Xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là một trong những đơn vị hành chính của huyện Núi Thành, có quy mô dân số thấp, cơ cấu dân số về nhiều phương diện không đồng đều so với nhữn
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân số luôn được coi là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Giải quyết những vấn đề dân số, không chỉ ở các góc độ nhận thức, hành vi, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, mà điều cốt yếu nhất chính là đề xuất hệ thống chính sách pháp luật phù hợp và kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn của chính sách phát triển dân số Một chính sách dân số phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước, và ngược lại, chính sách dân số thiếu hợp lý sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược nhằm quan tâm toàn diện đến vấn đề dân số; Ngày 04/01/2016, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 119-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của
Bộ Chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ Đây là định hướng quan trọng cho pháp luật dân số Việt Nam Cụ thể là về mục tiêu giảm sinh, “giảm sinh ở những tỉnh, thành phố có mức sinh còn cao; duy trì kết quả đã đạt được ở những tỉnh, thành phố đạt mức sinh thay thế; thực hiện mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp” Về chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển,“Việt Nam đã sớm đạt được và duy trì vững chắc mức sinh thay thế”, do đó “cần chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang dân số
và phát triển Nghị quyết số 137/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2019 Phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và một số chính sách khác liên quan đến vấn đề phát triển dân số trong tình hình mới
Xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là một trong những đơn
vị hành chính của huyện Núi Thành, có quy mô dân số thấp, cơ cấu dân số về nhiều phương diện không đồng đều so với những đại phương khác của huyện Núi Thành Tuy nhiên, bên trong vấn đề dân số, chính sách dân số của địa phương cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế bất cập cần làm rõ Xuất phát từ
Trang 2những lý do trên, tác giả chọn đề tài tiểu luận cuối khóa cho lớp bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dân số viên hạng III "Đánh giá thực trạng Chính sách Dân số và phát triển từ thực tiễn tại xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam" với mong muốn góp phần thiết thực, đưa ra các giải pháp thực tiễn, có tính khả thi cao để đảm bảo cho công tác chính sách dân số và phát triển tại địa phát triển bền vững trong tương lai
Trang 3PHẦN II MỤC TIÊU CỦA TIỂU LUẬN
2.1 Mục tiêu chung
Hệ thống cơ sở lý luận, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách dân số và phát triển ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách dân
số và phát triển dân số, chỉ ra những thành tựu và tồn tại trong công tác chính sách dân số và phát triển dân số tại xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam từ đó đưa ra đánh giá chung
Đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc tổ chức thực hiện chính sách dân số trên địa bàn xã Tam Trà, nhằm góp phần duy trì vững chắc mức sinh thay thế, ổn định quy mô dân số, từng bước nâng cao chất lượng dân số, mang lại hiệu quả trực tiếp cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của xã
