KẾT LUẬNTÀI LIỆU THAM KHẢOPHỤ LỤCTóm tắt luận vănNgôi chùa trong văn hoá người Việt ở Bắc bộ Luận văn ngoài phần mở đầu và Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn kết luận, luận
Trang 1Trần Thị Thanh Bình Văn hóa Trần Thị Thanh Bình Văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãiứng xử của Nguyễn Trãi09/08/2008
Trần Thị Thanh BìnhNăm sinh: 25.03.1973
Cơ quan công tác : Phòng Đào tạo - Trường ĐH KHXH&NV
ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI
MỤC LỤCMỤC LỤC
MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài2.Mục đích nghiên cứu3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu4.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
5.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
77 Bố cục của luận vănBố cục của luận vănCHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG1.1 Một số vấn đề lý luận chung về văn hóa và văn hóa ứng xử1.2 Cơ sở lịch sử – xã hội hình thành văn hóa ứng xử
1.2 Cơ sở lịch sử – xã hội hình thành văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãicủa Nguyễn Trãi
1.2.1 Thân thế, hành trạng và di sản1.2.2 Bối cảnh thời đại và tư tưởng CHƯƠNG 2: VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG QUAN HỆ VỚI VĂNTRONG QUAN HỆ VỚI VĂNHÓA TRUNG HOA
2.1 Văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi trên phương diện ứng phó vớimôi trường xã hội: chính trị, quân sự, ngoại giao
2.2 Văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi trên phương diện tận dụngmôi trường xã hội: tiếp biến và dung hợp văn hóa
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃICHƯƠNG 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG QUAN HỆ VỚI VĂNTRONG QUAN HỆ VỚI VĂNHÓA VIỆT NAM
Trang 23.1 Văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi trong quan hệ với môi trường
xã hội3.1.1 Trên bình diện tổ chức đời sống tập thể3.1.2 Trên bình diện tổ chức đời sống cá nhân3.2 Văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi trong quan hệ với môi trường
tự nhiên3.2.1 Trên bình diện vật chất: ăn, mặc, ở, đi 3.2.1 Trên bình diện vật chất: ăn, mặc, ở, đi lại lại 3.2.1 Trên bình diện tinh thần: quan niệm và thái độ đối với 3.2.1 Trên bình diện tinh thần: quan niệm và thái độ đối với tự nhiêntự nhiênKẾT LUẬN
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI
Nguyễn Trãi là nhà văn hóa lớn
Nguyễn Trãi là nhà văn hóa lớn của dân tộc và là danh của dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới Quanhân văn hóa thế giới Quatìm hiểu về văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi trên hai trục quan hệ chính là
tìm hiểu về văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi trên hai trục quan hệ chính là quan hệ với quan hệ với các nền văn hóa bên ngoài
các nền văn hóa bên ngoài (tiêu biểu là với văn hóa Trung Hoa) và(tiêu biểu là với văn hóa Trung Hoa) và quan hệ trong nội bộquan hệ trong nội bộcủa nền văn hóa dân tộc
của nền văn hóa dân tộc , chúng tôi làm rõ những luận điểm chính sau:, chúng tôi làm rõ những luận điểm chính sau:
Trong một thời đại đầy biến động, có tính chất bản lề của lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã kế thừa và phát huy một cách xuất sắc truyềnthống văn hóa dân tộc trong quan hệ với Trung Hoa
thống văn hóa dân tộc trong quan hệ với Trung Hoa Đó là văn hóa ứng xử mang đậmĐó là văn hóa ứng xử mang đậmnhững đặc trưng cơ bản của một nền văn hóa gốc nông nghiệp như dung hợp trong tiếpnhận và mềm dẻo, hiếu hòa trong ứng phó
Trong ứng phó, trước giặc Minh hơn hẳn chúng ta về thế và lực, với tư cách là nhà
tư tưởng của cuộc khởi nghĩa, Nguyễn Trãi đã đề ra các chiến lược và sách lược hợp lý.Nguyễn Trãi nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa, tập hợp lực lượng, dựavào dân và phát huy truyền thống đoàn kết trên cơ sở tính cộng đồng của văn hóa dântộc Đây là nền tảng sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn Về mặt chiến lược, trong khitương quan lực lượng giữa ta và địch không cân sức, Nguyễn Trãi đã xây dựng chiếnlược kháng chiến trường kỳ và đấu tranh linh hoạt trên tất cả các bình diện chính trị, quân
sự, ngoại giao gắn với yêu cầu của từng giai đoạn cụ thể Giai đoạn đầu của cuộc khởinghĩa (1418 – 1424), nghĩa quân chủ yếu vận dụng lối đánh du kích thiên biến vạn hóatrong truyền thống quân sự của dân tộc Khi lực lượng vững mạnh, nghĩa quân kết hợpđánh du kích với đánh chính quy, đặc biệt là kết hợp với chiến thuật “tâm công” đặc sắctrên bình diện chính trị,
trên bình diện chính trị, ngoại giao mà Nguyễn Trãi là người trực tiếp ngoại giao mà Nguyễn Trãi là người trực tiếp đề xuất và thực hiện.đề xuất và thực hiện
Sự vận dụng linh hoạt và tổng hợp trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao đã có ýnghĩa quyết định trong việc đạt được thắng lợi cuối cùng Trong quá trình chiến đấu và khi
Trang 3cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, Nguyễn Trãi đều thể hiện rõ nét truyền thống nhânđạo, hiếu hòa và ước muốn hòa bình lâu dài cho dân tộc khi cấp lương thực, phương tiệncho giặc về nước đồng thời buộc giặc Minh phải cam kết đảm bảo tình hòa hiếu giữa haidân tộc.
Trong tiếp nhận văn hóa ngoại lai, Nguyễn Trãi là tấm gương sáng trong việc đứngvững trên cơ sở của truyền thống văn hóa dân tộc để tiếp thu và tiếp biến Nguyễn Trãichịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc, tự nhận mình là nhà Nho, nhưng Nguyễn Trãi trướchết là một trí thức dân tộc, một người yêu nước, thương dân Nguyễn Trãi đã tiếp nhậnnhững phần tích cực nhất của tư tưởng Nho giáo và tiếp biến, vận dụng sáng tạo trên cơ
sở truyền thống văn hóa dân tộc
sở truyền thống văn hóa dân tộc Nhân nghĩaNhân nghĩa vốn là phạm trù trung tâm của Nho giáo, chỉ vốn là phạm trù trung tâm của Nho giáo, chỉ mối quan hệ giữa
mối quan hệ giữa người với người có phần chung chung, được người với người có phần chung chung, được Nguyễn Trãi vận dụng gắnNguyễn Trãi vận dụng gắnvới nội dung cụ thể là yêu nước, thương dân và lý tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãitrước hết là
trước hết là chí nhân, đại nghĩa, an dân.chí nhân, đại nghĩa, an dân Nguyễn Trãi cũng tiếp nhận cả Phật giáo và ĐạoNguyễn Trãi cũng tiếp nhận cả Phật giáo và Đạogia, nhưng hai hệ tư tưởng này đã được Nguyễn Trãi tiếp biến theo hướng tích cực Về
cơ bản, tư tưởng Phật giáo và Đạo gia thiên về xuất thế, nhưng Nguyễn Trãi trước sauvẫn là con người nhập thế Ông tiếp biến Phật và Đạo thành những yếu tố làm phong phúthêm cho nhận thức và ứng xử của mình Đó là tinh thần phóng khoáng, coi nhẹ lợi danh,coi trọng sự di dưỡng tinh thần và cốt cách, sống giản dị và hòa nhập với thiên nhiên Tưtưởng Tam giáo hòa quyện ở Nguyễn Trãi nhưng tinh thần nhập thế ở Nguyễn Trãi vẫnnổi bật, vừa phản ánh truyền thống dung hợp trong tiếp nhận của văn hóa dân tộc, vừaphản ánh những đặc điểm riêng của thời đại Nguyễn Trãi – thời đại Nho giáo chiếm ưuthế, gắn với nhu cầu tổ chức và quản lý xã hội theo mô hình nhà nước phong kiến trungương tập quyền
Trong nội bộ của nền văn hóa Việt Nam, Nguyễn Trãi đã có những đóng góp xuất sắc, góp phần quan trọng vào việc phát triển và nâng nền văn hóa dân tộc lênmột tầm cao mới
một tầm cao mới Nguyễn Trãi đã có công lớn trong việc đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Nguyễn Trãi đã có công lớn trong việc đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơnđến thắng lợi cuối cùng và để lại những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu về nghệthuật quân sự, về chiến lược chính trị, ngoại giao, làm giàu thêm truyền thống linh hoạt vàtổng hợp của văn hóa Việt Nam trong chiến tranh giữ nước, xây dựng tình hòa hiếu giữacác dân tộc Trong đó, nổi bật lên đóng góp của ông về chiến lược “tâm công”, “địch vận”.Những bức thư “tâm công”, “địch vận” của Nguyễn Trãi vừa thể hiện tư tưởng chính trị,quân sự, ngoại giao thiên tài, vừa là những áng văn chính luận đặc sắc, góp phần đưavăn chính luận dân tộc lên một tầm cao mới
Trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc Minh mười năm gian khổ, NguyễnTrãi càng nhận thức sâu sắc hơn về nhân dân, đất nước, về bản sắc văn hóa, đánh dấubước phát triển mới trong lịch sử tư
bước phát triển mới trong lịch sử tư tưởng – nhận thức của dân tộc Ông cũng là người cótưởng – nhận thức của dân tộc Ông cũng là người cóđóng góp lớn trong lĩnh vực tổ chức đời sống xã hội, nhất là việc góp phần xác lập một
đóng góp lớn trong lĩnh vực tổ chức đời sống xã hội, nhất là việc góp phần xác lập một mômôhình chính trị – xã hội mới, tiến bộ, phù hợp với bước phát triển của đất nước sau thời kỳsuy vi cuối thế kỷ XIV và sau cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc Minh Ông luôn kiênđịnh với lý tưởng và lập trường của mình trong việc xây dựng một bộ máy chính quyền vìnước, vì dân Bi kịch cuối đời của Nguyễn Trãi là bi kịch có tính tất yếu của một con ngườiquá trung thực, quá lý tưởng đến mức ảo tưởng trong hoàn cảnh lịch sử – cụ thể của thờiđại ông, nhưng bi kịch đó cũng phần nào cho thấy rõ nét hơn một nhân cách lớn Ông đãkhông tính toán thiệt hơn cho cuộc sống cá nhân trong lựa chọn, ứng xử của mình
Những ứng xử trên các bình diện thuộc đời sống cá nhân cũng như trong quan hệvới các phương diện thuộc ứng xử với môi trường tự nhiên cũng cho thấy một NguyễnTrãi có ý thức sâu sắc về việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Nguyễn Trãi
Trang 4chính là tấm gương sáng trong việc bảo vệ và giữ gìn đạo đức, phong tục, đặc biệt làngôn ngữ dân tộc Ông là người góp phần trong việc nâng tiếng Việt văn học lên một tầmcao mới mà chỉ với phần còn lại của
cao mới mà chỉ với phần còn lại của Quốc âm thi tậpQuốc âm thi tập cũng cho thấy rõ điều đó.cũng cho thấy rõ điều đó
Nguyễn Trãi thật xứng đáng là nhà văn hóa lớn như UNESCO đã từng tôn vinh.Văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi là bài học lớn về nhân cách, tài năng Việc nghiên cứu
và phổ biến rộng rãi văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi có ý nghĩa giáo dục to lớn, gópphần vào việc hình thành nhân cách,
phần vào việc hình thành nhân cách, giáo dục lòng yêu nước cho các giáo dục lòng yêu nước cho các thế hệ về sau.thế hệ về sau
Người post bài: Lê Thị Ngọc ĐiệpNguyễn Anh Cường Ngôi chùa trong văn hóa người Việt ở Bắc Bộ14/09/2008
Nguyễn Anh CườngNăm sinh: 18.10.1978
ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ:
NGÔI CHÙA TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT Ở BẮC BỘ
MỤC LỤCDẪN LUẬN
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu
<! [if !supportLists] >3 <! [endif] >Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
<! [if !supportLists] >4 <! [endif] >Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệuliệu
5
5 Những đóng Những đóng góp củgóp của luận a luận vănvăn
<! [if !supportLists] >6 <! [endif] >Bố cục luận văn
CHƯƠNG MỘTNGÔI CHÙA BẮC BỘ NHÌN TRONG THỜI GIAN VĂN HOÁ1.1 Ngôi chù
1.1 Ngôi chùa trong quá trình da trong quá trình du nhập và pu nhập và phát triển của Phật Gihát triển của Phật Giáo áo ở Bắc bộở Bắc bộ1.1.1. Ngôi chùNgôi chùa tronga trong quá trình Phậquá trình Phật giát giáo du nhậpo du nhập
1.1.2 Ngôi chù1.1.2 Ngôi chùa trong quá trình Phậa trong quá trình Phật giát giáo phát triểno phát triển1.2 Ngôi chùa trong diễ
1.2 Ngôi chùa trong diễn trìn trình văn hoá Phật giáo Bắc bộnh văn hoá Phật giáo Bắc bộ
Trang 51.21 Ngôi chùa ở cấp độ cung đình1.2.2 Ngôi chùa ở cấp độ làng xãTiểu kết
CHƯƠNG HAINGÔI CHÙA BẮC BỘ NHÌN TRONG KHÔNG GIAN VĂN HOÁ
<! [if !supportLists] >2.1. <! [endif] >Ngôi chùa trong quan hệ với cảnh
quan thiên nhiên
<! [if !supportLists] >2.2. <! [endif] >Ngôi chùa nhìn từ kiến trúc
<! [if !supportLists] >2.3 <! [endif] >Ngôi chùa nhìn từ cấu trúc nội thất và
cách thức thờ phượng
<! [if !supportLists] >2.3.1. <! [endif] >Bà<! [endif] >Bài tríi trí ở thượng điệnở thượng điện
<! [if !supportLists] >2.3.2. <! [endif] >Bài trí ở<! [endif] >Bài trí ở nhà tiền đườngnhà tiền đường
<! [if !supportLists] >2.3.3. <! [endif] >Bài trí ở hành lang
<! [if !supportLists] >2.4 <! [endif] >Ngôi chùa trong quan hệ với các kiến
trúc tôn giáo, tín ngưỡng khác ở Bắc bộ2.4.1 Ngôi
2.4.1 Ngôi chùa trong chùa trong quan hệ quan hệ với các với các kiến trúc kiến trúc tín ngưỡng tín ngưỡng dân giandân gian
CHƯƠNG BANGÔI CHÙA BẮC BỘ NHÌN TỪ CHỦ THỂ VĂN HOÁ3.1 Ngôi chùa trong đời sống văn hoá của cư dân Bắc bộ
3.1.1 Tính tổng hợp trong chức năng xã hội của ngôi chùa3.1.2 Tính dân chủ của
3.1.2 Tính dân chủ của ngôi chùangôi chùa
<! [if !supportLists] >3.2 <! [endif] > Ngôi chùa trong tâm thứNgôi chùa trong tâm thức cư dân Bắc bộc cư dân Bắc bộ
<! [if !supportLists] >3.2.1. <! [endif] >Ngôi chùa trong nghệ thuật3.2.2
3.2.2 Ngôi chNgôi chùa trong ùa trong văn chươnvăn chươnggTiểu kết
Trang 6KẾT LUẬNTÀI LIỆU THAM KHẢOPHỤ LỤC
Tóm tắt luận vănNgôi chùa trong văn hoá người Việt ở Bắc bộ
Luận văn ngoài phần mở đầu và Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn kết luận, luận văn được chia thành ba chương:được chia thành ba chương:
Chương 1: Ngôi chùa Bắc bộ nhìn trong thời gian văn hoá:
Chương này đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của ngôi chùa trong thờigian văn hoá.Chương một đã phần nào giới thiệu quá trình truyền bá và phát triển củaPhật giáo tại Việt Nam và đi đôi với quá trình truyền bá Phật pháp là quá trình xây dựngchùa chiền Chương này chỉ ra được vấn đề: Phật giáo miền Bắc mà điển hình là trungtâm Phật giáo Luy Lâu chính là trung tâm đầu tiên của Phật giáo Việt Nam Thậm chítrung tâm Phật giáo Luy Lâu tại miền Bắc Việt Nam còn phồn thịnh hơn cả hai trung tâmPhật giáo đương thời ở Trung Quốc là Bành Thành và Lạc Dương
Qua đó ta thấy sự gặp gỡ độc đáo giữa hai nền văn hoá Việt Nam và Ấn Độ, nói mộtcách cụ thể là
cách cụ thể là cuộc gặp gỡ giữa văn hoá cuộc gặp gỡ giữa văn hoá Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Ấn Độ và văn hoá nông nghiệp lúa nướcvăn hoá nông nghiệp lúa nướcViệt Nam thông qua hình ảnh độc đáo về sự kết hợp giữa sư Khâu Đà La và Man Nương.Cuộc gặp gỡ có phần phá cách và thoát ra ngoài giới luật của nhà Phật đã sản sinh ra một vịPhật của dân tộc Việt Nam
quan đại thầi thần đứn đứng ra lo việng ra lo việc xây dực xây dựng, vì thế qui mô củng, vì thế qui mô của nhữa những ngôi chùng ngôi chùa nàa này thườy thườngngrấ
rất bề thế và nghệ thuật bề thế và nghệ thuật trang trí điêu khắt trang trí điêu khắc ở nhữc ở những ngôi chùng ngôi chùa nàa này thườy thường mang tíng mang tính bánh bácchọ
học.c
NhữNhững ngôi chùng ngôi chùa ởa ở cấcấp độp độ làlàng xãng xã thườthường do nhân dân đóng do nhân dân đóng góng góp tiềp tiền bạn bạc vàc và tựtự đứđứng rang raxây dự
xây dựng, vìng, vì thếthế qui mô nhữqui mô những ngôi chùng ngôi chùa nàa này thườy thường nhỏng nhỏ bébé vàvà nghệnghệ thuậthuật chạt chạm trổm trổ, điêu khắ, điêu khắcctrong chù
trong chùa thườa thường mang tíng mang tính dân dãnh dân dã, bì, bình dịnh dị
Trang 7Trên đây chính là những tiền đề để đi Trên đây chính là những tiền đề để đi sâu vào tìm hiểu và phân tích vai sâu vào tìm hiểu và phân tích vai trò của ngôitrò của ngôichùa Phật giáo trong đời sống cư dân miền Bắc Việt Nam.
