Vì: - Trước đây, ở Việt Nam, do sự phát triển về hàng hoá sản xuất trong nước và dịch vụ không cao, nên thời kỳ kế hạch hoá tập trung, nếu có hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại phần lớn do viện
Trang 1Bài tập cá nhân của môn học: Quản trị Marketing
Nội dung (1): Sự thoả mãn khách hàng Việt Nam đối với hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại
1 Mức độ thoả mãn (từ rất thấp - rất cao) của khách hàng Việt Nam khi
mua và sử dụng các sản phẩm/dịch vụ nhập ngoại (VD: quần áo, giày dép, túi, ví
ngoại, đồ điện tử, mỹ phẩm, nhà hàng, học của trường quốc tế…) Giải thích tại
sao? (phân tích các lợi ích/chi phí – benefit/cost)?
2 Mức độ thoả mãn với cuộc sống nói chung của những khách hàng mua/sử dụng hàng ngoại? Phân tích tác động của sự thoả mãn trong tiêu dùng
đối với hạnh phúc trong cuộc sống nói chung).
(Hãy sử dụng cả số liệu thứ cấp: internet, báo chí, các báo cáo ) và sơ cấp (quan sát và phỏng vấn) để minh hoạ cho bài viết)
Báo cáo trình bày
- Nói đến hàng hoá hay dịch vụ - là nói đến thương mại hiện đại - mối quan
hệ người sử dụng (khách hàng) và nhu cầu sản phẩm cần, mong muốn và việc này
nó xoay quanh nội dung có tính cơ bản có tác động qua lại rất rực tiếp đó là khách hàng - sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ… Tính truyền thống trước đây hầu hết nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp dịch vụ luôn nghĩ ra những sản phẩm gì mình có thể làm và sau đó khách hàng biết và tìm đến, thì giờ đây lại ngược lại Trước khi đưa
ra một loại hàng hoá hay dịch vụ thì nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ phải tìm hiểu trước xu hướng và nhu cầu của khách hàng – đây chính là sự ảnh hưởng tác động của Marketing
- Vậy Marketing là gì:
- Về mặt ngôn ngữ học thuật (tại Việt Nam) rất khó có thể tìm được từ nghĩa nào bao quát toàn bộ nội, ngoại hàm của nó Nó cũng giống như những từ internet, karaoke, taxi…) do vậy phải tìm hiểu từng nội dung, phần mà nó đnag chứa đựng, khi xã hội phát triển lên những mức khác nhau thì nó lại tập hợp thêm cái mới của Marketing hiện đại
Trang 2- Chuyên ngành (chuyên môn) Marketing là một ngành khoa học đặc biệt
và khác biệt hẳn với nhiều chuyên ngành khoa học khác trong lĩnh vực kinh tế Ở đây nó bao gồm và hoà quyện một cách đầy tự nhiên giữa tự nhiên – xã hội, nó cong là cái gợi mở (một cách đầy chủ ý) để cho hoạt động ở những lĩnh vực khác còn đem vào vận dụng
- Chính vì sự đa dạng của nó, nên Marketing còn được biết đến bởi rất nhiều quan điểm, luận điểm khác nhau và đứng ở mỗi góc độ phân tích thì nó đều thuyết phục Nhưng về mặt lý thuyết Marketing bao gồm các hoạt động rộng hơn bán hàng hoặc quảng cáo như:
* Trong định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA): Marketing là quá trình kế hoạch hoá và thực hiện những ý niệm, định giá, khuyếch trương, và phân phối những ý tưởng, sản phẩm và dịch vụ tạo ra những trao đổi với mục đích thoả mãn mục tiêu của các các nhân và tổ chức
