1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nghiên cứu hiện trạng tiêu dùng văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010 – 2015 định hướng giai đoạn 2016 2020

27 104 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 522,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa là mục tiêu và là động lực phát triển: UNESCO đề cập “Văn hoá phải được xếp ở vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của sự phát triển”. Các vấn đề được UNESCO quan tâm hiện nay là: Mối quan hệ giữa văn hóa với khoa học và kỹ thuật; văn hóa và kinh doanh; văn hóa và môi trường; văn hóa và đô thị; văn hóa và đời sống; văn hóa giáo dục và lao động; văn hóa và sức khỏe; khuyến khích sáng tạo nghệ thuật. Sự kết hợp kinh tế với văn hóa, văn hóa với phát triển đang là yêu cầu bức xúc của tất cẩ các quốc gia, dân tộc hiện nay, đúng như nhận định của F.Mayor Tổng giám đốc UNESCO : “Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”. Chính vì vậy, những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và có những chủ trương, chính sách để xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, trong đó có xây dựng phát triển hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở. Thông qua Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về việc ban hành nghị quyết mới về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Hội nghị thống nhất nhận định, sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa, tư duy lý luận văn hóa đã có bước phát triển; thể chế văn hóa từng bước được xây dựng, hoàn thiện; đời sống văn hóa ngày càng được phong phú. Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được kế thừa và phát huy; nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Sản phẩm văn học nghệ thuật ngày càng đa dạng; nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực... Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, Trung ương chỉ rõ phải tiếp tục kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa đã được nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đồng thời nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực và nguồn nội lực sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tiễn đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống văn hóa ở nước ta những năm gần đây đang diễn ra cực kỳ phong phú, phức tạp, có nhiều dấu hiệu và đặc điểm hoàn toàn mới. Sự tác động cả tích cực lẫn tiêu cực của cơ chế thị trường ngày càng mạnh và sâu đối với đời sống xã hội và đời sống con người, trong đó văn hóa chịu sự tác động trực tiếp hàng ngày, tinh vi và phức tạp. Trước tình hình đó toàn bộ công tác quản lý của nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực quản lý văn hóa, cần có sự thay đổi, bổ sung, điều chỉnh đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức. Và lĩnh vực tiêu dùng văn hóa là vấn đề quan trọng trong nghiên cứu kinh tế văn hóa và ứng dụng vào hoạt động quản lý văn hóa, đem lại hiệu quả cho xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Với thực trạng tiêu dùng văn hóa trên địa bàn xã Bình Trung chưa được khai thác đồng bộ, nên thị trường văn hóa trên địa bàn phát triển theo xu hướng tự cấp, tự túc, tiêu dùng văn hóa dịch vụ, phân vùng thị trường… Những sản phầm văn hóa của nhà Quản lý văn hóa chỉ mang tính tuyên truyền là chính, nên chưa cung ứng cũng như thỏa mãn nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, sản phẩm văn hóa đơn điệu chỉ nhằm phục vụ, chưa tạo được những sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế. Từ những lý do nêu trên, bản thân chọn đề tài “ Nghiên cứu hiện trạng tiêu dùng văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010 – 2015 định hướng giai đoạn 2016 2020” để làm tiểu luận hết môn, môn “Kinh tế học văn hóa” khóa học 2013 2017 chuyên ngành Quản lý văn hóa. Do đề tài “Tiêu dùng văn hóa” là một lĩnh vực hoàn toàn mới, tài liệu tham khảo còn hạn chế và bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này, nên việc thực hiện tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được quí thầy cô giúp đỡ, chỉ dẫn và góp ý thêm.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa là mục tiêu và là động lực phát triển: UNESCO đề cập “Văn hoá phảiđược xếp ở vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của sự phát triển” Các vấn đềđược UNESCO quan tâm hiện nay là: Mối quan hệ giữa văn hóa với khoa học và kỹthuật; văn hóa và kinh doanh; văn hóa và môi trường; văn hóa và đô thị; văn hóa vàđời sống; văn hóa giáo dục và lao động; văn hóa và sức khỏe; khuyến khích sáng tạonghệ thuật Sự kết hợp kinh tế với văn hóa, văn hóa với phát triển đang là yêu cầu bứcxúc của tất cẩ các quốc gia, dân tộc hiện nay, đúng như nhận định của F.Mayor - Tổnggiám đốc UNESCO : “Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế màtách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả

về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”.Chính vì vậy, những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và

có những chủ trương, chính sách để xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, trong đó có xâydựng phát triển hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở Thông qua Hội nghị lần thứ 9 BanChấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về việc ban hành nghị quyết mới về xây dựng

và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đấtnước Hội nghị thống nhất nhận định, sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trungương 5 (khóa VIII) về văn hóa, tư duy lý luận văn hóa đã có bước phát triển; thể chếvăn hóa từng bước được xây dựng, hoàn thiện; đời sống văn hóa ngày càng đượcphong phú Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được kế thừa và phát huy;nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành Sản phẩm văn học nghệ thuậtngày càng đa dạng; nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực Về phươnghướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, Trung ương chỉ rõ phải tiếp tục kế thừa, bổ sung

và phát triển quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa đã được nêu trongNghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đồng thời nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinhthần của xã hội, là mục tiêu, động lực và nguồn nội lực sinh quan trọng cho phát triểnbền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội;tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội

