nhận thức, có nhiều phương tiện thực hiện chức năng chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học Trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam, thế giới biểu tượng là một phương tiện nghệ thuật thực hiện chức năng đó Biểu tượng tự thân nó gắn liền với nội dung (tư tưởng, lịch sử, văn

Trang 6

2

hóa…) nào đó, đến lúc nội dung đó làm bình diện biểu hiện cho một nội dung khác cùng cấp độ hoặc khác cấp độ giá trị trong tác phẩm nghệ thuật Những biểu tượng nghệ thuật ở đây không thuộc về điển cố, điển tích, không thuộc về

ký hiệu chỉ dẫn, nó có thể hình thành từ những cổ mẫu mang tâm thức văn hoá cộng đồng, từ khả năng sáng tạo biểu tượng mới của người nghệ sĩ… Nó là một đơn vị ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp xã hội với việc tái tạo, cô đúc các giá trị văn hóa đi qua các thời đại lịch sử, thiết chế xã hội Trong thực tiễn sáng tác, cùng với ngôn ngữ, biểu tượng thực hiện chức năng chuyển tải quan điểm của nhà văn về văn hóa, lịch sử dân tộc, tham gia vào quá trình liên kết văn bản, xây dựng tính cách nhân vật

1.4 Đối với nền văn học đương đại Việt Nam (khái niệm đương đại mà

chúng tôi sử dụng vừa dùng để chỉ mốc thời gian ấn hành các tác phẩm, đồng thời nói đến với sự đổi mới phương thức phản ánh và nội dung phản ánh trong tác phẩm nghệ thuật…), thể tài tiểu thuyết lịch sử có những đóng góp lớn, để lại

dấu ấn sâu sắc Minh chứng cho điều này là sự “thắng thế” của các tiểu thuyết lịch sử qua các lần trao giải và rất nhiều diễn đàn văn học bàn luận về tác giả và tiểu thuyết lịch sử Tiểu thuyết lịch sử là thể tài văn học có đặc trưng phức hợp Thể tài văn học này lấy hiện thực lịch sử làm chất liệu “xương cốt” và hư cấu nghệ thuật làm “hồn phách” tinh anh của tác phẩm Đối tượng thẩm mĩ thường được các nhà văn hướng đến là những chi tiết, sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch

sử được thời gian và các tầng lớp nhân dân phủ bóng trầm tích văn hóa trong quá trình tiếp nhận Nhà văn sử dụng đặc trưng hư cấu để làm sáng tỏ thêm những góc khuất lịch sử trên tinh thần của thời đại ngày nay, qua đó nhắn gởi những thông điệp đến đời sống đương đại và mai sau Trong thời gian qua, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều công trình khoa học chỉ ra tiến trình vận động, phát triển, diện mạo, đặc điểm, các phương thức biểu đạt của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nói chung, tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam nói riêng từ góc nhìn lí luận loại thể văn học Cốt lõi của các tác phẩm thuộc thể tài văn học này

là thành tố lịch sử và văn hóa thì chưa có công trình nghiên cứu nào bàn luận sâu rộng, chuyên biệt Chỉ có một số bài viết bàn đến yếu tố văn hoá, lịch sử, đề cập

Trang 7

3

đến biểu tượng trong một tác phẩm cụ thể nào đó… Trước bối cảnh văn hóa và văn học thế giới đang xóa nhòa những khoảng cách, có khả năng chồng xếp và bị hút lẫn nhau, việc nghiên cứu thế giới biểu tượng nhằm khám phá chiều sâu địa tầng văn hoá, lịch sử nhân loại và dân tộc qua hệ thống tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam là rất cần thiết

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Khám phá những giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc Việt qua các hệ biểu tượng

- Trong quá trình khảo sát và phân tích các biểu tượng, chúng tôi sẽ làm rõ một

số luận điểm có ý nghĩa định vị giá trị biểu tượng và sự kết nối các giá trị ấy với vấn

đề đời sống xã hội, con người đương đại

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận án sẽ giới thuyết lại một số vấn đề lý luận về biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử trên tinh thần kế thừa, phát huy các công trình đã nghiên cứu trước đó

- Luận án tập trung khảo sát, nhận diện và phân tích một số hệ biểu tượng nghệ

thuật cơ bản: hệ biểu tượng tự nhiên, hệ biểu tượng con người, hệ biểu tượng văn

hoá cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam

- Luận án sẽ làm rõ vai trò, chức năng của biểu tượng là đơn vị ngôn ngữ đặc trưng - ngôn ngữ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam qua tư duy nghệ thuật của nhà văn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng trực tiếp mà luận án nghiên cứu là biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới Về bản chất, biểu tượng nghệ thuật cũng là một loại ký hiệu, hàm chứa và biểu đạt vô vàn giá trị lịch sử, tư tưởng, văn hóa, của

cá nhân, cộng đồng Đi sâu tìm hiểu, giải mã biểu tượng cho phép chúng ta mở rộng nhận thức, khám phá những giá trị ẩn khuất của tác phẩm, hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa nhân loại và dân tộc Trong văn học, biểu tượng rời xa đời sống nguyên khởi của

nó để trở thành một dạng ký hiệu, một đơn vị ngôn ngữ quan trọng để kiến tạo nghĩa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

4

Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, ở một chừng mực nào đó, luận án sẽ khảo sát tiểu thuyết lịch sử các giai đoạn trước đó, đồng thời, so sánh với tiểu thuyết lịch sử của một số nền văn học khác để thấy rõ hơn thành tựu của tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp hệ thống

Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi tập hợp được các biểu tượng khác nhau, sắp xếp chúng theo hệ biểu tượng tương ứng để phân tích Phương pháp hệ thống cũng giúp chúng tôi tập hợp được các công trình, bài viết nghiên cứu xoay quanh đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.2 Phương pháp so sánh

Sử dụng phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ xác định được bản chất của đối tượng nghiên cứu trong tương quan với đối tượng của các công trình nghiên cứu khác; xác định bản chất của từng loại biểu tượng trong mối quan hệ với các biểu tượng khác

4.3 Phương pháp loại hình

Nói đến loại hình là nói đến “tập hợp những sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc điểm cơ bản nào đó” [19, tr.327] Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi nhận dạng các biểu tượng khác nhau để xếp chúng về một kiểu loại phù hợp

4.4 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa

Biểu tượng là phương diện quan trọng của văn hóa và là phương tiện biểu đạt của văn học qua tư duy nghệ thuật của nhà văn Tiếp cận biểu tượng văn học từ góc nhìn văn hóa sẽ giúp luận án có điều kiện khám phá chiều sâu các giá trị của biểu tượng trong tác phẩm văn học

4.5 Phương pháp liên ngành

Nghiên cứu biểu tượng trong văn học, đặc biệt là biểu tượng trong tiểu thuyết đòi hỏi sử dụng nhiều loại hình tri thức khác nhau như sử học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học, tôn giáo, tín ngưỡng, thi pháp học, tự sự học…Vì thế, luận án sẽ sử dụng phương pháp liên ngành nhằm cắt nghĩa sâu hơn cách sử dụng biểu tượng cũng như các tầng nghĩa nằm sâu trong biểu tượng văn học

Trang 9

5

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt về biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam

- Góp phần hệ thống hóa các tri thức lý thuyết về biểu tượng và biểu tượng văn học, biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử làm cơ sở khám phá giá trị văn hóa và văn học trong tiểu thuyết lịch sử nói riêng và văn học nói chung

- Phân tích hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam, chỉ ra những thành tựu sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, qua đó, nhận thấy rõ hơn sự giàu

có và phong phú của các giá trị văn hóa trong văn học

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

- Là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học ở phổ thông và đại học

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 2: Hệ biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam Chương 3: Hệ biểu tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam Chương 4: Hệ biểu tượng văn hoá cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam

Trang 10

6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Vấn đề nghiên cứu biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử

1.1.1 Nghiên cứu biểu tượng

1.1.1.1 Khái lược tình hình nghiên cứu biểu tượng trên thế giới

Ở các quốc gia phát triển và có truyền thống văn hóa lâu đời, việc nghiên cứu biểu tượng đã có từ rất sớm cả về khảo sát thực tiễn lẫn nền tảng lý thuyết Các thao tác đọc biểu tượng và giải mã biểu tượng thường gắn với hệ tư tưởng triết học và

mỹ học nào đó

Theo triết học mácxít, quá trình nhận thức của con người về thế giới trải qua

hai giai đoạn nhận thức cơ bản: cảm tính và lý tính Các cấp độ của quá trình nhận

thức diễn ra rất biện chứng và phức tạp, mỗi cấp độ có nội dung, chức năng và ý nghĩa khác nhau Biểu tượng là mắt xích sau cùng, là hình thức phản ánh cao nhất

và phức tạp nhất của quá trình nhận thức cảm tính gồm: cảm giác, tri giác, biểu

tượng Theo đó, biểu tượng là hình ảnh của sự vật, hiện tượng khách quan tương đối

hoàn chỉnh và trừu tượng còn lưu lại trong bộ óc người sau khi sự vật, hiện tượng

đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan “Biểu tượng là hình ảnh của cảm tính về các sự vật, hiện tượng khách quan nên ít nhiều mang tính trừu tượng hóa” [120, tr.300-303] Quan điểm triết học mácxít xem biểu tượng là sản phẩm chủ quan

cá nhân trong hoạt động nhận thức của con người, biểu tượng mất đi giá trị văn hoá không thuộc về cái đã có, cổ xưa được tích luỹ qua các thời đại và không mang tâm

và những vô thức tập thể Từ phương diện tâm lý cá nhân, “có những ý tưởng và

Trang 11

7

tâm tình có tính cách biểu tượng Có những hành động và hoàn cảnh có tính cách biểu tượng” [14, tr.68] Nhưng cũng “có rất nhiều biểu tượng quan trọng, không có tính cách cá nhân mà có tính cách đoàn thể, kể cá phương diện tính chất lẫn phương diện nguồn gốc” đó là “những ý tưởng tập thể thoát thai từ những giấc mơ, từ trí tưởng tượng” [14, tr.68-69] tập thể xã hội trong hoàn cảnh nhất định nào đó tác động đến Carl Jung đã chia tâm thức con người ra làm ba phần: (1) Cái tôi - bộ phận ý thức của tâm thần; (2) Cõi tiềm thức cá nhân - đó là tất cả những gì không xuất hiện nhưng thuộc về ý thức Khi cần sẽ trở thành một phần của ý thức; (3) Vô thức tập thể Đây chính là phần quan trọng, khẳng định giá trị học thuyết của Jung Nếu S Freud quan tâm đến bản năng trong cõi vô thức tác động đến ý thức và hành vi con người, làm nên các giấc mơ, biểu tượng hình thành từ giấc mơ để biểu đạt hành vi thì với Carl Jung, những kiến thức từ cõi vô thức tập thể luôn có ảnh hưởng lên tất

cả những hành vi của con người Nội dung của những ảnh hưởng đến từ cõi vô thức tập thể được gọi là những nguyên mẫu Đó chính là những tâm thức hệ chủ quan bao gồm những biểu tượng hoặc những hình ảnh huyền thoại hay những hình ảnh nguyên thủy Các nguyên mẫu thuộc về tâm thức di truyền hoàn toàn không có liên

hệ nguồn gốc sinh học Các nguyên mẫu không mang thuộc tính bản năng mà là

những nhu cầu mang thuộc tính tinh thần Trong cuốn Thăm dò tiềm thức, Carl Jung

cho rằng: biểu tượng hoàn toàn khác với ký hiệu Theo ông, “một chữ hay một hình ảnh sẽ trở thành biểu tượng khi nó gợi đến một cái gì khác ngoài ý nghĩa hiển nhiên

và trực tiếp” [14, tr.18] Trong khi “ký hiệu không bao giờ nói hết những ý nghĩa của một ý niệm ghi lại bằng ký hiệu ấy còn biểu tượng gợi đến một nội dung to lớn hơn ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp của biểu tượng” [14, tr.67] Đối với các nhà triết học phân tâm, khi phân tích biểu tượng trước hết họ khảo sát những biểu tượng tự nhiên, đối chiếu với các biểu tượng văn hóa Những biểu tượng tự nhiên “thoát thai

từ nội dung phi ý thức của cái psyché (Chữ này Jung dùng để chỉ toàn bộ những tác động trí thức và tiềm thức và được dùng theo một nghĩa rộng hơn chữ “tâm thần”) [14, tr.20], còn “những biểu tượng văn hóa dùng để diễn tả những chân lý vĩnh cửu Những biểu tượng này đã nhiều lần thay đổi, có thể do một tiến trình cấu tạo có ý thức,

và trở thành những hình ảnh tập thể được các xã hội văn minh chấp nhận” [14, tr.135]