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trạng Chính sách Dân số và phát triển từ thực tiễn tại xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân số và phát triển trong thời gian tới
Trang 4PHẦN III NỘI DUNG 3.1 Một vài nét về xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Xã Tam Trà được thành lập từ năm 1978 trên cơ sở sát nhập xã Trà Zút (nay thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) và xã Trà Thượng – Tam
Kỳ - Quảng Nam-Đà Nẵng (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam)
Xã Tam Trà là một xã nằm ở phí Tây của huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam Gồm 02 tuyến địa giới 01 tuyến tỉnh dài 21 km, 01 tuyến liên xã dài 26 km
Đông giáp: Xã Tam Mỹ Tây, xã Tam Thạnh huyện Núi Thành
Tây giáp: Xã Trà Cốt huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Nam giáp: Xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
Bắc giáp: xã Tam Sơn, huyện Núi Thành và xã Tam Lãnh thuộc huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Xã Tam Trà có 4 thôn và 2 dân tộc anh em Kinh và Cor sinh sống
Tổng diện tích: Xã Tam Trà có diện tích tự nhiên 19.534,63 ha, trong đó rừng tự nhiên 5.303,51 ha, rừng trồng cây lâm sản 3.300,22 ha, rừng trọc + khác 1.129,8 ha, đất sản xuất nông nghiệp 9.801,3 ha (theo niên giám thống
kê của Địa chính xã tháng 6/2016)
Dân số: 892 hộ và 3295 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Cor có 295 hộ (theo niên giám thống kê của Văn phòng UBND xã, tháng 6/2020)
Nói đến xã Tam Trà là nói đến một vùng đất có truyền thống anh hùng, cách mạng Với những chiến công lẫy lừng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 22/8/2016, xã Tam Trà đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhằm đánh giá và tôn vinh
sự hy sinh, cống hiến của đất và người xã Tam Trà (ngày nay) cho sự độc lập
và thống nhất nước nhà
Hiện tại Tam Trà vẫn là một xã nghèo so với các xã khác trong toàn huyện Núi Thành Nhưng với truyền thống hào hùng và tốt đẹp yêu quê hương, yêu đất nước của con người xã Tam Trà, trong những năm qua được quan tâm của UBND huyện Núi Thành và sự chỉ đạo của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, UBND và sự phối hợp chặt chẽ của các ban nghành, đoàn thể đến
Trang 5nay về kinh tế, văn hóa, xã hội của xã đang từng bước phát triển, an ninh quốc phòng được giữ vững, được bạn bè không chỉ trong toàn huyện mà còn ngoài huyện đánh giá cao vì sự nỗ lực không ngừng vươn lên
Bản đồ địa giới hành chính xã Tam Trà
Nguồn: Địa chính xã Tam Trà
3.1.2 Cơ cấu, số lượng cán bộ, cộng tác viên làm công tác dân số tại xã
Với 1 cán bộ, công chức, viên chức, lao động làm công tác dân số trên
xã, 4 cộng tác viên dân số làm việc tại 4 thôn, mỗi cộng tác viên quản lý từ
195 đến 290 hộ gia đình
3.2 Đánh giá thực hiện công tác dân số và phát triển tại xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
3.2.1 Những kết quả đạt được
a/ Về quy mô dân số
Thực hiện mục tiêu ổn định về quy mô dân số, tốc độ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn xã Tam Trà đã được ổn định trong cả giai đoạn 2017-2019, dân số trung bình hằng năm tăng bình quân trên 100 người Kết thúc quý IV năm 2019 quy mô dân số toàn xã là 3270 người Trong đó, dân số nam của xã