Thực tiễn đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống văn hóa ở nước ta nhữngnăm gần đây đang diễn ra cực kỳ phong phú, phức tạp, có nhiều dấu hiệu và đặc điểmhoàn toàn mới Sự tác động cả tích cực lẫn tiêu cực của cơ chế thị trường ngày càngmạnh và sâu đối với đời sống xã hội và đời sống con người, trong đó văn hóa chịu sựtác động trực tiếp hàng ngày, tinh vi và phức tạp Trước tình hình đó toàn bộ công tácquản lý của nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực quản lý văn hóa,cần có sự thay đổi, bổ sung, điều chỉnh đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức Và lĩnhvực tiêu dùng văn hóa là vấn đề quan trọng trong nghiên cứu kinh tế văn hóa và ứngdụng vào hoạt động quản lý văn hóa, đem lại hiệu quả cho xây dựng và phát triển vănhóa, con người Việt Nam, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và

Trang 2

được khai thác đồng bộ, nên thị trường văn hóa trên địa bàn phát triển theo xu hướng

tự cấp, tự túc, tiêu dùng văn hóa dịch vụ, phân vùng thị trường… Những sản phầm vănhóa của nhà Quản lý văn hóa chỉ mang tính tuyên truyền là chính, nên chưa cung ứngcũng như thỏa mãn nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, sản phẩm văn hóa đơn điệuchỉ nhằm phục vụ, chưa tạo được những sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế Từ những lý

do nêu trên, bản thân chọn đề tài “ Nghiên cứu hiện trạng tiêu dùng văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010 – 2015 định hướng giai đoạn 2016 - 2020” để làm tiểu luận hết môn, môn “Kinh tế học văn hóa” khóa học

2013 - 2017 chuyên ngành Quản lý văn hóa Do đề tài “Tiêu dùng văn hóa” là một lĩnhvực hoàn toàn mới, tài liệu tham khảo còn hạn chế và bản thân chưa có nhiều kinhnghiệm về lĩnh vực này, nên việc thực hiện tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏinhững thiếu sót Rất mong được quí thầy cô giúp đỡ, chỉ dẫn và góp ý thêm

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu, khảo sát hiện trạng tiêu dùng văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnhQuảng Nam để đưa ra những giải pháp duy trì, phát triển hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầuthưởng thức, tham gia hoạt động văn hoá của nhân dân trên địa bàn huyện Nông Sơn vàmột số huyện lân cận của tỉnh Quảng Nam

3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nhằm giúp chính quyền địa phương có sự nhìn nhận đúng các nhu cầu tiêudùng văn hóa của địa phương mình thông qua việc nghiên cứu đề tài này Đề ra cácgiải pháp, chính sách phát triển lâu dài và bền vững hơn trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về hiện trạng tiêu dùng văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnhQuảng Nam (Hiện trạng tiêu dùng văn hóa rất đa dạng và phong phú, bản thân chỉnghiên cứu tiêu dùng văn hóa theo phân vùng dân cư trên địa bàn huyện Nông Sơn)

5 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý thuyết:

Để thực hiện nghiên cứu đề tài, bản thân dựa trên đường lối, chủ trương, quanđiểm của Đảng, chính sách của nhà nước cùng với những tài liệu đã được học cũngnhư các tư liệu từ các cơ quan ban ngành ở địa phương, làm cơ sở và kết hợp sử dụngcác phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát thực tế tại địa phương, tổng hợp, phântích, đánh giá vấn đề hiện trạng tiêu dùng văn hóa tại địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh

Quảng Nam

6 Cấu trúc tiểu luận:

Ngoài phần đặt vấn đề và kết thúc vấn đề, phần phụ lục, hình ảnh, tài liệu thamkhảo, phần giải quyết vấn đề tiểu luận được chia làm 4 chương:

Trang 3

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tiêu dùng văn hóa

Chương 2: Tổng quang về đơn vị hành chính huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Hiện trạng tiêu dùng văn hóa ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam giaiđoạn 2010-2015

Chương 4: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiện trạng tiêu dùng văn hóa

ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020

Trang 4

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIÊU DÙNG VĂN HÓA

1.1 Khái niệm tiêu dùng văn hóa:

Tiêu dùng văn hóa là một khái niệm chỉ một loại tiêu dùng mà ở đó, thông quaviệc dùng các sản phẩm văn hoá hoặc hoặc dịch vụ văn hoá mà nhu cầu tinh thần củacon người được thoả mãn, đáp ứng Hoạt động tiêu dùng văn hoá thể hiện trong một sốlĩnh vực chính như: du lịch, thể dục thể thao, văn hoá, nghệ thuật giải trí, giáo dục Trong nền kinh tế tri thức, nội hàm của khái niệm tiêu dùng văn hoá còn được mangthêm những nét đặc trưng mới như: tính trào lưu, phổ biến, tính khoa học kỹ thuậtcông nghệ cao, tính đại chúng hoá, tính toàn cầu hoá… Tiêu dùng văn hoá là một kháiniệm có nội dung rất rộng Tiêu dùng văn hoá không chỉ nói đến vấn đề tiêu dùng sảnphẩm tinh thần, lý luận tiêu dùng và các vấn đề khác của tiêu dùng sản phẩm văn hoá

mà còn bao gồm công cụ phương tiện tiêu dùng văn hoá và phương thức tiêu dùng vănhoá Ví dụ trong tiêu dùng trực tiếp sản phẩm văn hoá như: tiêu dùng các chương trìnhtruyền hình, phim ảnh, phần mềm trò chơi điện tử, sách báo, tạp chí và cũng bao gồmcác loại sản phẩm phương tiện phục vụ tiêu dùng sản phẩm văn hoá liên quan cần cónhư: TV, máy ảnh, đầu đĩa, máy tính… và hàng loạt hệ thống cơ sở thiết chế văn hoánhư: thư viện, nhà triển lãm trưng bày, nhà hát, rạp chiếu phim… Tiêu dùng văn hóa làmột khái niệm chỉ về các loại sản phẩm văn hoá tinh thần và dịch vụ văn hóa tinh thầnđược người tiêu dùng đánh giá cao, được sở hữu, được tiêu dùng, thưởng thức và được

sử dụng Tiêu dùng văn hóa dựa vào vấn đề tiêu thụ vật chất làm chỗ dựa và tiền đề

