1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tiểu luận An sinh

44 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 409,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng là chế độ trợ giúp cơ bản, đượcthực hiện đối với những đối tượng sống cùng gia đình, người thân, người nhận nuôidưỡng tại cộng đồng

Trang 1

0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘIKHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: CHẾ ĐỘ TRỢ GIÚP XÃ HỘI

TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN TẠI CỘNG

ĐỒNG

Sinh viên: Đàm Quỳnh Phương

Mã sinh viên: 217801144Lớp: Luật D2017B

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Lan

Hà Nội, 2020

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng là chế độ trợ giúp cơ bản, đượcthực hiện đối với những đối tượng sống cùng gia đình, người thân, người nhận nuôidưỡng tại cộng đồng, không phải trong các cơ sở bảo trợ xã hội 2 nhà xã hội Trợcấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng bao gồm các chế độ: chế độ trợ cấp xã hộihàng tháng, chế độ bảo hiểm y tế, chế độ hỗ trợ giáo dục, đào tạo

Cuộc sống của con người trên trái đất, dù ở bất kì giai đoạn phát triển nào, bất kìchế độ xã hội nào cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trườngsống Những rủi ro, bất hạnh, những khó khăn ngoài ý muốn đã luôn làm cho một

bộ phận dân cư rơi vào tình cảnh yếu thế trong xã hội Để có thể tồn tại và pháttriển, họ cần được sự trợ giúp của xã hội mà trong đó Nhà nước đóng vai trò hếtsức quan trọng nhờ có hệ thống an sinh xã hội của mình An sinh xã hội chỉ sự bảo

vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một loạt những biện phápcông cộng, chống đỡ sự hẫng hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm độtngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thấtnghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình

có con nhỏ Trong đó, Cứu trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực ansinh xã hội Theo nghĩa thông thường, cứu trợ xã hội được hiểu là chế độ đảm bảo

xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khókhăn trước mắt cũng như lâu dài trong đời sống Việc đảm bảo này thông qua cáchoạt động cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trongmột thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng Cứu trợ

xã hội được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới đỡ an sinh xãhội

Tại một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, quá trình xây dựng một hệthống an sinh xã hội hiện đại và toàn diện đã mang lại những đổi mới đáng ghinhận Đối với Việt Nam, quốc gia đang trên đà chuyển mình nhanh chóng, với sốlượng lớn lao động phi chính thức, trợ giúp xã hội sử dụng nguồn ngân sách công

là một phần thiết yếu của quá trình này Bằng chứng từ khắp nơi trên thế giới đã chỉ

ra rằng, những chương trình tập trung vào đối tượng nghèo và dễ bị tổn thương đãđóng góp cho nhiều mục tiêu - từ giảm tỷ lệ nghèo và giảm bất bình đẳng tới cảithiện dinh dưỡng hộ gia đình, cải thiện sức khỏe và nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 3

Việt Nam đang nỗ lực cải thiện hệ thống trợ giúp xã hội để bắt kịp tốc độ phát triểncủa đất nước kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới vào cuối thập niên 1980 và hiệnvẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức Thứ nhất, các chính sách trợ giúp xãhội còn nhiều hạn chế và dường như bỏ sót phần lớn dân số trong độ tuổi lao động

có thu nhập thấp và bảo trợ xã hội đã không bảo phủ được toàn bộ các giai đoạnquan trọng nhất trong cuộc đời của đối tượng dễ bị tổn thương Mức độ bao phủ,mức trợ giúp xã hội thường xuyên bằng tiền mặt và chất lượng dịch vụ chăm sóc xãhội chưa đáp ứng nhu cầu của Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay ViệtNam cần có tư duy mới trong phương pháp tiếp cận và định hướng dài hạn cho cả

hệ thống Thứ hai, những hạn chế về thủ tục hành chính, cơ chế vận hành và tổchức bộ máy cần được khắc phục ở cả ba trụ cột của hệ thống trợ giúp xã hội – trợgiúp xã hội thường xuyên, trợ giúp xã hội đột xuất và chăm sóc xã hội

Trang 4

1.Tình hình nghiên cứu đề tài:

Liên quan đến chế độ trợ cấp xã hội, hiện có một số công trình nghiên cứu,

chẳng hạn như: luận án tiến sĩ “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Toàn tại Đại học Kinh tế Quốc Dân; ngày bảo vệ 21/01/2011, báo cáo về “Tổng quan và đề xuất đổi mới hệ thống Trợ giúp xã hôi Việt Nam” của nhóm tác giả Stephen Kidd, Tareq Abu-el-Haj, Bazlul

Khondker, Carol Watson, Sharlene Ramkissoon,

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.

Tiểu luận tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam vềChính sách trợ giúp xã hội cộng đồng, trong đó trọng tâm là nghiên cứu các quyđịnh của các luật, Nghị định 136/2016/NĐ-CP, Nghị định của Chính phủ Nghị định07/2000/NĐ-CP, Nghị định 168/2004/NĐ-CP, Nghị định 67/2007/NĐ-CP, Tiểuluận còn nghiên cứu pháp luật về Chính sách trợ giúp xã hội cộng đồng

3 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn

thiện pháp luật về công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam hiện nay một cáchtoàn diện trong mối tương quan với một số nước phát triển thế giới và thực tiễn tạiViệt Nam

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân chia các vấn đề lớn, phức tạp

thành những vấn đề nhỏ chi tiết, cụ thể hơn Sau khi phân tích thì tổng hợp lại vàkhái quát để đưa tới sự nhận thức tổng thể về pháp luật công ty TNHH một thànhviên ở Việt Nam hiện nay và giải pháp hoàn thiện

- Phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch: Đề tài đi từ những

vấn đề chung đến những vấn đề riêng, từ những hiện tượng riêng lẻ đến những cáichung

- Phương pháp thống kê: Đề tài tập hợp những số liệu về công ty TNHH một

thành viên ở Việt Nam, trên thế giới và thực tiễn làm cơ sở khoa học

- Phương pháp so sánh: Đề tài đặt thực tiễn về vấn đề cần nghiên cứu trong

mối liên hệ và so sánh với thực tiễn của một số nước phát triển trên thế giới, qua đó

Trang 5

tìm ra những ưu nhược điểm của vấn đề và đề xuất phương hướng hoàn thiện đểgiải quyết nội dung vấn đề cần nghiên cứu.

