Không chỉ quan tâm đến nội dung và nghệ thuật ngôn từ, về văn học và văn hóa, về ý nghĩa của tập thơ trong sự phát triển chung của ngôn ngữ dân tộc,… phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI
TRONG “QUỐC ÂM THI TẬP”
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Thị Phương Thái
Thái Nguyên – 2016
Trang 2Xác nhận khoa chuyên môn Xác nhận của người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Phạm Thị Phương Thái
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Các thông tin, số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu lí luận
và tích lũy kinh nghiệm thực tế của tác giả Những kiến thức quý báu mà các thầy cô giáo truyền thụ, định hướng đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc tới
PGS.TS Phạm Thị Phương Thái – Trưởng khoa Văn – Xã hội, Đại học Khoa học –
Đại học Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Văn – xã hội, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học trường Đại học khoa học – Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè
đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hiền
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
1.1 Lí do khoa học 1
1.2 Lí do thực tiễn 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5.1 Mục đích nghiên cứu 8
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Bố cục của đề tài 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI 10
1.1 Phương thức ứng xử 10
1.1.1 Giới thuyết về phương thức ứng xử 10
1.1.2 Phân biệt văn hóa ứng xử và phương thức ứng xử……….14
1.2 Cơ sở hình thành phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi 14
1.2.1 Nền tảng khách quan khởi sinh phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi 14
1.2.2 Yếu tố chủ quan - bản thể hình thành phương thức ứng xử của Ức Trai 20
Chương 2 PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI VỚI BẢN THÂN, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG “QUỐC ÂM THI TẬP” 26
2.1 Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với bản thân 26
2.1.1 “Xuất – xử”, niềm trăn trở khôn nguôi 26
2.1.2 Phương châm “danh chăng chác, lộc chăng cầu” 29
2.1.3 Ứng xử của Nguyễn Trãi với thị phi, đắc – thất 39
2.1.4 Vuông mình theo đạo “trung dung” 46
2.1.5 Ứng xử với khát vọng cá nhân 49
2.2 Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với gia đình 57
Trang 62.2.2 Con – mối quan ái sâu sắc 60
2.3 Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với cộng đồng 63
2.3.1 Với láng giềng, bầu bạn 63
2.3.2 Với “đồng bào cốt nhục” 65
2.3.3 Với bậc quân thân 69
Chương 3 PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRONG “QUỐC ÂM THI TẬP” 77
3.1 Thiên nhiên qua con mắt ẩn sĩ 78
3.1.1 Coi thiên nhiên như tri âm, tri kỉ 78
3.1.2 Tìm đến những thanh thú với thiên nhiên 81
3.1.3 Thiên nhiên đánh thức phần thanh cao trong tâm hồn ẩn sĩ 86
3.2 Thiên nhiên qua con mắt bậc quân tử 88
3.3 Thiên nhiên qua con mắt “lão nông tri điền” 94
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 105
Trang 7bộ mặt thứ hai, thể hiện tầm văn hóa, trí tuệ, tính cách đồng thời cũng là thước đo giá trị của con người
Văn hóa ứng xử của con người luôn có xu hướng xê dịch theo thế cân bằng với
xã hội, mỗi thời đại lại có chuẩn mực ứng xử khác nhau Thời kì phong kiến con người chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cả ba luồng tôn giáo: Nho, Phật, Đạo Hiện tượng