* Trong Chartered Institute of Marketing: Marketing là quá trình quản lý gồm: xác định, dự đoán, và thoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả (có lợi nhuận/đạt được những mục tiêu của tổ chức đề ra)
- Như vậy: có thể nhận thấy rằng Marketing có 04 yếu tố cơ bản: thị trường
mục tiêu, nhu cầu khách hàng, Marketing hợp nhất, có lợi nhuận
Hay: Marketing còn nổi tiếng với công thức 4Ps ,bao gồm: sản phẩm, giá
cả, địa điểm và xúc tiến (4Ps- product, price, place, promotion)
Do đó; trong Marketing hiện đại kết hợp chặt chẽ với chiến lược kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm
1 Nhưng cụ thể đối với một bộ phận khách hàng là người Việt Nam lại Sự
thoả mãn đối với hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại Vì:
- Trước đây, ở Việt Nam, do sự phát triển về hàng hoá sản xuất trong nước
và dịch vụ không cao, nên thời kỳ kế hạch hoá tập trung, nếu có hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại phần lớn do viện trợ mà có, hoặc trao đổi hàng - đổi hàng, do học sinh, cán bộ đi đi công tác nước ngoài mua về và khi ấy những sản phẩm/ hàng hoá dịch vụ nhập ngoại đều rất tốt (chất lượng, hình thức, mẫu mã, sự lạ lẫm…) so với tại thời điểm đó, và lâu dần nó trở thành thói quen tiêu dùng và là tiêu chí đánh giá khác biệt của mỗi khách hàng
Trang 3- Phần lớn hàng hoá nhập ngoại thì phần lớn chất lượng rất tốt (độ bền cao), tính năng sử dụng lâu dài, khấu hao ít …mặc dù giá cả rất cao, nhưng với yếu tố
“chắc, bền” đã đánh vào tâm lý người tiêu dùng đối với hàng hoá dịch vụ nhập ngoại, chính vì thế có câu “đắt thắt ra miếng” hay “tiền nào của nấy” do vậy sự thoả mãn hoá dịch vụ nhập ngoại trên thực tế rất cao
- Trong một lần học viên có hỏi một vị khách hàng tại một Trung tâm mua sắm lớn tại Hà Nội: Điều gì khiến anh mua một chiếc áo sơmi đắt tiền này, và mầu tôi thấy nó cũng không đẹp lắm, trong khi một số nhãn hiệu của Việt Nam lại rất đa dạng về mầu sắc Vị khách trả lời “Tôi không tính đến độ bền hay mằu sắc -đơn giản, đây là thương hiệu nổi tiếng trên thế giới và qua bao nhiêu thập kỷ họ mới gây dựng được, tôi mặc nhãn hiệu này (áo đang mua) không phải để cho mọi người biết, nhưng chỉ những người đã từng được sử dụng mới thấy được giá trị hưĩu hình và vô hình của nó, hơn nữa tôi rất tự tin khi mặc chúng; có một lần tôi sang nước ngoài khi làm thủ tục tại sân bay quốc tế, rất nhiều người làm thủ tục check in, nhìn tôi với sự “trân trọng” và lúc này thương hiệu của hàng háo nhập ngoại này khiến tôi thấy mình là một phần của cái gì đó rất lớn và cho cảm giác thuộc về nơi đó
- Về bản chất hàng hoá có nguồn gốc, dịch vụ nhập ngoại đúng hãng thì cũng đã đáp ứng được được chất lượng mẫu mã và phong cách có xu hướng hợp
“thời đại”, đặc biệt ở đó có tính sáng tạo cao nên khách hàng Việt Nam luôn có nhu cầu cao Hơn nữa tâm lý “sính” hàng ngoại có thể nói rằng đã ăn sâu vào tâm