Trang 6

CHƯƠNG 1: Khái quát về Chế độ trợ giúp xã hội chính sách trợ giúp xã hội cộng đồng

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài.

1.1.1 Khái niệm.

Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng là chế độ trợ giúp cơ bản,

được thực hiện đối với những đối tượng sống cùng gia đình, người thân, ngườinhận nuôi dưỡng tại cộng đồng, không phải trong các cơ sở bảo trợ xã hội 2 nhà xãhội Trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng bao gồm các chế độ: chế độ trợ cấp

xã hội hàng tháng, chế độ bảo hiểm y tế, chế độ hỗ trợ giáo dục, đào tạo

Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng

đồng Bảo hiểm y tế giúp giảm thiểu những chi phí chăm sóc sức khỏe, chi phí liênquan đến việc điều trị, phục hồi sức khỏe…trong các trường hợp bị mắc bệnh hoặc

bị tai nạn…

Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ

năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làmhoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghềnghiệp

1.1.2 Chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng

1.1.2.1 Đối tượng và điều kiện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng áp dụng đối với những đốitượng với các nguyên nhân khác nhau không thể tự đảm bảo được cuộc sốngcủa bản thân trong một thời gian dài hoặc trong suốt cuộc đời Những đối tượngnày hưởng trợ cấp xã hội và sinh sống ở cộng đồng Ở nước ta, phạm vi đốitượng hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng cũng có sự thay đổi, điều

Trang 7

chỉnh trong các thời kỳ do những đặc điểm của điều kiện tự nhiên, kinh tế xãhội, Pháp luật Việt Nam hiện nay cũng quy định phạm vi đối tượng được trợcấp thường xuyên tại cộng đồng gắn với các điều kiện, tiêu chí xác định cụ thể:

- Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng: việc xác định đối tượng trẻ

em dưới 16 tuổi phù hợp quy định của luật trẻ em Đây là nhóm đối tượng dưới

16 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, nhận thức do đó cần được cộngđồng, xã hội bảo vệ Trẻ em dưới 16 tuổi được hưởng trợ cấp xã hội do không

có nguồn nuôi dưỡng thuộc các trường hợp:

1) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

2) Mồ côi cả cha cả mẹ;

3) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;4) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, dưỡng tại

cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

5) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt

tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tạitrường giáo dưỡng, dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

6) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

7) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xãhội, nhà xã hội;

8) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặcđang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ

sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

9) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang ởchế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

10) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của và người còn lại đang trong thờigian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý viphạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cainghiện bắt buộc;

11) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xãhội, xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trạigiam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáodưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

Trang 8

- Người 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp nêu tại khoản

1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP mà đang học phổ thông, học nghề,trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, văn bằng thứ nhất Người từ 16 –

22 tuổi được tham gia vào quan hệ lao động của quy định của pháp luật laođộng tuy nhiên đảm bảo quyền được học tập của công dân và chính sách xã hộicòn hướng tới tạo điều kiện cho các đôi tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hộihòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực bản than để vươn lên trong cuộc sống

Do đó người từ 16 đến 22 tuổi mà không có nguồn nuôi dưỡng, đang học phổthông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhấtthì được hưởng trợ giúp thường xuyên để tiếp tục hoàn thành chương tình họctập, nâng cao trình độ nhận thức, hoàn thiện bản thân

- Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo, người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèokhông còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hộihàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác

- Người đơn thân nghèo đang nuôi con: Người thuộc hộ nghèo không có chồng

mà không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quyđịnh của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoăc người con từ 16 tuổi đến

22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông học nghề, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất

- Người cao tuổi: bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi không chỉ là trách nhiệm củanhà nước và xã hội về những đóng góp của họ cho xã hội mà còn thể hiện tínhnhân văn, là truyền thống đạo lý của dân tộc Theo quy định của luật người caotuổi, người cao tuổi là người từ đủ 60 tuổi trở lên Ở độ tuổi này, trải qua quátrình dài sống và lao động nhưng không phải ai cũng có cuộc sống đầy đủ, thậmchí họ phải sống trong điều kiện thiếu thốn, khó khăn, trong khi đó khả năng laođộng đã bị suy giảm, hạn chế hơn nên khó có khả năng tự mình khắc phục, loliệu cuộc sống Chính vì vậy Nhà nước, cộng đồng phải trợ giúp thường xuyêncho những người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người và quyền phụngdưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người này đang hưởngchế độ trợ cấp xã hội hàng tháng; người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộctrường hợp trên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội Hàng tháng,trợ cấp xã hội hàng tháng; người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có

Trang 9

nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, điềukiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, xã hội nhưng có người nhận chăm sóctại cộng đồng.

- Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội quy địnhcủa pháp luật về người khuyết tật Là người khuyết tật biệt nặng sinh sống tạicộng đồng, người khuyết tật nặng mà không thể tự phục vụ nhu cầu sinh hoạt cánhân hàng ngày hoặc không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinhhoạt cá nhân hàng ngày

1.1.2.2 Mức trợ cấp xã hội hàng tháng

Nhà nước ban hành mức chuẩn trợ cấp xã hội là căn cứ xác định mức trợcấp xã hội, đồng thời cho phép chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyếtđịnh mức trợ cấp xã hội cao hơn mức quy định của pháp luật cho phù hợp vớikhả năng ngân sách địa phương, khả năng huy động các nguồn xã hội hóa vớimức sống tối thiểu tại địa phương Từ năm 2000 đến nay, mức chuẩn trợ cấp xãhội được thay đổi theo hướng tăng dần qua từng thời kỳ

Theo quy định hiện hành, 4 nghị định số 136/2013/NĐ-CP, mức chuẩntrợ giúp xã hội là 270.000₫ Mức chuẩn này là căn cứ xác định mức trợ cấp xãhội, mức trợ cấp nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội, mức hỗ trợkinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội Căn cứ vào điềukiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết địnhmức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc,nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng quyđịnh tại Nghị định số 136/2013/ND-CP

Từ Quy định này, hiện nay mức chuẩn trợ giúp xã hội được thực hiệntheo quy định của từng địa phương nhưng không được thấp hơn mức chuẩn đãquy định tại Nghị định số 136/2013/ND-CP Cụ thể, trợ cấp xã hội hàng thángbằng mức chuyển trợ giúp xã hội nhân với hệ số hưởng trợ cấp xã hội hàngtháng Trợ cấp hàng tháng được xác định tùy thuộc vào mức độ khó khăn, trợgiúp và khả năng tự khắc phục của đối tượng (quy định tại điều 6 Nghị định số136/2013/ND-CP)

Đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo hệ số khác nhau thì chỉ đượchưởng một mức cao nhất Riêng người đơn thân, nghèo, nuôi con đồng thời là

Trang 10

đối tượng trợ giúp xã hội thuộc trường hợp trẻ em bị nhiễm HIV, người bị nhiễmHIV thuộc hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em khuyết tật, người khuyết tật đượchưởng trợ giúp xã hội thì ngoài chế độ đối với người đơn thân nghèo nuôi con,còn được hưởng chế độ trợ giúp xã hội đối với các đối tượng này.

