Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng.Nội dung kinh doanh chủ yếu của TCTD là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấptín dụng và cung ứng dịch vụ th
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng là một trong những hoạt động ngânhàng đặc thù, có liên quan đến sự ổn định tiền tệ quốc gia, đến sự an toàn của hệthống ngân hàng, liên quan đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Hoạt độngnhận tiền gửi có vai trò quan trọng không chỉ với TCTD mà nó còn tác động lớn đếnnền kinh tế - xã hội Nhận thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đếnviệc xác định một hành lang pháp lý thông thoáng và an toàn cho hoạt động ngânhàng nói chung và hoạt động nhận tiền gửi của TCTD nói riêng Tuy nhiên thực tếhoạt động nhận tiền gửi của các TCTD trong thời gian qua chưa được quan tâm đúngmức từ phía các nhà lập pháp, các nhà kinh doanh ngân hàng
Đứng trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với tiến trình mởcửa và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đặt ra nhiều thách thức mớicho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động nhận tiền gửi của các TCTD nóiriêng Đó là sự gia tăng khả năng cung cầu vốn và dịch vụ ngân hàng trong nền kinh
tế thị trường, đó là sự ra đời và cạnh tranh gay gắt giữa các thiết chế trung gian tàichính như: tiết kiệm bưu điện, quỹ hỗ trợ phát triển, thị trường chứng khoán…cùngvới nó là hệ thống thông tin đa chiều, khó kiểm soát và sự phản ứng nhanh nhạy củadân chúng trong nền kinh tế thị trường, rất rễ gây những tổn thất trong hoạt động ngânhàng
Xuất phát từ tình hình đó, em đã chọn đề “ xác định quyền năng nhận tiền gửi.Thực trạng và hoạt động nhận tiền gửi của TCTD và đề xuất ý kiến về quy định hiệnhành về quyền năng này” làm đề bài tập lớn của mình
Trang 2Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng.Nội dung kinh doanh chủ yếu của TCTD là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấptín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.
Căn cứ vào phạm vi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh các nước quy địnhTCTD bao gồm hai loại :
- TCTD là ngân hàng : theo quy định tại khoản 2 điều 4 thì ngân hàng là loạihình TCTD có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, bao gồm ngân hàngthương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã
- TCTD phi ngân hàng : theo khoản 4 điều 4 luật tổ chức tín dụng thì RCTDphi ngân hàng là loại TCTD thực hiện một số hoạt động ngân hàng và các hoạt động
ví dụ hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân, cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tàikhoản của ngân hàng thì không được thực hiện TCTD phi ngân hàng thì bao gồmcông ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các TCTD ngân hàng khác
I.1.2 Tiền gửi và nhận tiền gửi
I.1.2.1 Khái niệm
Ở Việt Nam theo quy định khoản 9 điều 20 luật TCTD năm 1997 có đưa ra
định nghĩa về tiền gửi như sau : “ Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại TCTD
dưới hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi cóthể được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải hoàn trả cho người gửi tiền”
Tuy nhiên hiện nay thì khoản 13 điều 4 luật TCTD 2010 lại không đưa ra định
nghĩa tiền gửi nữa mà thay thế vào đó là khái niệm nhận tiền gửi: “Nhận tiền gửi là
hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiềngửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu vàcác hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi chongười gửi tiền theo thỏa thuận
So với khái niệm tiền gửi quy định tại khoản 9 điều 20 của luật TCTD năm 1997 thì luật TCTD 2010 giải thích khái niệm nhận tiền gửi Đây là một bước phát triển khá hợp lý bởi luật TCTD năm 2010 đã giải thích khái niệm “ nhận tiền
Trang 3gửi” dưới góc độ là một nghiệp vụ của hoạt động ngân hàng, nó mang tính chuyên nghiệp hơn, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.