Trang 12

8

Thế kỷ XX với sự phát triển vượt bậc của nhiều chuyên ngành khoa học xã hội khác nhau như cấu trúc luận, ngôn ngữ học, ký hiệu học, nhân học đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động nghiên cứu biểu tượng và lý thuyết biểu tượng trên thế giới

Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau về vỏ vật chất, nghĩa và ý nghĩa, giá trị của một phương tiện giao tiếp, song các nhà khoa học cấu trúc luận, ngôn ngữ học,

ký hiệu học quan niệm ngôn ngữ, ký hiệu gồm hai phần: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Từ mô hình cấu trúc do Ferdinand de Sausure lập ra với quan niệm ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu ngôn ngữ có hai phần cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nhiều nhà khoa học như Romand Jakobson, Tzvetan Todorov, Roland Barthes, Jacques Derrida, C Levi-Strauss kế tiếp nhau dụng hành và phát triển nó thành hệ thống lý thuyết về cấu trúc luận, ký hiệu học với những giá trị lớn lao Roland Barthes đã phát triển mô hình cấu trúc của ký hiệu, cái biểu đạt và cái được biểu đạt ở một mức cao hơn Theo đó, “ký hiệu được hình thành từ cái biểu đạt và cái được biểu đạt ban đầu lại kết hợp với nhau thành mô thức của cái biểu đạt

và cái được biểu đạt cao hơn tạo nên các ký hiệu mới” [38, tr.21] Cái biểu đạt được cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan, cái được biểu đạt bị che lấp, ẩn sâu, khó nắm bắt Hệ thống quan điểm này là chìa khoá giải mã biểu tượng

Dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, biểu tượng là thuộc tính đặc trưng của ngôn ngữ Ferdinand de Sausure cho rằng “ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đã được xã hội chấp nhận bằng các quy ước là sản phẩm của văn hóa đặc biệt của loài người Một trong những đặc tính quan trọng nhất cấu thành ngôn ngữ chính là tính biểu tượng được thể hiện thông qua các ký hiệu” [38, tr.24-25] Với quan niệm này, tác giả đã thừa nhận “bên cạnh các ngôn ngữ thông thường như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết còn có thêm một loại ngôn ngữ quan trọng khác đó là ngôn ngữ biểu

tượng” [38, tr.25] được con người sử dụng trong hoạt động sống của mình Và

“ngôn ngữ biểu tượng là một thành tố văn hóa do con người tạo ra để sử dụng như một loại công cụ thông tin và giao tiếp có tính tượng trưng Tìm hiểu ngôn ngữ biểu tượng cũng chính là tìm hiểu đời sống văn hóa và xã hội thông qua các biểu tượng văn hóa do họ tạo ra Nghiên cứu biểu tượng là khoa học có chức năng sử

Trang 13

là một ký hiệu thuộc loại này hay loại khác… Hoặc biểu tượng là sự biểu đạt ký hiệu cho một bản chất phi ký hiệu cao nhất và trừu tượng” Không dễ gì định nghĩa biểu tượng, quan niệm về biểu tượng “phải xuất phát từ các quan niệm trực giác do kinh nghiệm văn hóa mang lại rồi cố gắng khái quát tiếp theo” [66, tr.218-219] Lý thuyết ký hiệu học văn hóa của Lotman lấy văn bản làm trung tâm Ở bình diện biểu hiện, biểu tượng là một văn bản “Tức là nó có một ý nghĩa thống nhất đóng kín bên trong nó” Khi đó, “văn bản là thông tin chí ít hai lần mã hóa, thông tin được chuyển tải bằng một ngôn ngữ, là một hiện tượng đa ngữ…Văn bản không phải là một cái bọc đựng một nghĩa thụ động, mà là tổ chức “truyền đạt”, “lưu giữ” và sáng tạo thông tin” [66, tr.11]

Biểu tượng thuộc về văn hóa Giá trị của biểu tượng không hề bất định mà có

sự dịch chuyển, bổ sung khi nó dịch chuyển từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác, từ các thiết chế xã hội này sang thiết chế xã hội khác Tuy nhiên, giá trị ban đầu vẫn tồn tại cùng nhận thức của xã hội để khi tư duy xã hội vận động thì giá trị

ấy được bổ sung, thêm mới phù hợp Nghiên cứu biểu tượng trên thế giới vì thế đi

vào chiều sâu tri nhận, đó là thế giới biểu tượng của huyền thoại, chiêm mộng,

phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số… mà hai tác giả Jean

Chevalier và Alain Gheerbrant viết nên cuốn Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, hay đó thế giới bí ẩn thuộc về tướng số, kinh dịch, phong thuỷ của xã hội phương

Đông, là thế giới linh thú, con vật trong Thánh kinh của Thiên chúa giáo - Cựu Ước

và Tân Ước “không chỉ là vật thể của hiện thực mà còn là biểu trưng của thế giới tâm thần” được soi sáng dưới lý thuyết phân tâm học về cổ mẫu

Trang 14

10

Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu biểu tượng trên thế giới xoay quanh trục nguồn gốc biểu tượng, quá trình hình thành biểu tượng hoặc biểu tượng như là một phương tiện giao tiếp văn hoá, là đơn vị ngôn ngữ nghệ thuật… Vấn đề nghiên cứu biểu tượng trên thế giới không đơn giản dừng lại ở những công trình mà chúng tôi đề cập Vẫn còn nhiều quan điểm về lý thuyết biểu tượng mà chúng tôi chưa thể cập nhật bởi nhiều lý

do chủ quan và khách quan Song thiết nghĩ, những khái quát trên đây cũng nói lên được trọng tâm của các khuynh hướng tiếp cận biểu tượng trên thế giới

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam

Biểu tượng không còn là đối tượng nghiên cứu mới ở Việt Nam, nhưng những nghiên cứu về biểu tượng ở nước ta trong suốt thời gian dài vừa qua vẫn còn bỏ ngỏ nhiều khoảng trống lí luận chuyên sâu, mang tính đặc thù trên từng lĩnh vực đời sống xã hội Tình hình nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam chủ yếu diễn ra theo hai xu hướng chính là dịch thuật các công trình nghiên cứu nước ngoài và vận dụng lí thuyết

đã được dịch thuật để nghiên cứu biểu tượng theo từng lĩnh vực đời sống xã hội

Về mặt dịch thuật và giới thiệu lý thuyết, có thể kể đến một số công trình đáng chú ý sau đây: 1/ từ phân tâm học, chủ yếu là tác phẩm của Sigmund Freud, Carl

Jung như: Vật tổ và cấm kỵ (Đoàn Văn Chúc dịch), Nguồn gốc của văn hoá và tôn

giáo (Lương Văn Kế dịch), Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ (Nguỵ

Hữu Tâm dịch), Thăm dò tiềm thức (Vũ Đình Lưu dịch), Jung đã thực sự nói gì (Bùi Lưu Phi Khanh dịch), Phân tâm học nhập môn (Nguyễn Xuân Hiến dịch),

Phân tâm học về tính dục (Thụ Nhân dịch); các ấn phẩm đề cập đến biểu tượng

trong mối quan hệ với văn hoá tâm linh, nghệ thuật, tình yêu, tính cách dân tộc do

Đỗ Lai Thúy và các cộng sự thực hiện; 2/ từ ngôn ngữ, ký hiệu học văn hóa với Ký

hiệu học văn hóa của Iu M Lotman (1922-1993) do nhóm tác giả Lã Nguyên, Đỗ

Hải Phong, Trần Đình Sử thực hiện Đây là một công trình khoa học tuyển tập các nghiên cứu đặc sắc, những tư tưởng nòng cốt làm nên lý thuyết ký hiệu học văn hóa của nhà nghiên cứu văn học, nhà văn hóa học và ký hiệu học nổi tiếng thế giới, một trong số học giả hàng đầu thế kỷ XX Cùng hướng dịch thuật, nghiên cứu trên đây

là công trình Từ kí hiệu đến biểu tượng (Trịnh Bá Đĩnh chủ biên) đã nghiên cứu và

dịch tác phẩm của R Barthes, R Jakobson, W Morris, D Chandler…

Trang 15

11

Bên cạnh đó, đáng chú ý là các nghiên cứu của Đoàn Văn Chúc, Đinh Hồng Hải, Trần Đình Sử, Trần Lê Bảo, Lê Nguyên Cẩn, … đã từng bước làm đầy đặn hơn hướng nghiên cứu biểu tượng văn hóa và văn học ở Việt Nam

Chúng tôi coi những công trình trên đây có ý nghĩa tạo lập cơ sở lý thuyết và thực

tiễn cho nghiên cứu Biểu tượng học ở Việt Nam Đây cũng là các công trình lý luận

quan trọng giúp chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án

Việc nghiên cứu biểu tượng trong văn học cũng là hướng nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu chú ý trong thời gian qua Từ các bài báo nghiên cứu biểu

tượng trong thơ ca, tiểu thuyết như Biểu tượng thơ ca, (Bùi Công Hùng), Vấn đề

nghiên cứu biểu tượng thơ ca dân gian (Phạm Thu Yến), Quan hệ giữa tôn giáo và thơ ca trong thế giới biểu tượng (Nguyễn Văn Hạnh), Một số biểu tượng mang tâm thức Mẫu trong “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh (Hoàng Thị Huế)…

đến các công trình, luận án chuyên sâu như: Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao

truyền thống người Việt (Nguyễn Thị Ngọc Điệp), Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân

Kính), Từ kí hiệu đến biểu tượng (Trịnh Bá Đĩnh chủ biên), Tiếp cận văn học từ góc

nhìn văn hóa (Lê Nguyên Cẩn), Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa (Lương Minh

Chung), Biểu tượng trong thơ kháng chiến Việt Nam (Trần Thị Hường)… đã khám phá

chiều sâu tác phẩm từ góc nhìn văn hoá, tư tưởng Các tác giả đã khảo sát biểu tượng rồi tiến hành giải mã các lớp trầm tích văn hoá, tư tưởng trên các biểu tượng trong tác phẩm qua đó tìm thấy dấu ấn văn hoá trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà văn