1.1.3 Chế độ bảo hiểm y tế.

Đối tượng được trợ cấp trợ giúp xã hội Hàng tháng mà không phải là

người đơn thân nghèo nuôi con; ăn của người đơn thân nghèo nuôi con đượchưởng trợ cấp hàng tháng; người khuyết tât nặng, ngưòi khuyết tật đặc biệtnặng; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội Hàngtháng, trợ cấp hàng tháng khác mà chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí thìđược nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế

1.2 Chế độ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo dạy nghề.

Đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng (trừ người đơn thân nghèonuôi con), khi học mầm non, giáo dục phổ thông, học nghề, Trung học chuyênnghiệp, cao đẳng và đại học được hưởng chính sách hỗ trợ về giáo dục, đào tạo vàdạy nghề theo quy định của pháp luật

1.3 Chế độ hỗ trợ chi phí mai tang

Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, từ đủ 16 tuổi đến 22 tuổi

có hoàn cảnh như trẻ em dưới 16 tuổi không có người nuôi dưỡng, người bị nhiễmHIV, người cao tuổi và người khuyết tật đủ điều kiện hưởng trợ cấp xã hội Hàngtháng khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng theo quy định Ngoài ra, con của ngườiđơn thân nghèo và người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hộihàng tháng, trợ cấp khác hàng tháng khi chết cũng được hỗ trợ mai táng phí Hỗ trợchi phí mai táng bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về Chế độ trợ giúp xã hội chính sách trợ giúp xã hội cộng đồng

2.1 Thực trạng về chế độ trợ giúp xã hội hàng tháng

2.1.1 Về đối tượng

Người cao tuổi

Trang 11

Kết quả điều tra dân số 10/01/2020 cả nước có 96.901.340(Nguồn: https://danso.org/viet-nam/) cả nước có 5.5% dân số là người cao tuổi từ

64 tuổi Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc là tỷ lệ người trên độ tuổi lao động (65+) sovới lực lượng lao động của một quốc gia Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc ở ViệtNam là 11,3% Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) chothấy, tính đến 31/12/2018 cả nước có hơn 11,3 triệu người cao tuổi (chiếm 11,95%dân số), trong đó có gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên (chiếm 17,5% tổng sốngười cao tuổi), khoảng 5,7 triệu người cao tuổi nữ (chiếm khoảng 50,7%), khoảng7,2 triệu người cao tuổi sống ở khu vực nông thôn (chiếm 65%), người cao tuổi,người khuyết tật thuộc diện hộ nghèo cao hơn bình quân chung cả nước

Theo Bộ LĐTBXH, cả nước đã thành lập được 418 cơ sở trợ giúp xã hội(189 cơ sở công lập và 229 cơ sở ngoài công lập) Trong đó, có 86 cơ sở chăm sócngười cao tuổi, 67 cơ sở chăm sóc người khuyết tật Ngoài ra, còn có hàng trăm cơ

sở tổng hợp chăm sóc, phục hồi chức năng cho người cao tuổi, người khuyết tật vớicông suất phục vụ khoảng 20.000 đối tượng

Tuy nhiên Bộ LĐTBXH cũng nhìn nhận rằng, đời sống người cao tuổi,người khuyết tật còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao so với tỷ lệ hộ nghèo chung của

cả nước Mức trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi, người khuyết tật còn thấp, bằngkhoảng 30% so với chuẩn nghèo thành thị và 40% chuẩn nghèo nông thôn Sốlượng người cao tuổi, người khuyết tật được chăm sóc trong các cơ sở trợ giúp xãhội còn ít; cơ sở vật chất tại các cơ sở trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật cònthiếu thốn, chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, nhất là trang thiết bị y tế phụchồi chức năng cho người khuyết tật, thiếu các dịch vụ trị liệu tâm lý

Trẻ em mồ côi

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy địnhchính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội do Thủ tướng Chính phủban hành thì trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cả cha và mẹ sẽ được hưởng trợ cấp xã hộihàng tháng

Theo đó, do bạn không nói rõ trẻ bị mồ côi cả cha và mẹ bao nhiêu tuổi nêncăn cứ theo quy định tại Điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định136/2013/NĐ-CP thì mức mưởng trợ cấp xã hội hàng tháng trong trường hợp nàyđược quy định như sau:

Trang 12

+ Nếu trẻ dưới 04 tuổi thì mức trợ cấp xã hội hàng tháng là: 675.000đồng/tháng tương ứng với hệ số là 2,5.

+ Nếu trẻ từ 04 tuổi trở lên thì mức trợ cấp xã hội hàng tháng là: 405.000đồng/tháng tương ứng với hệ số là 1,5

Lưu ý: Số tiền trên được tính dựa trên mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hộihiện nay của nước ta là 270.000 đồng Tuy nhiên, tùy vào điều kiện cụ thể của địaphương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức trợ cấp xã hội,mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợgiúp xã hội khác cao hơn mức 270.000 đồng

Theo các văn bản hiện hành, Nhà nước chuyển đổi cơ chế miễn, giảm họcphí sang thực hiện cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thôngcông lập có đối tượng được miễn, giảm học phí theo số lượng người học thực tế vàmức thu học phí Cấp bù học phí (theo mức học phí của các trường công lập trongvùng) cho học sinh là con của người có công với nước, các đối tượng chính sáchhọc mẫu giáo và phổ thông ngoài công lập Cấp trực tiếp tiền hỗ trợ miễn, giảm họcphí cho các đối tượng được miễn, giảm học phí học ở các cơ sở giáo dục nghềnghiệp và giáo dục đại học công lập để các đối tượng này đóng học phí cho nhàtrường; thực hiện hỗ trợ chi phí học tập trực tiếp cho các đối tượng trẻ em mẫu giáo

và học sinh phổ thông thuộc hộ nghèo, mồ côi, hoặc ở vùng đặc biệt khó khăn vớimức 70.000 đồng/học sinh/tháng để mua sách, vở và các đồ dùng khác theo thờigian thực tế học và không quá 9 tháng/năm học