lý khách hàng Việt Nam: như độ bền, tính tiện ích, mẫu mã, mầu sắc và được nhiều người sử dụng ” Ví dụ: như tại một gara ôtô học viên có hỏi người có xe đến sữa chữa một chiếc xe liên doanh trong nước (xe anh có vấn đề gì – tôi hỏi? chủ xe trả lời “cảm giác xe liên doanh không ổn định nên cho xe vào bảo dưỡng” Vậy đã đến định kỳ bảo dưỡng chưa – tôi hỏi? chủ xe trả lời “chưa, vì tôi sợ tiêu chuẩn lắp ráp xe trong nước không thể chuẩn bằng chính hãng tại nước ngoài được, và dịch vụ phải chờ đợi rất lâu, hẹn tới hẹn lui và mất rất nhiều thời gian, nên làm trước cho chắc ăn” Tôi lại hỏi: nếu có thể, lần sau mua xe thì anh chọn hãng nào và thương hiệu gì? chủ xe không chần chừ và trả lời ngay “hiệu gì thì phải xem đã, nhưng chắc chắn là xe nhập khẩu” Như vậy ta thấy rằng chủ xe này gần như không ý thức về đồ hiệu hay thương hiệu của hãng xe nào, nhưng anh ta vẫn thích phải là xe nhập tại nước ngoài, bởi vì trong quá trình sử dụng và sự
Trang 4quảng cáo, kênh thông tin nào đó qua bạn bè nhận định rằng xe nhập khẩu rất hay, chẳng hạn thì nó đã đi vào tiềm thức của anh chủ xe này, mặc dù theo như tôi biết anh ta chưa sử dụng xe nhập khẩu
- Có một thực tế thấy rằng hàng hoá sản xuất tại Việt Nam đúng nguồn gốc, đúng tiêu chuẩn rất là tốt, đẹp và phù hợp với người tiêu dùng với sản phẩm tương
tự, thậm trí còn hơn nhập tại nước ngoài, nhưng thuyết phục được khách hàng mua đồng giá là rất khó Có cả những trường hợp, người tiêu dùng mua sản phẩm biết rằng đó là hàng làm giả, nhái những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới nhưng vẫn thích và có nhu cầu mua, điều này nó được thể hiện qua:
- Khách hàng chưa có khả năng mua được những sản phẩm của thương hiệu nổi tiếng hoặc hàng hoá có nguồn gốc từ nước ngoài, nhưng vẫn tự trang bị cho mình chỉ bởi vì thích thương hiệu đó để thoả mãn một sự tự tin nào ấy hay một cảm giác nào đó để khảng định bản thân
- Người tiêu dùng không cần biết thương hiệu và thấy “hay hay” thì mua để
có thể nhận thấy sự khác biệt giữa hàng trong nước và nước ngoài
- Đối với hàng hoá nhập ngoại, người tiêu dùng cũng có thể còn muốn thể hiện một cách chơi sành điệu, đẳng cấp nào đó
- Cũng trong một lần học viên ngồi chờ xe buýt có một hành khách cũng chờ và nhìn đồng hồ để biết giờ xe đến và tôi làm quen hỏi anh ta, thì được biết anh ta mới đi Trung Quốc về mua chiếc đồng hồ, trông rất đẹp nhưng nhái thương hiệu nổi tiếng vào bậc nhất của nhãn đồng hồ Thuỵ Sỹ và trên thế giới Tôi nói: anh đeo đồng hồ này, nếu là giá thực và đúng hãng nó đắt như thế nào anh có biết không? vị khách trả lời “rất đắt và ít ai đeo”, tôi hỏi tiếp: nếu anh đeo nó thì nhiều người biết về thương hiệu này nghĩ rằng anh rất “cỡ” đấy , anh bạn trả lời ngay:
“thật giả lẫn lộn, mình không có thể mua được hàng đúng hãng, đeo cái này nhiều khi cũng thấy rất tự tin và cảm giác hàng hiệu cao cấp và cần gì chuẩn đến từng phút, nếu sai thì vài ngày lại chỉnh một lần, nhưng dù sao có “nhái” cũng là hàng nước ngoài sản xuất ” Như vậy trong trường hợp này người khách cũng có cảm nhận để nhận biết dấu hiệu chất lượng, truyền thuyết của một thương hiệu đồng hồ
