1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn học kì môn luật HN gđ phân tích căn cứ và phương thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp

17 204 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng có thể thoả thuận rằng người này hoặc người kia nhận nhiều tài sản, dù trên thực tế, công sức đóng góp của người nhận

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

3 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 3

II Căn cứ chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. 4

1 Nguyên nhân dẫn đến chia tài sản chung trong thời kỳ 4 hôn nhân

2 Điều kiện cần và đủ để chia tài sản chung của vợ chồng 5 trong thời kỳ hôn nhân

III Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ 8 hôn nhân

1 Chia tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng bằng 8 văn bản

2 Vợ chồng yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ 9 hôn nhân

IV Thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện vấn đề này. 11

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thời kì hôn nhân, vợ chồng phải ràng buộc với nhau bởi rất nhiều quyền và nghĩa vụ Lợi ích của họ vì thế đã hòa làm một để trở thành một thứ có tên là lợi ích gia đình Thời trước, khi xác lập, thay đổi, chấm dứt một giao dịch, họ chỉ nhân danh lợi ích gia đình Tài sản chung là thứ cần có để tạo điều kiện cho việc nhân danh lợi ích gia đình khi tham gia các giao dịch Suy cho cùng, tài sản chung hay là tài sản riêng của vợ, chồng cũng phải được khai thác để nhằm bảo đảm cho sự tồn tại, duy trì và phát triển của gia đình Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, diện mạo của gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một giải pháp cho vấn đề

đó Đặc biệt, các quy định về căn cứ và phương thức chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân hiện nay đang còn gặp một số vấn đề vướng mắc khi

áp dụng vào thực tế Để có một cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, em xin chọn đề

tài: “Phân tích căn cứ và phương thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Các khái niệm cơ bản.

1 Thời kì hôn nhân.

Thời kì hôn nhân được hiểu là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân ( Điều 8 giải thích luật ngữ)

Trong đó khoản 6 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”.

Trang 3

2 Tài sản chung của vợ chồng.

Có một số cách hiểu cho rằng tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôm nhân Cụ thể thì chưa có một khái niệm nào lý giải

rõ ràng khái niệm trên Căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản

chung của vợ chồng được hiểu rằng: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do

vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhận; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tăng cho chung và những tài sản khác mà

vơ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng thỏa thuận Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.

Theo quy định này, thì cơ sở pháp lý quan trọng nhất khi xác định tài sản chung của vợ chồng là để trong thực tế áp dụng khi Toà án giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng với nhau và với người khác là theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Bên cạnh đó, cơ sở pháp lý thứ hai là các quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 liên quan đến vấn đề sở hữu Và trong phạm vi điều chỉnh của mình thì quy định trong Luật Hiến pháp cũng là một cơ sở không thể thiếu

Tài sản chung của vợ chồng được dùng vào việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân gia đình Vợ chồng đều có quyền ngang nhau đối với khối tài sản chung Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc

ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Pháp luật quy định như vậy nhằm bảo đảm cho vợ chồng được bình đẳng trong quan hệ gia đình, xóa bỏ chế độ gia trưởng trong gia đình

Trang 4

3 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.

Bên cạnh chế định tài sản chung của vợ chồng, pháp Luật Hôn nhân và gia đình việt nam còn đề cập đến vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Mặc dù pháp luật đã đề cập tới chế định chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thế nhưng cho tới nay vẫn chưa có một quy định nào của pháp luật đưa ra quy định cụ thể về khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân

Có thể tạm định nghĩa việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như là việc chuyển một hoặc nhiều tài sản vốn thuộc khối tài sản chung vào khối tài sản riêng của vợ hoặc của chồng Đây không phải là phân chia hiểu theo nghĩa thông thường, tức là việc chấm dứt tình trạng sở hữu chung theo phần bằng cách phân hẳn cho người này hay người nọ một hoặc nhiều tài sản vốn thuộc sở hữu chung, như thế nào để tổng giá trị các tài sản chia cho một người ngang với giá trị phần quyền của người đó trong khối tài sản chung được đem chia Khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng có thể thoả thuận rằng người này hoặc người kia nhận nhiều tài sản, dù trên thực tế, công sức đóng góp của người nhận nhiều tài sản vào việc tạo lập, phát triển khối tài sản chung không tương xứng với giá trị của số tài sản nhận được

Dựa trên bản chất của vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định trong luật hôn nhân gia đình và Nghị định số 70/2001 NĐ-CP ngày 03/10/2001, có thể đưa ra khái niệm khái quát về chia tài sản chung

của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ chồng cùng nhau thỏa thuận hoặc thông qua cơ chế Tòa án để chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của mình trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý

do chính đáng khác Việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trong

Trang 5

thời kỳ hôn nhân và hậu quả của việc này không làm chấm dứt quan hệ nhân thân, không dẫn tới việc vợ chồng ly hôn”.