Ngoài ra, việc cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội ở cộng đồng chưa đượcquan tâm đúng mức, kết quả đạt được còn khá khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhucầu của các đối tượng Các chính sách chăm sóc xã hội mới chỉ quan tâm đến việctrợ cấp tiền mặt cho trên 171 ngàn/ gia đình người chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em

bị bỏ rơi, gia đình có từ 2 người khuyết tật nặng trở lên, người đơn thân nuôi connhỏ và người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động1 Các dịch vụ chămsóc xã hội dựa vào cộng đồng nhìn chung mới được triển khai với quy mô nhỏ, lẻ tẻhoặc mang tính chất mô hình thí điểm, còn lại hầu hết các dịch vụ chăm sóc xã hội

có tính chất chuyên môn và chuyên sâu chưa được triển khai thực hiện ở cộngđồng

1

Trang 13

Người khuyết tật

Theo con số của Bộ Lao Động-Thương Binh và Xã Hội, tính đến tháng

6-2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm hơn 7,8% dân số trong

đó người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 58%người khuyết tật là nữ, 28,3% người khuyết tật là trẻ em, 10,2% người khuyết tật làngười cao tuổi và khoảng 10% là người khuyết tật thuộc hộ nghèo

Theo số liệu thống kê về người khuyết tật Việt Nam năm 2010 ước tính cảnước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật và chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có1,1 triệu người khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật Trong đóbao gồm 29% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thínhgiác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng tật khác Tỷ lệ nam là ngườikhuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tainạn giao thông, tai nạn thương tích

Nguyên nhân gây nên các dạng khuyết tật có tới 36% là do bẩm sinh, 32%

do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động

Nhìn vào cơ cấu dân số về số liệu thống kê về người khuyết tật Việt Namchúng ta thấy số người khuyết tật nước ta có thể lên tới 15 triệu người (13,35% dânsố)

Người bị nhiễm HIV

Theo thống kê của Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), tính đến tháng5/2017, cả nước có 209.754 người nhiễm HIV còn sống sau khi đã rà soát, trong đó

có 8.772 người trùng lặp hoặc không tìm thấy Số lượng bệnh nhân nhiễm HIV vẫntang Cũng trong 5 tháng đầu năm, có 1.959 người nhiễm HIV chuyển sang giaiđoạn AIDS và 90.882 trường hợp tử vong do HIV/AIDS tính từ đầu vụ dịch đếnnay Trong 5 tháng đầu năm 2017, số trường hợp HIV dương tính mới phát hiệnkhoảng 3.546 ca, số tử vong khoảng 641 ca So với cùng kỳ năm 2016, số nhiễmHIV mới giảm 11%, số bệnh nhân AIDS giảm 21%, số tử vong giảm 34% năm

2018 số liệu thống kê cho thấy ước tính cho mọi lứa tuổi và giới tính là 230.000người Số phần trăm dân số là người trưởng thành đang sống với HIV: 0,3%

Nhằm hạn chế số người mắc mới và những người đã mắc HIV có BHYT cóthể tiếp cận được với nguồn thuốc điều trị ARV một cách tốt nhất, mới đây, Bộ Y tếvừa ban hành Thông tư 28/2017/TT-BYT có hiệu lực từ 15/8/2017 quy định vềquản lý thuốc kháng HIV được mua sắm tập trung cấp quốc gia sử dụng nguồn quỹkhám bệnh, chữa bệnh BHYT và hỗ trợ chi phí cùng chi trả đối với thuốc khángHIV cho người nhiễm HIV có BHYT Theo đó, Thông tư này quy định về mua sắm

Trang 14

tập trung cấp quốc gia đối với thuốc kháng HIV sử dụng nguồn quỹ khám bệnh,chữa bệnh BHYT.

2.1.2 Thực trạng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

Chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam được hình thành ngay sau khi cáchmạng tháng Tám 1945 và luôn được hoàn thiện phù hợp với quá trình phát triển,nhất là từ khi xã hội đổi mới đến nay Trợ giúp xã hội đã chuyển từ hoạt độngphong trào sang chính sách bắt buộc, bước đầu hình thành cơ sở lý luận và đã thểchế trong văn bản pháp luật, hệ thống tổ chức thực hiện được tang cường, đốitượng mở rộng hơn Đã hình thành cơ sở lý luận về trợ giúp và xã hội, đồng thờithể chế các chính sách trong các văn bản luật pháp (Pháp lệnh về NTT, Pháp lệnhNCT, các Nghị định và các Quyết định của Chính phủ, thông tư và các văn bảnhướng dẫn của Bộ LĐTBXH) Bổ sung các chính sách mới phù hợp với thực tiễn;

Hệ thống tổ chức thực hiện được tăng cường và phân cấp mạnh cho địa phương.đối tượng thụ hưởng chính sách này cũng được mở rộng hơn bao gồm tất cả nhữngngười có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không có khả năng lao động, không có thunhập, không có người nuôi dưỡng và chăm

2.1.3 Quan điểm, chủ trương chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng

Quan điểm, chủ trương của đảng và Nhà nước về chính sách xã hội nói riêngchính sách TGXH thường xuyên cộng đồng nói riêng được cụ thể trong các nghịquyết của đảng Tổng hợp trong thời kỳ đổi mới có các quan điểm,chủ trương vềchính sách TGXH thường xuyên cộng đồng sau:

2.1.3.1 Gắn liền chính sách TGXH với chính sách đổi mới kinh tế, đảm bảo phân phối công bằng trong toàn bộ nền kinh tế

Chủ trương này được thể hiện rõ trong Nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lầnthứ VI, VII, VIII và IX Cụ thể Nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII đãnêu: "Từng bước xây dựng chính sách Bảo trợ xã hội đối với toàn dân, theo phươngchâm nhà nước và nhân dân cùng làm, mở rộng và phát triển các công trình sựnghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho nhưngngười có công với cách mạng và những người gặp khó khăn Nghiên cứu bổ sungchính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh

tế, quản lý xã hội

Hệ thống chính sách TGXH được xây dựng trên cơ sở quan điểm phù hợpvới điều kiện và quá trình phát triển kinh tế, với mục tiêu giải quyết vấn đề bìnhđẳng trong phân phối sản phẩm quốc dân, theo định hướng mọi đối tượng xã hộiđều được hưởng lợi từ thành quả của tăng trưởng và phát triển kinh tế Chính vìnhững mục tiêu đó mà các chế độ TCXH luôn được đảng và nhà nước ta điều chỉnh

và thay đổi phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và mức sống chung của cộngđồng dân cư, không để tình trạng quá chênh lệch diễn ra trong xã hội