Biểu tượng rất khó tiếp cận vì tính phức tạp của nó Ngay cả khi được trang bị kiến thức về nó, chúng ta cũng không dễ dàng cảm thức đầy đủ giá trị mà nó biểu đạt Điều may mắn cho tôi khi thực hiện luận án này là tiếp cận được nhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng trên thế giới bằng tiếng Việt nhờ vào tâm huyết và trí tuệ của các nhà nghiên cứu, dịch giả Việt Nam Đấy là nguồn lí thuyết căn bản

để hiểu thế nào là biểu tượng, phân biệt được biểu tượng với các dạng thức tương cận nó, cũng như xác lập các khuynh hướng tiếp cận biểu tượng Nhìn chung, nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam chưa hướng đến xây dựng hệ thống lí luận đặc thù, chưa thành lập được khoa nghiên cứu biểu tượng độc lập như các chuyên ngành khoa học khác Tuy vậy, hoạt động nghiên cứu cũng đạt được kết quả đáng trân

Trang 16

1.1.2 Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước 1986

Trong nền văn học Việt Nam, tiểu thuyết lịch sử xuất hiện khá sớm với Hoan

(tức người họ Nguyễn Cảnh), biên soạn vào khoảng niên hiệu Chính Hòa (1680 -

1705) đời Lê, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái Tiếp đến, nền văn học hiện đại có Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Tiếng sấm đêm đông, Lê Đại

Hành, Hai Bà Trưng đánh giặc… của Nguyễn Tử Siêu, đặc biệt là nhiều tác phẩm

của Nguyễn Triệu Luật như Hòm đựng người, Bà chúa chè, Chúa Trịnh Khải, Loạn

kiêu binh, Rắn báo oan… đã làm nên dòng văn học riêng trong dòng văn học

chung- văn học hiện đại Việt Nam Tuy nhiên, trước 1986, những công trình nghiên cứu về dòng văn học này không nhiều, chỉ là những bài viết ngắn, nhỏ lẻ đăng trên các tạp chí, thảng hoặc xuất hiện một số nhận định khái quát chung nhân đọc tác

phẩm như trường hợp tác giả Triêu Dương trong bài Mấy ý kiến về tiểu thuyết lịch

sử nhân đọc cuốn “Quận He khởi nghĩa”, đăng trên Tạp chí Văn học số 8/1964 có

đề cập đến chủ đề, nhân vật, phương thức tái hiện các sự kiện lịch sử Hay Tân Dân

Tử viết lời giới thiệu tiểu thuyết Gia Long tẩu quốc có bàn đến lịch sử đại lược và

tiểu thuyết lịch sử với điểm khác nhau cơ bản là “Lịch sử đại lược có nói đến nhân vật xuyên sơn, quốc gia hưng phế mà không tả diện mạo, tính tình ngôn ngữ, không

tả tính tình phong cảnh, còn lịch sử tiểu thuyết thì nói đủ các nhân vật xuyên sơn, tính tình ngôn ngữ, tả tới hỉ nộ, ái ố, trí não tinh thần, tả tới phong cảnh, cỏ hoa, nhà cửa, đài các, nhành chim lá gió, nhạc suối kèn ve làm cho độc giả…dễ cảm xúc vào lòng, dễ quan niệm vào trí” [57, tr.Pl10] Nguyễn Triệu Luật trong lời mở đầu tiểu

thuyết Hòm đựng người, và lời tựa tác phẩm Ngọc đường Trường Thi… có bàn đến

“Viết lịch sử tiểu thuyết (Roman historique) không cần theo phép của sử học, không cần có sự thật Tác giả chỉ tưởng tượng ra một chuyện “có thể có” ở một thời đại,

Trang 17

13

rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy Mục đích là lấy chuyện không đâu mà làm sống lại một thời đại” [90, tr.5]; “Triệu Luật phỏng theo lối ấy mà viết cuốn lịch sử tiểu thuyết này Phần chân sử ở trong tự cũng như có giá mà phần lông bông thêm thắt may ra cũng có giá Tưởng đó là lối viết lịch sử tiểu thuyết nên cho nhập cảng vào địa hạt văn chương ta nên đem ra thử lần đầu” [90, tr.302] … Nhìn chung có rất nhiều phát biểu về tiểu thuyết lịch sử song những phát biểu ấy chưa thể đạt chiều sâu lí luận cho một thể tài văn học

Đáng kể nhất trong các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

trước 1986 là công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả xác định tiểu thuyết lịch sử là một khuynh hướng sáng tác Đồng thời với việc điểm lượt những tác giả, tác phẩm tiêu biểu, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nêu ra những nhận địch thoả đáng về tiểu thuyết lịch sử với các đặc điểm riêng của khuynh hướng sáng tác này trước 1930 và sau đó Theo ông, “Trong thời kỳ 1900 - 1930, tiểu thuyết lịch sử là một hình thái mới của văn học yêu nước và cách mạng Tiểu thuyết lịch sử viết về quá khứ của dân tộc nhưng lại mang một ý nghĩa rất hiện đại… những tác phẩm này đồng thời lại là một loại tiểu thuyết lịch sử có luận đề, luận đề về cách mạng Việt Nam” [26, tr.47] Ưu điểm của các tác giả tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này là “họ đã phát huy vai trò của hư cấu sáng tạo, không hoàn toàn nô lệ vào tài liệu lịch sử” nhưng nhược điểm là “họ chưa

có một thái độ nghiên cứu lịch sử thật nghiêm túc, đôi khi họ vi phạm tính chân thực lịch sử nghiêm trọng” [26, tr.51] Trên nguyên tắc sáng tác của Gôgôn, L.Tônxtôi, Quách Mạt Nhược, ông không tán thành “cái bệnh hiện đại hoá lịch sử, xem lịch sử chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức hoạ của tôi” [26, tr.51]

Nhìn chung, trong bối cảnh Việt Nam tập trung nhân tài vật lực cho những cuộc trường chinh vĩ đại, kháng chiến kiến quốc và hàn gắn vết thương chiến tranh sau khi đất nước được thống nhất… đời sống văn học đã cuộn xoáy theo hiện thực

ấy Các nhà văn, các nhà nghiên cứu, phê bình, dịch thuật không thể đứng ngoài cuộc đời dân tộc mà sống cho riêng mình Trên diện rộng và sâu, đời sống văn học chỉ xoay quanh đề tài chiến tranh nhân dân, kiến thiết đất nước, phản ánh kịp thời hiện thực xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Về mặt ý nghĩa lịch sử tư tưởng xã hội, đời

Trang 18

14

sống văn học thời kỳ này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cổ vũ, “minh hoạ”, nhưng ý nghĩa văn học, lí luận và phê bình đúng với bản chất nghệ thuật vẫn còn nhiều khoảng trống cần được hoàn thiện trong tiến trình phát triển của văn học nghệ thuật dân tộc qua các chặng đường tiếp theo

1.1.2.2 Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986

Từ sau 1986, hoạt động nghiên cứu văn học nói chung, nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử nói riêng đã có bước chuyển biến tích cực Cánh cửa giao lưu văn hoá được rộng mở, tiếng nói dân chủ trong đời sống văn học ngày càng được chú trọng là tiền

đề để phong trào dịch thuật, sáng tác và nghiên cứu phát triển Những quan điểm có tính nguyên tắc sáng tác văn học, trong đó có thể tài tiểu thuyết lịch sử của các nhà nghiên cứu, các tác giả tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng trên thế giới như Bakhtin, Biêlinxki, Kundera, Lukács, Hella S Haasse, Lion Feuchtwanger… được dịch thuật, giới thiệu đã góp phần tạo nên sự chuyển biến tích cực ấy

Trên lĩnh vực nghiên cứu, phê bình, nhiều hội thảo chuyên đề về tiểu thuyết lịch sử diễn ra Cuối năm 2012, Hội đồng lí luận - phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức Hội thảo khoa học “Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử”, Viện Văn học và Nhà xuất bản Phụ nữ tổ chức toạ đàm về tiểu thuyết Nguyễn

Xuân Khánh Những tham luận tại toạ đàm được tập hợp thành công trình Lịch sử

và văn hoá, cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh, cũng đã mở ra cách tiếp

cận đa chiều về tiểu thuyết lịch sử nói chung, tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh nói riêng, trên cả phương diện nội dung lẫn phương thức tự sự, đặc biệt là những bàn luận sâu sắc về tư duy lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Ở đó, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng, Nguyễn Xuân Khánh là người có tư tưởng riêng chứ không minh họa cho tư tưởng nào khác Ông viết lịch

sử là để viết về con người, về những giá trị nhân văn trong đời sống… Cũng như

“Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp - miêu tả cái dữ dội của hiện thực từ một giai

đoạn lịch sử để cuối cùng cũng chỉ hướng tới khao khát nhân văn của nhân loại Tác giả Nguyễn Đăng Điệp cho rằng, “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh là một diễn ngôn về lịch sử và văn hóa… Diễn ngôn nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh chính

Trang 19

15

là những suy tư của ông về lịch sử và văn hóa, trong đó, văn hóa là lõi cốt của lịch

sử, là chiều sâu quy định sự hằng tồn của quốc gia, dân tộc” [27, tr.8]

Vào năm 2019, Tạp chí Văn nghệ quân đội và Đại học Hồng Đức cũng tổ chức hội thảo khoa học về nghiên cứu và giảng dạy tiểu thuyết lịch sử Hội thảo đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về thể loại có phần “nhạy cảm” này

Bên cạnh những toạ đàm còn có những bài viết, phê bình sâu sắc của các nhà nghiên cứu, những phát biểu, trao đổi giàu chất lí luận của Nguyễn Xuân Khánh,

Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao… về thể tài văn học này Trong bài viết “Cần đổi

mới suy nghĩ về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử”, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử kêu

gọi phải thay đổi nhận thức và đổi mới tư duy tự sự lịch sử, mạnh dạn thể nghiệm

lối viết hiện đại/hậu hiện đại Nguyễn Văn Dân trong bài “Tiểu thuyết lịch sử Việt

Nam đương đại - phác họa một số xu hướng chủ yếu” đã căn cứ vào mục đích và

quan niệm nghệ thuật của nhà văn để phân chia thành ba khuynh hướng: Tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan; Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn; Tiểu thuyết lịch sử luận giải

Bên cạnh những công trình trên, còn có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước và sau 1986 Có những luận án liên quan đến vấn

đề nghiên cứu của tôi như luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu

thế kỷ XX đến 1945 - Diện mạo và đặc điểm của Bùi Văn Lợi, chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết Minh, luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học của Nguyễn Văn Hùng…

Luận án tiến sĩ của Bùi Văn Lợi bàn diện mạo và đặc điểm của tiểu thuyết lịch

sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 Với công trình này, tác giả

Bùi Văn Lợi đã sử dụng phương pháp văn học sử và phương pháp so sánh để làm sáng tỏ những điều kiện lịch sử, xã hội - văn hóa với tư cách là động lực thúc đẩy sự

ra đời và phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 Luận án đã nêu ra và phân tích một số khái niệm như: Tiểu thuyết lịch sử là gì? Sự khác biệt giữa tiểu thuyết lịch sử với các chủng loại tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết hiện thực, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết kiếm hiệp Tiếp theo đó, tác giả nêu ra

sự khác nhau giữa cuốn tiểu thuyết lịch sử với một công trình khoa học lịch sử, giữa

Trang 20

16

một bên là hư cấu, dã sử với một bên là chính sử Theo tác giả, đặc điểm nội dung tiểu thuyết lịch sử thể hiện ở cảm hứng sáng tạo và quan niệm nghệ thuật về con người Trong đó, cảm hứng lịch sử và dân tộc, cảm hứng thế sự, cảm hứng đạo lý là những cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này Hình tượng con người anh hùng cứu nước là hình tượng trung tâm Song, có sự phát hiện độc đáo và chân thực hơn là nét đời thường ở con người anh hùng phi thường Đặc điểm kết cấu tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này chính là theo phong cách kết cấu truyền thống: Kết cấu theo thời gian tuyến tính và kết cấu theo tuyến nhân vật chính diện/phản diện Luận