Chương 2: Ngôi chùa Bắc bộ Chương 2: Ngôi chùa Bắc bộ nhìn trong không gian văn hóa:nhìn trong không gian văn hóa:
Chương này đề cập đến mối liên hệ của ngôi chùa với không gian văn hoá miềnBắc Qua phần trình bày trong chương hai này, ta thấy vai trò và vị trí của ngôi chùa trongkhông gian văn hoá miền Bắc rất
không gian văn hoá miền Bắc rất đặc thù Đó là đặc thù Đó là sự phong phú và đa dạng trong sự phong phú và đa dạng trong cách thứccách thứcthờ tự của những ngôi chùa ở miền Bắc Vấn đề này đã được triển khai và phân tích trên
cơ sở lý luận và thực tiễn Vì chùa miền Bắc là chùa của Phật giáo Đại Thừa, nên ngoàiviệc thờ cúng đức Phật, chùa còn thờ các vị Bồ
việc thờ cúng đức Phật, chùa còn thờ các vị Bồ Tát, các vị thần và cộng với việc hỗn dungTát, các vị thần và cộng với việc hỗn dungcùng tín ngưỡng bản địa nên các vị anh hùng dân tộc, các vị thần thánh của người Việtcũng được thờ trong chùa của Phật giáo Đặc biệt chương này còn chỉ ra được ảnhhưởng của triết lý âm dương, triết lý phồn thực của người Việt đối với việc thờ cúng ởnhững ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam
Trong khía cạnh kiến trúc cho chúng ta Trong khía cạnh kiến trúc cho chúng ta cảm nhận được sự hài hoà cảm nhận được sự hài hoà tinh tế giữa kiếntinh tế giữa kiếntrúc ngôi chùa với cảnh quan thiên nhiên đồ
trúc ngôi chùa với cảnh quan thiên nhiên đồng bằng bằng Bắng Bắc bộc bộ, và thể hiện được văn hoá, và thể hiện được văn hoáứng xử với môi trường tự nhiên của người dân Bắc bộ thể hiện qua
ứng xử với môi trường tự nhiên của người dân Bắc bộ thể hiện qua việc xây dựng chùa.việc xây dựng chùa
Sự tương đồng và dị biệt trên mọi phương diện của ngôi chùa Phật giáo tại Bắc bộ
và các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng dân gian khác thật là phong phú và đặc sắc
Giữa chùa và đình ở miền Bắc Việt Nam có nhiều điểm chung trên phương diệnkiến trúc Từ kiểu thức kiến trúc cho đến các mái đầu đao uốn cong vv…đều mang nặngdấu ấn đời sống tâm linh của văn hoá Việt Ngoài những vấn đề giống nhau, chương nàycũng chỉ ra được sự khác biệt cơ bản trong đối tượng thờ cúng giữa chùa và đình Nếunhư chùa được lập ra để thờ Phật thì đình được lập ra để thờ các vị thần Thành hoàngcủa làng Nếu như chùa là sản phẩm kết tinh của văn hoá Phật giáo và văn hoá Việt Namthì đình là sản phẩm thuần tuý của tổ chức làng xã nông nghiệp Việt Nam
Sự tương quan giữa chùa và những nơi thờ phụng dân gian khác như đền, miếu,phủ ở miền Bắc cũng thật rõ nét Tuy những nơi thờ phượng dân gian này khó có thể sosánh với chùa về mức độ hoành tráng, nhưng giữa chúng có những nét tương đồng đến
lạ kỳ về kiểu thức kiến trúc và cách thức bài trí bên trong Tất cả những kiến trúc này đều
có một điểm chung là rất gần gũi với văn hoá dân tộc
Kiến trúc của chùa và Văn miếu của Nho giáo cũng có nhiều điểm rất giống nhau. Điểm khác biệt cơ bản là Văn miếu của Nho giáo được lập nên để thờ Khổng tử và các vịthánh hiền thì chùa của Phật giáo lập nên để thờ Phật và các vị Bồ Tát Điều khác biệtđáng lưu ý nữa là đối tượng thờ cúng của Nho giáo nếu xét về mặt giới tính thì chỉ thuầntuý là nam giới trong khi đối tượng thờ
tuý là nam giới trong khi đối tượng thờ cúng của Phật giáo thì lại bao gồm cả nam lẫn nữ.cúng của Phật giáo thì lại bao gồm cả nam lẫn nữ
Ở miền Bắc Việt Nam hiện vẫn đang còn hiện tượng Tam giáo đồng nguyên trong
Trang 8những nghi lễ và cách thức thờ cúng giữa Phật giáo và Đạo giáo Những điều này thể hiện rõnhất ở Bích Câu đạo quán và Linh Tiên đạo quán.
Khi đi tìm hiểu kiến trúc của ngôi chùa Phật giáo và nhà thờ Ki tô giáo tại miền BắcViệt Nam, chúng ta thấy ngôi
Việt Nam, chúng ta thấy ngôi chùa Phật giáo và nhà thờ Kitô chùa Phật giáo và nhà thờ Kitô giáo có nhiều điểm tương đồnggiáo có nhiều điểm tương đồng
và dị biệt Nhưng giữa chúng có những quan hệ rất mật thiết với nhau Nếu như kiến trúc củanhà thờ Tây hoàn toàn đối lập với kiến trúc của chùa thì ngược lại kiểu thức kiến trúc theo lốinhà thờ Nam lại rất gần gũi với ngôi chùa trên nhiều phương diện Đó chính là nét hài hoàđộc đáo mang đậm tính dân tộc trong kiến trúc các tôn giáo tại Việt Nam
Chương 3: Ngôi chùa Bắc bộ nhìn từ chủ thể văn hoá
Chương này đề cập đến vai trò văn hoá của ngôi chùa trong đời sống của cư dânBắc bộ
Qua phần khái quát trong chương ba, ta Qua phần khái quát trong chương ba, ta thấy vai trò văn hoá thấy vai trò văn hoá của ngôi chùa Bắc bộcủa ngôi chùa Bắc bộrất to lớn và đa dạng Nó cũng nói lên được vai trò quan trọng của ngôi chùa đối với đờisống nhân dân miền Bắc trong lịch sử và hiện tại Chùa là nơi thờ cúng là trường học vàđôi khi còn là cơ sở y tế của cộng đồng, là nơi diễn ra hội hè đình đám và khi chết đi thìngười ta gởi thân về cửa Phật Những lúc gặp những đau buồn trong cuộc sống thì chùachính là nơi chốn dễ chia sẽ và cảm thông với những đau buốn mất mát đó Ngôi chùaphần nào giúp họ vơi đi những lo lắng, dằn vặt và sầu muộn bằng giáo lý từ bi, bình đẳng
và khoa
và khoan dung của đạo Phn dung của đạo Phật Khi nói đến vai trò của ngật Khi nói đến vai trò của ngôi chùa ở ôi chùa ở Bắc bộ chúBắc bộ chúng ta phảing ta phảinói đến tính tổng hợp trong chức năng xã hội của ngôi chùa Ngôi chùa bao quát nhiềukhía cạnh trong đời sống tâm linh, văn hoá đối với những ai nương tựa vào mình
Trong nộ
Trong nội dung củi dung của chương ba cũng đề cập đến một trong những đặc tính cơ bảna chương ba cũng đề cập đến một trong những đặc tính cơ bảncuả ngôi chùa Bắc bộ là tính dân chủ Mọi người đều có thể đến chùa tham gia vào sinhhoạt chốn thiền môn theo cách riêng của mình mà không hề bị ngăn cấm hoặc phân biệtđối xử khi đến với chùa thì giàu nghèo, sang hèn, trí thức, bình dân đều không còn là vấn
đề quan trọng, quan trọng nhất chính là tấm lòng của người đến mà thôi Đến chùa sẽ tạocho du khách một cảm nhận bình an khi được bình đẳng trước mọi người và trước cácmặt trong sinh hoạt của ngôi chùa
Bân cạnh đó, ngôBân cạnh đó, ngôi chùa còn có vi chùa còn có vị trí quan trọng ị trí quan trọng trong tâm hồn cư dtrong tâm hồn cư dân Bắc bộ Điềuân Bắc bộ Điều
đó được thể hiện qua đời sốn
đó được thể hiện qua đời sống văn học và g văn học và nghệ thuật mà nhân dân, cnghệ thuật mà nhân dân, các nhà thơ, nghệ sỹác nhà thơ, nghệ sỹ
đã dung hình ảnh ngôi chùa như một nguồn cảm hứng, một đối tượng trung tâm để khaithác nghệ thuật
Trang 9luôn đứng về phía dân tộc, lúc hạnh phúc cũng như lúc khổ đau Phật giáo đã xem dântộc như một bà mẹ hiền che chở và cưu mang mình và theo chiều ngược lại bà mẹ hiềnViệt Nam cũng đã nhiều lần nương tựa vào Phật giáo để huy động sức dân và kêu gọilòng ái quốc của nhân dân
lòng ái quốc của nhân dân trong những lúc vận nước nghiêng nghèo.trong những lúc vận nước nghiêng nghèo
Đồ Đồng bằng bằng Bắc bộ là địa bàn xuất phát của tộc Việt, vì vậy nơi đây còn lưu giững Bắc bộ là địa bàn xuất phát của tộc Việt, vì vậy nơi đây còn lưu giữđược tín
được tính chất thuần tuý củh chất thuần tuý của văn hoá Việt Nam a văn hoá Việt Nam Hơn nữHơn nữa đây chính là nơi Phật giáoa đây chính là nơi Phật giáođược truyền lần đầu tiên vào nước ta và miền Bắc Việt Nam với trung tâm Phật giáo LuyLâu đã từng là một trung tâm Phật giáo phát triển rực rỡ trong nhiều thế kỷ nên đây làkhông gian đị
không gian địa lýa lý phùphù hợhợp đểp để bướbước đầc đầu nghiên cứu nghiên cứu vều về văn hoávăn hoá củcủa ngôi chùa ngôi chùa.a