Sự tăng trưởng về nhu cầu tiêu dùng văn hoá trong xã hội luôn luôn phụ thuộc vàotrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do vậy mà mức độ tiêu dùng văn hóa có thểđược trực tiếp hơn, nổi bật hơn phản ánh mức độ của nền văn minh vật chất và vănminh tinh thần trong xã hội hiện đại Trong khái niệm “tiêu dùng văn hoá” này khôngphải chỉ nói đến sự tiêu thụ sản phẩm văn hoá theo nghĩa thông thường hoặc chỉ nóiđến một dạng tiêu thụ nào đó được biểu thị qua đồ vật văn hoá Và văn hoá không chỉ

là những vấn đề đặt ra trong văn bản hay trong những đề tài nghiên cứu mà là một quátrình hình thành và sáng tạo không ngừng Theo lý thuyết kinh điển của các nhà xã hộihọc thì trình độ, năng lực của con người trong vấn đề tiêu dùng văn hoá có mối quan

hệ rất chặt chẽ với nhau và thể hiện trong một số nét trong quan điểm này như: tiêudùng văn hoá là biểu hiện hành vi xã hội, luôn luôn chịu sự ảnh hưởng bởi bối cảnh xãhội và quan hệ xã hội, con người trong thực tiễn vừa là đối tượng tiêu dùng văn hoávừa là chủ thể sáng tạo văn hoá Trong quá trình tiêu dùng văn hoá, con người tiếnhành tiêu dùng văn hoá ở dạng cá thể cụ thể chứ không phải là cá thể đơn nhất trừutượng Sở dĩ có hiện tượng này là do mỗi con người có những nền tảng, trình độ vănhoá khác nhau, kinh nghiệm tiêu dùng và năng lực hiểu biết khác nhau Như MaxWeber đã từng nói: "Mọi người đều có thể nhìn thấy tất cả mọi điều trong trái tim củamình " Bởi vì tiêu dùng văn hóa tuyệt nhiên không có nghĩa là sự kết thúc quá trìnhsáng tạo văn hoá mà thực ra mới chỉ là sự bắt đầu Từ góc độ này có thể hiểu, văn hóa

Trang 5

không phải là sản phẩm được tạo ra một cách hoàn hảo ngay từ lần sáng tạo đầutiên,sau đó được con người “tiêu dùng” Văn hoá là một dạng sáng tạo của con ngườitrong quá trình hoạt động thực tiễn Và tiêu dùng cũng là một dạng hoạt động trongthực tiễn đó cho nên hoạt động tiêu dùng văn hoá của con người cũng chính là hoạtđộng sáng tạo văn hoá

1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của tiêu dùng văn hóa:

1.2.1 Lịch sử ra đời của tiêu dùng văn hoá:

Lịch sử của tiêu thụ văn hóa có thể được xem là bắt đầu vào cuối những năm

1950 và đầu những năm 1960 ở phương Tây Trong thời gian này, châu Âu và Mỹ bắtđầu xuất hiện hiện tượng đại chúng người lao động đủ giàu có, có năng lực tiến hànhtiêu dùng và không chỉ quan tâm đến “nhu cầu” mà còn là những niềm “ước vọng” -

TV, tủ lạnh, xe hơi, máy hút bụi, kỳ nghỉ ở nước ngoài, đã dần trở thành những mặthàng tiêu dùng thông thường Ngoài ra, người lao động đại chúng trong giai đoạn nàybắt đầu sử dụng mô hình tiêu dùng văn hóa trong sự biểu hiện kết nối với bản sắc vănhoá của họ Chính trong thời gian này, khái niệm "tiêu dùng văn hóa" bắt đầu trở thànhmột vấn đề mới đặt ra cho hoạt động nghiên cứu và thảo luận về văn hóa

1.2.2 Sự phát triển của tiêu dùng văn hoá:

Công nghiệp phát triển, tập trung vào sự phát triển thị trường Thị trường pháttriển tập trung vào sự phát triển theo nhu cầu trên thị trường Nhu cầu sản phẩm vănhóa trong thời đại tiêu dùng có mức độ rất lớn là nhu cầu mang tính biểu tượng, tínhiệu, nhu cầu sản phẩm thương hiệu Thế kỷ 21 là thế kỷ của những thương hiệu nổitiếng Hầu hết các sản phẩm được đánh dấu bằng những nét cá tính riêng biệt và giá trịcủa thương hiệu, giá trị vật chất và giá trị tinh thần cùng phổ biến đã trở thành sự phổbiến tiêu dùng, phổ biến nét sinh hoạt mới Đó chính là hiện tượng văn hoá trong tiêudùng Nhân loại có nhiều xã hội, bao gồm cả xã hội Việt Nam, lấy thái độ tiêu dùng lạixem xét, đa số có thể phân thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ các khoản tiết kiệm nghiêm ngặt để bắt đầu thời kỳ tiêu dùng.Thời kỳ đầu, con người thiếu thốn vật chất, nhiều nền kinh tế xã hội đã sớm khuyếnkhích sự chặt chẽ trong tiêu dùng như một nét phẩm chất đẹp Coi như vì sự sinh tồnngười tiêu dùng phải tiêu dùng, nhưng không khuyến khích vì niềm vui, niềm hạnhphúc mà tiêu dùng Một số môi trường xã tố xã hội vẫn còn bị ảnh hưởng bởi một sốhọc thuyết tôn giáo mà đã có những biểu hiện loại trừ những yếu tố giải trí trong hoạttiêu dùng Và thậm chí còn coi tính giải trí trong tiêu dùng như một biểu hiện vi phạmđạo đức Ví dụ, Max Weber đã mô tả thì đạo Tin lành trong giai đoạn này còn phản đối