án đã thâu tóm được đặc điểm và diện mạo của tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này nhưng vấn đề biểu tượng chưa được đề cập

Chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết

Minh (do Nxb CAND ấn bản năm 2012) là bước “chạy tiếp sức” rất ý nghĩa, tiếp nối công trình của Bùi Văn Lợi Đối tượng tiểu thuyết lịch sử được khảo sát nối dài

từ 1945 đến nay đã không cho phép tác giả đi sâu nghiên cứu muôn mặt của đời sống tiểu thuyết lịch sử Chuyên luận đã tiến đến phân kỳ tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay thành hai giai đoạn: giai đoạn 1: từ 1945 đến 1985, giai đoạn 2: từ 1986 đến nay Trên cơ sở phân kỳ tiểu thuyết lịch sử, tác giả nêu ra các đặc điểm về nội dung và phương thức nghệ thuật ở mỗi giai đoạn Ở giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu là yêu nước, nghệ thuật tự sự theo lối kết cấu chương hồi, kết cấu thời gian, kết cấu nhân quả, ngôn từ nghệ thuật đậm chất biền ngẫu, nhiều điển tích, điển

cố Ở giai đoạn tiếp theo, nội dung thế sự được nhà văn quan tâm khai thác nhiều hơn và trở thành cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết lịch sử Nghệ thuật tự sự có những đổi mới đáng kể qua kết cấu, điểm nhìn, giọng điệu và mang âm hưởng tiểu thuyết phương Tây, gắn với tâm thức văn hóa, tâm thế sáng tạo ở thời kỳ hội nhập

Luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học của

Nguyễn Văn Hùng có thể xem là một công trình lí luận về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới Trên nền tảng lí thuyết tự sự học, tác giả đã khảo sát, phân tích và tìm ra những đặc trưng quan trọng về điểm nhìn trần thuật, kết cấu tự sự, diễn ngôn tự sự của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kì này Đặc biệt, tác giả tìm thấy tính chất, dấu ấn hậu hiện đại trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử thời kì mới

Trang 21

17

Chúng ta có thể nhìn nhận tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 diễn ra sôi nổi hơn giai đoạn trước đó Trọng tâm của các công trình nghiên cứu vẫn xoay quanh mục đích của nhà văn khi chọn lịch sử làm đối tượng nghệ thuật, vấn đề chính sử và dã sử, hư cấu nghệ thuật và bịa đặt lịch sử những vấn đề có tính chất lí luận về thể tài văn học này được nêu ra tranh biện và giải quyết Mặt khác, các nghiên cứu đã chú ý đến phương thức nghệ thuật tự sự, vấn đề văn hoá thời đại lịch sử khi được phản ánh qua tác phẩm Tuy nhiên, với thành tựu vượt bậc của thể tài văn học này trong dòng chảy chung của văn học dân tộc thời kỳ đương đại, những giới hạn nghiên cứu không hề đóng khép, mà cần sự khám phá nhiều hơn Đấy là cơ sở để chúng tôi tiếp tục kế thừa, phát huy và tìm tòi những điểm mới mẻ về tiểu thuyết thuyết lịch sử đương đại Việt Nam

1.2 Cơ sở lí thuyết và hướng tiếp cận của luận án

1.2.1 Vấn đề biểu tượng

1.2.1.1 Khái niệm biểu tượng

Hằng ngày, chúng ta sống trong thế giới biểu tượng và biểu tượng sống với

chúng ta Nhưng, Biểu tượng là gì? Theo nhà ký hiệu học văn hóa Iu.Lotman thì “từ

biểu tượng (symbol) là một trong những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về ký hiệu” Tác giả J.Chevalier lại cho rằng “Không định nghĩa được biểu tượng Tự bản chất của nó, phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im

mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không nắm bắt được… Nếu phải định nghĩa về nó, chúng ta phải huy động hệ thống từ ngữ để gợi ra một hay nhiều nghĩa của một biểu tượng; nên phải luôn nhớ rằng, các từ không thể diễn đạt được tất cả giá trị của biểu tượng” [69, tr.14] Dẫu các nhà nghiên cứu thừa nhận rất khó để nêu ra một định nghĩa hoàn thiện về biểu tượng nhưng chúng ta vẫn tìm thấy điểm chung trong quan niệm của họ về biểu tượng Trong tiếng Hán, biểu tượng là một từ ghép “biểu” và

“tượng” lại với nhau, có nghĩa Biểu có nghĩa là “bày ra”, “trình bày”, “dấu hiệu” để người ta nhận biết một điều gì đó Tượng có nghĩa là hình tượng Biểu tượng là một

hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt một ý nghĩa mang tính trừu tượng Trong tiếng Anh, tiếng Pháp,

Trang 22

thế giới có sự tương đồng nhau Theo “Từ điển Latin” của Chertol T Lewis,

“symbol/symbolon là ký hiệu, phù hiệu mà nó mang lại một cái gì khác, nhằm hiểu

thấu những gì đằng sau nó” [160, tr.141]; Theo tự điển “Le Petit Larousse” của

Claude Augé “biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động hay đồ vật, biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì

đó” [17, tr.78]; Theo “Từ điển biểu tượng” của Liungman “những gì được gọi là

biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một nghĩa là

đại diện cho chính bản thân nó” [38, tr.12]; Theo “Từ điển tiếng Việt” do giáo sư

Hoàng Phê chủ biên, biểu tượng có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là hình ảnh tượng trưng, nghĩa thứ hai là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt… Có thể thấy rằng, những định nghĩa về biểu tượng của các bộ từ điển có sự

tương đồng nhau khi xem biểu tượng là cái đại diện, biểu hiện cho cái gì đó, ngoài

nó và khác nó Đó có thể là một vật, một hình ảnh, một hành vi, một nghi thức, nghi lễ… có tính “ý niệm” được xã hội thừa nhận Có thể coi biểu tượng gồm có hai thành tố “Cái biểu đạt” và “Cái được biểu đạt”

Các tác giả của công trình Từ kí hiệu đến biểu tượng đã khảo sát, phân tích quan niệm của các nhà nhiên cứu về cái biểu đạt và cái được biểu đạt của biểu

tượng và đã chia thành ba nhóm quan niệm khác nhau Với quan điểm cái được biểu đạt vắng mặt và được hiểu trực tiếp từ cái biểu đạt, một số nhà nghiên cứu đã đồng quy tất cả những cái gì thuộc các hình thức biểu hiện văn hóa tinh thần của loài người như lễ hội, nghi thức, huyền thoại, tôn giáo, hình ảnh ẩn dụ nghệ thuật, khái niệm và công thức khoa học, lịch sử, ngôn ngữ…đều là biểu tượng Tiêu biểu cho quan niệm này là E Cassier và Ch Pierce; Nhưng, nếu coi cái được biểu đạt phải được hiểu gián tiếp, ngoài cái biểu đạt thì biểu tượng là một dạng ký hiệu đặc biệt,

nó gắn liền với nội dung tư tưởng nào đó, đến lượt nội dung đó lại dùng làm bình

Trang 23

19

diện cho một nội dung khác, thông thường là nội dung ở đây có giá trị văn hóa cao hơn “Nó làm trung hòa ý nghĩa thứ nhất, biến một ký hiệu chỉ có chức năng thông tin thuần túy thành sự biểu đạt văn hóa” [31, tr.27] Những đại diện tiêu biểu cho quan niệm này có thể kể đến Iu Lotman, Todorov và các nhà phân tâm học S Freund, Carl Jung…; Loại ý kiến thứ ba coi biểu tượng là một loại hiện tượng thiêng liêng, thần bí, một thông điệp của đấng tối cao gửi đến con người

Như vậy, trong hoạt động nghiên cứu, những luận giải về mối liên hệ giữa hình thức và nội dung của biểu tượng, quan niệm về hai thành tố cái biểu đạt và cái được biểu đạt của biểu tượng từ các nhà khoa học không hoàn toàn trùng khớp nhau, điều đó đã làm nên tính phong phú, đa dạng về biểu tượng Biểu tượng không đơn giản là khái niệm dùng để gọi tên, định danh sự vật, hiện tượng với nghĩa cố định, bất biến; không thể là sản phẩm của ý thức cá nhân nào đó… Biểu tượng thuộc về văn hoá mang tâm thức cộng đồng, có tính chất cổ xưa, huyền bí, ý nghĩa của nó đã vượt lên trên vỏ vật chất ngôn ngữ mà nó đa mang, hàm ẩn những thông điệp văn hoá tinh thần của nhân loại

1.2.1.2 Phân biệt biểu tượng với một số dạng thức tương cận

Theo Đoàn Văn Chúc, biểu tượng - một mặt dùng chỉ định chung tất cả các dạng thức biểu tượng, tức là mọi dạng thức dùng hình này để tỏ nghĩa nọ, mặt khác bản thân nó là sản phẩm mang tâm thức văn hóa cộng đồng diễn ra qua đồng đại và lịch đại chứ không phải là sự quy ước giản đơn của cộng đồng hình thành nên nó Mỗi biểu tượng đều có ý nghĩa riêng tùy thuộc vào thời gian và không gian của nó, nói một cách khác, ý nghĩa của mỗi biểu tượng phụ thuộc vào nền văn hóa sản sinh

ra nó, phụ thuộc vào bối cảnh và thời điểm mà nó ra đời, kể cả tâm thức sáng tạo và tiếp nhận Và tất nhiên, mục đích sử dụng của nó cũng thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố trên Chính điều này làm nên sự khác biệt cơ bản giữa biểu tượng với các dạng thức biểu tượng có tính ổn định về nghĩa mà chúng tôi tham vấn từ các công trình nghiên cứu sẽ trình bày dưới đây

Biểu trưng: Là bày ra, trưng ra cho nhận thấy một cái gì đó Vật được chọn

làm biểu trưng có quan hệ nghĩa “gần gũi hay chồng khớp” với giá trị được diễn đạt Ví như cái cân có nghĩa là cân bằng, công minh được chọn làm biểu trưng cho

Trang 24

20

công lý…Nhưng với biểu tượng ý nghĩa được suy ra từ vật được chọn làm biểu tượng luôn bị khúc xạ, mơ hồ

Ký hiệu: Ký hiệu được hiểu theo hai nghĩa: (1) - dấu hiệu vật chất đơn giản do

quan hệ tự nhiên hoặc do quy ước, được coi như thay cho một thực tế phức tạp hơn (chữ viết, ký hiệu hóa học); (2) - cái có thể nhận biết trực tiếp, cho phép kết luận về

sự tồn tại hoặc về tính chân thực với một cái khác liên hệ với nó (chữ cái)

Theo các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì “Ký hiệu tức là cái vật

chất có thể cảm biết được mà người phát sử dụng để kích thích đối phương tiếp nhận nhằm truyền đạt một cách quy ước về một vật hoặc một tình huống vắng mặt hoặc chưa xuất hiện… Phương diện có thể cảm biết ấy là cái biểu đạt, cái vắng mặt