từ trước khi mua
- Trong một nghe được một anh bạn kể rằng: uống cà phê trong nhà hàng cao cấp của nước ngoài hay thật, tuy không ngon lắm và cũng rất đắt theo cách
Trang 5thưởng thức của mình, nhưng rất thích Tôi hỏi sao lại đến đó, anh bạn trả lời “ở
đó dịch vụ họ phục vụ rất chuyên nghiệp, và mình thấy ở đó mình cảm thấy có
“gianh giới” khách hàng và người phục vụ, họ chu đáo và lắng nghe những phàn nàn của khách hàng (nếu có) Trong khi đó có những dịch vụ của ta (quán) vào không được yên tâm, chẳng hạn: khi dắt xe vào, họ nói cứ “vứt” xe đấy có người dắt”, trong khi đó chẳng thấy vé, cũng chẳng thấy gì là có dấu hiệu của người bảo
về nhà hàng, nên ngồi uống nhanh nhanh chóng chóng để ra lấy xe, sợ đẻ lung tung, làm uống mất cả ngon
- Ngay, hiện nay các dịch vụ đào tạo, tư vấn có yếu tố nước ngoài rất có vai trò thuyết phục đối với học sinh và phụ huynh học sinh tại Việt Nam…muốn nhanh chóng tiếp thu những cái mới, tính hiện đại hơn và cũng như cách tư duy, tầm nhìn có ảnh hưởng rất lớn và có tính thuyết phục hơn
* Từ mốt số vấn đề nêu trên có thể thấy rằng một bộ phận khách hàng Việt
Nam có mức độ thoả mãn (từ rất thấp - rất cao) mua và sử dụng các sản
phẩm/dịch vụ nhập ngoại:
- Trước hết, các thương hiệu hàng hoá/dịch vụ toàn cầu trở thành dấu hiệu của chất lượng so với sản phẩm nội địa, người tiêu dùng vẫn thích những hàng hoá/dịch vụ có thương hiệu từ các quốc gia được xem là đặc trưng cho những sản phẩm đó VD: sôcôla Thuỵ Sỹ, quần áo – Ý, đồ trang sức – Pháp, đồ điện tử -Nhật Bản, xe hơi - Đức…
- Một điều cũng rất quan trọng hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại, làm cho người tiêu dùng hy vọng được nói lên những truyền thuyết gắn với các thương hiệu đặc biết của các quốc gia đó hoặc biết thông tin nào đó
- Nhìn chung trong khách hàng cũng cho rằng các thương hiệu hàng hoá/dịch vụ nội địa cho biết “chúng ta là ai”, còn các hoá/dịch vụ thương hiệu nhập ngoại cho ta thấy cái “chúng ta muốn trở thành”
- Tóm lại: một bộ phận khách hàng Việt Nam có mức độ thoả mãn (từ rất
thấp - rất cao) mua và sử dụng các sản phẩm/dịch vụ nhập ngoại là phần lớn những người có điều kiện, họ thấy ở đó những chi tiết của sản phẩm hàng hoá hay dich vụ nó hàm chứa nhiều tính năng sử dụng và vì người tiêu dùng rất là cao Bên cạnh đó đặc tính của sản phẩm, đó là chất liệu làm ra sản phẩm, phương thức thanh toán lợi ích - đó là những gì mà sản phẩm mang lại cho người tiêu dùng
Trang 6Đặc tính chú trọng đến sản phẩm, trong khi lợi ích chú trọng đến người tiêu dùng
và họ cảm thấy như được hoà nhập trào lưu hiện đại
2 Mức độ thoả mãn với cuộc sống nói chung của những khách hàng
mua/sử dụng hàng ngoại? Phân tích tác động của sự thoả mãn trong tiêu dùng đối
với hạnh phúc trong cuộc sống nói chung)