Trà tiếp tục duy trì mức sinh thay thế (số con bình quân của một phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ) Mức sinh có xu hướng giảm, tổng tỷ suất sinh hằng năm giảm và ở mức thấp nhất bình quân toàn huyện Năm 2017 là 1,53 con, năm 2018: 1,45 con, đến năm 2019 là 1,43 con
Bảng 1 Quy mô dân số xã Tam Trà dự báo đến năm 2025
Trang 6Năm Tổng số dân Số trẻ em sinh
trong năm
Số người chết trong
năm
Nguồn: VP UBND xã Tam Trà b/ Về cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số theo tuổi được thể hiện thông qua sự phân chia dân số theo từng độ tuổi hoặc các nhóm tuổi lao động, nhóm tuổi trẻ em, nhóm tuổi già Giai đoạn 2017-2019 xã Tam Trà bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” (Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động > 60%), và đang đi vào giai đoạn ổn định, tạo điều kiện thuận lợi về nguồn nhân lực để phát triển kinh tế-xã hội của xã Dân số trong độ tuổi lao động xã hội là 2056 người, chiếm 62,87% dân số, trong đó lao động nam là 610 người, chiếm 59,33%; lao động nữ là
418 người, chiếm 40,66% tổng số lao động
Bảng 2 Cơ cấu dân số chia theo giới tính năm 2019
Nguồn: Tổng hợp VP UBND xã Tam Trà
Qua bảng ở trên cho ta thấy về cơ cấu dân số theo giới tính tại xã Tam Trà số lượng nam giới luôn cao hơn nữ giới, tỷ lệ chênh lệch ở mức cao Điều này chứng tỏ cần có sự tuyên truyền mạnh hơn nữa trong thời gian đến, đảm bảo không mất chênh lệch về giới tính
c/ Về chất lượng dân số
Trong những năm gần đây nhờ sự quan tâm của Trung tâm Y tế huyện Núi Thành, sự vào cuộc của chính quyền địa phương Chương trình nâng cao chất lượng dân số được đầu tư mạnh về nhân lực và vật lực trong giai đoạn 2017-2019 Cụ thể như chương trình sàng lọc trước sinh, sơ sinh; mô hình
Trang 7vận động tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân đã được triển khai mạnh mẽ,
tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông tư vấn, vận động đối tượng, thực hiện quy trình sàng lọc trước sinh và sơ sinh tại xã
* Kết quả thực hiện chăm sóc SKSS/KHHGĐ
Theo chương trình công tác năm, ngay từ đầu năm tham mưu cho cấp ủy đảng, UBND xã kế hoạch hoạt động Đồng thời các văn bản của cấp trên cũng được tham mưu triển khai thực hiện Kết quả thực hiện như sau:
- Tổng số trẻ em < 1tuổi: 54, tổng số trẻ em <5 tuổi: 342
- Tỉ suất sinh thô (‰): (67/3240), tỷ lệ: 20,67‰ tăng 1,89%0 so với năm 2018; chết thô (‰): (10/3240), tỷ lệ: 3,09‰ giảm 0,95% so với năm 2018
- Tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên: 17,59‰ tăng 2,95%o so với năm 2018
- Tỉ suất tử vong trẻ <1tuổi: 0‰,Tỉ suất tử vong trẻ<5tuổi: 0‰
- Tổng số phụ nữ 15-49 tuổi có thai trong năm: 88 tăng 10 đối tượng so với năm 2018
+ Trong đó số phụ nữ có thai được khám thai đủ 3 lần: 53/88, đạt tỉ lệ: 60,22% Giảm 34,78% so với năm 2018
-Tổng số phụ nữ đẻ trong năm: 67
+ Tổng số sản phụ đẻ có CBYT hỗ trợ: 67, trong đó sinh tại TYT: 00
- Tỉ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai: (345/590), tỷ lệ: 58,47% giảm 3,53% so với năm 2018
* Kết quả tầm soát các dị dạng, bệnh, tật bẩm sinh và kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, mô hình tiền hôn nhân
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn cộng đồng sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân về chương trình sàng lọc trước sinh và sơ sinh, hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính khi sinh, chăm sóc SKSS của vị thành niên, thanh niên Hầu hết các bà mẹ mang thai đều đi khám khai và tham gia sàng lọc trước sinh và sơ sinh