Vì Phật giáo đến với người Việt bằng con đường hoà bình và giáo lý của Đức Phật rấtphù hợp với tâm tư và tình cảm của người Việt nên đã được nhân dân Việt Nam đón tiếp, tintưởng và cưu mang Người Việt ở đồng bằng Bắc bộ xem Phật giáo vừa thiêng liêng vừa gầngũi với họ Vì thế trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, chùa chiền được xây dựng khắpmọi nơi, từ thành thị đến thôn quê Có thể nói những nơi sơn thuỷ hữu tình, những mảnh đấtthiêng liêng và được tôn trọng, không đâu là không có chùa thờ Phật
Chính vì toàn thể nhân dân và các triều đại trị vì đồng lòng tin tưởng đạo Phật nhưthế nên những ngôi chùa đã được nhiều tầng lớp xây dựng Những ngôi chùa do vuaquan đích thân đốc thúc việc xây dựng thì gọi là chùa ở cấp độ cung đình, quốc gia,những ngôi chùa do nhân dân xây dựng thì
những ngôi chùa do nhân dân xây dựng thì nhỏ bé hơn và được gọi nhỏ bé hơn và được gọi là những ngôi chùa ởlà những ngôi chùa ởcấp độ làng xã
Chùa miền Bắc Việt Nam là chùa của Phật giáo Đại Thừa nên việc thờ phụng rất
đa dạng Ngoài việc thờ cúng đức Phật lịch sử, chùa miền Bắc còn thờ cúng các vị bồ tát,các vị thánh thần, các anh hùng dân tộc Đây cũng là một đặc điểm đáng lưu ý của chùamiền Bắc Bên cạnh sự tôn thờ những hình tượng của tôn giáo thì người dân vẫn luônhướng về cội nguồn, trân trọng, tôn thờ những người đã có công với đất nước, nhữngngười đã mang lại cho họ sự bình yên, no ấm mà họ có thể nhìn thấy được, cảm nhậnđược Đó chính là một nét đẹp, đáng trân trọng trong truyền thống văn hóa “uống nướcnhớ nguồn” của người dân Bắc
nhớ nguồn” của người dân Bắc bộ.bộ
NgoàNgoài ra cái ra cách thờ cúch thờ cúng trong ngôi chùng trong ngôi chùa còa còn thể hiện thể hiện tính khoan dung tôn giáo rấn tính khoan dung tôn giáo rấttcao, nên những thần thánh của tín ngưỡng dân gian Việt Nam đôi khi cũng được bài trítrong chùa như Mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử… Thậm chí đôi khi nhữ
trong chùa như Mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử… Thậm chí đôi khi những vị thầng vị thần thán thánhnhnà
này còn có vai trò quan trọng như là đối tượng thờ cúng chính trong chùa, điển hình choy còn có vai trò quan trọng như là đối tượng thờ cúng chính trong chùa, điển hình chotrường hợp này là việc thờ cúng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện
Do mố
Do mối quan hệ thân thương và gần gũi với đời sống của cư dân như vậy nên vaii quan hệ thân thương và gần gũi với đời sống của cư dân như vậy nên vaitrò của ngôi chùa trong đời sống nhân dân miền Bắc là rất quan trọng Chùa không chỉ lànơi để thực hiện các lễ nghi tôn giáo mà còn là trường học, thậm chí trong một vài trườnghợp đặc biệt chùa còn là cơ sở y tế, văn hoá, giáo dục của cộng đồng dân cư Trong
Trang 10nhỏ cho thắng lợi của dân tộc.
Từ lúc mới lọt lòng cho tới khi biết đọc chữ, tới tuổi biết giận hờn, thương ghét, lúc
đã thành đạt hay khi sắp lìa khỏi cõi trần, dù là người cao sang hay là kẻ thấp hèn, dù ởthành thị hay giữa chốn quê mùa, đối với phần đông người dân Bắc bộ, hình ảnh ngôichùa vẫn luôn hiện h
chùa vẫn luôn hiện hữu trong họ như ữu trong họ như là một điểm tựa thiêng liêng, một nơi là một điểm tựa thiêng liêng, một nơi chốn bình an,chốn bình an,tin cậy nhất để họ được nương náu, vỗ về, để họ có thể mong cầu tìm thấy những gì tốtđẹp nhất trong vô vàn những khao khát của mình Ngôi chùa không chỉ là một điểm đếntâm linh của những người ít nhiều có hiểu biết về Phật pháp hoặc có ước muốn tìm hiểu
về nó mà còn là nơi để bất cứ ai cũng có thể tới để làm lắng dịu lòng mình, để mà chiêmnghiệm cuộc sống sau một quãng đường dài mệt mỏi với những lo toan, ưu phiền và cảnhững thành công, thất bại Ở đó không có sự bất công, phân biệt đối xử giữa kẻ hèn,người sang để khiến người ta phải ngại ngùng, e sợ; chỉ có sự bảo bọc, yêu thương vàche chở Ngôi chùa là nơi người dân Bắc bộ tìm đến những khi gia đình họ gặp chuyệnchẳng lành, là nơi an ủi họ mỗi khi cuộc sống gặp khó khăn, trắc trở, là nơi để họ tìm kiếmnhững lời khuyên răn mà sống sao cho tốt hơn, cư xử sao cho phải đạo hơn, là nơi để họ
có thể thoải mái giãi bày những tâm tư thầm kín không thể nói với ai; tóm lại, là nơi để họ
có thể trút hết nỗi lòng không một chút băn khoăn, do dự, và nhờ vậy họ cảm nhận cuộcsống trở nên dễ chịu, tốt đẹp hơn Bất cứ điều gì, cái gì làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thìđều đáng được ngợi ca, trân trọng Người
đều đáng được ngợi ca, trân trọng Người ta hướng về ngôi chùa như hướng tới những gìta hướng về ngôi chùa như hướng tới những gìchân, thiện nhất, những gì là hoàn hảo nhất và bởi vậy đó cũng là nơi để họ gửi gắmnhững ước vọng (kể cả tham vọng) của mình, mặc dù đó là những mong muốn có khi hếtsức đời thường, trần tục, có vẻ như rất xa cách với những điều thanh tao, cao quí nơi cửaPhật Vì lẽ đó mà hình tượng ngôi chùa cứ tự nhiên bước vào cuộc sống của người dân,hết sức bình dị, thân thương và gần gũi Những sinh linh bé bỏng, vô tội nhiều khi cũngđược phó thác nơi cửa chùa và được những tấm lòng nhân ái chở che, nuôi dưỡng nênngười để tiếp tục cứu vớt những số phận kém may mắn khác Rất xa nhưng lại rất gần,
đó là những gì mà người ta có thể cảm nhận khi bước vào chốn thiền môn
Vì những cảm nhận đó từ hình ảnh ngôi chùa, từ sự cao quí đến mức lung
Vì những cảm nhận đó từ hình ảnh ngôi chùa, từ sự cao quí đến mức lung linh, tinhlinh, tinhkhiết
khiết, từ sự gần gũi đến độ như gia đình, từ sự gần gũi đến độ như gia đình, như máu thịt, lẽ , như máu thịt, lẽ tất nhiêtất nhiên hình ảnh ngôn hình ảnh ngôi chùai chùakhông thể vắng bóng trong những tác phẩm văn học, nghệ thuật, nơi mà
không thể vắng bóng trong những tác phẩm văn học, nghệ thuật, nơi mà tình cảm của contình cảm của conngười có nhiều cơ hội để giãi bày, để thăng hoa nhất Vẻ đẹp, sự thân thiện và cả sự mầunhiệm của những ngôi chùa đã
nhiệm của những ngôi chùa đã là nguồn cảm hứng dồi dào là nguồn cảm hứng dồi dào tạo nên vô vàn những áng tạo nên vô vàn những áng vănvănthơ, những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng Từ những tao nhân mặc khách, những học giảhào hoa đến những đấng vương gia sống trong cảnh giàu sang quyền quí cũng đều cóthể động lòng trước cảnh thâm u, trầm mặc và thanh tao của cảnh chùa, trước nhữnggiáo lí ngời ngời của nhà Phật, để từ đó cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật để đời,những vần thơ, những lời ca bay bổng hay mang đậm tính triết lí sâu sa để người đời cònmãi muốn nghe, muốn ngẫm… Bóng dáng ngôi chùa cũng còn được bắt gặp từ
mãi muốn nghe, muốn ngẫm… Bóng dáng ngôi chùa cũng còn được bắt gặp từ những tácnhững tácphẩm dân dã, giản dị nhất xuất phát từ chốn thôn quê, được tạo nên, được truyền miệngbởi những người dân quê mùa, chất phác nhưng không kém phần sắc sảo, tinh tế, đôikhi còn dí dỏm… Từ một vị trí sâu sa trong tâm tư, tình cảm của người dân Bắc bộ, hình
Trang 11ảnh ngôi chùa đã cất cánh bay bổng, đầy xúc cảm và trí tuệ trong những kiệt tác nghệthuật, những áng thơ ca…, như những đóa sen tỏa ngát hương thơm mà con người muônđời còn muốn chiêm ngưỡng, ngợi ca Hình ảnh ngôi chùa hiện diện khắp nơi, từ nhữngnơi bình dị nhất đến những nơi vương giả nhất Có thể nói văn học Phật giáo đã đượcsáng tác từ cảm hứng chủ đạo là hình ảnh của ngôi chùa.