cả sự ham muốn vật chất cho đến những năm đầu của thế kỷ XX, xã hội Mỹ và Tây

Âu bắt đầu bước vào thời kỳ đại công nghiệp, với mức thu nhập mọi người có thể sốngthoải mái hơn, nhận thức về tiêu dùng cũng bắt đầu có sự thay đổi Từ những sự thayđổi đó mà thời kỳ tiêu dùng đại chúng đã bắt đầu

Trang 6

Giai đoạn 2: Từ sự tiêu dùng đơn điệu (tiêu dùng vật chất thông thường) đếnviệc tiêu dùng niềm vui Thời kỳ đầu, đa số tiêu dùng đều chưa thóat khỏi sự đơn điệu.

Sự đơn điệu trong tiêu dùng chính là việc người tiêu dùng chỉ quan tâm đến tính hữudụng của một sản phẩm nào đó, dạng thức sản phẩm có tính đơn nhất, trong tiêu dùngsản phẩm Sau này, kinh tế phát triển lên một bước nữa, xã hội không còn chỉ quan tâm

ở những sản phẩm gia dụng mà còn ngày càng kỳ vọng đạt được những sự thoả mãn

về nhu cầu tinh thần trong tiêu dùng sản phẩm Chính vì vậy, thế giới sản phẩm saunày có tính tình cảm, nhân tính, cảm xúc hơn

Giai đoạn 3: Từ những niềm vui trong tiêu dùng đến tiêu dùng văn hóa Nếu chỉnhìn vào “nhân tính”, “niềm vui” trong sản phẩm thì vẫn chưa đủ để giải thích về sựgia tăng về góc độ văn hoá trong chỉnh thể kinh tế Vai trò quan trọng của văn hoátrong đời sống con người không chỉ là nhu cầu thể hiện trong cái vốn có của sản phẩmcông nghiệp, gia tăng công năng niềm vui mà quan trọng hơn nữa là việc theo đuổi sựhoàn thiện cá nhân thông qua hoạt động tiêu dùng Con người có rất nhiều thứ, và conngười không chỉ có và vừa ý với những thứ mà mình có mà con người còn muốn thôngqua thế giới vật chất để thể hiện “phong cách sống” của chính mình Và phía sau của

“phong cách sống” ấy càng bộc lộ rõ ra tính quan trọng của “giá trị” Nói một cáchđơn giản, con người trong xã hội đương đại đang không ngừng tự do gia tăng vậndụng, sử dụng thời gian một cách hiệu quả, nên việc tiêu dùng không chỉ là việc tiêudùng vật chất Con người tham dự vào rất nhiều hoạt động Trong quá trình tham dự

ấy, con người “tiêu dùng vật chất” và “tiêu dùng tinh thần” và đồng thời cũng đã thựchiện “tiêu dùng vật chất” Trong quá trình tham dự này, bản sắc văn hoá, giá trị vănhoá là nguyên nhân chính thúc đẩy mọi người tham dự Trong quá trình này, con ngườiđều thường có tính thụ động, thụ động vận động Nhưng đúng hơn có thể nói là “tưduy văn hoá”, “chọn lựa giá trị” tương đương với những mong muốn được thể hiện cánhân của mỗi người Đến lúc này, chúng ta mới có thể công bố rằng: Thời đại côngnghiệp văn hoá đã đến, thời đại tiêu dùng văn hoá bắt đầu

1.3 Đặc điểm của tiêu dùng văn hóa:

1.3.1 Tính tinh thần trong nội dung tiêu dùng văn hoá:

Tiêu dùng là quá trình con người dùng, thưởng thức, tiêu thụ một loại dịch vụhay sản phẩm vật chất nào đó nhằm thoả mãn nhu cầu, thông thường, cá thể tiêu dùngđều có tính hữu hình Tiêu dùng văn hoá là chỉ hoạt động tiêu dùng dịch vụ và sảnphẩm văn hoá Sản phẩm văn hoá là chỉ sản phẩm có sự gia cố thêm giá trị văn hoátrong sản phẩm Tiêu dùng văn hoá mặc dù là tiêu dùng tinh thần nhưng đều phảithông qua hình thức vật chất mang ý nghĩa chứa đựng, lưu giữ, chuyển tải như Báochí, Internet, Truyền hình…nhưng nội dung tiêu dùng thì đều là vô hình Thông quanhững phương tiện có tính vật chất này, con người đạt được mục đích về nội dungmang tính tinh thần

Trang 7

1.3.2 Tính tầng bậc trong năng lực tiêu dùng văn hoá:

Tính tầng bậc trong năng lực tiêu dùng là chỉ tính không đồng nhất trong nănglực, trình độ của các cá thể người tiêu dùng Năng lực tiêu dùng vật chất và năng lựctiêu dùng văn hoá đều thuộc về năng lực tiêu dùng nhưng hai loại năng lực này cónhững điểm khác biệt với nhau