I.1.2.2 Các loại tiền gửi
Tiền gửi không kỳ hạn: tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi được khách
hàng gửi vào các tổ chức tín dụng để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán hoặc vìmục đích đảm bảo an toàn cho tài sản của họ Tiền gửi không kì hạn là khoản tiền gửiđang chờ thanh toán hoặc nhằm đáp ứng nhu cầu rút tiền tức thời của khách hàng, đâykhông phải là số tiền mà khách hàng để dành nên khách hàng có thể rút hoặc sử dụng
để thanh toán bất kì lúc nào theo yêu cầu Loại tiền gửi này thường cũng được chiathành 2 loại:
- Tiền gửi giao dịch (còn gọi là tiền gửi thanh toán)
-Tiền gửi phi giao dịch (tiền gửi không kì hạn có trả lãi)
Tiền gửi có kì hạn là loại huy động tiền gửi có sự thỏa thuận của khách hàng
và ngân hàng về thời hạn rút tiền (bản chất của nó là tiền tích lũy) Mục đích củakhách hàng đối với loại tiền gửi này là đầu tư kiếm lời Về nguyên tắc, người gửi tiềnchỉ được rút tiền khi đến hạn thanh toán Tuy nhiên, trên thực tế để thu hút khách hànggửi lọai tiền gửi này, các tổ chức tín dụng có thể cho phép khách hàng được rút tiềntrước hạn (nếu số tiền rút ra lớn thì phải thông báo trước với tổ chức tín dụng một vàingày) trong trường hợp này người gửi tiền được hưởng mức lãi suất thấp, đôi lúc là lãi
suất phạt
Tiền gửi tiết kiệm Theo quy định của khoản 1 Điều 6 Quyết định số
1160/2004/QĐ-NHNN về viêc ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm vào ngày 13
tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam: “Tiền gửi tiết kiệm
là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.”bao gồm 2 loại là:
- Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
I.1.3 Nhận tiền gửi - một hình thức huy động vốn đặc thù của TCTD
Trang 4Trong các hình thức huy động vốn của các TCTD thì hình thức huy động vốnbằng nhận tiền gửi là một hình thức quan trọng và chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồnvốn huy động của TCTD Huy động vốn bằng nhận tiền gửi là hình thức huy độngvốn đặc trưng của TCTD và của các tổ chức khác được nhà nước cho phép hoạt độngngân hàng Sở dĩ có những lý do như thế là vì:
- Đây là nghiệp vụ ngân hàng đặc trưng, chỉ những tổ chức tín dụng mới đượcphép huy động vốn bằng hình thức này
- Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi có thể tiến hành một cách thườngxuyên liên tục với mọi khách hàng, không bị giới hạn địa giới hành chính
- Thủ tục huy động vốn bằng nhận tiền gửi giữa TCTD và khách hàng được thểhiện đơn giản, nhanh chóng, không mất thời gian thương lượng, không phải tiến hànhđiểu tra, thẩm định, đánh giá, bất kì ai có nhu cầu đều có thể đến TCTD để gửi tiền
- Việc huy động bằng nhận tiền gửi của các TCTD được thực hiện trên cơ sở uytín, khả năng tài chính của TCTD và sự quản lý giám sát của nhà nước mà không cần
sử dụng bất kì biện pháp bảo đảm nào
- Huy động vốn bằng nhận tiền gửi thường tạo tiền đề để TCTD cung ứng dịch
vụ khác cho khách hàng (dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ, dịch vụ ngânquỹ) đây là yếu tố giúp TCTD thu hút thêm nhiều người gửi tiền vào TCTD và làmvốn huy động của TCTD tăng lên
I.2 Quyền năng nhận tiền gửi
I.2.1 TCTD là ngân hàng
Thứ nhất, Đối với ngân hàng thương mại, theo khoản 1 điều 98 luật các TCTD
2010 quy định ngân hàng thương mại được quyền nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiềngửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác Quy định này một mặt đápứng nhu cầu của khách hàng, mặt khác đảm bảo cho ngân hàng tập trung thu hút đượcmọi khoản tiền nhàn rỗi trong dân, dù là nhỏ nhất Bên cạnh ý nghĩa đó, quy định nàycòn có vai trò quan trọng và cần thiết cho sự an toàn tiền gủi của khách hàng Việcphân ra các hình thức tiền gửi sẽ giúp cho khách hàng có kế hoạch sử dụng vốn sao
Trang 5cho hợp lý và hiệu quả, thích ứng với tính chất từng loại tiền gửi Điều này thể hiện rõnhất trong quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vaytrung và dài hạn.