2.1.3.2 Từng bước xây dựng, hình thành hệ thống luật pháp đồng bộ

Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, đòi hỏi các lĩnh vực xã hội phảitừng bước hình thành luật pháp quy định cụ thể về các nội dung chính sách Trong

Trang 15

bối cảnh hệ thống chính sách còn thiếu, chưa đồng bộ cần có lộ trình, bước đi phùhợp Nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu định hướng: "Đẩymạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện Thực hiện các chính sách bảo trợ TEMC,lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật; xâydựng quỹ tình thương trích từ ngân sách một phần và động viên toàn xã hội thamgia đóng góp; tiến tới xây dựng luật về bảo trợ người tàn tật và TEMC"

2.1.3.3 Thực hiện phân cấp và thúc đẩy xã hội hoá TGXH

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về kinh tế, cần ưu tiên ngân sách nhànước cho đầu tư phát triển, chủ trương xã hội hoá công tác xã hội được Đảng vànhà nước lựa chọn là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết tốt cácvấn đề xã hội bức xúc Chủ trương này được thể hiện rõ trong Nghị quyết đại hộiđảng toản quốc lần thứ IX: "Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xãhội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trongnhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội"

2.1.4 Thực trạng chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng

2.1.4.1 Thực trạng chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng

Trợ cấp xã hội là chính sách chính bộ phận quan trọng của chính sách TGXHthường xuyên cộng đồng Chính vì vậy, chính sách TCXH đã được quy định chi tiếttrong hệ thống các văn bản pháp luật ngay từ thời gian trước đổi mới kinh tế và đãđược đổi mới, hoàn thiện kể từ sau đổi mới kinh tế (năm 1986) đến nay Nhìn lạiquá trình phát triển, trước năm 1994 trở về trước, chính sách TCXH được thực hiệntheo quy định của Thông tư 202/CP ngày 26 tháng 11 năm 1966 của Chính phủ vềchính sách cứu trợ xã hội Từ năm năm 1994 đến trước năm 2000, TCXH được quyđịnh trong Quyết định số 167/TTg ngày 8 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng chínhphủ về sửa đổi bổ sung chế độ cứu trợ xã hội Kể từ năm 2000, chính sách TCXH

đã được quy định trong hệ thống văn bản:

o Pháp lệnh NCT, số 23/2000/PLUBTVQH10, ngày 28 tháng 4 năm 2000của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

o Pháp lệnh về NTT, số 06/1998/PL-UBTVQH10, ngày 30 tháng 7 năm

1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

o Nghị định 55/1999/Nđ-CP, ngày 10 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về NTT

o Nghị định số 07/2000/Nđ-CP ngày 9 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ vềchính sách cứu trợ xã hội

o Nghị định số 30/2002/Nđ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ vềhướng dẫn một số điều Pháp lệnh người cao tuổi

o Nghị định số 168/2004/Nđ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2004 của chính phủ vềsửa đổi một số điều của Nghị định số 07/2004/Nđ-CP

o Nghị định số 67/2007/Nđ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ vềchính sách trợ giúp xã hội cho đối tượng BTXH

o Nghị định số 13/2010/Nđ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ vềsửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 67/207/Nđ-CP

Trang 16

Quyết định 313/2005/Qđ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướngChính phủ về một số chế độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và những người trựctiếp quản lý, điều trị chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS trong các cơ sở BTXH củaNhà nước.

o Thông tư số 09/2007/TT-BLđTBXH ngày 13 tháng 7 năm 2007 của BộLao động – Thương binh và Xã hội vè hướng dẫn thực hiện Nghị định số67/2007/Nđ-CP,

o Thông tư số 06/LđTBXH ngày 20 tháng 8 năm 1997 của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội về việc cấp phát, sử dụng, thanh toán tiền chân tay giả vàdụng cụ chỉnh hình

o Thông tư số 36/2005/TT-BLđTBXH, ngày 26 tháng 12 năm 2005 của BộLđTBXH về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 30/2002/Nđ-CP vàNghị định số 120/2003/Nđ-CP

o Thông tư số 13/2000/TT-BLđTBXH, ngày 12 tháng 5 năm 2000 của BộLđTBXH về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 55/1999/Nđ-CP ngày

10 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều củaPháp lệnh về NTT

o Thông tư số 18/2000/TT-BLđTBXH ngày 28 tháng 7năm 2000 của BộLđTBXH về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 07/2000/Nđ-CP ngày

9 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội

Hệ thống các văn bản pháp luật quy định cụ thể về đối tượng thụ hưởngchính sách, mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng, các mức cụ thể đối với từng đốitượng, trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp, công tác kiểm ra giám sát,tổng hợp báo cáo Trong đó mức trợ cấp lần đầu được xác định trong thời kỳ chiếntranh vào năm 1966, thời kỳ này kinh tế đất nước rất khó khăn, nên các chế độchính sách đối với nhóm đối tượng BTXH chủ yếu mới tính đến nhu cầu lươngthực, các chế độ quy đổi lương thực nhằm bảo đảm khẩu phần ăn cho đối tượng.Sau đó mức trợ cấp được điều chỉnh lần thứ nhất vào năm 1994 với mức 24.000đồng/người/tháng, tương đương với 12 kg gạo Lần thứ hai điều chỉnh vào năm

2000 với mức là 45.000 đồng/người/tháng và cũng chỉ tương đương với 12 kg gạo.Lần thứ 3 điều chỉnh vào năm 2005 , lần này mức trợ cấp xã hội tăng 44% so vớimức trợ cấp năm 2000, cao hơn so với trượt giá; mức tăng này gần bằng với tốc độtăng trưởng kinh tế trong vòng 5 năm (2000- 2005) Mức trợ cấp cũng đã được tiền

tệ hoá và điều chỉnh cao hơn cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đấtnước Từ năm 2007 thực hiện theo quy định của Nghị định số 67/2007/Nđ-CP thìmức TCXH thấp nhất là 120.000đồng/tháng áp dụng giai đoạn 2007 - 2009 Từngày 1tháng 1 năm 2010 áp dụng mức mới theo quy định tại Nghị định số 13/2010,Nđ-CP, thì mức chuyển trợ cấp thấp nhất là 180.000đ/tháng