- Năng lực tiêu dùng vật chất: Khai thác và sử dụng công năng…

- Năng lực tiêu dùng văn hoá: Hiểu, Cảm nhận, Giải thích, phân tích…

1.3.2 Tính gia hạn trong thời gian tiêu dùng văn hoá:

Trong hoạt động tiêu dùng, việc xác định hiệu suất tiêu dùng của tiêu dùng vậtchất và tiêu dùng văn hoá hoàn toàn không giống nhau Đối với tiêu dùng vật chất,thời gian tiêu dùng ngày càng ít đi còn hiệu xuất tiêu dùng ngày càng cao Đối với tiêudùng văn hoá có tính ngược lại, thời gian tiêu dùng càng dài thì hiệu xuất tiêu dùngcàng cao, gia hạn thời gian tiêu dùng thì có thể nâng cao hiệu xuất tiêu dùng văn hoá

1.3.3 Tính thẩm thấu trong tiêu dùng văn hoá:

Tiêu dùng vật chất thuộc về quá trình tiêu dùng “hữu hình”, tiêu dùng văn hoáthuộc về quá trình tiêu dùng “vô hình” Vai trò của hai loại tiêu dùng này hoàn toànkhông giống nhau Tiêu dùng vật chất làm thoả mãn con người về nhu cầu sinh lý, tiêudùng văn hoá làm thoả con người về nhu cầu tinh thần, nâng cao vai trò tinh thần củacon người, có thể có những khuôn mẫu về niềm tin, tình cảm, linh hồn của con ngườitrong xã hội

1.3.4 Tính xúc tiến văn minh xã hội của tiêu dùng văn hoá:

- Tiêu dùng văn hoá thể hiện mức độ kiến thiết của văn minh tinh thần xã hội, làtiêu chí xem xét hiện trạng phát triển xã hội và sự tiến bộ phát triển xã hội của nhânloại

- Thông qua truyền thông, giá trị sản phẩm được nâng cao; thông qua ý nghĩa,hình tượng thẩm mỹ tiếp thống văn hoá được nối truyền và phát huy những giá trịtrong di sản văn hoá

1.4 Vai trò của tiêu dùng văn hóa:

- Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ là một vòng liên kết thúc đẩy sự táisản xuất hàng hoá văn hoá

- Thực hiện nhiệm vụ cung và cầu, nhiệm vụ giá trị văn hoá xã hội

- Sản phẩm văn hoá trong quá trình sáng tạo, tạo ra năng lực sáng tạo văn hoá

và năng lực thưởng thức nghệ thuật của người tiêu dùng văn hoá

- Tiêu dùng văn hoá thúc đẩy hoạt động tái sản xuất của con người

Trang 8

1.5 Cơ cấu của tiêu dùng văn hóa:

1.5.1.Khái niệm:

Cơ cấu tiêu dùng văn hoá là chỉ mối quan hệ về tỷ lệ của các loại hình dịch vụvăn hoá và sản phẩm văn hoá khác nhau mà con người sử dụng và thưởng thức tronghoạt động tiêu dùng văn hoá

1.5.2 Phân loại cơ cấu tiêu dùng văn hoá:

- Căn cứ vào hình thái biểu hiện của sản phẩm văn hoá: Tiêu dùng sản phẩmvăn hoá và tiêu dùng dịch vụ văn hoá

- Căn cứ vào thuộc tính kinh tế của sản phẩm văn hoá: Tiêu dùng văn hoá tínhsản phẩm và tiêu dùng văn hoá tính phi sản phẩm

- Căn cứ tính chất tiêu dùng văn hoá: Dạng tiêu dùng văn hoá giáo dục và dạngtiêu dùng văn hoá giải trí…

1.6 Các xu hướng của tiêu dùng văn hóa:

1.6.1.Bối cảnh:

1.6.1.1 Công nghệ số phát triển:

Các phương tiện truyền thông đã bị ảnh hưởng bởi sự phát triển và thay đổicông nghệ Vấn đề số hóa đã khiến ranh giới giữa các thị trường sản phẩm truyềnthông truyền thống ngày càng trở nên mờ nhạt Việc ứng dụng rộng rãi các phươngtiện công nghệ kỹ thuật số đã ảnh hưởng đến phương thức sản xuất, truyền tải và tiêudùng văn hoá

- Có sự hỗ trợ của số hoá, nội dung truyền thông đã thông qua hệ thống mạng màđược chuyển tải Hệ thống mạng là nền tảng cho hoạt động chuyển tải nội dung truyềnthông và sự gia tăng của rất nhiều loại hình phục vụ mạng, cơ cấu truyền thông truyềnthống đã có sự gia tăng của dịch vụ mạng

- Với công nghệ kỹ thuật số mà các tài nguyên, chất liệu như: hình ảnh, âm thanh vàvăn bản có thể được nén thành những định dạng tương tự và được truyền thông quacác thiết bị truyền dẫn, nó đã thúc đẩy các loại phương tiện truyền thông khác nhau,tách rời nhau cùng tương tác, nhận được nhau

- Nội dung khi được nén vào các phương tiện lưu trữ kỹ thuật số thuận tiện rất nhiều

so với cách lưu trữ truyền thống, chính vì vậy mà việc bảo lưu, quản lý, cách thức sảnphẩm và biên tập, chỉnh sửa sản phẩm cũng rất dễ dàng Việc số hoá sẽ làm giảm chiphí cho khâu sản xuất Chi phí sản xuất thấp hơn sẽ làm cho các chương trình sản xuất

có hiệu quả hơn về mặt kinh tế

- Sự phát triển của số hóa và Internet sẽ giảm bớt các rào cản tiếp cận thị trường, tạo

cơ hội cho công nghệ sản xuất mới (chẳng hạn như chơi game online) và cơ hội sángtạo cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.6.1.2 Đa dạng hoá văn hoá và toàn cầu hoá tiêu dùng văn hoá:

Toàn cầu hóa kinh tế và tăng cường giao lưu văn hóa: Ngày 16 tháng 11 năm

1972, tại kỳ họp thứ 17 của tổ chức UNESCO đã đưa ra vấn đề bảo vệ các giá trị văn

Trang 9

hóa đa dạng của thế giới, thông qua Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiênthế giới Nội dung công ước có viết: "sự phá hủy hoặc biến mất của bất kỳ nền văn hóaquốc gia nào sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về di sản của các dân tộc, quốc gia trên thế giới,văn hoá truyền thống dân tộc truyền lại cho các thế hệ tương lai, là nguồn lực cho sựphát triển hài hòa và phong phú về văn hóa cho hiện tại và tương lai".

1.6.1.3 Ngoại lệ văn hóa:

Phải đối mặt với sự phát triển mạnh mẽ của “kinh đô” điện ảnh Hollywood trênthị trường quốc tế, nhiều quốc gia và Liên minh Châu Âu đã bày tỏ thái độ phản ứng

Họ trợ cấp cho ngành công nghiệp điện ảnh trong nước Có quốc gia còn thực hiện hạnchế phát sóng các chương trình truyền hình Trong năm 1993, Chính Phủ Hoa Kỳ bắtđầu phản kích trở lại và yêu cầu việc bãi bỏ những việc được coi là vấn đề vi phạmcạnh tranh tự do

1.7 Các xu hướng tiêu dùng văn hoá:

- Đa dạng hoá văn hoá và toàn cầu hoá tiêu dùng văn hoá cùng tồn tại

- Đại chúng hoá đến phân hoá: Phân khúc thị trường, định vị chính xác

- Tính tương tác: Tác động của việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số vàInternet

Trang 10

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH

Huyện Nông Sơn nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm

2008 Đông giáp huyện Quế Sơn; Tây giáp huyện Nam Giang; Nam giáp huyện HiệpĐức và huyện Phước Sơn; Bắc giáp huyện Duy Xuyên và huyện Đại Lộc, tỉnh QuảngNam

2.1.3 Địa thế địa hình:

Huyện Nông Sơn (Quảng Nam) có 7 xã, thị trấn được tách ra từ huyện Quế Sơnvào năm 2005 Đây là một trong số 9 huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam có địa bànchia cắt bởi nhiều sông rộng, suối sâu và khá nhiều đồi núi bao quanh, biến huyện trởthành một thung lũng rộng Cách đây khoảng mươi, mười năm về trước, việc đi lại,vận chuyển ở khu vực này hết sức khó khăn vì ngăn sông, cách núi Từ xã này qua xãkhác, thậm chí giữa các thôn trong cùng một xã cũng phải đi lại bằng đò Từ trung tâmhuyện hoặc từ dưới xuôi lên vùng Tý, Sé, Dùi, Chiêng hay lên Hòn Kẽm Đá Dừng chỉ

có thể đi bằng thuyền ngược dòng Thu Bồn là nhanh nhất Ngày nay, đường sá mởrộng, được láng nhựa hoặc đắp bê tông đến tận xóm thôn, cầu Nông Sơn đã bắc quasông Thu Bồn tại Trung Phước, cầu treo tại Quế Lâm và nhiều cầu khác đang đượcxây dựng như cầu Tý, cầu Bến Đình…, rất thuận tiện giao thương, song việc đi lạibằng thuyền, đò vẫn khá phổ biến ở vùng thượng nguồn sông Thu

2.1.4 Thời tiết khí hậu:

Tọa độ địa lý từ 15o20’00” đến 16o36’00” Vĩ độ Bắc và 15o20’00” 108o04’46”đến 108o27’56” Với hệ tọa độ trên, huyện Nông Sơn nằm phía đông dãy Trường Sơn

và phía nam đèo Hải Vân, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa Nhiệt độ trungbình hằng năm: 25.7 °C, nhiệt độ cao từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ thấp từ tháng 12đến tháng 2 năm sau Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa trungbình trong năm là 2,531.5 mm Huyện Nông Sơn chịu sự chi phối của gió tây nam vàgió đông nam hoạt động từ tháng 3 đến tháng 7, gió đông bắc hoạt động từ tháng 10đến tháng 2 năm sau Hằng năm thường xuất hiện từ 8 đến 10 cơn bão ảnh hưởng đếnhuyện Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 11 kết hợp với mưa lớn gây ra lũlụt

Trang 11

2.1.5 Tài nguyên thiên nhiên:

Phát huy ưu thế địa hình miền núi, huyện Nông Sơn đã tận dụng lợi thế núi đồi,đồng cỏ để phát triển chăn nuôi gia súc; mỗi năm tăng trung bình 12%, trong đó bò laichiếm 27% tổng đàn Chăn nuôi theo phương thức thả rông đang dần được thay thếbằng bán chăn thả Đây là dấu hiệu tích cực trong sản xuất chăn nuôi an toàn dịchbệnh, hướng đến sản xuất hàng hóa Mô hình kinh tế trang trại đang được đầu tư pháttriển Huyện cũng đã triển khai thực hiện đề án xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn;

có 2 xã điểm (Quế Lộc, Quế Trung) đã phê duyệt xong đề án; đã tổ chức lễ phát độngxây dựng xã Nông thôn mới và đang triển khai thực hiện đạt một số tiêu chí Các xãcòn lại cũng đã lập đề án trình các cấp phê duyệt