đó là cái được biểu đạt” [117, tr.164] Như vậy, ký hiệu là những hình ảnh vật thể vật chất, hữu hình do sự tồn tại tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra dùng để nhận biết một sự tồn tại, một liên hệ nào đó bên ngoài nó Trong khi đó, biểu tượng không chỉ là hình ảnh vật chất cụ thể mà còn có cả cái phi vật thể, cái được biểu đạt không chỉ là cái hiển hiện mà còn có cả cái “ẩn nấu”, “hình dung”

Dấu hiệu: Dấu hiệu là một từ rất thông dụng trong đời sống hằng ngày Đó là

dấu để làm hiệu, báo hiệu một cái gì đó sắp sửa xảy ra Vật làm “dấu” cũng đơn giản là hình ảnh, cử chỉ, màu sắc …có tính ước lệ Chẳng hạn quan niệm của người Việt chim én - dấu hiệu mùa xuân, hoa cúc - dấu hiệu mùa thu, hoa mai - dấu hiệu mùa xuân, người phụ nữ tóc búi trên đỉnh đầu - đã có chồng…

Tín hiệu: Tín hiệu là một từ có hàm nghĩa cố định, bất biến và không thay thế cho

vật nào Trong mọi trường hợp tín hiệu không thuộc về lĩnh vực tư tưởng, chỉ thuộc về thế giới của những đồ vật kỹ thuật thuần túy Ví như: tín hiệu đèn giao thông

Ẩn dụ: Là phương thức chuyển nghĩa của cái này cho cái kia Mối quan hệ

giữa vật/ cái biểu đạt và cái được biểu đạt dựa trên cơ sở tương đồng nhau Ẩn dụ

có tính linh hoạt, thiếu bền vững vì gắn liền với hoàn cảnh và mục đích sử dụng Chúng ta có thể thấy “thuyền” trong ca dao chỉ đối tượng người con trai trong quan

hệ tình yêu lứa đôi: “Thuyền về có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi

thuyền” Nhưng khi Tố Hữu sử dụng trong trường ca Nước non ngàn dặm thì

“thuyền” ở đây là con thuyền cách mạng Như vậy, nghĩa ẩn dụ là nghĩa định danh

Trang 25

21

sự vật hiện tượng trong khi nghĩa biểu tượng là trừu tượng, giá trị không nhằm định danh cho sự vắng mặt nào cả

Phúng dụ: Là biện pháp tu tù nghệ thuật thường được sử dụng trong các tác

phẩm văn học “Là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta dùng hình ảnh cụ thể, sinh động để biểu thị một ý niệm về triết lý nhân sinh hay một bài học luân lý đạo đức, nhằm làm cho sự trình bày đó trở nên sâu sắc, thâm thúy” [81, tr.65] Đó là sự kết hợp của các hình tượng, hình ảnh với nhau trong một cấu trúc chặt chẽ hoàn chỉnh nhằm liên tưởng hướng đến một ý nghĩa trừu tượng Hình ảnh phúng dụ có hai mặt nghĩa: nghĩa “trực hiện” và nghĩa “ngụ ý” Nghĩa “trực hiện” là phương tiện, nghĩa “ngụ ý” là mục đích

Vẫn còn nhiều dạng thức khác tương cận biểu tượng mà con người sử dụng trong hoạt động giao tiếp hằng ngày nhằm hướng đến sự hiểu, song, chúng tôi chỉ nêu ra một số dạng thức cơ bản, thường gặp đồng thời phân tích sự khác biệt nhau giữa chúng với biểu tượng để qua đó làm rõ hơn về biểu tượng, củng cố thêm về cách thức lập luận khi nghiên cứu, phân tích đối tượng của luận án

1.2.1.3 Hình tượng nghệ thuật và biểu tượng nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật là tế bào trung tâm của tác phẩm Đó là “các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật” [117, tr.147] Nó vừa là thế giới hiện thực được nhà văn tái hiện vừa là thế giới mới, sản phẩm nghệ thuật biểu hiện toàn bộ quan điểm, tư tưởng, tình cảm, thái

độ, vốn sống của nhà văn trước thực tại xã hội Trong tác phẩm nghệ thuật, không

có hình tượng nghệ thuật thì không có cơ sở để tạo nên nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học có thể tồn tại

qua chất liệu vật chất như một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên… cũng có thể tồn tại dưới dạng tinh thần, phi vật thể như một sự kiện xã hội, một lối sống… được

cảm nhận Thông thường trong tác phẩm văn học, hình tượng nghệ thuật là con

người (con người cá thể: chị Dậu, Chí Phèo, Huấn Cao…; con người tập thể, đại diện: Nhân dân, Tổ quốc, Bà má Hậu Giang, Người con gái Việt Nam, Dáng đứng

Việt Nam, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt…) do nhà văn tái hiện hoặc sáng tạo ra Đặc điểm cơ

bản của hình tượng nghệ thuật là “vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt

Trang 26

22

không lặp lại, vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một kiểu/loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ” [117, tr.148] Cơ chế để tạo nên hình tượng nghệ thuật là ý thức chủ quan của nhà văn khi

sử dụng ngôn ngữ để mô tả và biểu đạt nó Cái được mô tả là hình ảnh và cái được biểu đạt là cảm xúc, tư tưởng không thể tách rời nhau mà chúng là “hình hài” và

“linh hồn” của nhau Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học gắn với đặc trưng nghệ thuật ngôn từ Phương thức giải mã hình tượng nghệ thuật thường bắt đầu bằng việc truy tầm hoàn cảnh xã hội, tiểu sử và phong cách tác giả Tóm lại, hình tượng nghệ thuật có thể hữu hình hoặc siêu hình, là con người hoặc không gian, thời gian… được nhà văn xây dựng với “sự thống nhất giữa các mặt chủ quan

và khách quan, lí trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và lí tưởng, tạo hình

và biểu hiện” [117, tr.148]

Mỗi tác phẩm văn học là một cách ứng xử của nhà văn trước lịch sử Nhà văn

có thể sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu để sáng tạo hình tượng qua đó nhận thức đời sống xã hội Mặt khác, nhà văn vẫn phải sử dụng các phương tiện biểu đạt khác để chuyển tải những giá trị nằm ngoài khả năng tri nhận trực tiếp của con người, trong trường hợp này biểu tượng là một phương tiện hữu dụng nhất Biểu tượng nghệ

thuật dù là một hình ảnh, một lối sống, một nghi thức, một tín ngưỡng… hữu hình

hoặc vô hình thì ý nghĩa của nó cũng luôn vượt lên tính trực quan, quy ước của ngôn ngữ phổ quát, dùng sự đa dạng của đời sống văn hoá, tư tưởng để diễn đạt ý niệm về nó “Biểu tượng tồn tại trong tác phẩm văn học như một công cụ kiến tạo văn bản nghệ thuật, song bản thân nó cũng là một văn bản” [31, tr.41] Trước khi xuất hiện trong tác phẩm nghệ thuật nó thuộc về văn hóa Nó có thể du hành từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình nghệ thuật khác, từ tác phẩm này sang tác phẩm khác bởi khả năng kết nối liên văn hóa, liên văn bản Cơ chế tạo nghĩa của biểu tượng nghệ thuật vừa xuất phát từ mẫu gốc, vô thức tập thể, văn hóa folklore… vừa gắn kết với ý thức chủ quan của chủ thể sáng tạo Để giải mã biểu tượng, chúng ta phải phỏng đoán, liên tưởng, tưởng tượng, phải truy tầm nguồn gốc bởi những trầm tích văn hóa lắng đọng, phủ bóng qua thời gian Do đó, ý nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm không thuộc về quy ước chủ quan của chủ thể sáng tạo mà cứ thế

Trang 27

Tác phẩm văn học là một thực thể sinh động, giá trị của tác phẩm thoát khỏi ý đồ sáng tạo nghệ thuật ban đầu của nhà văn, chịu sự chi phối, tác động của cộng đồng tiếp nhận Giá trị của tác phẩm không ngừng được khơi sâu cùng lịch đại trong mối quan hệ giữa tác giả và bạn đọc cùng với sự cộng hưởng của yếu tố văn hoá, thời đại làm nên

độ mở về giá trị cho tác phẩm thông qua hệ thống biểu tượng nghệ thuật như là chất liệu ngôn ngữ đặc biệt Vì lẽ đó, con đường để giải mã một biểu tượng nghệ thuật không thể là tư duy duy lí, giản ước theo lối rút gọn mà cần chú ý đến ngữ cảnh văn bản, cái khái quát trong mạch ngầm văn bản cũng như những phương thức nghệ thuật

mà nhà văn sử dụng để kiến tạo thế giới biểu tượng trong tác phẩm

1.2.2 Vấn đề tiểu thuyết lịch sử

1.2.2.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử

Về nguyên tắc, không một tác phẩm văn học nào thoát ly hoàn toàn khỏi sự quy định của đời sống lịch sử, văn hóa xã hội Tiểu thuyết lịch sử cũng không nằm ngoài quy luật ấy Tuy nhiên, vấn đề gây nên những tranh luận về tiểu thuyết gần đây là hiện thực lịch sử nào làm chỗ dựa cho tiểu thuyết lịch sử đương đại, nhất là khi quan niệm về hiện thực đã khác trước và mô hình văn học phản ánh hiện thực

Trang 28

24

đã lộ rõ sự hạn chế Lịch sử là hiện thực diễn ra trong quá khứ, một hiện thực hợp pháp, chính thống được ghi chép bởi các sử quan triều đình hay đó là những dã sử, những ghi chép không bị ràng buộc bởi quy tắc, thể lệ, quan điểm sử quan, mà trực tiếp ghi lại những điều nghe, thấy, biết theo quan điểm riêng trong đó, “ngoài những

sử liệu đáng quý cũng pha trộn những việc nghe, chép lại không có căn cứ” [117, tr.104] Chính những “điểm mù” của lịch sử và cách tiếp cận đối tượng khác nhau làm nên những quan niệm phong phú, đa chiều về thể tài văn học này

Có nhóm quan niệm cho rằng, lịch sử cần được tôn trọng và đối xử công bằng, tác phẩm văn học viết về lịch sử phải nêu chính xác sự kiện, diễn biến lịch sử, những hư cấu sẽ là bịa đặt, nguỵ tạo, làm méo mó lịch sử Những anh hùng, tượng đài lịch sử là bất khả xâm phạm, chỉ để ngưỡng vọng tôn vinh Nhà văn thêm vào

đó những yếu tố đời tư, dung tục là sự xúc phạm, hạ bệ lịch sử Nhà mĩ học Lukács cho rằng “nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là chứng minh sự tồn tại của hoàn cảnh

và nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật” [21], nhiệm vụ của nhà văn là nghệ thuật hóa lịch sử Cùng quan điểm này, nhà văn Thái Vũ phát biểu trên Báo Văn nghệ số 39/2003 rằng “khi tôi nói, tôi viết tiểu thuyết lịch sử sự thật là tôi không viết tiểu thuyết mà tôi viết lịch sử Trước hết phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử

mà biên niên sử có ghi Hư cấu không phải là bịa mà tôn trọng tính chính xác của lịch sử” Với quan điểm này, các nhà văn muốn trình bày một cách trung thực lịch

sử thời đại, sinh động hoá những vấn đề lịch sử biên niên khô khan do sử quan ghi chép để bạn đọc dễ tìm hiểu lịch sử đã qua