“tam giáo đồng nguyên” đã dẫn đến những giao thoa trong việc chọn lẽ ứng xử: với xã hội, họ vận dụng triệt để lẽ “xuất – xử; hành – tàng”; với con người, họ hành lễ theo
“tam cương, ngũ thường”, theo đạo “trung hòa”; với thiên nhiên, họ thi ứng theo
nguyên lí “thiên địa vạn vật nhất thể” Nguyễn Trãi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thời trung đại, cả ba tôn giáo trên đều ít nhiều có tác động đến việc lựa chọn cách ứng xử của ông
Được viết vào những năm tháng cuối đời, sau bao thăng trầm, biến cố của bản thân và thời đại lịch sử, với chiêm nghiệm xương máu, “Quốc âm thi tập” như tập “đại thành” phản ánh trọn vẹn, đa chiều nhất con người cá nhân Nguyễn Trãi Tập thơ thể hiện sâu sắc phương châm ứng xử của Nguyễn Trãi trong các mối quan hệ với xã hội, với giới tự nhiên và từ đó người đọc có thêm một phương quan tri nhận con người ưu
tú ấy Đây chính là điều thu hút chúng tôi lựa chọn đề tài “Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi trong “Quốc âm thi tập”
1.2 Lí do thực tiễn
Ứng xử là vấn đề muôn thủa của nhân loại Trong xã hội hiện đại, với nền kinh tế thị trường, ứng xử càng ngày càng bị xem nhẹ Nét đẹp văn hóa ứng xử của người Việt đang bị ăn mòn Đâu đó có những nơi, các mối quan hệ rường cột trong gia đình bị phá vỡ, ngoài xã hội người với người càng ngày càng thờ ơ, vô cảm
Trang 8Nhiều vụ án lớn nhỏ xảy ra liên tiếp hàng năm và vấn đề gốc rễ phải chăng bắt nguồn
từ sự đứt gãy trong cách ứng xử của con người? Làm thế nào để nối lại rồi khơi ấm lên mạch nguồn văn hóa tốt đẹp trong truyền thống ứng xử của người Việt? Để xã hội tốt đẹp hơn, “Người yêu người sống để yêu nhau”? “Ôn cố tri tân” là một lí do để chúng tôi có thêm động lực tiến hành nghiên cứu đề tài về phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi
Với vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà, Nguyễn Trãi là một tác gia văn học lớn được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông Tiến hành nghiên cứu vấn đề phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi sẽ ít nhiều góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy về tác gia văn học này
Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài khoa học: “Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi trong “Quốc âm thi tập” để tiến hành nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ là người và thơ là đời Được coi như tập thơ khởi nguyên cho nền thi ca dân tộc viết bằng chữ Nôm, “Quốc âm thi tập”, một lát cắt về đoạn đời ẩn cư đất Côn Sơn đầy tâm sự của Nguyễn Trãi, thật sự đã thu hút sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Không chỉ quan tâm đến nội dung và nghệ thuật ngôn từ, về văn học và văn hóa, về ý nghĩa của tập thơ trong sự phát triển chung của ngôn ngữ dân tộc,… phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi trong tập thơ cũng là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm
Dương Bá Cung trong bài “Tựa Ức Trai di tập” cũng viết những lời bình luận
về ứng xử của bậc chân Nho Nguyễn Trãi trước cám dỗ của lợi danh “khi quân Minh sang xâm lược nước ta, lòng ông chỉ băn khoăn với nước nhà, dù người Minh lấy quan cao chức trọng để câu dử, ông cũng không chịu đến” [30,348] Rồi lại thương tiếc cách
xử trí vì tận trung mà quên mất lẽ khôn khéo phòng thân đẩy ông đến họa chu di “Xem ông giúp việc hai đời, đem hết lòng trung mà khuyên vua điều phải, tuy thường bị đè nén mà không từng chịu khuất Ở trong cảnh ngộ như Giáng Quán cần phải có nhiều cách xử trí khôn khéo công phu, mà ông lại không rõ cái lẽ “chỉ túc”, thành ra cuối cùng không được trọn tiếng tốt, thương thay!” [30,350)]