Một tiềm năng kinh tế, thế mạnh của địa phương đang được tập trung khai thác

đó là kinh tế rừng Thông qua các dự án đầu tư như dự án trồng rừng 661, KFW6, dự

án trồng cao su đại điền, tiểu điền… công tác quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng, phủxanh đất trống đồi núi trọc, đang được tăng cường Đến tháng 9/2012 trên địa bànhuyện đã trồng được 725 ha cao su đại điền, 31 ha cao su tiểu điền Huyện đã đẩymạnh công tác giao đất, giao rừng cho người nông dân tiến tới thực hiện xã hội hóalâm nghiệp

Với những truyền thuyết giữa thực và hư gắn liền với tên làng, tên núi, tên sông, danh thắng như: vườn Tiên - Núi Chúa, núi Cà Tang, Hòn Kẽm - Đá Dừng, lăng

Bà Thu Bồn, Tí, Sé, Dùi Chiêng, làng trái cây Đại Bình, nước nóng Tây Viên, thủy điện Khe Diên, mỏ than Nông Sơn…huyện đang đẩy mạnh khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, khai thác các điểm du lịch sinh thái, nhằm từng bước phát triển Nông Sơn thành điểm đến hấp dẫn trong chuỗi du lịch của tỉnh Quảng Nam

2.2 Đặc điểm xã hội:

2.2.1 Lịch sử hình thành:

Huyện Nông Sơn được chia tách từ huyện Quế Sơn theo Nghị định số42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chính phủ, có điều kiện địa lý: Phía Bắc giáp vớihuyện Duy Xuyên và Đại Lộc, phía Nam giáp với huyện Hiệp Đức và huyện PhướcSơn, phía Đông giáp với huyện Quế Sơn, phía Tây giáp với huyện Nam Giang; có diệntích 457,92 km² Toàn huyện có 7 xã, 39 thôn, dân số là 31.503 người Trung tâm hànhchính huyện đặt tại thôn Trung Phước 1, xã Quế Trung

Đến Nông Sơn-mảnh đất nghĩa tình, giàu truyền thống cách mạng, ngoài vẻ đẹp

do thiên nhiên kỳ thú ban tặng, ta còn được đón nhận vẻ đẹp chân chất, mộc mạc, thântình của con người nơi đây Hết thảy những người ta gặp, đều có nét thân thương như

đã quen nhau từ lâu lắm, dễ mến, rất nhiệt tình và hiếu khách

Nơi nào ta cũng bắt gặp những ánh mắt, nụ cười trìu mến Người dân Nông Sơncần cù, chất phác, thật lòng; thầm lặng, chịu thương, chịu khó, hiếu khách, đôn hậu

Ẩn chứa bên trong nét trầm lắng là sự cởi mở, chân tình đến lạ

Trang 12

Nông Sơn là nơi hội tụ của nhiều phong tục, tập quán Phong phú về văn hóa,tín ngưỡng, tâm linh và lễ hội Nơi đây cũng là vùng đất học với nhiều nhà tri thức nổitiếng như “Tứ kiệt” Nguyễn Đình Hiến, bác sỹ Bùi Kiến Tín, giáo sư Hoàng Châu Ký,nhà thơ Tường Linh v.v…

Nông Sơn xưa là căn cứ địa cách mạng Rừng Nông Sơn che bộ đội, vây quânthù Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nông Sơn có vị trí chiến lược quantrọng Những địa danh lịch sử như: Tân Tỉnh -Trung Lộc, của cụ Hường Hiệu, thời kỳ1885-1887; Khu chiến Hoàng Văn Thụ, thời kỳ 1946-1954…ghi dấu một thời oanhliệt của bao thế hệ cách mạng anh hùng đã lập nên nhiều chiến công vang dội; gópphần tô thắm thêm những trang sử vẻ vang của quê hương, dân tộc, làm cho kẻ thùkhiếp vía Bia chiến thắng Nông Sơn – Trung Phước (18/7/1974) là minh chứng chotinh thần chiến đấu quật cường, dũng cảm, khó khăn không sờn lòng, hiểm nguykhông lùi bước, của quân và dân Nông Sơn trong cuộc kháng chiến trường kỳ…

Là một huyện miền núi mới được chia tách, có điểm xuất phát thấp, thườngxuyên bị ngập lụt, lốc xoáy và lũ quét nên huyện Nông Sơn phải đối mặt với nhiều khókhăn và thách thức cả trước mắt và lâu dài

Ngay từ khi mới thành lập, lãnh đạo huyện đã xác định nông – lâm nghiệp giữvai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế, đồng thời phát triển công nghiệp, thực hiệncông nghiệp hóa – hiện đại hóa trong sản xuất và thúc đẩy phát triển các hoạt độngthương mại dịch vụ; tạo các điều kiện ưu đãi, nhằm khuyến khích các doanh nghiệpvào đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn huyện

Đến nay, sau hơn 4 năm thành lập, với phương châm ổn định mọi mặt để pháttriển theo hướng bền vững, diện mạo mới ở Nông Sơn không ngừng khởi sắc HuyệnNông Sơn đã hoàn thành và công bố quy hoạch tỷ lệ 1/500 khu trung tâm hành chínhhuyện; quy hoạch 1/500 cụm công nghiệp thương mại - dịch vụ Nông Sơn; quy hoạch1/500 khu trung tâm các xã: Sơn Viên, Phước Ninh, Quế Ninh; quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội huyện giai đoạn 2010 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Nhiềucông trình giao thông, cơ quan, trường học, hệ thống thủy lợi được khởi công, hoànthành và đưa vào sử dụng như: đường Nông Sơn- Quế Lâm, Quế Trung- Quế Phước;trụ sở Công an huyện, Kho bạc Nhà nước huyện, Tòa án nhân dân huyện… Bên cạnh