2.1.4.2 Thực trạng chính sách trợ giúp y tế

Với chủ trương giúp những người yếu thế tiếp cận với các dịch vụ y tế chữabệnh và chăm sóc sức khoẻ khi đau ốm, chính sách này tập trung vào hỗ trợ khámchữa bệnh miễn phí, chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng, phục hồi chức năng và

Trang 17

khuyến khích các tổ chức thực hiện hình thức khám chữa bệnh nhân đạo Từ năm

2009 trở về trước, khi Luật bảo hiểm y tế chưa có hiệu lực thi hành, chính sáchkhám chữa bệnh được quy định ở nhiều văn bản khác nhau, cụ thể quy định tạiNghị định 95/CP ngày 27 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ về việc thu một phầnviện phí; Thông tư số 27/LđTBXH ngày 24 tháng 10 năm 1995 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 95/CP về chính sáchkhám chữa bệnh miễn phí; Thông tư liên Bộ số 05/1999/TTLB- BLđTBXH- BYT-BTC, ngày 29 tháng 1 năm 1999 hướng dẫn việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho ngườiquá nghèo Theo những quy định của các văn bản này thì đối với những đối tượngthuộc diện cứu trợ thường xuyên (nay là TCXH) được ưu tiên cấp thẻ BHYT trước.Thực hiện nội dung này thông qua việc cấp thẻ Bảo hiểm y tế với mệnh giá30.000đồng/người/năm, hoặc cấp giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí.Những tỉnh có điều kiện thì mua thẻ bảo hiểm y tế, tỉnh chưa có điều kiện mua thẻBHYT thì thực hiện cấp giấy khám chữa bệnh miễn phí theo hình thức thực thanh,thực chi Kể từ năm 2007, thực hiện theo quy định của Nghị định số 67/2007/Nđ-

CP về chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội thì các đối tượng thuộc diệnTGXH thường xuyên cộng đồng được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí theomệnh giá đối với người nghèo Kể từ năm 2009 thực hiện theo Luật bảo hiểm y tế,ngân sách nhà nước cấp để mua thẻ BHYT cho nhóm đối tượng này với mệnh giábằng 3% mức lương tối thiểu đồng thời áp dụng cơ chế đồng chi trả, đối tương nàyphải trả 5% chi phí khám, chữa bệnh Riêng đối với NTT còn được hưởng cácchính sách hỗ trợ chỉnh hình phục hồi chức năng Trong một số trường hợp đặcbiệt, NTT không nơi nương tựa, sau khi được phục hồi chức năng cần có chân taygiả, dụng cụ chỉnh hình (nẹp, áo chỉnh hình, nạng v.v ) không phải trả tiền (đượccấp theo yêu cầu của cơ quan chỉnh hình phục hồi chức năng)

2.1.4.3 Thực trạng chính sách trợ giúp giáo dục

Mảng chính sách này thể hiện ở những nội dung khuyến khích trẻ em là đốitượng BTXH đến trường và hỗ trợ các gia đình khó khăn có đủ điều kiện để bảođảm cho các em đến trường Theo quy định của các văn bản pháp luật (Luật giáodục, Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học; Luậtdạy nghề, Pháp lệnh NTT, Nghị định số 90/CP ngày 15 tháng 12 tháng 1995, Thông

tư số 32/TC-TT, Quyết định số 70/1998/Qđ-TTg, Thông tư Liên Bộ số54/1998/TTLB- BGD&đT- BTC, Quyết định số 1121/1997/Qđ-TTg, Thông tư liên

Bộ 53/1998/TT-LB/BGDđT- BTC- BLđTBXH ) thì TEMC, NTT, trẻ em nghèokhi học ở các cấp học tiểu học, phổ thông, trung học dạy nghề, cao đẳng và đại họcđược miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác Học sinh là trẻ em tàn tật,TEMC không nơi nương tựa, được nuôi dưỡng trong cơ sở giáo dục nội trú, đượcmiễn học phí Trong thời gian nội trú, được hưởng trợ cấp xã hội là 100.000đồng/người/tháng và được cấp sách vở, đồ dùng học tập phù hợp với bậc học.Ngoài ra một số tỉnh đã có các trung tâm giáo dục trẻ em thiệt thòi (dạy trẻ câm,điếc) trực thuộc Sở Giáo dục và đào tạo và các trường, lớp chuyên biệt và giáo dụchoà nhập ở các cấp mầm non, giáo dục phổ thông và dạy nghề đối tượng TGXH

Trang 18

được thực hiện kết hợp phục hồi chức năng, dạy văn hoá, giáo dục hướng nghiệp vàdạy nghề.

2.1.4.4 Nhận xét nội dung chính sách

Hệ thống các chính sách bộ phận của chính sách TGXH hiện hành đã đượcquy định tương đối đồng bộ và đầy đủ Từ việc bảo đảm về đời sống đến các điềukiện chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các hỗ trợ khác đồng thời các chính sáchcũng đã thiết kế quan điểm tiếp cận tổng thể, trong đó có ưu tiên theo hoàn cảnh,nhóm đối tượng và tuổi, nhu cầu chăm sóc giúp đỡ của từng nhóm đối tượng cụthể Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và đa dạng về đối tượng, chính sách đã dẫnđến những quy định chính sách vẫn còn những hạn chế nhất định Những chínhsách bộ phận chưa được quy định một cách đồng bộ, còn tách biệt về tiêu chí, điềukiện, phương thức thực hiện giữa các loại chính sách

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chế độ trợ giúp xã hội chính sách trợ giúp xã hội cộng đồng

