Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chế độ trợ giúp xã hội chính sách trợ giúp xã hội cộng đồng 17
3.8 Nâng cao năng lực hệ thống tổ chức thực hiện chính sách
- Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức thực hiện chính sách TGXH từ trung ương đến cơ sở, ưu tiên bảo đảm cấp xã có một cán bộ công tác xã hội để thực hiện nhiệm vụ của ngành LĐTBXH, trong đó có việc thực hiện chính sách TGXH.
- Tăng cường phân cấp quản lý nhà nước về việc tổ chức thực hiện các chính sách TGXH. Việc phân cấp quản lý được thể hiện thông qua phân cấp quản lý đối tượng, cơ chế phân cấp về tài chính và tổ chức thực hiện chính sách trợ cấp, trợ giúp và giám sát thực hiện chính sách. Thông qua bộ chỉ số giám sát đánh giá cấp trung ương có thể đánh giá địa phương nào thực hiện tốt và địa phương nào thực hiện chưa tốt, qua đó điều chỉnh chính sách cơ chế thực hiện cho phù hợp.
- Tăng cường số lượng cán bộ để đủ người làm công tác TGXH. Cán bộ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là điều kiện cần và đủ để thực hiện chính sách. Cán bộ bao gồm cả các chuyên gia nghiên cứu hoạch định, xây dựng chính sách cho đến cán bộ tổ chức thực hiện chính sách ở cơ sở và những nhân viên xã hội giúp đỡ đối tượng. Việc tăng cường cán bộ cần cả nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ và tăng
số lượng cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Trong những năm vừa qua tăng về số lượng, nhưng chưa phát huy được vai trò của cán bộ. Nguyên nhân không nhỏ là trong công tác cán bộ, chúng ta chưa quan tâm, chưa có mã nghề công việc cho những người làm việc đối với lĩnh vực này. Trong những năm tới cần có quy định cụ thể đối với những cán bộ xã hội từ đó có hệ số lương, phụ cấp đặc biệt. Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội có tính chuyên nghiệp. Chính phủ cần quy định danh mục nghề công tác xã hội, có mã nghề đào tạo, có vị trí làm việc và tiêu chuẩn nghiệp vụ, có hệ thống thang bảng lương phù hợp với trình độ đào tạo và tính chất công việc. Đối với một số lĩnh vực đặc biệt cần có chế độ phụ cấp ưu đãi.
- Giải quyết tình trạng yếu của cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã, cấp huyện bằng cách tiếp tục tăng cường đào tạo ngắn hạn thông qua việc tổ chức tập huấn theo từng chuyên đề, tập huấn triển khai thực hiện chính sách, thăm quan các mô hình... đây là những giải pháp cấp thiết và phù hợp trong thời gian ngắn, nhằm đáp ứng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở.
- Phát triển nguồn nhân lực cán bộ xã hội và hệ thống mạng lưới tổ chức sử dụng nhân viên công tác xã hội, mạng lưới nhân viên công tác xã hội; hình thành hiệp hội công tác xã hội ở cấp quốc gia, để từ nay đến năm 2015 có được đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu quả hơn.
3.8.2. Đổi mới quy trình xác định đối tượng, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin cá nhân của đối tượng
Khảo sát xác định đối tượng xã hội theo các tiêu chí mới phù hợp với yêu cầu quản lý và xu thế hội nhập như xác định đối tượng theo mức độ giảm thiểu chức năng, theo nhu cầu trợ giúp, theo độ tuổi, giới tính, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và các chương trình trợ giúp. Việc xác định đối tương theo các bước sau:
Bước 1. Xác định thông tin thu thập, phương pháp và công cụ thu thập thông tin. Đây là bước đặc biệt quan trọng, việc xây dựng bảng hỏi và các câu hỏi sẽ quyết định chất lượng và mức độ chính xác của các thông tin mô tả đặc trưng đối tượng BTXH.
- Nội dung thông tin: Thông tin thu thập phải dựa trên cơ sở quan niệm và tiêu chí xác định đối tượng, đồng thời cũng phải bảo đảm có đủ các thông tin về đặc trưng của đối tượng, địa chỉ để làm cơ sở cho việc ra quyết định chính sách và thực hiện các chế độ đến tận nơi cho đối tượng.