Ngôi chùa là sản phẩm của văn hoá Việt Nam nên kiểu thức kiến trúc của chùa rất gầnvới kiểu thức kiến trúc của ngôi nhà
với kiểu thức kiến trúc của ngôi nhà ViệViệt Nam cũt Nam cũng như những như những công trìng công trình kiếnh kiến trún trúc tôn giác tôn giáo, tío, tínnngưỡ
ngưỡng kháng khác ởc ở BắBắc bộc bộ Hiện tượng gặp gỡ và giao thoa trên phương diện kiến trúc giữa Phật Hiện tượng gặp gỡ và giao thoa trên phương diện kiến trúc giữa Phậtgiáo, Nho giáo và Đạo giáo là một sự thật lịch sử vì rằng những kiến trúc này đều xuất phát từcội nguồn cảm hứng của nền văn hoá Việt, đều được tạo dựng bởi những bàn tay tài hoa củanhững nghệ nhân người Việt mang nặng tấm lòng với văn hoá Việ
những nghệ nhân người Việt mang nặng tấm lòng với văn hoá Việt Nam.t Nam
Ngoài mặt tương đồng với các kiến trúc tôn giáo truyền thống, chùa của người Việt
ở đồng bằng Bắc bộ có những khác biệt rất cơ bản với kiến trúc của nhà thờ Ki tô giáo.Tuy nhiên, một số nhà thờ Ki
Tuy nhiên, một số nhà thờ Ki tô giáo cũng có ý thức quay về với tô giáo cũng có ý thức quay về với truyền thống văn hoá dântruyền thống văn hoá dântộc nên kiến trúc của chúng cũng có những nét tương đồng với kiến trúc của chùa Phậtgiáo
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa luôn đồng hành cùng đời sống vănhoá và tâm linh của cộng đồng cư dân người Việt ở Bắc bộ Ngôi chùa luôn đóng một vaitrò quan trọng trong cuộc đời của những người dân ở đây Có thể nó
trò quan trọng trong cuộc đời của những người dân ở đây Có thể nó i nhữi những vui buồng vui buồn,n,nhữ
những tâm sự thầng tâm sự thầm kím kín và cả nhữn và cả những ướng ước mơ củc mơ của ngườa người dân Bắi dân Bắc bộ thườc bộ thường đượng được gởc gởiigắ
gắm nơi cửm nơi cửa chùa chùa Chùa Chùa là nơi để ngườa là nơi để người dân gặi dân gặp gỡp gỡ, cầ, cầu nguyệu nguyện và là nơi để sinh hoạn và là nơi để sinh hoạtthộ
hội hèi hè Từ lú Từ lúc tấc tấm bém bé, phầ, phần đông nhữn đông những cư dân đồng cư dân đồng bằng bằng Bắng Bắc bộ đã theo mẹc bộ đã theo mẹ, theo bà, theo bàlên chù
lên chùa lễ Phậa lễ Phật Khi trưởt Khi trưởng thàng thành, cảnh, cảnh chùnh chùa là nơi để nam thanh nữ tú gặa là nơi để nam thanh nữ tú gặp gỡ hẹp gỡ hẹn hòn hò
bằng tiếng tiếng chuông chùng chuông chùa vàa và kếkết thút thúc bằng nhữc bằng những lờng lời kinh giải kinh giải thoái thoát củt của đạa đạo Phậo Phật.t
Lịch sử và hiện tại đã chứng minh rằng, vị trí của những ngôi chùa đối với cư dânđồng bằng Bắc bộ thật là thiêng liêng và gần gũi Và có lẽ trong tương lai, ngôi chùa vẫnluôn là yếu tố quan trọng và cần thiết đối với đời sống của người dân nơi
luôn là yếu tố quan trọng và cần thiết đối với đời sống của người dân nơi đây.đây
Người post bài: Lê Thị Ngọc Điệp
Trang 12Lưu Hoàng Chương Triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt09/08/2008
Lưu Hoàng ChươngNăm sinh: 10.01.1961
Cơ quan : Học viện CTQG – Phân viện Tp.HCM
ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT
MỤC LỤCQUY ƯỚC TRÌNH BÀY
Trang 13Chương 1: TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG VÀ VĂN HOÁ DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT1.1 Triết lý âm dương
1.1.1 Nguồn gốc, bản chất, khái niệm triết lý âm dương1.1.2 Hai quy luật của triết lý âm
1.1.2 Hai quy luật của triết lý âm dươngdương1.2 Văn hoá dân gian và văn hoá dân gian người Việt1.2 Văn hoá dân gian và văn hoá dân gian người Việt 1.2.1 Quan niệm về văn hoá và văn hoá dân gian
1.2.2 Văn hoá dân gian người ViệtChương 2:
Chương 2: TRIẾT LÝ ÂM TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG VĂN DƯƠNG TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨCHÓA NHẬN THỨC2.1 Triết lý âm dương trong nhận thức về vũ trụ
2.1.1 Triết lý âm dương trong nhận thức về nguồn gốc, bản chất của
vũ trụ2.1.2 Triết lý âm dương trong nhận thức về không gian vũ trụ2.1.3 Triết lý âm dương trong nhận thức về thời gian vũ tr2.1.3 Triết lý âm dương trong nhận thức về thời gian vũ trụụ2.2 Triết lý âm dương trong nhận thức về con người2.2 Triết lý âm dương trong nhận thức về con người 2.2.1
2.2.1 Nhận thức Nhận thức về con ngườvề con người tự nh i tự nh iêniên2.2.2 Nhận thức về con người xã hội2.2.2 Nhận thức về con người xã hội Chương 3: TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG VĂN HOÁ TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG3.1 Triết lý âm dương trong văn hoá tổ chức đời sống tập thể
3.1.1 Triết lý âm dương trong tổ3.1.1 Triết lý âm dương trong tổ chức chức gia gia đ đ ình ình (Nh(Nhà)à)3.1.2 Triết lý âm dương trong tổ chức làng
3.1.3 Triết lý âm dương trong tổ chức quốc gia (Nước)3.2 Triết lý âm dương trong văn hoá tổ chức đời sống cá nhân3.2.1 Tr
3.2.1 Triết lý âm dươiết lý âm dương trong tíng trong tín ngưỡn n ngưỡn g dân giang dân gian3.2.2 Triết lý âm dương trong phong tục dân gian
Trang 143.2.3 Triết lý âm dương trong nghệ thuật dân gian
Chương 4: TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀMÔI TRƯỜNG XÃ HỘI
4.1 Triết lý âm dương trong ứng xử với 4.1 Triết lý âm dương trong ứng xử với môi trường tự nhiênmôi trường tự nhiên4.1.1 Triết lý âm dương trong tận dụng môi trường tự
4.1.1 Triết lý âm dương trong tận dụng môi trường tự nhiên: ăn uống,nhiên: ăn uống,giữ gìn sức khoẻ
4.1.2 Triết lý âm dương trong ứng phó với môi tr4.1.2 Triết lý âm dương trong ứng phó với môi trường tự nhiên: mặc,ường tự nhiên: mặc,ở
MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, bộ phận văn hoá dân gian chiếm một tỷ lệ
Ở Việt Nam, bộ phận văn hoá dân gian chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu nền văn hoálớn trong cơ cấu nền văn hoádân tộc và có vai trò rất quan trọng trong lịch sử, nhất là ở việc bồi dưỡng tâm hồn conngười, thống nhất cộng đồng Văn hoá dân gian cũng là nơi bảo lưu những giá trị văn hoálâu đời của dân tộc Nhiều giá trị văn hoá dân gian đã trở thành bộ phận của đời sống xãhội hiện đại, trong đó có
hội hiện đại, trong đó có Triết lý âm dương Triết lý âm dương – – một thànmột thành tựu đặc sắc ch tựu đặc sắc của tư duy phưủa tư duy phươngơng Đông
Ngay từ khi ra đời,Ngay từ khi ra đời, triết lý âm dương triết lý âm dương đã được người phương Đông nhất là ở Trungđã được người phương Đông nhất là ở TrungQuốc và Việt Nam, vận dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống: từ nhận thức về vũ trụ đếnnhận thức về con người, từ tổ chức đời sống tập thể đến đời sống cá nhân, từ ứng xử vớimôi trường tự nhiên đến ứng xử với môi trường xã hội Có thể khẳng định rằng,
môi trường tự nhiên đến ứng xử với môi trường xã hội Có thể khẳng định rằng, Triết lý Triết lý
âm dương
âm dương đã đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống người phươngđã đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống người phương
Trang 15Đông nói chung, và của người Việt nói riêng.