Trang 9Vẫn tiếp tục nhìn nhận luồng tư tưởng có ảnh hưởng đến ứng xử của Nguyễn Trãi, trong bài viết “Tư tưởng của Nguyễn Trãi”, Nguyễn Thiên Thụ đã khẳng định do ảnh hưởng của thuyết “thiên mệnh” nên: “Mọi sự thành bại, giàu sang phú quý hay đói rách nghèo hèn đều do mệnh trời sắp đặt…Với niềm tin đó, Nguyễn Trãi bao giờ cũng
an nhiên tự tại, dù gặp thất bại cũng không khổ đau, dầu gặp thành công cũng không tự
đắc” [16,152] Nguyễn Trãi luôn đề cao cách ứng xử của đạo lễ nhà Nho với “tam
cương, ngũ thường”: “Nguyễn Trãi luôn hướng đến bổn phận thiêng liêng đối với gia
đình và tổ quốc Khi ra làm quan, khi về ở ẩn lúc nào Nguyễn Trãi cũng tâm niệm đến hai chữ trung hiếu” [16,155] Với nhân dân bần vi, ông luôn có cách ứng xử thấu tình, đạt lí “Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng của chủ trương “quân vi khinh, dân vi quý” Kẻ sĩ phải lắng nghe tiếng nói của quần chúng, phải hành động theo ý nguyện của đại đa số dân chúng và nhất là phải thu phục được tình cảm của dân chúng” [16,160] “Xuất – xử” là hai lẽ sống luôn giằng co, lúc u lúc minh trong con người Nguyễn Trãi, nên khi
thời thế rối ren cách ứng xử của Nguyễn Trãi là chọn cách “thanh tĩnh vô vi”, coi “đời
là giấc mộng và công danh phú quý như sương đầu ngọn cỏ” [16,163]
Vẫn tiếp tục mối giằng co giữa “xuất –xử”, nhà phê bình hiện đại - Hoài Thanh
trong bài viết “Một vài nét về con người Nguyễn Trãi qua thơ Nôm” đã thấm thấu
điểm cơ bản trong cách ứng xử của Ức Trai: vì một “tấm lòng son” mà “ Ông không
chịu bỏ cuộc, ông kiên trì bám trụ Ông giữ vững khí tiết, giữ vững lòng ưu ái, giữ vững niềm tin và mặc dù chịu đủ điều tủi cực vẫn nhân hậu với người, chan hòa với cảnh, vẫn luôn luôn bình tĩnh ung dung”[ 18,717] Nhất quán trong cách ứng xử với quân thân và nhân dân bần vi, Hoài Thanh nhận thấy mối ưu ái của Nguyễn Trãi với
“những người cùng khổ, một tấm lòng như nước triều ngày đêm cuồn cuộn, một tấm lòng luôn luôn nóng bỏng như lửa trong lò…vượt xa Trương Lương và tất cả những người tu tiên học đạo” [18, 706]
Bùi Văn Nguyên trong lời tựa “Quốc âm thi tập”, nhận định cách ứng xử của Nguyễn Trãi là “triết lí tình thương bao la của ông, bao gồm người và cảnh, người và
tự nhiên, người và vật” [13,16] Và ông đặc biệt “có ý thức về đạo làm người chân chính, giữ đúng vị trí “linh vật trưởng” của muôn vật mà yêu thương chủng loại riêng mình đã đành, mà còn thương yêu cả cảnh vật thiên nhiên, cả muôn vật, coi trọng hạnh phúc chung, coi trọng phong cảnh chung” [13,17] Quan niệm ứng xử của Nguyễn Trãi
Trang 10không cứng nhắc mà “nóng nảy với những ai bảo thủ, ngoan cố, còn bình thường thì lại hiền hòa, bao dung như vị tiên trên trần” [13,17]
Giáo sư Lê Trí Viễn lại đứng trên bình diện của lịch sử để đánh giá khách quan con người cũng như tư tưởng của Nguyễn Trãi Trong bài viết “Nguyễn Trãi, nhìn từ phía Lý – Trần”, giáo sư nhận định về cách ứng xử của Nguyễn Trãi tạo nên
“phong cách sống: vừa làm việc hết mình cho dân cho nước, nhưng lòng bao giờ cũng sạch, nhẹ như kẻ xuất gia, không hề nặng danh lợi của kiếp trần, mà cũng vừa biết sống lành mạnh vui tươi giữa cuộc sống nông thôn lao động, với mọi cảnh vật thiên nhiên” [40,65]