Tình trạng tật bệnh của trẻ em có chiều hướng giảm, giai đoạn
2017-2019 là 03 trẻ khuyết tật; nhận thức của chị em phụ nữ mang thai tham gia sàng lọc thai nhi tiếp tục được nâng lên Không còn tình trạng chết mẹ do thai sản, giai đoạn 2017-2019 có 0 trường hợp
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cũng được tập trung chú trọng Trung tâm DS-KHHGĐ xã đã tăng cường công tác tuyên truyền về hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính khi sinh ở 4 thôn Đã khống chế thành công tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh từ năm 2017 đến nay Tỷ số giới tính khi sinh hằng năm có giảm dần nhưng vẫn còn ở mức cao
Trang 8* Kết quả nâng cao năng lực, truyền thông
Tập trung tuyên truyền ngay từ đầu năm, đăng ký giao ước thi đua với
Ủy ban và các thôn trên địa bàn xã
Bảng 3 Kết quả thực hiện các hoạt động truyền thông
Kẻ panô, khẩu hiệu,
Số tin, bài về các
Số lần truyền thông
tại cộng đồng có
lồng ghép với cung
cấp dịch vụ
CTV dân số tư vấn &
thăm trực tiếp tại nhà
đối tượng
Số thôn, khối phố
không vi phạm chính
sách dân số
Nguồn: Y tế xã Tam Trà
Hằng năm, công tác dân số đã tham mưu cho Ban DS-KHHGĐ xã, triển khai đồng bộ, thường xuyên các hoạt động truyền thông vận động, tư vấn nhằm tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực và dư luận xã hội thúc đẩy mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng chủ động thực hiện chính sách dân
số (chấp nhận và sử dụng các BPTT, chăm sóc SKSS thực hiện đẻ muộn, đẻ thưa; nâng cao chất lượng dân số về thể lực, trí tuệ, tinh thần và không lựa chọn giới tính khi sinh
d/ Về nguồn tài chính
Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu dựa vào huyện cấp, một phần ngân sách của xã
3.2.2 Những khó khăn, hạn chế bất cập
Với những kết quả đạt được trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện công tác dân số và phát triển trên địa bàn xã Tam Trà vẫn còn tồn tại những hạn chế:
Trang 9Một là: Công tác tuyên truyền tư vấn cộng đồng rộng khắp nhưng đối
tượng đến để nghe chủ yếu là nhóm phụ nữ trên 49 tuổi Nhóm phụ nữ trong
độ tuổi sinh sản từ 18 đến 49 tuổi đa số làm nông, lo kinh tế gia đình nên không đến được điểm tư vấn cộng đồng, ít quan tâm đến sức khỏe của chính bản thân họ, những đối tượng này phần lớn được tuyên truyền, tư vấn nhờ vào đội ngũ cộng tác viên dân số đi đến từng nhà, rà từng đối tượng
Hai là: Tình trạng nạo phá thai trên địa bàn xã chưa giảm, tập trung vào
các nhóm tuổi dưới 25 và nhóm tuổi trên 35 Đa phần chị em đi nơi khác nạo phá chưa thống kê được hết tổng số phụ nữ nạo phá thai trên địa bàn xã để
có cách tuyên truyền
Ba là: Số sinh là con thứ 3 trở lên trên toàn xã vẫn còn cao và có chiều
hướng gia tăng Năm 2017: 4 trẻ, năm 2018: 6 trẻ, năm 2019: 10 trẻ
Bốn là: Tổng số chị em phụ nữ thực hiện các BPTT đạt chỉ tiêu giao nhưng chủ yếu là thực hiên các BPTT phi lâm sàng như uống thuốc tránh thai,
sử dụng bao cao su, tổng biện pháp lâm sàng (như đặt DCTC, triệt sản nam, triệt sản nữ, tiêm thuốc tránh thai, cấy thuốc tránh thai) đạt rất thấp nên chưa
sử dụng các BPTT, còn nam giới chưa thực sự tham gia thực hiện chính sách dân số và chưa đồng hành cùng với phụ nữ trong việc chăm sóc SKSS
Năm là: Công tác tuyên truyền chủ yếu theo chủ trương của TT Y tế
huyện, kinh phí dành cho công tác này eo hẹp dẫn đến hoạt động mang tính chất cầm chừng, chưa xuyên suốt Một phần do bà con đi làm ở lại trên núi