- Sự thảo mãn, mức độ thoả mãn với cuộc sống nói chung của những
khách hàng mua/sử dụng hàng ngoại tại Việt Nam đã có từ lâu Nay cơ chế kinh tế thị trường đã tác động vào họ và làm cho sự thảo mãn này luôn không ngừng đỏi hỏi ngaỳ một cao
- Trước đây đối với với thương hiệu là hàng hoá đã đi sâu vào tâm trí của nhiều khách hàng Việt Nam và là tiêu chuẩn để đánh giá, ví dụ trước đây ta nói có những câu có tính dân gian nói lên sự thoả mãn, mong muốn “một…thì có đồng
hồ seiko, hai …là Peugio cá vàng” hẳn điều này đã nói lên mong muốn để sở hữa thương hiệu và hàng hoá nhập ngoại đã có từ lâu
- Sự thoả mãn với hàng hoá dịch vụ nhập ngoại tại Việt Nam luôn được nhấn mạnh đó là đồ “xịn”, và việc này phần lớn khách hàng mua sắm hay sử dụng dịch vụ có nguồn gốc ngoại nhập luôn được đánh giá cao về phong cách thể hiện
và một phần cũng nói lên vai trò của chủ nhân nó
- Hiện tại đối với một số đông khách hàng tại Việt Nam, họ có thể sử dụng hàng hoá nhập ngoại nhiều, trên thực thế cũng loại hàng hoá, hay dịch vụ nhập ngoại lại có xuất xứ tại Trung Quốc thì bất kể hàng hoá hay dịch vụ gì thì khách hàng Việt Nam cũng có đôi chút “dị ứng”, nếu hàng hoá đó mà được nhập trực tiếp vào Việt Nam, VD như: giày tất, quần áo, thực phẩm, ô tô, xe máy…thì quả thực rất khó thuyết phục được khách hàng Việt Nam đồng ý cao với việc mua cùng sản phẩm nhập tại các nước khác (bởi vì học sợ “mang tiếng” là “hàng Tàu” Vậy sự thoả mãn khách hàng tại Việt Nam trong trường hợp này là rất hạn chế
- “Chiếc áo không làm nên thày tu”, nhưng trên thực tế khách hàng tại Việt Nam mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ ngoại nhập là họ đều có tính toán từ trước và tính ngẫu hứng trong việc mua này chỉ có thể đối với hàng hoá có giá trị thấp Bởi họ nhận thấy khi sử dụng sản phẩm ngoại nhập cũng là điều họ tự cảm thấy, và đánh giá được sự nhìn nhận và sự mong muốn có được sản phẩm đó từ cái nhìn của người khác - chính điều đó cũng một phần làm cho họ tự tin hơn
Trang 7Hiện tại có một số xu hướng khách hàng mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ ngoại nhập là:
- Mua hay sử dụng rất ít dịch vụ có nguồn gốc tại nước ngoài nhưng đặc biệt nổi trội (nổi tiếng về thương hiệu)
- Mua hay sử dụng hàng hoá, dịch vụ có nguồn gốc tại nước ngoài không thường xuyên Nếu sử dụng thì với giá trị cao hẳn “mức độ hiếm”, đồng thời kết hợp cả với hàng hoá, dịch vụ trong nước
- Mua hay sử dụng nhiều dịch vụ có nguồn gốc tại nước ngoài nhưng có tính phổ thông (thương hiệu đại trà)
- Như vậy, về bản chất “chiếc áo” cũng chưa hẳn nói lên nhiều, nhưng khi
“mặc” ít nhiều cũng có những tác động, ảnh hưởng đặc biệt về mặt hình thức, sự
tự tin, phong cách hay nói cách khác làm nên sự khác biệt nào đấy
- Sự thoả mãn còn thể hiện:
* Họ thích hàng hoá/dịch vụ trên, họ quan tâm đến vấn đề môi trường và vấn đề khác liên quan (chẳng hạn đối với hàng hoá mà các công ty quảng cáo nêu luôn giữ được môi trường trong sạch Vậy khi khách hàng sử dụng họ cảm nhận được uy tín, hình ảnh thân thiện và tính trách nhiệm đối với cộng đồng của chủ nhân)