Ngày nay,Ngày nay, triết lý âm dương triết lý âm dương vẫn được nhiều người tìm hiểu, ứng dụng Người tavẫn được nhiều người tìm hiểu, ứng dụng Người takhông chỉ vận dụng
không chỉ vận dụng triết lý âm dương triết lý âm dương vào trong các lĩnh vực của đời sống theo phong tục,vào trong các lĩnh vực của đời sống theo phong tục,
mà còn từ
mà còn từng bướng bước lý giải và vận dụng nó dựa c lý giải và vận dụng nó dựa trên cơ sở khoa học Vì vậy, nghiên cứu văntrên cơ sở khoa học Vì vậy, nghiên cứu vănhóa dân gian nói chung,
hóa dân gian nói chung, triết lý âm dương triết lý âm dương nói riêng, vừa là sự “trở về cội nguồn”, vừa lànói riêng, vừa là sự “trở về cội nguồn”, vừa là
cơ sở để hiểu sâu sắc hiện tại, để góp phần xây dựng nền văn hoá nước ta hiện nay
Với ý nghĩa trên và được sự gợi ý, giúp đỡ của giáo sư hướng dẫn, người viết chọn
đề tài
đề tài Triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt Triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt để nghiên cứu.để nghiên cứu
II Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tàiThực hiện đề tài Triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt Triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt , người viết, người viếthướng tới giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ yếu tố triết lý âm dương trong các hiện tượng văn hoá dân gianngười Việt
Thứ hai, làm rõ vai trò Thứ hai, làm rõ vai trò của triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt.của triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt
Thứ ba, ở mức độ nhất định, luận văn nêu lên những ảnh hưởng của triết lý âmdương trong tâm thức và trong đời sống hiện thực của người Việt hiện nay
như: Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục Việt Nam phong tục – 1915), Pierre Gourou (– 1915), Pierre Gourou (Người nông dân châu Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ – 1936), Nguyễn Văn Huyên (– 1936), Nguyễn Văn Huyên (Hội Phù Đổng Hội Phù Đổng – 1938,– 1938, Văn minh Việt NamVăn minh Việt Nam ––1944), Đào Duy Anh (
1944), Đào Duy Anh ( Việt Nam văn hóa sử cương Việt Nam văn hóa sử cương - 1938) Ở những công trình trên, các- 1938) Ở những công trình trên, cáctác giả đã đề cập đến triết lý âm dương trong một số lĩnh vực văn hóa dân gian Tuynhiên, do không phải là trọng tâm cần trình bày nên ở những công trình trên, triết lý âmdương mới được các tác giả đề cập đến một cách khái quát hoặc tản mạn
Tiếp nối những công trình trên, từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiềungười nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, và vì vậy, triết lý âm dương trong văn hóa dângian người Việt cũng được nghiên cứu nhiều hơn Từ nội dung và phạm vi vấn đề triết lý
âm dương được nghiên cứu, có thể chia các công trình thành hai nhóm: 1/ Những côngtrình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam mà trong đó có đề cập đến triết lý âm dương; 2/Những công trình nghiên cứu triết lý âm dương trong văn hóa người Việt
1/ Ở nhóm thứ nhất, triết lý âm dương không phải là đối tượng chính cần tập trung
Trang 16khảo sát, phân tích mà nó được trình bày chỉ như một yếu tố của hiện tượng văn hóa nào
2/
2/ Nhóm thứ hai, đó là nNhóm thứ hai, đó là những công trình hướng hững công trình hướng tới việc khảo sátới việc khảo sát triết lý âm dươngt triết lý âm dươngtrong văn hóa người Việt Ở nhóm này, các tác giả đã đi vào nghiên cứu triết lý âm dươngtrong văn hóa người Việt nói chung, hoặc triết lý âm dương trong những hiện tượng haylĩnh vực văn hóa cụ thể
Văn Sửu; Tìm hiểu và ứng dụng triết lý âm dương Tìm hiểu và ứng dụng triết lý âm dương (1998) của Nguyễn Đình Phư;(1998) của Nguyễn Đình Phư; Âm Âmdương ngũ hành với đời sống con người
dương ngũ hành với đời sống con người (2002) của Lê Văn Quán… Ở những công trình(2002) của Lê Văn Quán… Ở những công trìnhtrên, bên cạnh việc trình bày về nguồn gốc, bản chất
trên, bên cạnh việc trình bày về nguồn gốc, bản chất của triết lý âm dương, vai của triết lý âm dương, vai trò của triếttrò của triết
lý âm dương trong văn hóa người Việt nói chung, xuất phát từ mục đích nghiên cứu củamình, mỗi tác giả lại hướng vào những “trọng tâm” nhất định
-
- Về triết lý âm dương trong nhữVề triết lý âm dương trong những lĩnh vực văn hóa cụ thể, hiện đã có các cônng lĩnh vực văn hóa cụ thể, hiện đã có các cônggtrình nghiên cứu triết lý âm dương trong y dược học, triết lý âm dương trong nghệ thuật,triết lý âm dương trong ẩm thực
Nghiên cứu về triết lý âm dương trong lĩnh vực y dược học có: Hoàng TuấnNghiên cứu về triết lý âm dương trong lĩnh vực y dược học có: Hoàng Tuấn ((Học Học thuyết âm dương và phương dược cổ truyền - 1994); Trần Thị Thu Huyền (- 1994); Trần Thị Thu Huyền ( Âm dương ngũ Âm dương ngũ hành với y học cổ truyền và đời sống con người
hành với y học cổ truyền và đời sống con người - 1999); Ngô Gia Hy (- 1999); Ngô Gia Hy (Thử kết hợp Đông Thử kết hợp Đông Tây y qua dịch lý và thận
Tây y qua dịch lý và thận – 1999)… Nghiên cứu về triết lý âm dương trong lĩnh vực nghệ– 1999)… Nghiên cứu về triết lý âm dương trong lĩnh vực nghệthuật có: Mịch Quang nghiên cứu về ảnh hưởng của kinh dịch trong nghệ thuật truyềnthống, nhất là hát bộ (
thống, nhất là hát bộ (Kinh dịch với nghệ thuật truyền thống –Kinh dịch với nghệ thuật truyền thống – 1997,1997, Khơi nguồn mỹ học Khơi nguồn mỹ học dân tộc
dân tộc – 2004); Trần Văn Khê nghiên cứu về triết lý âm dương trong một số loại nhạc cụ,– 2004); Trần Văn Khê nghiên cứu về triết lý âm dương trong một số loại nhạc cụ,trong cách diễn xướng của người Việt (
trong cách diễn xướng của người Việt ( Âm và dương trong âm nhạc truyền thống Âm và dương trong âm nhạc truyền thống – 2006)– 2006)
… Nghiên cứu về triết lý âm dương trong lĩnh vực ẩm thực có: Phạm Văn Chính (
… Nghiên cứu về triết lý âm dương trong lĩnh vực ẩm thực có: Phạm Văn Chính ( Ăn uống Ăn uống hòa hợp âm dương
hòa hợp âm dương – 2004) Trần Văn Khê (– 2004) Trần Văn Khê (Người Việt ăn uống thế nàoNgười Việt ăn uống thế nào – web)…– web)…
Qua phần trình bày khái quát nêu trên có nhể thấy, triết lý âm dương đã được nhiềungười quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, qua đó cũng nhận thấy rằng các tác giả chủ yếumới chỉ đề cập đến triết lý âm dương một cách khái quát (Nguyễn Văn Huyên, Kim Định, Đinh Gia Khánh ), hoặc trình bày triết lý âm dương trong văn hóa Việt Nam nói chung
Trang 17( Trần Ngọc Thêm, Lê Văn Sửu, Nguyễn Đình Phư, Lê Văn Quán), hay là triết lý âmdương ở các lĩnh vực văn hoá cụ thể (Trần Thị Thu Huyền, Hoàng Tuấn, Mịch Quang,Trần Văn Khê…) nhưng cũng chưa tập trung vào bộ phận văn hóa dân gian Có thể nói,hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi chuyên sâu vào trình bày triết lý âm dươngtrong văn hoá dân gian người Việt ở các thành tố của nó, một cách hệ thống.