3.1 Từng bước mở rộng đối tượng hưởng lợi nhằm bao phủ toàn bộ dân

cư khó khăn

Đối với quốc gia luôn có ba lựa chọn cơ bản, một là lựa chọn quan điểm mụctiêu; hai là lựa chọn quan điểm phổ cập, ba là lựa chọn quan điểm tổng hợp vừamang tính mục tiêu vừa mang tính phổ cập (mô hình hỗn hợp) Hiện nay, trên thếgiới các nước có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển thường lựac họn hướng tiếpcận phổ cập Các quốc gia chưa có điều kiện kinh tế phát triển (thu nhập bình quânđầu người dưới 1.000 USD) thường lựa chọn theo mô hình mục tiêu Với tình hìnhthực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 nên đi theo hướng tiếpcận tổng hợp (kết hợp giữa phổ cập và ưu tiên mục tiêu cho một số nhóm đốitượng) với lộ trình hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế và khả năng ngân sách củaNhà nước Trong ngắn hạn, rà soát lại tiêu chí xác định đối tượng theo hướng linhhoạt hơn, loại bỏ một số điều kiện cứng (đủ), quan tâm đến điều kiện thực tế (cần)

để thực sự bao phủ hết số đối tượng có hoàn cảnh khó khăn Trước hết là việc ràsoát xác định điều kiện cần bao gồm hoàn cảnh sống khó khăn, sức khoẻ, độ tuổi,thu nhập của cá nhân đối tượng; điều kiện liên quan đến gia đình như hộ gia đìnhthuộc diện nghèo có thể thay thế bằng hộ gia đình thu nhập thấp Khi kinh tế pháttriển khá hơn loại bỏ điều kiện liên quan đến gia đình (không phân biệt sống trongcác gia đình có thu nhập thấp) mà chỉ căn cứ vào các điều kiện của cá nhân Với

Trang 19

phương án bỏ điều kiện đối với người tàn tật, tâm thần nặng phải là hộ nghèo mớiđược hưởng chính sách và hạ độ tuổi đối với người cao tuổi, ước tính năm 2010 cảnước có trên 2 triệu đối tượng thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên cộngđồng, chiếm 2,3% dân số, gần bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới.Trong dài hạn, theo lộ trình thời gian từng bước bổ sung thêm đối tượng TGXHthường xuyên cộng đồng phù hợp với yêu cầu thực tiễn, tập trung vào nhóm người

có thu nhập thấp ở khu vực thành thị; một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số khókhăn; hộ nông dân mất tư liệu sản xuất do đô thị hoá hoặc công nghiệp hoá, nhưng

do trình độ chuyên môn hạn chế không thể đào tạo chuyển đổi ngành nghề được

Quan điểm mở rộng đối tượng đã được sự đồng tình cao của các chuyên gia,nhà nghiên cứu và đại diện cơ quan xây dựng, thực hiện chính sách Tổng hợp kếtquả hỏi ý kiến về định hướng mở rộng đối tượng đối với cán bộ đang làm công tácTGXH, có tới 45,78% số cán bộ được hỏi cho rằng cần bổ sung thêm đối tượng,41,33% cho rằng nên kết hợp cả hai hướng là vừa bổ sung đối tượng khó khăn khácchưa được hưởng chính sách và giảm bớt những tiêu chí bắt buộc đối với một sốđối tượng hiện tại, chỉ có 9,78% cán bộ cho rằng quy định về đối tượng như hiện tại

là phù hợp Như vậy hầu hết các ý kiến đều đồng tình với việc bổ sung đối tượngmới và giảm tiêu chí bắt buộc đối với một số nhóm đối tượng hiện tại điều nàychứng minh cho quan điểm mở rộng phạm vi đối tưọng hưởng lợi chính sáchTGXH là phù hợp, tạo được sự đồng thuận cao của xã hội Việc mở rộng này đếnthời điểm nhất định khi đã hòa đồng được cả hai hướng là loại bỏ các điều kiện bắtbuộc thì chuyển sang hướng là bảo đảm bình đẳng về tiếp cận chính sách và chỉ cầnđiều kiện có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu dân cư là đối tượng TGXH đểlàm được điều này cần xây dựng chuẩn mức sống dân cư và phải được công bốhàng năm đối tượng trợ cấp xã hội là các đối tượng BTXH có thu nhập thấp hơnmức sống tối thiểu

3.2 Nghiên cứu xây dựng mức chuẩn trợ và hệ số TCXH phù hợp

3.2.1 Xây dựng mức chuẩn TCXH phù hợp

Trợ cấp xã hội là một chính sách quan trọng của chính sách trợ giúp xã hội

Vì vậy, việc đổi mới cơ chế trợ cấp xã hội phải đặt mục tiêu hướng đến bao phủ hết

Trang 20

số đối tượng BTXH khó khăn Mức TCXH phải bảo đảm đủ để chi tiêu tối thiểucho lương thực - thực phẩm và phi lương thực - thực phẩm Bên cạnh đó, một sốđối tượng không có khả năng tự phục vụ được cần có người chăm sóc (chi phí chongười chăm sóc) Với mức trợ cấp xã hội theo quy định tại Nghị định số67/2007/Nđ-CP áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2007 là 120.000 đồng/tháng vàmức này đã được điều chỉnh tăng 1,5 lần (lên 180.000 đồng/tháng áp dụng từ ngày

1 tháng 1 năm 2010 Nhưng thực chất thì vẫn còn quá thấp, mới chỉ bù đắp đượcphần trượt giá trong hai năm qua Chưa có sự thay đổi về chất của chính sách điềunày đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh nâng phù hợp với mức sống dân cư

và mặt bằng chính sách Việc nghiên cứu xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội và hệ

số điều chỉnh cần có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, hạn chế áp đặt chủ quan củacác cơ quan hoạch định chính sách đồng thời mức chuẩn trợ cấp xã hội phải phùhợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm bình đẳng giữa các nhóm đốitượng sống ở thành thị và sống ở nông thôn, giữa các vùng miền trong cả nước.Thực tế, có nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội

và mức cụ thể cho từng nhóm đối tượng Mỗi phương pháp có điểm mạnh vànhững hạn chế nhất định

- Xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội bằng cách điều chỉnh theo chỉ số tăng giá tiêu dùng và tốc độ phát triển kinh tế (phương án 1):