Khi hiện thực lịch sử đặt vào tầm nghi vấn cùng với đó là đặc trưng hư cấu mặc nhiên của thể tài tiểu thuyết đã khơi dậy những quan điểm trái ngược, hoài nghi khi đối thoại với lịch sử Các nhà văn không ngần ngại hư cấu, giải thiêng lịch sử Lịch sử không thể là thành trì kiên cố, không chỉ là đối tượng ngưỡng vọng mà là đối tượng để trải nghiệm Hư cấu lịch sử là phương tiện nghệ thuật, là con đường đi đến chân lí cuộc sống Nếu sự chân thật của lịch sử không được kiểm chứng bởi con người thời đại sản sinh ra thì lịch sử trên những văn bản cũng chỉ là trang tư liệu đối chứng với thời đại mà thôi Hedl S Haasse xem lịch sử là phương tiện chứ không phải là cứu cánh “Một cuốn tiểu thuyết lịch sử hay không, luôn luôn là một cái

Trang 29

25

phản chiếu cái thế giới bên trong của tác giả ở một thời điểm nhất định trong cuộc đời họ” [99, tr.32-33] Hedl S Haasse nhấn mạnh đến cá tính, ý thức sáng tạo của nhà văn Tác phẩm văn học không viết cho bạn đọc quá khứ mà phục vụ bạn đọc đương đại và tương lai Con người thời đại ngày nay sẽ tìm thấy giá trị gì cho bản thân, cho xã hội mình đang sống qua tác phẩm để tránh những va vấp, chấn thương tinh thần Lion Feuchtwanger cho rằng việc xem xét thế sự thăng trầm thời xưa rất

có ích, vì hoặc nó giống hệt thế sự thăng trầm ngày nay, hoặc không giống thì nó cũng giúp ta nhận định rõ những biến chuyển của công việc ngày nay Pushkin, nhà văn vĩ đại Nga cũng khẳng định chất vấn quá khứ là để trả lời cho hiện tại và tương lai Biêlinxki, nhà nghiên cứu văn học Nga cũng đồng thuận với quan niệm trên Ông quan niệm chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra tương lai cho chúng ta

Lịch sử diễn tiến từ quá khứ đến hiện tại và tương lai “Lịch sử có quyền tự lặp lại Nhưng không bao giờ trên cùng một cấp độ, nhất là khi những sự kiện được bàn đến có một tầm quan trọng mang tính lịch sử, và khi chúng có khả năng gây một ảnh hưởng lâu dài đến xã hội” [70, tr.32] Bản thể lịch sử không hoàn nguyên, đồng nhất thì không lí do gì đòi hỏi nhà tiểu thuyết lịch sử sao chép nguyên vẹn những sự kiện, nhân vật như chính sử lưu hậu Phan Cự Đệ cho rằng, “trong quá trình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử vừa phát huy cao độ vai trò của hư cấu, sáng tạo nghệ thuật” [26, tr.164] Tiểu thuyết lịch sử khác với khoa học lịch sử Tiểu thuyết lịch sử không phải là bản sao các sự kiện, nhân vật lịch sử mà phải biết hư cấu lịch sử miễn sao đảm bảo tính chân thực nhưng không nhàm chán Nhà văn Bùi Anh Tấn cũng quan niệm viết tiểu thuyết lịch sử không phải là chép lại lịch sử, “vừa dùng tư duy của ngày hôm nay để đánh giá những việc của người xưa, vừa thâm nhập vào thế giới quan của tiền nhân để hiểu họ, phân tích, đánh giá việc làm của họ và rút tỉa những bài học lịch sử cho hậu sanh” [Trả lời Báo Văn nghệ trẻ] Nguyễn Xuân Khánh cũng nhấn mạnh quan điểm trên khi trả lời phóng viên Báo văn nghệ trẻ, tháng 10/2015 Theo ông, “tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử mà là phản ánh những con người hiện đại” [76]

Trang 30

26

Tóm lại, tiểu thuyết lịch sử là thể tài văn học có đặc thù riêng so với các thể tài văn học khác Như tên gọi, thể tài văn học này có sự kết hợp chặt chẽ giữa hai thành tố lịch sử và tiểu thuyết, chất liệu hiện thực và đặc trưng phản ảnh của loại hình nghệ thuật ngôn từ Trong suốt thời gian qua, cùng với lịch sử thăng trầm của thể tài này, giới nghiên cứu và sáng tác có nhiều phát biểu về tiểu thuyết lịch sử mà trọng tâm vẫn là mục đích sáng tác, đối tượng nghệ thuật chính sử - dã sử, những nguyên tắc tiếp cận hiện thực lịch sử Theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết lịch

sử là sự tái hiện chân thực về lịch sử đã qua Theo quan niệm hiện đại, tiểu thuyết lịch sử là diễn ngôn lịch sử dưới cái nhìn của thời đại dân chủ hóa, toàn cầu hóa Nhà văn viết về lịch sử theo nguyên tắc “hoài cổ vi kim”

Chúng ta có thể khái quát những quan điểm nhận thức về tiểu thuyết lịch sử như sau: 1) Lịch sử là nguồn cảm hứng nghệ thuật trong quá trình sáng tác; 2) Lịch

sử không phải là lâu đài để nhà văn chạy trốn hiện thực đang diễn ra mà là cái cớ để nhà văn trải nghiệm, chất vấn hiện tại và tương lai; 3) Tính quy mô, bao quát rộng lớn các vấn đề của hiện thực bằng nhận thức mới của thời đại làm cho các sự kiện, nhân vật lịch sử trở nên gần gũi với đời sống đương đại hơn so với khoa học lịch sử; 4) Hư cấu nghệ thuật không thể thiếu khi viết về lịch sử Hư cấu khác với bịa đặt, viết lại lịch sử

1.2.2.2 Vài nét về tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam

Là một bộ phận của tiểu thuyết đương đại Việt Nam, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này cũng mang đậm dấu ấn của thời đại mà nó được sinh ra, tồn tại và phát triển Điều này phù hợp quy luật tất yếu của văn học nghệ thuật, bởi không một văn nghệ sĩ nào lại đứng ngoài thời cuộc mà họ đang sống, không hấp thu những giá trị, những vang vọng của thời đại Vấn đề có khác chăng là họ chịu tác động của thời đại ra sao và họ tác động lại xã hội như thế nào qua các sản phẩm mà họ tạo ra Tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam vẫn bám lấy hiện thực lịch sử xã hội đã qua từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, hình tượng lịch

sử vẫn là cội nguồn cảm hứng sáng tạo không bao giờ cạn trong nhận thức Mặt khác, tính chất dã sử, đối thoại, phản biện thức nhận càng ngày đặt ra và thách thức

“tầm đón đợi” của bạn đọc khi đời sống xã hội và đời sống văn học được mở rộng

Trang 31

27

biên độ tư duy và tư tưởng Lịch sử dưới cái nhìn của thời đại mới, không còn là những trang giấy, những con chữ ghi chép xơ cứng mà nó luôn vận động không ngừng trong mối quan hệ với tác giả và bạn đọc, gắn với các tiêu chí mĩ học sáng tạo và mĩ học tiếp nhận thời đại mới, dân chủ, đa dạng Là một thể tài năng động, tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam mang trong nó những khát vọng cách tân nghệ thuật, “làm mới” hiện thực bằng quan điểm, tư duy của thời đại toàn cầu hóa, dân chủ hóa

Về mặt nghệ thuật trần thuật: Kết cấu, ngôn ngữ, điểm nhìn, giọng điệu trần

thuật của tiểu thuyết lịch sử đương đại thể hiện rõ nhất sự đổi mới Từ lối kết cấu truyền thống theo trật tự thời gian tuyến tính, hay kết cấu chương hồi, đến thời điểm này, kết cấu đã có sự phá cách táo bạo Kết cấu phân mảnh, lắp ghép mang dấu ấn điện ảnh đầy “ngẫu hứng” và kết cấu liên văn bản, tổng hợp nhiều loại hình văn bản khác nhau cùng xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết theo lối viết hậu hiện đại đã trở thành “trò chơi” sáng tạo của các nhà văn Bằng cách xé lẻ tâm trạng của nhân vật, sự kiện thành nhiều mảng nhỏ, rời rạc và đặt cạnh nhau không tuân theo lôgic

lý tính, cốt truyện truyền thống vì thế mà cũng bị phân rã, phá bỏ Sự “tráo trở” và

“làm chủ sự tráo trở” cốt truyện là nét đặc sắc trong phong cách các nhà văn

Về phương diện hiện thực lịch sử: Các nhà văn không ngần ngại gia cố chất

đời tư, thế sự vào các nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử Từ lối tư duy viết tiểu thuyết lịch sử theo kiểu “chép sử” với mục đích giáo huấn thì đến nay, các nhà văn đưa thêm vào các tiểu tiết, các giả thuyết lịch sử làm cho tác phẩm trở nên “có vấn đề”, làm cho các “đại tự sự” thành “tiểu tự sự”, làm cho cái “trung tâm” thành cái

“ngoại biên” để “giải thiêng” các sự kiện, nhân vật, hình tượng lịch sử “Lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử đã mang trong mình hai lần lịch sử: lịch sử đã qua và lịch

sử thời người viết đang sống” [168] Có lẽ vì thế mà những tranh luận về chính sử -

dã sử trở thành chủ đề nóng bỏng trên các diễn đàn văn học

Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam: Về phương diện này,

Trần Đình Sử cho rằng: “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới có rất nhiều tác phẩm đến được với lòng người, được người đọc trân trọng, yêu chuộng Điểm đáng chú ý nhất là nó đã vượt qua mô hình cũ và tạo ra nhiều hướng phát triển có hứa hẹn Có hướng “văn chương hóa lịch sử” như Hoàng Quốc Hải với hai bộ trường

Trang 32

28

thiên Có hướng nghiêng về phương diện văn hóa, đối thoại văn hóa như Nguyễn

Xuân Khánh, có hướng diễn giải lại lịch sử như Nguyễn Thị Lộ của Hà Văn Thùy,

có hướng “phi trung tâm hóa” như Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, có hướng phi huyền thoại hóa lịch sử như Hội thề của Nguyễn Quang Thân, có hướng đối thoại với chính sử như Mạc Đăng Dung của Lưu Văn Khuê, có hướng đổi mới cách nhìn như Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê, có hướng viết

“tiểu sử gia tộc” hư cấu, mà thực ra là viết lịch sử thời đại với con mắt giễu nhại

trong Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường, Dưới chín tầng trời của Dương Hướng, Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách, còn có hướng ngụ ngôn hóa lịch

sử… Sáng tạo lại diễn ngôn lịch sử bằng nghệ thuật sẽ là một nguồn cảm hứng lớn cho các nhà văn Việt Nam hôm nay và ngày mai” [168] Tuy nhiên, để lí giải sáng

tỏ vấn đề này, thiết nghĩ phải phân tích các đặc điểm của nó dưới góc nhìn lí luận văn học Ở đây, chúng tôi chỉ xác định, phân loại các khuynh hướng sáng tác tiểu

thuyết lịch sử đương đại Việt Nam dựa trên một số căn cứ như sau Căn cứ vào kết

cấu nghệ thuật sẽ có các kiểu loại tiểu thuyết theo kết cấu nhân/quả, tiểu thuyết theo

kết cấu tuyến nhân vật chính diện/phản diện, tiểu thuyết theo kết cấu chương hồi,

tiểu thuyết theo kết cấu mang dấu ấn hậu hiện đại Căn cứ vào mục đích sẽ có tiểu thuyết lịch sử chính sử, giáo huấn, tiểu thuyết lịch sử - văn hóa Căn cứ vào tính

chất và chức năng phản ảnh sẽ có khuynh hướng tiểu thuyết mô phỏng lịch sử và

khuynh hướng tiểu thuyết hư cấu lịch sử

Tóm lại, sự vận động và phát triển của thể tài tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong dòng chảy văn học dân tộc thời

kỳ này Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 có đặc

điểm về nội dung thể hiện ở cảm hứng sáng tạo và quan niệm nghệ thuật về con người Trong đó, cảm hứng lịch sử và dân tộc, cảm hứng thế sự, cảm hứng đạo lý là những cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này Hình tượng con người anh hùng cứu nước là hình tượng trung tâm Song, có sự phát hiện độc đáo và chân thực hơn là nét đời thường ở con người anh hùng phi thường Đặc điểm kết cấu tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này theo phong cách kết cấu truyền thống: kết cấu theo thời gian tuyến tính và kết cấu theo tuyến nhân vật chính diện/phản diện Tiểu thuyết