Sáu là: Cơ sở vật chất tại Trạm y tế xã tuy đã được nâng cấp, nhưng vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp dịch vụ KHHGĐ Bên cạnh đó, nhiều cộng tác viên cơ sở vẫn chưa được tập huấn chuyên môn nghiệp vụ
Bảy là: Để chị em phụ nữ có nhiều cơ hội tham gia vào công việc xã hội, sống bình đẳng hơn với nam giới, có điều kiện học hỏi nâng cao trình độ, trẻ em được chăm sóc tốt hơn thì các gia đình lựa chọn việc sinh ít con, mà chủ yếu là các cặp vợ chồng trẻ thường sinh một con đã trở nên phổ biến ở cả nông thôn và thành thị Do quy mô gia đình thu nhỏ nên phần lớn nhiều chị
em phụ nữ đều mong muốn có con trai Vì vậy, người phụ nữ dùng mọi biện pháp để thụ thai con trai như canh ngày rụng trứng, thay đổi chế độ dinh dưỡng, hoặc nạo phá thai khi biết thai nhi là gái Tuy nhiên, sự thu nhỏ quy
mô gia đình theo hướng con cái khi có gia đình riêng sống tách rời cha mẹ đã
Trang 10khiến người già có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh cô đơn và khó khăn về kinh tế, nhất là ở nông thôn - nơi bảo hiểm xã hội đối với người già chưa phổ biến, mặt khác gây khó khăn trong việc chăm sóc người cao tuổi và sự phát triển nhân cách của trẻ em
Tám là: Công tác thu thập thông tin biến động về dân số như số trẻ em
mới sinh ra, số người chết, số người chuyển đi, chuyển đến chưa kịp thời và còn nhiều thiếu sót thông tin về trình độ chuyên môn, học vấn
Chín là: Đội ngũ cán bộ, cộng tác viên làm công tác dân số- KHHGĐ
biến động lớn sau khi sát nhập đơn vị hành chính thôn, thất thoát cán bộ có trình độ, làm lâu năm và dày kinh nghiệm về công tác DS-KHHGĐ đã thuyên chuyển các bộ phận khác Các cộng tác viên mới chưa có kinh nghiệm, thu nhập thấp nên ít mặn mà với công việc
3.2.3 Nguyên nhân
Các chủ trương, chính sách của nhà nước thường xuyên thay đổi khiến các định hướng phát triển về dân số của địa phương cũng thay đổi theo Chính
vì vấn đề này mà các dự án đang làm phải bỏ giữa chừng, hoặc làm mới gây cho đội ngủ làm công tác cơ sở tốn rất nhiều thời gian công sức, phần khác về mặt kinh phí, con người thực hiện cũng gặp rất nhiều khó khăn
Việc giải thể, sát nhập đơn vị hành chính thôn trên địa bàn xã giai đoạn 2018-2019 ảnh hưởng rất lớn đến đội ngủ cộng tác viên Một số cộng tác viên
có kinh nghiệm lâu năm cũng phải nghỉ việc do địa bàn rộng, bản thân họ lớn tuổi đi lại khó khăn, phụ cấp cho cộng tác viên thấp nên họ cũng không mặn
mà lắm với công việc
Cấp uỷ đảng, Chính quyền chưa quan tâm đúng mức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ, thiếu kiểm tra, đôn đốc cán
bộ làm công tác dân số xã; chưa có sự chỉ đạo phối hợp đồng bộ, chặt chẻ giữa các ban, ngành, đoàn thể, tham gia tuyên truyền vận động về Chính sách dân số; một số thôn còn khoáng trắng công tác vận động, tuyên truyền cho cộng tác viên dân số, không có sự phối kết hợp của chính quyền thôn
Vấn đề kinh phí, đây là một trong những phản ánh không chỉ những người làm công tác dân số tại xã Tam Trà mà còn nhiều địa phương khác trên toàn huyện Núi Thành Chính quyền, không có sự hỗ trợ quan tâm, kinh phí
từ cấp trên chỉ để làm một số tuyên truyền không có tiền để đầu tư, duy trì lâu dài dẫn đến các hoạt động bị bỏ giữa chừng vì hết kinh phí
Khám và chăm sóc tại các trung tâm y tế tư nhân trong và ngoài huyện ngày một tăng, chính vì vậy mà công tác rà soát, thống kê không hết được