Thứ hai, đối với ngân hàng hợp tác xã theo khoản 2 điều 117 thì ngân hàng
hợp tác xã được thực hiện một số hoạt động ngân hàng , hoạt động kinh doanh kháctheo quy định tại mục 2 chương IV của luật này tức là ngân hàng hợp tác xã đượcphép nhận tiền gửi như đối với ngân hàng thương mại
Thứ ba, đối với ngân hàng chính sách, chỉ được nhận nguồn vốn đóng góp tự
nguyện không lãi, không hoàn trả vốn của các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức tàichính tín dụng, tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong nước và nướcngoài
I.2.2 TCTD phi ngân hàng
Khác với loại ngân hàng, pháp luật cho phép nhận mọi loại tiền gửi đối với tổchức tín dụng phi ngân hàng, thì tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ được phép thựchiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật trừ việc nhận tiền gửicủa cá nhân
Thứ nhất, đối với công ty tài chính thì công ty tài chính chỉ được nhận tiền gửi
từ tổ chức theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 108 LTCTD 2010
Thứ hai, đối với công ty cho thuê tài chính thì theo điểm a khoản 1 điều 108 luật các TCTD 2010 quy định công ty tài chính chỉ được quyền nhận tiền gửi của tổ
chức
Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là bởi hai loại hình chủ thể này có đặc điểm
là kinh doanh dài hạn, chỉ được hoàn vốn sau một thời gian dài nên việc nhận tiền gửicủa cá nhân để rồi cấp tín dụng thì đôi khi rủi ro do mất khả năng chi trả là rất lớn vàtất yếu Trên thế giới các nước cũng quy định giới hạn về nhận tiền gửi đối với loại tổchức tín dụng chuyên đầu tư dài hạn này chẳng hạn như: Đạo luật 372- Luật về các tổchức tài chính và ngân hàng Malayxia được nhận tiền gửi không kỳ hạn do người gửitiền tại các tổ chức đó được hoàn trả bằng séc, hối phiếu, lệnh phiếu, hay các công cụ
Trang 6thanh toán khác Ngoài ra theo pháp luật Việt Nam, tổ chức tín dụng phi ngân hàngkhông được nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, bởi vì tổ chức kinh doanhkéo dài của nó rất dễ gây ra rủi ro lan truyền cũng như làm ảnh hưởng tới hoạt độngbình thường của các tổ chức tín dụng khác do việc tập trung vốn quá lâu ở một nơi.
I.2.3 Các loại hình tổ chức tín dụng khác
Đối với các loại tổ chức tín dụng có đặc điểm riêng biệt như tổ chức tín dụngnước ngoài hay hợp tác xã tín dụng thì cũng có những hạn chế nhất định trong cáchình thức huy động tiền gửi của mình
Thứ nhất, đối với tổ chức tài chính vi mô theo khoản 1 điều 119 thì thì tổ
chức tài chính vi mô chỉ được nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam dưới các hình thứctiết kiệm bắt buộc theo quy định của tổ chức tài chính vi mô, tiền gửi của tổ chức và
cá nhân gửi tiền tự nguyện của khách hàng tài chính vi mô, trừ tiền gửi nhằm mụcđích thanh toán
Thứ hai, đối với quỹ tín dụng nhân dân thì chỉ được nhận tiền gửi bằng Việt
Nam đồng trong các trường hợp, nhận tiền gửi của thành viên, nhận tiền gửi của các
tổ chức, cá nhân không phải là thành viên theo quy định của Ngân hàng nhà nước theotheo khoản 1 điều 118
Thứ ba, đối với ngân hàng nước ngoài thì không được nhận tiền gửi tiết kiệm
này bởi yếu tố nước ngoài gây khó khăn cho việc quản lý hơn là các ngân hàng trongnước
Như vậy, các quy định về hình thức nhận tiền gửi của ngân hàng cũng như củacác tổ chức tín dụng phi ngân hàng đã bước đầu tạo ra sự an toàn tối thiểu cho nghiệp
vụ huy động vốn
II Thực trạng hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng
II.1 Đánh giá thực trạng các quy định hiện hành về huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Trang 7Tình hình chung hiện nay cho thấy các quy định pháp luật điều chỉnh các hoạtđộng huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các TCTD cũng khá nhiều Nó quy địnhtrong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, do nhiều cơ quan nhà nước ban hành Cácquy định của pháp luật về vấn đề này tương đối chặt chẽ và đầy đủ, cụ thể hóa trongcác nội dung như: các loại tiền mà TCTD được phép huy động, giới hạn quyền đượcnhận tiền gửi đối với từng loại hình TCTD Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ tiền gửi và một số nội dung khác có liên quan