Thực hiện đề tài nêu trên chính là kế thừa thành tựu của những công trình đãThực hiện đề tài nêu trên chính là kế thừa thành tựu của những công trình đã nghiênnghiêncứu về lĩnh vực này, đồng thời kết hợp với những nghiên cứu thực tế của bản thân người
gian người Việtgian người Việt
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là những biểu hiện của triết lý âm dươngtrong văn hoá dân gian người Việt, bao gồm: văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức đờisống cộng đồng, văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội
Như vậy, đề tài này sẽ chỉ khảo sát những hiện tượng văn hoá dân gian do ngườiViệt sáng tạo và những hiện tượng văn hoá của các tộc người khác được người Việt tiếp
nhận và dân gian hoá chúng
V Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Ý nghĩa khoa học
Văn hoá dân gian là nơi bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống lâu đời của dântộc, do đó nghiên cứu triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt chính là gópphần vào tìm hiểu truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Đồng thời, việc nghiên cứu này
sẽ bổ sung tư liệu cho các công trình nghiên cứu về văn hoá học và văn hoá Việt Nam
3 Ý nghĩa thực tiễn
Đất nước ta đang tiến hành sự nghiệpĐất nước ta đang tiến hành sự nghiệp Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong sự nghiệp ấy, di sản văn hoá được xem là
““tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá
tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá” [ĐCSVN 1998: 63] Vì vậy, việc làm rõ bản chất” [ĐCSVN 1998: 63] Vì vậy, việc làm rõ bản chấtcủa triết lý âm dương và vai trò của nó trong văn hoá dân gian người Việt, không chỉ có ýnghĩa là ứng xử đúng đắn với một giá trị văn hoá quá khứ, vốn từng được xem là vấn đề
“nhạy cảm”, mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc xác lập những giá trị và chuẩn mựcvăn hoá ở nước ta hiện nay, gó
văn hoá ở nước ta hiện nay, góp phầp phần thay đổn thay đổi cái cách nhìch nhìn, cán, cách đách đánh giánh giá vàvà ứứng xửng xử đốđối với vớiicá
các di sảc di sản văn hoán văn hoá trong mộtrong một sốt số lĩlĩnh vựnh vực.c
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
1
1 Phương Phương pháp pháp nghiên nghiên cứucứu
Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhữ
Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, những phương pháp nghiên cứung phương pháp nghiên cứusau đây sẽ được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn:
Trang 18a Phương pháp luận
a Phương pháp luận: Triết lý âm dương là thuộc về nhận thức, thuộc về đời sống: Triết lý âm dương là thuộc về nhận thức, thuộc về đời sốngtinh thần nên để tìm hiểu
tinh thần nên để tìm hiểu vềvề triết lý âm dương trong văn triết lý âm dương trong văn hóa dân gian người hóa dân gian người Việt,Việt, trước hếttrước hết
và cơ bản phải xuất phát từ nền tảng vật chất của cộng đồng người Việt bao gồm điềukiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội, để nghiên cứu Vì vậy, người viết sử dụngphương pháp
phương pháp duy vật biê ̣duy vật biê ̣n chứn chứng vàng và duy vâ ̣duy vâ ̣t lịch sử t lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho làm cơ sở phương pháp luận cho luậnluậnvăn
b Các phương pháp cụ thể:
Thứ nhất, sử dụng phương phápThứ nhất, sử dụng phương pháp hệ thống và cấu trúc hệ thống và cấu trúc để sắp xếp những hiện tượngđể sắp xếp những hiện tượngvăn hoá dân gian vô cùng đa
văn hoá dân gian vô cùng đa dạng, phức tạp vào các thành tố dạng, phức tạp vào các thành tố cấu thành văn hoá dân giancấu thành văn hoá dân gian
để nghiên cứu
Thứ hai, vận dụng phương phápThứ hai, vận dụng phương pháp so sánh loại hìnhso sánh loại hình để nghiên cứu cơ sở hình thànhđể nghiên cứu cơ sở hình thành
và đặc điểm của triết lý âm dương trong văn hoá dân gian người Việt
Thứ ba, vận dung phương phápThứ ba, vận dung phương pháp phân tích phân tích tổng hợptổng hợp để phân tích, khái quát kết quảđể phân tích, khái quát kết quảnghiên cứu của các ngành khoa học khác về
nghiên cứu của các ngành khoa học khác về những nội dung có liên những nội dung có liên quan đến đề tài.quan đến đề tài
2
2 Nguồn Nguồn tư tư liệuliệu
Tư liệu chủ yếu để viết luận văn là những kết quả nghiên cứu của các ngành vănhoá học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử, văn học, lịch sử văn hoá Việt Nam, nhất là vềvăn hoá dân gian người Việt Một số hiện tượng văn hoá truyền thống và hiện đại đượcxem là có nhiều khả năng chứa đựng yếu tố triết lý âm dương (lễ tết, lễ hội, cưới hỏi, tang
ma, kiến trúc, y dược học cổ truyền…) cũng sẽ được xem là một nguồn tư liệu để khảosát
VII Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành 4 chương
Chương 1: Triết lý âm dương và văn hoá dân gian người Việt Chương này trình bàynhững khái niệm cơ bản (triết lý âm dương, văn hoá, văn hoá dân gian), đồng thời cũngtrình bày cơ sở lý luận của luận văn
Từ cách tiếp cận hệ thống cấu trúc, văn hoá được xem là một hệ thống gồm cácthành tố cơ bản: văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức cộng đồng, văn hoá ứng xử với môitrường tự nhiên và môi trường xã hội Dựa trên việc phân chia các thành tố như trên, từchương 2 đến chương 4, luận văn trình bày triết lý âm dương trong từng thành tố văn hoádân gian người Việt:
Trang 19tiêu của luận văn, chương này trình bày triết lý âm dương trong văn hóa tổ chức đời sốngtập thể ở ba hình thức tổ chức xã hội: nhà, làng, nước, và triết lý âm dương trong tổ chứcđời sống cá nhân ở các lĩnh vực: tín ngưỡng, phong tục và nghệ thuật.
với môi trường tự nhiên, tận dụng và đối phó với môi trường xã hội.môi trường xã hội
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
Triết lý âm dương là sự nhận thức về thế giới, nó dựa trên cơ sở khái quát những trithức có tính kinh nghiệm, trực giác về thế giới và hoạt động thực tiễn của người thời cổ ởTrung Quốc và Việt Nam Nội dung cơ bản của
Trung Quốc và Việt Nam Nội dung cơ bản của triết lý âm dương là mọi triết lý âm dương là mọi sự vật, hiện tượngsự vật, hiện tượngđều là sự kết hợp và chuyển hóa lẫn nhau của hai mặt đối lập theo quy luật:
đều là sự kết hợp và chuyển hóa lẫn nhau của hai mặt đối lập theo quy luật: trong âm cótrong âm códương, trong dương có âm; âm cực sinh dương, dương cực sinh âm
dương, trong dương có âm; âm cực sinh dương, dương cực sinh âm Triết lý âm dương,Triết lý âm dương,đến lượt nó lại là cơ sở cho sự
đến lượt nó lại là cơ sở cho sự nhận thức và hoạt động thực tiễn.nhận thức và hoạt động thực tiễn
Trong điều kiện tự nhiên và lịch sử - xã hội đặc thù (nóng ẩm mưa nhiều, nôngnghiệp lúa nước, ngã tư đường của các luồng văn minh ) mà người Việt hình thành vàphát triển, triết lý âm dương được nhận thức, vận dụng thể hiện sự
phát triển, triết lý âm dương được nhận thức, vận dụng thể hiện sự quân bình – hài hòaquân bình – hài hòa
âm dương nhưng thiên về âm tính
âm dương nhưng thiên về âm tính Có thể khẳng định: Có thể khẳng định: triết lý âm dương với đặc điểmtriết lý âm dương với đặc điểmtrên, thấm nhuần trong mọi thành tố của văn hóa dân gian, và góp phần tạo nên nét độc đáo trong tính cách người Việt
Ở thành tố văn hóa nhận thức, triết lý âm dương được vận dụng vào giải thích bảnchất của vũ trụ và con người – tiểu vũ trụ Mọi vật, kể cả con người đều do sự kết hợp vàchuyển hóa của hai yếu tố âm - dương (mẹ - cha; đực – cái) mà thành Triết lý âm dươngcũng là cơ sở để giải thích về cấu trúc không gian vũ trụ (tam tài, ngũ hành) và thời gian
vũ trụ (lịch âm dương - hệ đếm can chi) Từ việc xem con người là “tiểu vũ trụ”, “thiên địavạn vật nhất thể”, người xưa đã vận dụng mô hình nhận thức về vũ trụ vào nhận thức conngười (con người tự nhiên và con người xã hội) Đó là, con người cũng được tạo thànhbởi sự kết hợp âm dương, có cấu tạo theo ngũ hành Nhận thức trên về vũ trụ và về conngười được ứng dụng trong mọi thành tố văn hóa dân gian người Việt, từ tổ chức đờisống tập thể, tổ chức đời sống cá nhân đến ứng
sống tập thể, tổ chức đời sống cá nhân đến ứng xử với môi trường tự xử với môi trường tự nhiên và môi trườngnhiên và môi trường
chức gia đình, sự quân bình âm dương thiên về âm tínhquân bình âm dương thiên về âm tính thể hiện ở việc chú trọng sự hòathể hiện ở việc chú trọng sự hòathuận, đề cao vai trò của người phụ nữ, cùng với quá trình vận động trong sự đối lập cácmặt: trọng nam, trọng trưởng / trọng nữ; tôn ty trật tự / tình cảm, cộng đồng, hòa thuận;