- Công cụ: Mỗi nhóm thông tin thu thập được thiết kế thành các câu hỏi và các phương án trả lời theo hướng đơn giản, sử dụng từ ngữ phổ thông để người hỏi và người trả lời có thể thực hiện nhanh, ít phải giải thích. Hạn chế dùng các câu hỏi mở, hoặc những câu hỏi có thể có nhiều cách trả lời khác nhau.
- Phương pháp: Mỗi nhóm thông tin và câu hỏi sẽ sử dụng phương phápthu thập khác nhau. Có thể quan sát, hoặc phỏng vấn trực tiếp cá nhân, trường hợp đối tượng không có khả năng trả lời thì hỏi đại diện gia đình, người chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bước 2. Thu thập thông tin
Bước này được thực hiện tại hộ gia đình hoặc nơi đối tượng đang sống. Các bộ địa phương là người chịu trách nhiệm trực tiếp phỏng vấn và thu thập các thông tin của đối tượng. Để tránh bỏ sót đối tượng thì trước khi tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng, phải sử dụng bảng kiểm các tiêu chí rà soát toàn bộ dân cư trên địa bàn để lập danh sách những người có khả năng là đối tượng BTXH. Sau khi có danh sách thực hiện phỏng vấn xã hội học đối với từng cá nhân và hộ gia đình.
Bước 3. Phân tích xử lý thông tin
Để phân tích các dữ liệu thứ cấp, thông tin thu thập được của đối tượng được nhập vào máy tính để tổng hợp và phân tích và đưa ra danh sách những cá nhân, hộ gia đình thuộc đối tượng BTXH và loại bỏ những cá nhân, hộ gia đình không thuộc diện hưởng các chính sách.
Bước 4. Xác định đối tượng và phân nhóm đối tượng Trên cơ sở danh sách đối tượng đã được xác định ở bước trên, máy tính phân nhóm đối tượng theo từng loại đối tượng, địa chỉ, giới tính, tuổi và đặc trưng để xác định loại chính sách được hưởng, mức trợ giúp hàng tháng, thời gian thực hiện trợ giúp... làm cơ sở cho.
Bước 5. Tổng hợp lập danh sách và báo cáo
Cùng với danh sách đối tượng BTXH đã được xác định chuyển cho các xã, phường thị trấn, cấp huyện tổng hợp báo các về thực trạng đối tượng BTXH trên địa bàn và tình hình thực hiện chính sách để báo cáo cấp tỉnh và cuối tháng 6 và cuối tháng 12 hàng năm. Cấp tỉnh tổng hợp báo cáo cơ quan Trung ương vào đầu tháng 7 và đầu tháng 1 của năm sau.
3.8.3. Đổi mới trình tự, thủ tục ra quyết định chính sách theo hướng giảm bớt giấy tờ, rút ngắn thời gian thực hiện
Sau khi đối tượng được xác định là đối tượng thuộc diện hưởng chính sách thì bắt đầu quy trình ra quyết định chính sách. Theo phân tích đánh giá phần trên cho thấy quy trình ra quyết định hiện tại không phù hợp, thời gian đối tượng được hưởng chính sách quá dài và thủ tục hồ sơ phức tạp lẫn lộn giữa các nhóm này và nhóm khác. Vì vậy cần có quy trình, phân công trách nhiệm các cơ quan, tổ chức nhằm giảm bớt các thủ tục, hồ sơ cũng như thời gian đề nghị hưởng chính sách của đối tượng.