đó, nhiều dự án lớn như công trình đường tránh lũ, cứu hộ, cứu nạn khu trung tâmhuyện và vùng phụ cận đang triển khai giai đoạn 1 (với nguồn vốn 154 tỷ đồng);đường trục chính vào khu Trung tâm hành chính huyện (vốn đầu tư 70,4 tỷ đồng); đầu

tư xây dựng Trung tâm y tế huyện với quy mô 50 giường (vốn đầu tư 43 tỷ đồng); dự

án đầu tư xây dựng trụ sở làm việc Huyện ủy (25,5 tỷ đồng), Ủy ban nhân dân huyện(28,6 tỷ đồng), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện (15 tỷ đồng); Trung tâm hộinghị huyện (10 tỷ đồng); dự án Nhà máy nhiệt điện công suất 30MW (vốn đầu tư 674

tỷ đồng) Nhiều công trình thủy lợi như: hồ Hóc Hạ, đập Nà Bò, Lôi Trạch…cộng với

hệ thống kênh mương Phước Bình, Thác Nai, Rù Rì, Đồng Dinh, Nà Tranh v.v… được

Trang 13

đầu tư, đưa vào sử dụng, nhằm mở rộng diện tích tưới tiêu chủ động, góp phần nângcao năng suất, sản lượng lúa và hoa màu…

Qua 9 tháng đầu năm 2014, huyện đã xuất sắc hoàn thành mọi chỉ tiêu kinh tế

-xã hội đặt ra Nhiều chỉ tiêu đạt khá, giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp đạt 98,7 tỷđồng, tăng 4,5%; tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt127,5 tỷ đồng, bằng 78,22% KH, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước; tổng giá trịthương mại – dịch vụ ước đạt 83 tỷ đồng, bằng 76,14% KH, tăng 9,6% so với cùng kỳ.Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn huyện đạt hơn 410 tỷ đồng; tỷ lệ hộ nghèo xuốngcòn 58,05% theo tiêu chí mới, thu nhập bình quân đầu người 6,1 triệu đồng

Phát huy ưu thế địa hình miền núi, huyện Nông Sơn đã tận dụng lợi thế núi đồi,đồng cỏ để phát triển chăn nuôi gia súc; mỗi năm tăng trung bình 12%, trong đó bò laichiếm 27% tổng đàn Chăn nuôi theo phương thức thả rông đang dần được thay thếbằng bán chăn thả Đây là dấu hiệu tích cực trong sản xuất chăn nuôi an toàn dịchbệnh, hướng đến sản xuất hàng hóa Mô hình kinh tế trang trại đang được đầu tư pháttriển Huyện cũng đã triển khai thực hiện đề án xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn;

có 2 xã điểm (Quế Lộc, Quế Trung) đã phê duyệt xong đề án; đã tổ chức lễ phát độngxây dựng xã Nông thôn mới và đang triển khai thực hiện đạt một số tiêu chí Các xãcòn lại cũng đã lập đề án trình các cấp phê duyệt

Một tiềm năng kinh tế, thế mạnh của địa phương đang được tập trung khai thác

đó là kinh tế rừng Thông qua các dự án đầu tư như dự án trồng rừng 661, KFW6, dự

án trồng cao su đại điền, tiểu điền… công tác quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng, phủxanh đất trống đồi núi trọc, đang được tăng cường Đến tháng 9/2012 trên địa bànhuyện đã trồng được 725 ha cao su đại điền, 31 ha cao su tiểu điền Huyện đã đẩymạnh công tác giao đất, giao rừng cho người nông dân tiến tới thực hiện xã hội hóalâm nghiệp

Với những truyền thuyết giữa thực và hư gắn liền với tên làng, tên núi, tênsông, danh thắng như: vườn Tiên - Núi Chúa, núi Cà Tang, Hòn Kẽm - Đá Dừng, lăng

Bà Thu Bồn, Tí, Sé, Dùi Chiêng, làng trái cây Đại Bình, nước nóng Tây Viên, thủyđiện Khe Diên, mỏ than Nông Sơn…huyện đang đẩy mạnh khuyến khích các doanhnghiệp đầu tư, khai thác các điểm du lịch sinh thái, nhằm từng bước phát triển NôngSơn thành điểm đến hấp dẫn trong chuỗi du lịch của tỉnh Quảng Nam

Nhiều công trình mới rồi sẽ mọc lên Các tuyến đường rồi sẽ được mở rộng,nâng cấp Một số dự án xây dựng cơ bản, dự án phát triển hạ tầng, du lịch sinh thái,phát triển làng nghề…đang được định hình để đầu tư Ngoài ra, huyện đã có chủtrương qui hoạch, giao đất, giao rừng để bà con trồng rừng và sản xuất nông sản Nhìnnhững khu rừng keo lá tràm vươn cao, những cánh đồng lúa đang thì con gái tươi non,những biền dâu xanh ngát; rồi một vài năm nữa, những cánh rừng cao su đại điền, tiểuđiền xanh tốt, mà thấy lòng ấm áp, xen lẫn niềm vui

Ngày đăng: 02/03/2020, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w