II Căn cứ chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

1 Nguyên nhân dẫn đến chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Trước đây, trong hệ thống pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta, trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mới được quy định trong Luật HN&GĐ năm 1986 ( Điều 18) Luật HN&GĐ 1959 chưa quy định về vấn đề này Kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục quy định trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân ( Điều 29, 30) Sở dĩ pháp luật quy định việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân xuất phát từ các lý do:

Thứ nhất, do điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, hơn nữa trong

nền kinh tế thị trường, do tính chất công việc, nghề nghiệp của vợ, chồng cần tự chủ trong các trường hợp đầu tư kinh doanh, nếu sử dụng tài sản chung của vợ chồng để đầu tư, kinh doanh thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chung của gia đình trong trường hợp việc đầu tư, kinh doanh đó gặp rủi ro Để bảo vệ quyền và lợi ích chung của gia đình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân, quyền tự do kinh doanh được pháp luật công nhận, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được pháp luật HN&GĐ ghi nhận

Thứ hai, do cuộc sống chung của vợ chồng khó tránh khỏi xung đột, mâu

thuẫn, nhiều trường hợp chỉ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nhưng lại không muốn ly hôn mà chỉ muốn có tài sản để thực hiện việc đầu tư, sản xuất, kinh doanh riêng… Đáp ứng nhu cầu này của vợ chồng nhằm mục đích xây dựng gia đình êm ấm, hạnh phúc và ổn định quan hệ xã hội, pháp luật cho phép vợ chồng có quyền chia tài sản chung ngay khi hôn nhân vân còn tồn tại

Trang 6

Thứ ba, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, trường hợp

do vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng ( ví dụ như những món nợ mà

vợ hoặc chồng vay từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân mà sử dụng vào mục đích riêng), trong trường hợp này, nếu tài sản riêng không có hoặc không

đủ mà vợ chồng không thỏa thuận được về việc lây tài sản chung để trả nợ riêng cho một bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để người vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng

Việc quy định tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tạo cơ sở cho vợ, chồng tự do tham gia vào các quan hệ xã hội, nâng cao đời sống gia đình, ngoài lợi ích đạt được, vợ, chồng cũng phải có nghĩa vụ tài sản đối với người thứ

ba có quan hệ giao dịch liên quan đến tài sản của vợ, chồng Muốn bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình, người thứ ba phải biết được về chế độ tài sản của vợ chồng để xác định khả năng thanh toán của vợ, chồng bảo đảm trong việc thực hiện nghĩa vụ, tránh những tranh chấp có thể xảy ra gây hậu quả bất lợi cho cả hai bên Ngoài ra, việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn tạo ra cơ sở pháp lý để phân định rõ trách nhiệm của vợ chồng trong quản lý,

sử dụng và định đoạt tài sản phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và xây dựng gia đình hạnh phúc, hòa thuận Chính điều này đã làm giảm đi mâu thuẫn của vợ chồng xuất phát từ khối tài sản chung của họ Từ đó, có thể thấy việc quy định vấn

đề chia tài sản chung của vợ chồng trong các trường hợp nói chung và trong thời

kỳ hôn nhân nói riêng là rất quan trọng và cần thiết

2 Điều kiện cần và đủ để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Khoản 1 Điều 29 có quy định: “ Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do

Trang 7

chính đáng khác thì vợ c hồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Ta thấy điều kiện thứ nhất để chia tài sản chung của vợ, chồng khi hôn nhân còn đang tồn tại là phải có thỏa thuận giữa vợ và chồng nếu như hai người thấy việc chia tài sản chung là cần thiết, hoặc nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Luật Hôn nhân và gia đình chỉ cho phép vợ hoặc chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà không cho phép một chủ thể nào khác

Ngoài ra, một điều kiện nữa mà trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định để chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đó là vợ chồng phải

có những lý do chính đáng Theo quy định của Luật thì những lý do để vợ chồng

có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bao gồm:

- Vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng:

Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tư do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Tinh thần của điều luật này còn được cụ thể hóa

trong nhiều Luật khác của nước ta như: Bộ luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại… Khi có gia đình, việc kinh doanh của người vợ hoặc chồng không phải lúc nào cũng có thể thực hiện theo ý muốn của mình, do họ còn bị ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân, quyết định của họ không chỉ ảnh hưởng đến riêng bản thân

họ mà còn liên quan đến quyền và lợi ích chung của cả gia đình Chính vì lẽ đó, để đảm bảo và tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng có tài sản riêng làm vốn đầu từ kinh doanh, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại

- Vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng:

Khi tham gia vào các quan hệ xã hội khác nhau, việc phát sinh các nghĩa vụ

Trang 8

dân sự là một điều tất yếu Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể ( sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác ( sau đây gọi chung là bên có quyền).” Theo đó,

trong quan hệ vợ chồng, nghĩa vụ dân sự riêng có thể được hiểu là các nghĩa vụ phát sinh do hành vi không vì lợi ích chung của gia đình của một bên vợ hoặc chồng thực hiện trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân Nghĩa vụ dân sự này có thể là người vợ hoặc người chồng đã vay nợ chủ thể thứ ba để sử dụng vào nhu cầu riêng hay trong trường hợp người vợ hoặc chồng đã vi phạm pháp luật dẫn đến hậu quat buộc phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự nào đó ( bồi thường thiệt hại)

Khi phát sinh các nghĩa vụ dân sự riêng, về nguyên tắc người vợ hoặc chồng

có nghĩa vụ dân sự riêng phải dùng tài sản riêng của mình, nếu tài sản riêng của người đó không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thể thỏa thuận dùng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng cho một bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để người vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng nhằm thanh toán nghĩa vụ dân sự riêng đó

- Trường hợp có lý do chính đáng khác:

Trong đời sống xã hội, có rất nhiều lý do mà pháp luật không thể dự liệu hết

để có thể chia tài sản chung của vợ chồng Để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của nền kinh tế kéo theo đó là sự phát triển của các mối quan hệ xã hội mà pháp luật không kịp dự liệu để điều chỉnh, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy

định trong trường hợp vợ chồng có “lý do chính đáng khác” thì có thể thỏa thuận

hoặc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Đây là một

Trang 9

quy định “mở” không mang tính chất liệt kê cụ thể Tuy nhiên, quy định này đã gây ra một số khó khăn khi xét xử của các Tòa án

III Phương thức chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân.

Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định khi có lý do như:

Vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc khi có lý

do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Tùy theo nhu cầu và mục đích sử dụng, vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung của mình

1 Chia tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản.

Trong trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định thỏa thuận của vợ chồng phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung như: Lý do chia tài sản; phần tài sản chia ( bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia, nếu có; thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung… Văn bản chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm thành lập văn bản và phải có chữ ký của vợ, chồng, văn bản phải có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc yêu cầu của pháp luật Văn bản này có giá trị pháp lý và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp sau này Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân do vợ chồng xác định Nếu vợ chồng không xác định được thì hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản hoặc ngày mà văn bản được công chứng, chứng thực

Trang 10

Khác với quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, yêu cầu văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được Tòa án công nhận, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng có thể được công chứng, chứng thực ( hoặc không) tùy theo yêu cầu của vợ chồng, trừ trường hợp pháp luật quy định các trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực thì văn bản đó phải công chứng, chứng thực ( Điều 6, Nghị đinh 70/2001/NĐ-CP) Theo quy định này, có thể thấy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản do chính họ làm ra Vợ chồng có quyền được thỏa thuận các tài sản được đem chia, tỷ lệ phần tài sản mà mỗi bên được nhận, phần tài sản còn lại không chia… Tuy nhiên, cho dù pháp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định rõ nguyên tắc vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng theo quy định của Bộ luật dân sự năm

2005 ( Điều 4) cho thấy khi thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân cần đảm bảo một số nguyên tắc: Thứ nhất, việc thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội; thứ hai, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng

trong đó ưu tiên quyền lợi của người vợ và các con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có tài sản để tự nuôi

mình, thứ ba, việc thỏa thuận không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản…

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp các cặp vợ chồng đều có thể tự thỏa thuận chia được khối tài sản chung của mình, vì một lý do nào đó các bên có thể nảy sinh những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm khiến cho vợ chồng không thể thỏa thuận chia tài sản chung của mình, và để giải quyết các trường hợp này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định trong trường hợp nếu như vợ chồng không thỏa thuận thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

2 Vợ chồng yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Ngày đăng: 21/03/2019, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w