Trang 33

29

lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1985 có nội dung chủ yếu là yêu nước, nghệ thuật tự

sự theo lối kết cấu chương hồi, kết cấu thời gian, kết cấu nhân quả, ngôn từ nghệ thuật đậm chất biền ngẫu, nhiều điển tích, điển cố So với tiểu thuyết lịch sử các thời kỳ trước đó, tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam có những đặc điểm riêng,

mới mẻ về ngôn ngữ, kết cấu văn bản, điểm nhìn trần thuật, nội dung trần thuật, tư

duy nghệ thuật… Tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam vẫn đặt ra nhiều thách

thức khám phá cho đông đảo công chúng văn học

1.2.3 Hướng tiếp cận của luận án

Tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam có nhiều khuynh hướng sáng tác, nhưng khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử - văn hóa là khuynh hướng nổi bật hơn cả

Đó là những diễn ngôn về lịch sử, văn hóa mang cảm quan nghệ thuật thời đại dân chủ, hội nhập

Bên cạnh ngôn ngữ là chất liệu làm nên tác phẩm, biểu tượng nghệ thuật cũng

là một đơn vị ngôn ngữ tham gia kiến tạo diễn ngôn lịch sử Khi xem biểu tượng là một đơn vị ngôn ngữ/ ký hiệu chúng tôi sẽ xét đến nghĩa định danh, gọi tên sự vật, hiện tượng; nghĩa tri nhận, lí tính, phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng; đặc biệt biểu tượng không phải là một vật thay thế trực tiếp cho một cái khác nó, ngoài nghĩa quy ước một cái gì cụ thể thì đến lượt cái cụ thể đó mang nghĩa chuyển tiếp ở cấp

độ khác qua đặc trưng phản ánh của loại hình nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh đó, chúng tôi phân tích, làm rõ nguyên tắc, phương thức kiến tạo biểu tượng nghệ thuật nhằm làm cho biểu tượng biểu đạt hiệu quả nhất thông tin mà nó đa mang và sự tham gia của biểu tượng vào kết cấu văn bản nghệ thuật

Vấn đề hệ biểu tượng cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau Xem xét cấu tạo

và cách xếp đặt của biểu trưng, J.Lacan cho rằng “hệ biểu tượng chỉ loại hiện tượng

mà khoa phân tâm học quan tâm trong chừng mực chúng được cấu trúc như một ngôn ngữ” [67, tr.XXII] S.Feurd nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa cái vỏ vật chất/bên ngoài và nội hàm được biểu đạt/bên trong, ông cho rằng “hệ biểu tượng là tập hợp những biểu tượng có ý nghĩa ổn định có thể tìm thấy trong các sản phẩm

khác nhau của vô thức” [67, tr.XXII] Trong Luận án tiến sĩ Thơ Hoàng Cầm từ góc

nhìn văn hoá, tác giả Lương Minh Chung cho rằng “Hệ biểu tượng là những giá trị

Trang 34

30

mang tính kết tinh, là thuộc tính cơ bản của một nền văn hoá” [18, tr.61] Theo hai nhà nghiên cứu Jean Chevalier và Alain Gheerbrant thì “Hệ biểu tượng, một mặt tập hợp các quan hệ và các giải thích gắn với một biểu tượng, chẳng hạn hệ biểu tượng về lửa, mặt khác tập hợp các biểu tượng đặc trưng cho một truyền thống, như hệ biểu tượng Pháp truyền Kinh Thánh hay hệ biểu tượng của người Maya, hệ biểu tượng nghệ thuật Roman…; cuối cùng là nghệ thuật giải thích các biểu tượng, bằng phân tích tâm

lí, bằng dân tộc học so sánh, bằng cơ chế và kĩ thuật của sự tích hội [67, tr.XXII] Tóm lại, hệ biểu tượng là tập hợp, hệ thống những biểu tượng có chung nguồn gốc hoặc cơ chế nảy sinh từ hệ hình tư tưởng, văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng

Tiểu kết Chương 1

Tiểu thuyết lịch sử, tự tên gọi của nó đã thể hiện đặc trưng thể loại là hư cấu-

sử liệu Nhưng thế nào là hư cấu, sử liệu nào làm bình diện nội dung cho tác phẩm

nghệ thuật? Những quan điểm khác nhau về vấn đề này phản ánh sự khác nhau trong tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ, từ đó hình thành những khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam Về nguyên tắc, tiểu thuyết lịch sử

không khác gì so với tiểu thuyết thông thường, cái khác ở đây là hiện thực đã qua -

sự vĩ đại của lịch sử được nó thể hiện như thế nào Xuất phát từ quan điểm hiện

thực lịch sử cần được tôn trọng, sẽ đưa đến khuynh hướng lịch sử hóa tiểu thuyết

Nhưng với quan điểm “hoài cổ vi kim”, lịch sử tự thân nó là những kí hiệu sẽ làm

nên khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử Cũng cần nói thêm rằng, việc nhà văn

“triệu hồi”, “phục dựng” lịch sử qua các trang tiểu thuyết khi chính họ thấy nhu cầu lịch sử cần phải được giải mã Không hẳn các nhà văn là những nhà tư tưởng nhưng

họ đã mẫn cảm thấy rõ sự lãng quên lịch sử dân tộc, sự đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc trong thế giới phẳng ngày nay của con người hiện tại là có lỗi với lịch sử, thời đại và hậu thế

Nhìn từ triết học của sự tồn tại, con người có ba mối quan hệ chính đó là: tự nhiên, cộng đồng nhân loại, lịch sử - văn hóa Đây cũng chính là ba thành tố làm nên ba hệ biểu tượng cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam gồm có

hệ biểu tượng tự nhiên, hệ biểu tượng con người, hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng

Tuy nhiên, từ biểu tượng văn hóa đến biểu tượng văn học là hành trình nhà văn tạo

Trang 35

31

mã mới cho thế giới biểu tượng Con người tạo ra thế giới nhờ biểu tượng, thông qua biểu tượng nhận thức thế giới Nghĩa nguyên sơ của biểu tượng có thể do ngẫu nhiên hoặc từ những quy ước mà có, gắn với quá trình tư duy tập thể Biểu tượng thuộc về văn hóa, nó có thể dịch chuyển từ thời đại này sang thời đại khác hoặc mất

đi nếu như giá trị/ý nghĩa của nó không được con người tái tạo, bồi đắp Vậy nên, khi những biểu tượng ấy trở thành biểu tượng nghệ thuật, đòi hỏi nhà văn cấp mã mới sao cho nó thực hiện được chức năng liên văn hóa, liên văn bản, kết nối với đời sống đương đại Không phải tất cả biểu tượng văn hóa xuất hiện trong tác phẩm văn học đều trở thành biểu tượng nghệ thuật mà chỉ có những biểu tượng được nhà văn tái lập mã mới, thiết lập được kênh giao tiếp với đời sống đương đại mới trở thành biểu tượng nghệ thuật Thế giới biểu tượng nghệ thuật ấy đã diễn đạt hiệu quả nhất, chuyển tải hữu dụng nhất những khát vọng, thông điệp của nhà văn về lịch sử và văn hóa dân tộc trước đời sống đương đại

Mỗi tác phẩm là một cách ứng xử của nhà văn trước lịch sử và văn hóa Phương tiện để nhà văn thể hiện cách ứng xử ấy không chỉ có ngôn ngữ mà còn có thế giới biểu tượng Khảo sát tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam, chúng ta không ngạc nhiên khi các trang tiểu thuyết lấp lánh hệ thống các biểu tượng tự nhiên, con người, văn hóa, tín ngưỡng… Các chương tiếp theo của luận án sẽ đi sâu khảo sát và phân tích các biểu tượng cơ bản, tìm hiểu những phương thức kiến tạo

và ý nghĩa của từng hệ biểu tượng để qua đó thấy được bản chất của lịch sử và văn hóa qua cái nhìn của nhà văn đương đại, những bài học nhân sinh rút ra cho hậu thế

từ lịch sử và văn hóa dân tộc thông qua các hệ biểu tượng

Trang 36

2.1 Các biểu tượng Nước, Lửa, Đất, Trời

2.1.1 Biểu tượng Nước và các biến thể

Nước là một trong tứ đại mẫu gốc tự nhiên (Nước, Lửa, Khí/Trời, Đất) có giá trị phổ quát trong mọi nền văn hoá nhân loại Những dạng thể tồn tại của nước rất

phong phú, đa dạng như biển, sông, suối, thác ghềnh, ao, hồ, đầm, vực, mưa, nước

mắt, dòng sữa… Đó là tất cả dạng thức tinh thể lỏng, bay hơi và ngưng tụ Là một

thực thể tự nhiên mang giá trị văn hóa phổ quát, nước và các dòng sông trên con đường hình thành biểu tượng nghệ thuật, mang giá trị văn hóa tộc người khi nó phản ánh được tâm thức cộng đồng dân tộc và thời đại nào đó, kết nối và phản chiếu cuộc đời của các nhân vật lịch sử

Nhìn từ đặc điểm địa lí- lịch sử, biểu tượng nước với biến thể sông, suối, kênh, rạch… để lại những dấu ấn đậm nét trong đời sống văn hóa, lịch sử dân tộc Việt Nam Nước gắn liền với hệ thống sông suối, kênh rạch và lưu trình của nó làm thành hệ thống giao thông quan trọng trên dải đất Việt này Ngay từ xa xưa, các lưu vực sông lớn luôn là địa điểm trọng yếu để xây dựng kinh đô phong kiến Đại Việt,

từ đó hình thành trung tâm văn hoá- chính trị- kinh tế của các vùng miền Không

Trang 37

cảnh tang thương Trong tiểu thuyết Hội thề, nhà văn Nguyễn Quang Thân đau xé

cõi lòng khi nói đến dòng Nhị Hà Mải miết chảy cứ ngỡ hồn nhiên và lặng lẽ

nhưng dòng sông ấy, “… con sông mẹ vẫn mênh mông, lặng lẽ đổ về xuôi ngày đêm

mang theo trong dòng nước nâu hồng chất chứa oan khiên khổ nạn của mấy chục năm tan nhà mất nước” [148, tr.63] Nguyễn Trãi nhìn ra sông, Ông nghĩ “Sông Nhị Hà chưa một ngày được bình yên đưa phù sa tưới nhuần cây cỏ, ruộng đồng Triều Lý rồi Trần, sông này vẫn là con sông trận mạc” [148, tr.78] Trong Sông Côn mùa lũ, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã khắc họa khung cảnh chiến trường lặng

ngắt, không một âm thanh, “những cột buồm đơn côi, như những nén hương khổng

lồ cắm rải khắp một quãng sông dài, tựa như một bãi tha ma dưới nước Và dòng sông đỏ lựng màu máu cứ lững lờ trôi xuôi” [36, tr.550] như xoáy sâu vào nỗi tang

thương của bao số phận, cuộc đời nhỏ bé bị chiến tranh cuốn theo Có thể thấy rằng, đằng sau chiến thắng hay thất bại của những thế lực chính trị trên mặt trận quân sự

là nỗi đau, nỗi mất mát của nhân dân vô tội Vậy nên, tiếng nói phản kháng chiến

Trang 38

34

tranh, thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình cần được nhìn nhận từ số phận của nhân dân, những con người vô tội bị cuộc chiến lôi kéo chứ không thể chỉ từ kết quả phân định thắng bại của các lực lượng tham chính Thắng trận hay bại trận trên đấu trường quân sự đều là sự thất bại của chiến tranh bởi hậu quả nặng nề nó để lại trong đời sống nhân loại