Trang 20tập trung tài sản, sở hữu cộng đồng / phân tán tài sản, sở hữu cá nhân Trong tổ chứclàng xã, triết lý âm dương biểu hiện ở tính tự trị và tính cộng đồng, tính tôn ty và tính dânchủ, trong đó tính tự trị và tính dân chủ vừa là nền (trên cở sở nông nghiệp lúa nước) vừaluôn có xu thế lấn lướt (quân bình âm dương nhưng thiên về âm tính) Trong tổ chức quốcgia – Nước, triết lý âm dương thể hiện ở quan niệm về Nước Nước là sự kết hợp của haiyếu tố âm dương (Lạc Long Quân – Âu Cơ, Đất – Nước) Nhà nước quản lý xã hội bằng
cả luật pháp và phong tục (biểu hiện ở sự song song tồn tại của phép nước và lệ làng) Và
ở trong dân gian, lệ làng có biểu hiện nổi trội (
ở trong dân gian, lệ làng có biểu hiện nổi trội (Phép vua thua lệ làng Phép vua thua lệ làng ) – đề cao lệ, đề cao) – đề cao lệ, đề caotình (âm tính)
Ở bộ phận văn hóa tổchức đời sống cá nhân, các lĩnh vực được khảo sát bao gồm: tín ngưỡng, phong tục (lễhội, cưới hỏi, tang ma) và nghệ thuật (nghệ thuật thanh sắc và nghệ thuậ
hội, cưới hỏi, tang ma) và nghệ thuật (nghệ thuật thanh sắc và nghệ thuật tạt tạo hình) Đâyo hình) Đây
là bộ phận thể hiện sâu đậm và sinh động triết lý âm dương
là bộ phận thể hiện sâu đậm và sinh động triết lý âm dương Quân bình âm dương thiênQuân bình âm dương thiên
về âm tính trong tín ngưỡng là: tín ngưỡng đa thần, sự tồn tại lâu dài, phổ biến của tínngưỡng phồn thực và sự nổi trội của nữ thần Trong lĩnh vực phong tục, quân bình âmdương thể hiện qua các nghi lễ, trò diễn, tục lệ: ở lễ hội, đó là sự quân bình giữa phần lễvới phần hội, giữa phần thế tục với phần linh thiêng; trong hôn nhân, các nghi thức, các lễvật luôn thể hiện cặp đôi đực - cái; trong tang ma, các nghi thức các tục lệ thể hiện quanniệm về quan hệ giữa thế giới người sống (dương) với thế giới người chết (âm) Trongnghệ thuật dân gian, bộ phận nghệ thuật thanh sắc thể hiện triết lý âm dương ở giọng caluyến láy, ở nhạc cụ nhấn nhá và trong diễn xướng đối ca, đối tỷ; bộ phận nghệ thuật tạohình thể hiện triết lý âm dương trong hình thức trình bày cặp đôi, trong nội dung thể hiệnbiểu tượng âm dương… Đặc điểm nổi trội của của triết lý âm dương trong tổ chức đờisống cá nhân là tín ngưỡng phồn thực tồn tại lâu dài và thấm đượm trong mọi hoạt độngcủa người Việt, từ nghi lễ cho đến trò diễn,
của người Việt, từ nghi lễ cho đến trò diễn, trò chơi và sáng tạo nghệ thuật…trò chơi và sáng tạo nghệ thuật…
Triết lý âm dương trong ứng xử với môi trường tự nhiên thể hiện qua hai mặt hoạt
Trang 21động: tận dụng môi trường tự nhiên và ứng phó với môi trường tự nhiên Ở mặt tậm dụngmôi trường tự nhiên (ăn uống, chữa bệnh), người Việt luôn hướng tới sự quân bình âmdương giữa các nguyên liệu chế biến thức ăn, giữa thức ăn với cơ thể và giữa cơ thể vớimôi trường Cũng do ở xứ nóng nên cơ cấu bữa ăn của người Việt thiên về thực vật(nhiều rau, bột) - âm tính Mặt ứng phó với môi trường tự nhiên thể hiện trong việc mặc và
ở Mặc của người Việt cũng hướng tới sự quân bình bằng cách làm giảm cái nóng(dương) của thời tiết qua cách mặc thoáng mát Quân bình âm dương trong ở của ngườiViệt thể hiện qua việc chọn hướng nhà (hướng nam), chọn đất theo thuật phong thủy(tránh luồng khí, dòng nước ngưng tụ hoặc quá mạnh = quá âm hoặc quá dương), hướngtới sự hài hòa thiên – địa – nhân
Triết lý âm dương trong ứng xử với môi trường xã hội cũng thể hiện qua hai mặthoạt động: tiếp nhận và đối phó Trên “cái nền”
hoạt động: tiếp nhận và đối phó Trên “cái nền” hài hòa âm dương thiên về âm tínhhài hòa âm dương thiên về âm tính, trong, trongứng xử với môi trường xã hội, ở mặt tiếp nhận, các hiện tượng văn hóa ngoại lai (Phậtgiáo, Nho giáo, Đạo giáo…) được biến đổi theo hướng dung hợp (sự kết hợp giữa các tôngiáo với nhau và với tín ngưỡng bản địa, giữa lý với tình, giữa đạo với đời; biến thành cặpđôi dực – cái) – quân bình, trọng tình, nữ hóa Ở mặt phản kháng để tồn tại, với nhận thứctrong âm có dương, trong dương có âm, âm dương chuyển hóa
trong âm có dương, trong dương có âm, âm dương chuyển hóa , người Việt có cách ứng, người Việt có cách ứng
xử là hòa hiếu, tránh đối đầu, khi chiến thắng thì không lạm sát Và, khi bắt buộc phải tiếnhành chiến tranh thì vận dụng linh hoạt, tổng hợp, có niềm tin ở
hành chiến tranh thì vận dụng linh hoạt, tổng hợp, có niềm tin ở tương lai.tương lai
Ở khía cạnh tạo nên tính cách người Việt, triết lý âm dương là bộ phận quan trọngcủa nhận thức với vai trò là thế giới quan, nhân sinh quan Xuất phát từ nhận thứccủa nhận thức với vai trò là thế giới quan, nhân sinh quan Xuất phát từ nhận thức âmâmdương là gốc của mọi vật
dương là gốc của mọi vật nên người Việt luôn hướng tới sựnên người Việt luôn hướng tới sự quân bình âm dương quân bình âm dương Với Vớingười Việt,
người Việt, quân bình âm dương quân bình âm dương vừa biểu hiện cho sự hoàn thiện, viên mãn, màvừa biểu hiện cho sự hoàn thiện, viên mãn, mà vuông vuông tròn
tròn là một biểu tượng (là một biểu tượng (Vái trời cho đặng Vái trời cho đặng vuông trònvuông tròn – ca dao;– ca dao; BaBa vuông vuông sánh với bảy sánh với bảy tròn
tròn, đời cha vinh hiển, đời con sang giàu , đời cha vinh hiển, đời con sang giàu - tục ngữ), vừa được xem như là nguyên tắc- tục ngữ), vừa được xem như là nguyên tắcứng xử (
ứng xử (Đừng ăn quá miệng, đừng Đừng ăn quá miệng, đừng diện quá sang; Nhọn gãy, cứng nát diện quá sang; Nhọn gãy, cứng nát …tục ngữ).…tục ngữ)
Cũng từ sự nhận thức về âm dương chuyển hóa (Cũng từ sự nhận thức về âm dương chuyển hóa ( âm cực sinh dương, dương cực âm cực sinh dương, dương cực sinh âm
sinh âm) mà người Việt có lối sống) mà người Việt có lối sống thanh thản, lạc thanh thản, lạc quan (Không ai giầu ba họ, không ai quan (Không ai giầu ba họ, không ai khó ba đời -
khó ba đời - tục ngữtục ngữ ), ứng xử linh hoạt ), ứng xử linh hoạt vàvà khả năng thích nghi caokhả năng thích nghi cao (( Ăn theo thuở, ở theo Ăn theo thuở, ở theothì -
thì - tục ngữ).tục ngữ)
KẾT LUẬN
Triết lý âm dương ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa dân gian, nó góp phần tạo nênbản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, làm nên sức sống dẻo dai, bền bỉ và trường tồn củangười Việt Ngày nay, triết lý âm dương vẫn tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng trongnhiều lĩnh vực của đời sống Và gần đây, trong xu thế “phục hưng” các giá trị văn hóaphương Đông, triết lý âm dương cũng được chú ý nghiên cứu và vận dụng nhiều hơn,nhất là ở lĩnh vực nhân tướng học, kiến trúc và y học
Trang 22Song, trong bối cảnh đất nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế, nhiều điều trong nhận thức và ứng xử của người Việt –
hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều điều trong nhận thức và ứng xử của người Việt – vốn trướcvốn trướcđây là ưu điểm, nay cũng đã bộc lộ những hạn chế Đó là từ trọng sự quân bình, đưa đến
tư tưởng bình quân chủ nghĩa và thái độ nước đôi theo kiểu:
tư tưởng bình quân chủ nghĩa và thái độ nước đôi theo kiểu: hòa cả làng; dĩ hòa vi quý hòa cả làng; dĩ hòa vi quý ;;chín bỏ làm mười
chín bỏ làm mười Đó là bên cạnh sự linh hoạt, giỏi ứng phó là sự tùy tiện, đại khái, làm Đó là bên cạnh sự linh hoạt, giỏi ứng phó là sự tùy tiện, đại khái, làmkhông đến nơi đến chốn (cơ bản hoàn thành), và hậu quả của nó là nhiều công trình dang
dở, thiếu đồng bộ Tinh lạc quan cũng nhiều khi đưa đến sự tự mãn, thiếu thực tế Trọngtình cũng dẫn đến tình trạng đặt tình trên lý, coi thường pháp luật Vì vậy, bên cạnh việcnghiên cứu để thấy giá trị của triết lý âm dương, thì những hạn chế nêu trên cũng cầnđược nghiên cứu và có các giải pháp nhằm điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triểnđất nước trong tình hình hiện nay
Người post bài: Lê Thị Ngọc ĐiệpTrần Duy Khương Hiện tượng sử dụng ngôn từ tục dưới góc nhìn VHH09/08/2008
Trần Duy KhươngNăm sinh: 05.03.1981
ĐỀ TÀI LUẬN VĂN:
HIỆN TƯỢNG SỬ DỤNG NGÔN TỪ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6 Phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu, quy ước cách trình bày
7 Bố cục của luận vănCHƯƠNG MỘT: BẢN CHẤT VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NGÔN TỪ TỤC
1 Khái quát về ngôn từ tục1.1 Sự xuất hiện của cái tục Mối quan hệ giữa thiêng và tục