Có thể nói rằng Nhà nước đã thiết lập được một hành lang pháp lý tương đốiđầy đủ, đồng bộ, thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD có thể hoạt động tự
do “ làm những gì trong khuôn khổ pháp luật” Tạo sự cạnh tranh để phát triển phùhợp với tình hình kinh tế xã hội và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường Bên cạnh đópháp luật cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đáp ứng nhu cầu gửi tiền và sửdụng các dịch vụ ngân hàng Lựa chọn các hình thức gửi tiền khác nhau phù hợp vớimục đích và yêu cầu của họ tạo niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng.Tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình Pháp luậtvừa đảm bảo quyền lợi của TCTD vừa đảm bảo quyền và lợi ích của người gửi tiền
Tuy nhiên bên cạnh đó, cũng có một số hạn chế sau đây:
II.1.1 Quy định chung về huy động vốn bằng nhận tiền gửi của TCTD
Thứ nhất, pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi của TCTD được quy
định không tập trung mà dải rác ở nhiều văn bản khác nhau, pháp luật quy định rất sơsài, không có tình hệ thống dẫn đến pháp luật khó thực thi đối với các TCTD, ngườigửi tiền và các CQNN trong quản lý , kiểm tra, kiểm soát hoạt động này
Theo quy định tại khoản 13, điều 4 và điều 98 luật tổ chức tín dụng 2010 vàquy chế nhận tiền gửi tiết kiệm ban hành theo quyết định số 1160/2004/NĐ-CP ngày13/9/2004 và một số văn bản thì hình thức nhận tiền gửi bao gồm 3 hình thức: tiền gửikhông kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức gửi tiền khác dongân hàng nhà nước quy định Tuy đã có những quy định như vậy xong pháp luật hiệnhành không có bất cứ quy định nào nhằm phân biệt rõ những hình thức nhận tiền gửi
Trang 8này, do đó khách hàng không thể có sự hình dung rõ ràng về sự khác nhau của cáchình thức nhận tiền này từ đó gây ra khó khăn trong việc lựa chọn hình thức gửi tiềnphù hợp với mình Những quy định chậm thay đổi, tản mạn và không cụ thể đã làmcho người có tiền nhàn rỗi lung túng trước quyết định gửi tiền, các quy định hiện cókhông đủ cho thấy sự khác nhau bản chất của các loại tiền gửi, không thấy được lợiích của các loại tiền gửi.
Thứ hai, về hình thức gửi tiền thì có thể NOW( negotiated Order of
Withdrawal)-một tài khoản tiết kiệm, nhưng nó khác với tài khoản tiết kiệm thôngthường ở chỗ, trong khi cùng được hường lãi suất tiền gửi như nhau, tài khoản NOW
có một tình chất đặc biệt là: cho phép người gửi được rút tiền hay chuyển tiền bất cứlúc nào mà không bị phạt lãi suất và tài khoản ATS( automatic transfer from savingsaccount) – tài khoản tự động chuyển từ tài khoản tiết kiệm rất thông dụng trên thế giớinhưng chưa được quy định trong pháp luật Việt Nam
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu thu hút vốn ngày càng cao, các ngân hàng đã chophép khách hàng gửi tiền không kí hạn rút tiền trước thời hạn, như vậy một bộ phậnkhông nhỏ tiền gửi có kì hạn thành tiền gửi không kì hạn Điều này có ảnh hưởngkhông nhỏ tới sự ổn định của thị trường tiền tệ nói riêng và của cả nền kinh tế nóichung Trước những tình hình đó ngân hàng nhà nước đã ra thông tư 04/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011, ngân hàng nhà nước yêu cầu: “ TCTD áp dụng lãi suất tớibằng mức lãi suất tiền gửi không kì hạn thấp nhất của TCTD theo từng đồng tiềntrong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền trước thời hạn, mức lãi suất tiền gửi không
kì hạn là thấp nhất tại thời điểm tổ chức, cá nhân rút tiền trước thời hạn” Tuy nhiên ,lúc ngân hàng nhà nước ban hành thông tư này, lãi suất tiền gửi không kì hạn khoảng3%/năm nhưng sau khi nhnn khống chế lãi suất “tiền gửi có kì hạn rút trước hạn bằnglãi suất tiền gửi không kì hạn thấp nhất” thì lập tức, ngân hàng dâng ngay lãi suấtkhông kì hạn Như vậy, để huy động được nhiều vốn thì nhiều ngan hàng đã có nhữngbiện pháp khéo léo, tuy nhiên nhưng quy dịnh đó lại đang góp phần làm ảnh hường tới
sự ổn định của thị trường tiền tệ trong nước
Trang 9Thứ ba, về chủ thể tham gia quan hệ nhận tiền gửi, các văn bản pháp luận hiện
hành tuy đã trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận 2 loại chủ thể tham gia quan hệ phápluật này là bên nhận tiền gửi (NH, TCTD) và bên gửi tiền(cá nhân, tổ chức) nhưngnội dung quy định chủ thể của các văn bản này không thống nhất với nhau và khôngphủ hợp với tình hình thực tế