Các biểu tượng vốn dĩ đã có mã giá trị trong tâm thức cộng đồng Nhìn từ phương diện văn hóa, biểu tượng nước tại một số nước châu Á “có thể xem xét trên hai bình diện hoàn toàn đối lập… Nước là nguồn sống và là nguồn chết, có chức năng tạo dựng và tiêu huỷ” [67, tr.711] Tâm thức văn hoá cộng đồng dân cư châu

Á, trong đó có người Việt, xem nước là dạng thức thực thể của thế giới, là biểu

tượng của “tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức hạnh” [19,

tr.710] Trong các tác phẩm, nhà văn sử dụng hệ thống biểu tượng đó để xây dựng biểu tượng thẩm mĩ bằng cách gắn kết văn hóa cộng đồng với đối tượng lịch sử cụ thể, qua đó vừa lưu giữ giá trị nguyên khôi, vừa dùng giá trị ấy để nói lên ý nghĩa lịch sử của đối tượng được đề cập hay cụ thể hoá các giá trị ấy qua biểu đồ tâm hồn, dòng đời các nhân vật và lịch sử xã hội Biểu thị giá trị này thể hiện rõ qua cách miêu tả nguồn nước giếng làng của cộng đồng cư dân người Việt trên các trang tiểu

thuyết Nếu trong tiểu thuyết Minh sư, nhà văn Thái Bá Lợi đã khai thác giá trị

thiêng của nước/giếng để khẳng định tính đúng đắn và tài năng của Nguyễn Hoàng

khi khai mở trời Nam thì trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh lại khai

thác nghĩa ngưng đọng, tắc nghẽn của nước/giếng khi bàn về chính sự Nhà Trần Tính chất lưỡng diện đối lập về nghĩa của biểu tượng nước thể hiện qua những chi tiết nói lên sự thành bại của yếu nhân lịch sử Hay tin Nguyễn Hoàng lập nghiệp trên đất Thuận Hóa, với ước vọng và lòng thành không nói được nên lời, làng nghèo không có gì xứng đáng, dân làng Thuận Hóa dâng lên Đoan Quận Công bảy vò

nước giếng thiêng, trong khiết như là “điềm trời ban cho quận công cả một giang

sơn” [87, tr.39] Sau khi Hồ Quý Ly giúp Trần Nghệ Tông đánh bại loạn quân

Dương Nhật lễ, khôi phục triều Trần, chính sự tạm yên, Quý Ly nhận xét, “nước ta

như cái giếng khơi để lâu năm, dưới đáy có nhiều bùn nhơ lắng cặn…có thể nói cái giếng cũ toàn một thứ nước tanh tưởi, những nguồn thuỷ sinh, những mạch nước

Trang 39

35

ngầm trong và mát đều đã bị bịt kín… Bệ hạ lên ngôi đó là một trận mưa rào…”

[77, tr.120] Nếu nguồn nước giếng thường được dùng trong đời sống sinh hoạt

hằng ngày, “để giữ cho mạch nước trong linh thiêng này, người làng chỉ dùng nước

giếng vào những việc như tế làng, múc nước về cúng tổ tiên ngày đầu năm, và các

sự kiện trọng đại khác” [87, tr.38] Ngược lại, giếng và nước nếu không được khơi

sâu, gìn giữ sẽ là ao tù, nước đọng bẩn dơ biểu thị cho những mặt trái, cái xấu của

xã hội và con người Giếng và nước qua hai trường hợp được phân tích trên đây đã vượt qua nghĩa biểu tượng của đời sống sinh hoạt làng Việt trở thành biểu tượng cho sự thăng trầm một triều đại, cho những nhân cách lịch sử

Sông là một biến thể của nước Biểu tượng sông hay dòng nước chảy đồng thời là biểu tượng của sự phong nhiêu, của cái chết và sự đổi mới Giá trị này biểu tượng sông nước được các nhà văn tái tạo khi phản ánh dòng đời của các nhân vật

lịch sử Trong tác phẩm Giàn thiêu, nhà văn Võ Thị Hảo đã khéo léo tạo dựng sức

sống bền vững cho những giá trị của biểu tượng nước trong tính đối lập, lằn ranh mong manh giữa sự sống và sự chết qua cuộc đời, tâm hồn của các nhân vật Sông Gâm và thác nước của con sông này phản chiếu khá rõ dòng đời của Từ Lộ Ngược dòng sông Gâm, chiếc bè dưới tay sào Từ Lộ vẫn luồn lách qua những mõm đá

ngầm cây đổ sóng dữ “Càng lên thượng nguồn nước sông càng chảy xiết… Những

thân cây đổ từ thượng nguồn trôi về lập lờ trên mặt nước như những thay người chết đuối vừa bị hồn quỷ nhập chỉ phăm phăm nhằm thẳng bè của chàng mà sầm sập lao tới” [52, tr.201-202] Từ Lộ thấy cả thế giới này đang bủa vây lấy chàng,

những hiểm nguy khôn lường cứ hiện ra Nếu dòng nước sông Gâm khi Từ lộ ngược dòng là dòng chảy của sự chết, thể hiện lòng hận thù dâng cao trong tâm hồn

và trí nghĩ, những khổ đau mà chàng nếm trải bấy nhiêu thì khi Từ Lộ xuôi dòng buông trôi, dòng sông lại cuốn phăng những đắng cay, thù hận rồi tắm táp cho chàng những ngọt ngào hạnh phúc, cho sự tái sinh tâm hồn, cho tình yêu của chàng

và Nhuệ Anh “Con bè tuột dây neo từ từ tách bến Đá trôi xuôi Chỉ còn lại Từ Lộ,

Nhuệ Anh…bao nhiêu căm uất hận thù chứa chất trong lồng ngực, bóp nghẹt trái tim chàng từng ấy ngày đêm cũng theo đó mà tan ra mất dạng” [52, tr.211-213]

Trang 40

36

Biểu tượng nước mang tâm thức Mẫu cứu rỗi cuộc đời con người thể hiện khá

rõ nét trong nhiều tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam Nước tuôn chảy từ các nguồn như người mẹ hiền dung dưỡng phù sa làm cho cây cối, vạn vật sinh sôi, phát

triển Trong tiểu thuyết Giàn thiêu, nhà văn Võ Thị Hảo đã thổi luồng sinh bất diệt

vào biểu tượng nước Nước tuôn chảy từ trời - mưa, là biểu tượng cho sự ban phúc Những cơn mưa trời đã tưới tắm cho tâm hồn, cho tình yêu và thể xác của Từ Lộ -

Nhuệ Anh thăng hoa “Những giọt mưa dội xuống thân thể lúc này lại dịu dàng êm

ái, mỗi giọt mưa chạm xuống như mang theo một hơi thở nồng nàn sưởi ấm cơ thể nàng…” [52, tr.211] đã kéo Nhuệ Anh và Từ Lộ hoà quyện vào nhau trong niềm

khoái lạc mênh mang và nỗi đau trần thế kì diệu Nước cứu sống chàng Cá Bơn khi cậu bé bị dì ghẻ quăng xuống sông Nước và chàng Cá Bơn cứu sống Nhuệ Anh khi nàng buông tay xuống Thác Oán Nguồn nước là một biểu tượng của tình mẫu tử Những giọt sữa của Dã Nhân đã cứu lấy Từ Lộ Nước thanh tẩy và gột rửa những

bụi bẩn trần tục để con người trở nên cao cả đẹp đẽ hơn “Mưa trở về trời/ Nu na nu

nời/ Ru trời/ Trời ơi” [52, tr.339] là dòng nước mát lành xoa dịu không khí hừng

hực của giàn thiêu nhân thế, cởi bỏ lớp áo bào của đức hoàng đế và cung nhân để Thần Tông và Ngạn La tan biến vào khung trời trẻ thơ, mộng mơ đáng yêu Những

giọt nước mắt của sư bà Động Trầm “chảy đến đâu, những đám lông vằn vện tuột

ra từng đám, rồi lột hết, lộ ra thân mình của đức vua với nước da trắng xanh, thư sinh nho nhã” [52, tr.563] Giọt nước mắt ấy đã xoá hết lịch sử của một đời người

từng trải qua những kiếp nạn và khôi phục con người trong một trạng thái mới

Trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh miêu tả nước dày đặc: 273 lần Đó là nước mưa, sông, sữa Là Mẫu Mẹ, nước nuôi dưỡng đời sống tinh thần Đó là thứ “thứ nước tinh khiết từ rừng, từ suối bốc lên, rồi rơi

xuống bốn cái tán lá cau xanh tươi đó, rồi theo cuống phễu tức là bốn thân cây chảy xuống đến ngang tầm miệng bể, gặp bốn tàu cau buộc ngang thân cây ngăn lại, rót nước vào bể” [78, tr.63] mà trời ban phúc cho con người Nước mưa ở cái

bể cụ Tiết vì thế mà rất ngon, rất quý, đã đánh thức khát vọng tâm hồn mỗi người như cụ Tiết, Điều, Trịnh Huyền, Nhụ…; Đó là sữa, nguồn dinh dưỡng cứu sống cho con người trên bờ vực cái chết Cả làng Cổ Đình rơi vào đại dịch tả, người mắc dịch

Ngày đăng: 14/10/2020, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2014
2. Toan Ánh (2005), Khúc ca diệt thù, Nxb Thanh niên, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khúc ca diệt thù
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
3. Đào Tuấn Ảnh (2003), Văn học hậu - hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu - hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
4. Lại Nguyên Ân (2005), Tiểu thuyết và lịch sử, Vietnam.net, 31/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết và lịch sử
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2005
5. Diệp Quang Ban (2012), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
6. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học, số 6, tr. 66-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
7. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn - lý luận, tác gia và tác phẩm, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn - lý luận, tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
8. Lê Huy Bắc (2008), Cốt truyện trong tự sự, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7, tr.34 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2008
9. Hoa Bằng (2015), Quang Trung, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quang Trung
Tác giả: Hoa Bằng
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2015
10. Nguyễn Chí Bền (2013), Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
11. Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh (2011), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
12. Nguyễn Thị Bình (2005), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay”
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2005
13. Nguyễn Thị Bình (2008), Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay (Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp bộ), Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008
14. Carl Jung (2007), Thăm dò tiềm thức, Vũ Đình Lưu dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm dò tiềm thức
Tác giả: Carl Jung
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007
15. Trần Thanh Cảnh (2017), Đức Thánh Trần, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đức Thánh Trần
Tác giả: Trần Thanh Cảnh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2017
16. Lê Nguyên Cẩn (2014), Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2014
17. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1997
18. Lương Minh Chung (2012), Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa, Luận án tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Lương Minh Chung
Năm: 2012
19. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
20. Nguyễn Văn Dân (2012), Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt nam đương đại, Tạp chí Nhà văn, số 1/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w