Cơ sở cho rằng mức trợ cấp hiện hiện hành đã bảo đảm đủ cho chi tiêu tốithiểu cho đối tượng hưởng lợi ở thời điểm chính sách ban hành Nhưng do thay đổigiá cả và tăng trưởng kinh tế làm cho mức chuẩn trợ cấp lạc hậu, không còn phùhợp với thực tiễn, cần điều chỉnh để đưa giá trị thực khi chính sách ban hành.Phương pháp điều chỉnh là cộng phần tăng thêm do tăng giá và tăng trưởng kinh tếhàng năm vào với mức chuẩn Với mức chuẩn áp dụng năm 2010 là 180.000 đồng(mức này dự kiến áp dụng từ năm 2009) và ước tính tăng giá năm 2010 khoảng12%, tăng GDP 6,5% thì mức chuẩn trợ cấp áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2010thấp nhất phải là 230.000 đồng/tháng So sánh phương án này với mặt bằng chungcủa các chính sách xã hội chưa tương đồng, chưa phù hợp

- Xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội bằng 70% mức sống tối thiểu dân cư (phương án 2):

Trang 21

Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng, tất cả mọi người đều đượcbảo đảm mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu dân cư đối với đối tượngbảo trợ xã hội không có thu nhập thì TCXH là nguồn thu nhập chính, kết hợp với

sự chu cấp của gia đình, hàng xóm mới bảo đảm mức sống tối thiểu Thực tế, hầuhết đối tượng TGXH sống trong các gia đình nghèo, khả năng cung cấp của giađình cho đối tượng hết sức khó khăn Khảo sát của Bộ LđTBXH năm 2005, nếu trừcác khoản trợ cấp xã hội không tính vào thu nhập thì bản thân đối tượng TGXH chỉđáp ứng được khoảng 30% chi tiêu tối thiểu

Như vậy, mức bảo đảm TCXH phải bảo đảm trên 70% mức chi tiêu tối thiểu

-Xây dựng mức chuẩn trợ cấp bằng với mức sống tối thiểu dân cư (phương

án 3)

Phương án lý tưởng nhất là mức chuẩn trợ cấp xã hội phải ngang bằng vớimức sống tối thiểu chung, nếu theo phương án này thì mức chuẩn TCXH áp dụngnăm 2011 bằng mức sống dân cư, tại thời điểm năm 2011 Nếu theo mức độ chitiêu tối thiểu ở nông thôn là 450.000 đồng/tháng Phương án này, chuẩn trợ cấptăng 2,5 lần so với mức hiện tại, bằng 61,64% lương tối thiểu chung, 58,44% chuẩntrợ chính sách người có công và trên 40,18% thu nhập bình quân, khoảng 54,88%chi tiêu bình quân Với những chỉ số này cho thấy đây là phương án bảo đảm tốtnhất lợi ích cho đối tượng hưởng lợi Tuy nhiên, phương án này, mức tự cấp sẽ caohơn chuẩn nghèo hiện nay điều này khó có thể được chấp nhận, vì về bản chấtchính sách TGXH là hỗ trợ một phần kinh phí bù đắp thiếu hụt thu nhập của đốitượng so với mức sống tối thiểu của cộng đồng dân cư Vì vậy, về lý thuyết và thựctiễn thì mức trợ cấp xã hội tối đa cũng chỉ bằng chuẩn nghèo

- Về tính khả thi trong huy động ngân sách của các phương án

Phương án 1 là phương án hết ít kinh phí nhất, khoảng 6.152 tỷ đồng và sẽ làphương án khả thi huy động nguồn ngân sách chi cho TCXH Phương án 2 làphương án ngân sách ở mức trung bình, dự kiến cần 6.553 tỷ đồng, ước khoảng1,64% tổng chi ngân sách và 20% chi bảo đảm xã hội Phương án 3 là phương ántốn nhiều ngân sách nhất Tối thiểu cần 9.362 tỷ đồng/năm, gấp 1,5 lần so vớiphương án 1 và phương án 2 và ước chiếm khoảng 2,34% tổng chi ngân sách,25,58% tổng chi bảo đảm xã hội Như vậy, xét về tính khả thi trong huy động ngân

Trang 22

sách thì phương án 1 sẽ khả thi nhất về mặt ngân sách, tiếp là phương án 2 vàphương án 3.

- Về sự đồng thuận của các phương án lựa chọn

Tham vấn cán bộ thực thi chính sách về các phương án lựa chọn cách tínhmức chuẩn trợ cấp, dự kiến mức cụ thể, kết quả điều tra đã có 55,11% ý kiến đồngtình dựa vào mức chi tiêu tối thiểu bình quân để xác định, 32% cho rằng chỉ cầncăn cứ vào chuẩn nghèo hoặc các chính sách hiện hành để xác định và chỉ có 8%cho rằng tính mức mới mà từ mức hiện tại hàng năm điều chỉnh theo tốc độ biếnđộng giá hàng năm Kết quả tham vấn này khẳng định phương án 2 có khả năngđược chấp thuận nhiều hơn và bảo đảm được sự đồng thuận cao nhất trong 3phương án đã nêu Từ các chỉ tiêu phân tích trên cho thấy phương án 2 với mứcchuẩn áp dụng từ năm 315.000 đồng/tháng là phù hợp nhất Vừa bảo đảm tính khảthi trong việc huy động ngân sách và bảo đảm tương đồng của hệ thống chính sách

và sự đồng thuận cao từ xã hội

3.2.2 Xây dựng hệ số xác định mức trợ cấp đối với mỗi nhóm đối tượng

cụ thể

Sở dĩ cần có mức hệ số xác định với mỗi nhóm đối tượng cụ thể vì mứcchuẩn mới bảo đảm cho chi tiêu về lương thực, thực phẩm Còn các chi phí khácchi phí phục vụ (mức phục vụ) đối với những đối tượng cần người chăm sóc chưađược tính toán vào mức chuẩn Phần chi phí này tính toán phức tạp hơn nhiều, phụthuộc vào từng mức độ cần sự chăm sóc đối với từng nhóm cụ thể (trẻ em dưới 18tháng tuổi, trẻ em khuyết tật, trẻ em mô côi, người tâm thần, người già cô đơn )

Vì vậy, không thể có mức chung cho tất cả các đối tượng được

3.3 Đa dạng các hình thức chăm sóc, trong đó ưu tiên trợ giúp tại cộng đồng, tại gia đình

Phần lớn đối tượng TGXH là người có hoàn cảnh khó khăn và hạn chế vềsức khỏe, khả năng vận động, trí tuệ luôn cần đến sự giúp đỡ thường xuyên củangười khác trong việc chăm sóc bản thân Vì vậy mà cộng đồng gia đình là môitrường chăm sóc tốt nhất đối với đối tượng TGXH Chính sách phải hướng vào việc

Ngày đăng: 24/09/2020, 10:59

w