Theo quyết định số 1160/2004 thì bên gửi tiền chỉ có thể là cá nhân Việt namhoặc cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt nam, hoặc cánhân là người cư trú trong trường hợp gửi tiền tiết kiệm bằng ngoài tệ Quy định nàykhông hợp lý trong bối cảnh hiện nay vì nó đã hạn chế quyền lợi của các chủ thể cótiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng để bảo đảm an toàn cũng như kiếm lời từ khoảntiền gửi đó như các chủ thể khác như hộ gia đình hay các tổ chức phi lợi nhuận hoặccác quỹ do tổ chức cá nhân lập nên( quỹ khuyến học, quỹ tương trợ, ) các tổ chức và
cá nhân này cũng có nhu cầu gửi tiền vào các ngân hàng tuy nhiên pháp luật lại vôhình hạn chế quyền này của họ Trong thực tế cũng cho thấy tiền gửi huy động được
từ cá nhân chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng só vấn huy động được Hơn nữa, tại các nướctrên thế giới thì pháp luật các nước này không chỉ giới hạn chủ thể được phép gửi tiềngửi là cá nhân mà còn mở rộng ra các chủ thể khác như tổ chức phi lợi nhuận, cácnghiệp đoàn, các hiệp hội Còn theo nghị đinh 64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 vềhoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì chủ thể gửi tiềngửi thanh toán lại được quy định bao gồm cả cá nhân và tổ chức có nhu cầu sử dụngdịch vụ thanh toán Như vậy, có thể thấy rằng các nhà làm luật đã căn cứ vào từnghình thức gửi tiền để quy định chủ thể có quyền gửi tiền là chủ thể nào
Như vậy pháp luật hiện hành đã chú trọng tới sự phân biệt các chủ thể gửi tiềngửi trong khi việc quan trọng là làm thế nào để khuyến khích khách hàng gửi tiềnnhàn rỗi vào các NH và làm sao kiểm soát được tính hợp pháp của các khoản tiền đó
Do đó, pháp luật hiện nay cản trở người có nhu cầu gửi tiền thực hiện nhu cầu hoàntoàn thiết thực của họ Vì vậy Pháp luật điều chỉnh về chủ thể gửi tiền chưa hợp lý,bởi lẽ sự khác nhau giữa các hình thức tiền gửi thể hiện ở tính có kì hạn hay không, có
Trang 10lãi hay không có lãi, phương thức thanh toán lãi và gốc như thê nào chứ không phải ởchủ thể gửi tiền ngoài ra hiện nay nhu cầu huy động vốn là rất cao, Nhà nước cần cónhững chính sách nhằm khuyến khích người có tiền gửi tiền nhàn rỗi vào các ngânhàng một cách dễ ràng và bình đẳng bằng nhiều phương thức khác nhau để phục vụnhu cầu về vốn của NH.
Thứ tư, các văn bản về tiền gửi tiết kiệm cũng không có sự thống nhất với
nhau về việc gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ Pháp lệnh ngoại hối 2005 quy định chỉ chophép người cư trú là công dân Việt Nam được gửi tiết kiệm, rút tiền gốc và nhận tiềnlãi bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép Trong khi đó, tại nghị định số160/2006 NĐ-CP ngày 28/10/2006 của CP về hướng dẫn pháp lệnh ngoại hối 2005( điều 7, điều 13) và quy chế tiền gửi tiết kiệm lại mở rộng phạm vi áp dụng cho người
cư trú nói chung được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ Do vậy, đã có những mâu thuẫngiữa các VBPL, Nghị định trên có giá trị pháp lý thấp hơn nhưng lại tỏ ra phù hợp hơnvới tình hình thực tế
Thứ năm, các quy định về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi của cá nhân từ 15
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải thực hiện thông qua người giảm hộ, người đại diện theopháp luật ( điểm a khoản 2 điều 2 quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi) khôngphù hợp với quy định của BLDS 2005 và BLLĐ và cũng không phù hợp với thực tếhiện nay
Theo quy định tại khoản 2 điều 20 của BLDS: thì người lao động là người ítnhất được 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết HĐLĐ Trường hợp người từ
đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tựmình sác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà không cần có người đại diện theopháp luât Ngoài ra theo điều 6 BLLĐ thì quy định trên cũng được thừa nhận vớingười lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kếtHĐLĐ Người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình thực hiện việc mở tàikhoản mà không cần thông qua người giảm hộ hoặc là người đại diện theo pháp luật