* Họ sẵn sàng chấp nhận những truyền thuyết về thương hiệu hay dịch vụ hàng hoá nhập ngoại
John A Quelch (Harvard Business School) có nêu, nếu đối với 100% hàng hoá, hay dịch vụ nhập ngoại thì kết cấu trông đó: dấu hiệu chất lượng 44%; truyền thuyết toàn cầu 12%, trách nhiệm xã hội 8%, yếu tố khác 36% (được khảo sát từ
12 quốc gia phát triển và đang phát triển)
- Mức độ thoả mãn của khách hàng Việt Nam, giờ đây không phải cứ hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại là đã xong và họ đang định tiến tới những hàng hoá/dịch
vụ có thương hiệu hơn - điều này nó cũng phản ánh được nền kinh tế đang ngày càng phát triển thì tiêu chuẩn về nhu cầu vật chất cũng thay đổi theo và khách hàng có xu hướng đối với sản phẩm, dịch vụ quan tâm dần gắn liên với thương hiệu cụ thể ở mỗi loại sản phẩm tương tự từ hãng khác mà họ có nhu cầu - điều
Trang 8này cũng giống như Tổng Giám đốc Jonshon & Jonshon đã miêu tả cho một thương hiệu “giá trị tư bản của niềm tin giữa một công ty và khách hàng của nó”
- Hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại nó cũng khiến khách hàng thấy mình là một phần của cái gì đó rất lớn và cho họ cảm giác thuộc về nơi đó - họ tự hào có được
VD như thuốc lá Mal -bô-rô, nếu sử dụng là họ nghĩ đến và mong muốn với hình ảnh một chàng cowboy với chiếc mũ phớt một mình một ngựa tung vó trước sa mạc rộng lớn đầy cát và gió với bản lĩnh một người đàn ông từng trải
- Do sự hoà nhập của thế giới ngày càng rộng và có sức lan toả cao, xa, vì thế hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại có nguồn gốc từ các nước khác nhau và cung cấp cho thế giới nó cũng làm cho khách hàng họ nhận thấy rằng những “công dân của thế giới” và đôi khi mang lại cho khách hàng một diện mạo đặc trưng riêng biệt
- Họ sử dụng hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại, họ cũng cảm nhận được các công ty hay nhà sản xuất nổi tiếng như đang trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ họ Một phần do chính sách tiếp thị và bán hàng của nhà sản xuất nói chung đã nêu bật và coi trọng và đánh giá khách hàng một cách đặc biệt VD dịch vụ bảo hiểm Prudenso, nếu sử dụng và mú bảo hiểm của công ty này thì khách hàng lâu năm được tặng hoa, thiếp của của người quản lý cấp cao của công ty gửi những lời chúc tốt đẹp trong mỗi lần sinh nhật
- Họ sử dụng hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại, phần lớn trong số họ thường giữ gìn, coi trọng giá trị sản phẩm/dịch vụ rất cao, vì họ phải trả giá trị cao hơn do
đó họ cảm nhận được là họ có “địa vị” nhất định cho dù họ tự nhận thấy
Trên “www.asset.vn”, có triêu đề “vì sao 70% người Việt Nam ưa thích hàng ngoại”? hay Tập đoàn truyền thông hàng đầu thế giới Grey Group mới đây
đã công bố kết quả điều tra cho thấy người Việt Nam “sính hàng ngoại nhất châu Á”, (so với 16 nước châu Á).