Đối với đối tượng vốn dĩ đã khó khăn nên đòi hỏi quy trình càng rút ngắn thời gian càng tốt đồng thời đối tượng ít có điều kiện để có thể đến tất cả các cơ quan hành chính từ cấp xã. Chính vì vậy, quy trình ra quyết định chính sách phải đơn giản, thuận lợi cho đối tượng hưởng lợi và rút ngắn thời gian thực hiện trong vòng 1 tháng. Giảm bớt sự tiếp xúc của đối tượng với cơ quan hành chính sách nước. Với đề xuất quy trình theo sơ đồ dưới đây thì đối tượng cũng chỉ cần làm đơn, hồ sơ theo yêu cầu gửi cho trưởng thôn để xác nhận và trưởng thôn gửi cán bộ cấp xã để xác nhận, bổ sung các giấy tờ cần thiết gửi Phòng LĐTBXH thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định. Thời gian thực hiện từ khi đối tượng gửi đơn đến khi có quyết định là 25 ngày làm việc, rút ngắn tối thiểu là 20 ngày so với quy trình cũ (cũ tối thiểu 45 này). Quy trình này cũng sẽ nâng cao trách nhiệm của cán bộ và các cơ quan tham gia vào quá trình ra quyết định chính sách. Tuy nhiên, để thực hiện được nghiêm túc quy trình này cần thể chế thành văn bản quy phạm pháp luật và là những quy định bắt buộc đối với các cơ quan, nhất là cơ quan LĐTBXH cấp huyện.
Đối với những trường hợp điều chỉnh chính sách, thôi hưởng thì vẫn áp dụng quy trình này nhưng các bước và thời gian thực hiện giảm, làm sao trong thời gian 10 ngày có thể có được quyết định điều chỉnh.
3.8.4. Tăng cường hệ thống theo dõi, giám sát đánh giá
Việc giám sát đánh giá thực hiện chính sách trợ cấp, TGXH là một nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới chính sách và cơ chế TGXH. Trong giai đoạn tới cần nghiên cứu hoàn thiện trên các phương diện sau: Thiết lập hệ thống chỉ số, thông tin báo cáo hợp lý ở từng cấp và có phương pháp thu thập thông tin khoa học để bảo đảm có thể thu thập đầy đủ thông tin báo cáo một cách trung thực nhất. Chỉ tiêu cảnh báo cho các cấp, các ngành các địa phương hiểu rõ hơn chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách và đo lường mức độ tiến bộ của hệ thống chính sách. Chỉ tiêu gồm: (i) độ bao phủ, bao gồm cả việc so sánh tổng số đối tượng với dân số; (ii) chỉ số tác động (so sánh mức trợ cấp, trợ giúp bình quân với mức sống trung bình của dân cư; (iii) chỉ số về tài chính (so tổng nguồn chi với GDP hoặc ngân sách Nhà nước hoặc chi tiêu của Chính phủ). - Đổi mới về thủ tục thực hiện, theo dõi giám sát, xác định đối tượng. Thủ tục đơn giản, phân cấp triệt để cho địa phương. Thống nhất quy trình xác định đối tượng thụ hưởng từ cấp xã theo quy trình nhất định. Xã là đơn vị hành chính xác định đối tượng thụ hưởng, cấp huyện, cấp tỉnh cơ quan giám sát huy động nguồn lực thực hiện. Quá trình xác định đối tượng cần phải bảo đảm được tính đồng thuận của cộng đồng. Từng bước hoàn thiện quy trình quản lý đối tượng theo hồ sơ, danh sách thông qua hệ thống máy tính, hạn chế quản lý thủ công như hiện nay. Để hoàn thiện được các quy trình quản lý này cần đòi hỏi tăng cường cán bộ cho cấp cơ sở, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng và đặc biệt là từng bước đầu tư trang thiết bị máy tính cho cấp huyện, xã.
- Tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện, nhất là việc xác định đối tượng hưởng trợ cấp, trợ giúp, bảo đảm tính công khai minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện; cần thông báo công khai những người được hưởng trợ cấp trợ giúp, cũng như những người không đủ điều kiện hưởng chính sách trợ giúp để tạo đồng thuận cao trong nhân dân.
- Duy trì chế độ thông tin báo cáo trung thực và đầy đủ. Cần thiết lập chế độ thông tin báo cáo định kỳ hàng tháng, hàng quý và hàng năm giữa cấp xã/phường với cấp huyện/quận; chế báo cáo hàng quý, 6 tháng, 1 năm giữa cấp huyện/quận với cấp tỉnh/thành phố; chế độ báo cáo 6 tháng, 1 năm giữa cấp tỉnh/thành phố với cấp Trung ương.
- Từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng hội và chi trả trợ cấp, TGXH, nâng cao hiệu quả quản lý và hạn chế sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách trợ cấp, TGXH.