Như vậy, tâm lý ưa chuộng hàng ngoại “đi sâu” vào khách hàng, vì trước đây khách hàng Việt Nam trực tiếp biết, hoặc thông qua sự tìm hiểu khác nhau về hàng hoá hay dịch vụ nhập ngoại nhưng do cơ chế chung, điều kiện khác nhau, nên không thể có được, nay xu hướng toàn cầu hoá, các hàng hoá/dịch vụ nhập ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều do vậy nó cũng một phần nào tác động làm thoả mãn một bộ phận khách hàng có khả năng thanh toán hướng tới sự hoàn hảo
Trang 9- Một yếu tố nữa đó là văn hoá Ngày nay do văn hoá nước ngoài có những trào lưu, lối sống du nhập vào Việt Nam, nên có những hàng hoá/dịch vụ khi mà khách hàng muốn và hướng tới – nó như khảng định được “mốt”, tác phong hiện đại và có cả “cái tôi” trong đó, VD: như đồ ăn nhanh, nó gồm cả hàng hoá dịch vụ trong mỗi sản phẩm Từ đó nó tạo thành trào lưu chung hướng nhiều khách hàng
sử dụng dịch vụ, nó như là một nét văn hoá riêng, để cảm nhận mình cũng như người nước ngoài
- Qua tìm hiểu một số đôi bạn trẻ mới kết hôn thì được biết đối với những cặp nam nữ thường xuyên có điều kiện sử dụng dịch vụ/hàng hoá nhập ngoại thì cũng có phận nào đó “phải gò bó hơn” buộc phải cư xử nhẹ nhàng hơn, nếu không
sẽ bị “mang tiếng” dùng đồ hiệu (ý nói trông sang trọng, lịch sự) và cư xử chưa được nhã nhặn
- Cho đến nay, khách hàng thoả mãn đối với hàng hoá, dịch vụ ngày một cao, họ không chỉ quan tâm đến vấn đề nhập ngoại, mà giờ đây họ đang có xu hướng rất mạnh mẽ đối với mỗi thương hiệu của những sản phẩm cụ thể mà khách hàng lựa chọn, có thể nói rất ít người mua hàng hoá hay sử dụng dịch vụ ngoại nhập mà không biết thương hiệu đó (xuất xứ, uy tín, ảnh hưởng, ưa chuộng, nhân vật đặc biệt nào đã dùng…) biết rằng sự phát triển công nghệ ngày càng cao hàng hoá có thể đạt chất lượng ngang bằng nhau đối với mỗi sản phẩm cụ thể, nhưng
họ vẫn cứ có xu hướng và chấp nhận đổi với hàng hoá/dịch vụ nổi tiếng, mặc dù
đó có thể chỉ là mua gồm cả “giá thương hiệu” trong đó
Ngày nay, hàng hoá dịch vụ của Việt Nam cũng rất tốt và không thua kém đối với hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại, thậm trí có những mặt hàng còn vượt trội, nhưng cũng có một bộ phận khách hàng Việt Nam có sự thoả mãn đối với hàng hoá/dịch vụ nhập ngoại trong tiêu dùng đối với hạnh phúc trong cuộc sống nói chung như là một tiêu chí bất thành văn (mặc dù họ cũng rất yêu hàng trong nước)
và đang có xu hướng thay đổi, nó không chỉ dừng lại chất lượng hay hình thức thể hiện trong nhập ngoại nữa mà bắt đầu đi vào lựa chọn thương hiệu và lấy thương hiệu để đánh giá Và sự thoả mãn đối với hàng hoá/dịch vụ Việt Nam chắc chắn sẽ ngày càng có nhiều thương hiệu để thế giới biết đến để mua hoặc sử dụng sản phẩm “mede in Vietnam” và đó sẽ là niềm tự hào của dân tộc và lúc này cảm nhận
có thể thay đổi ngược lại “Phân tích tác động của sự thoả mãn trong tiêu dùng
Trang 10đối với hạnh phúc trong cuộc sống nói chung của những khách hàng trên thế
giới, vì sao ngày có nhiều người mua/sử dụng hàng được nhập từ Việt Nam?
“Con người luôn luôn có những mong muốn và rất hiếm khi họ được thoả mãn hoàn toàn, nếu có thì trong một thời gian ngắn Khi một mong muốn nào được thoả mãn thì những mong muốn khác lại xuất hiện Và khi những mong muốn này được thoả mãn thì những mong muốn tiếp theo đã dần được hình thành
Đó là những đặc tính của con người - họ luôn khao khát một điều gì đó trong suốt cuộc đời mình”
Abraham H Maslow
_