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu dưới góc nhìn văn hóa trong bài viết “Nguyễn Trãi và Nho giáo” cũng đề cập đến những vấn đề xoay quanh ứng xử của con người phận vị ở Nguyễn Trãi Với bổn phận của một bề tôi “Suốt đời Nguyễn Trãi làm việc với tinh thần nhập thế có trách nhiệm, luôn để ý đến nhân dân, lo trước điều lo của thiên hạ” [18,99] Với bổn phận làm cha, Nguyễn Trãi chọn cách răn dạy con cái bằng những tâm huyết đúc rút theo suốt đường đời thăng trầm của mình “Ông khuyên không nên sợ nghèo, không nên tham lợi, tham giàu…quý hơn của cải là đạo đức…cũng cần phải có học, có nghề và có tài” [18,103] Nguyễn Trãi “khuyên anh em nên thương yêu nhau”; “trong hương đảng đừng đua huyết khí mà gây gổ cạnh tranh
mà làm mất lòng người”; “hiếu với cha, trung với vua nhưng không phải tinh thần
“quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” như của Nho giáo cứng nhắc” [18,105] Với phận vị của bậc làm quan giữa triều, Trần Đình Hượu cũng nhìn thấy cách ứng xử linh hoạt của Nguyễn Trãi “đối với đám triều quan, ông chỉ thấy chông gai, sóng gió, lòng người hiểm sâu phải lo gìn giữ và tìm cách xa lánh, thì đối với thiên nhiên ông lại hết sức cởi mở, trân trọng, thân thương” [18,108] Như lời tổng kết trong bài viết của mình, Trần Đình Hượu khẳng định cách ứng xử của Nguyễn Trãi cơ bản “lấy con người tự nhiên, tự do tự tại làm cơ sở cho một thái độ sống vì đời, làm việc thiện cho nhau, có quan hệ đầm ấm với nhau đồng thời đảm bảo thú vui riêng” [18,114]
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong cuốn “Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến giải mã nghệ thuật” bàn về “Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi”
đã đề cập đến hầu hết mọi lẽ ứng xử cơ bản nhất của Nguyễn Trãi Với bậc quân thân dù: “Tìm về núi cũ, hay lên tiên, hay yên tâm với việc cày nhàn câu vắng…bằng cách
Trang 11nào đi nữa thì rút cục Nguyễn Trãi cũng không quên được mọi chuyện của cõi trần” [3,126] Cả việc ứng xử trong mối quan hệ thường nhật với người thân với hàng xóm láng giềng và bản thân cũng được giáo sự đề cập “Thời kỳ ở ẩn Côn Sơn, ông già Ức Trai ít nhiều có cái phận sự thông thường của người làm cha làm mẹ Ông gợi ý cho con cháu, cho hàng xóm láng giềng, và có lẽ cũng là gợi ý cho mình, về một phương châm sống… “hòa hảo, nhân ái”.[3,128] Còn với thiên nhiên trong những ngày cáo quan ở ẩn cũng được giáo sư nhận định “Nhà thơ dựng lên một cảnh sống bầu bạn, trong đó không phải chỉ có một con người lặng thinh trước cảnh vật mà là những tâm hồn bên cạnh những tâm hồn yêu thương, quấn quýt, cảm thông lẫn nhau” [3,132] Nguyễn Huệ Chi đã nhận xét “Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ta bắt gặp một cuộc đời khác hẳn, một cuộc đời đạm bạc, cảnh vật dàn trải ra mênh mông và trong cảnh đất trời phóng khoáng ấy, nổi bật lên hình ảnh tiên cốt của nhà thơ quấn quýt lấy trăng, gió và thông” [3,113]
Viết về “Con người cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi”, Trần Đình Sử lại đi tìm hiểu xem ý thức cá nhân của Nguyễn Trãi chi phối đến phương thức xử của ông ra sao, và cả sự dung hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích dân tộc: “Ý thức cá nhân ở đây biểu hiện thành ý thức tự khẳng định, chống hòa đồng với thói phàm, đứng ngoài cõi tục Ý thức này quyện chặt với ý thức nghĩa vụ, sứ mệnh…lý tưởng làm việc lớn, ích quốc lợi dân, chứ không phải lợi cho cái tôi nhỏ bé của mình, không phải đua chen, cạnh tranh, cơ hội” [18,727]
Kiều Văn trong cuốn Thơ văn Nguyễn Trãi đã viết về cách ứng xử của ông trên
các chặng đường khác nhau Khi giữ cương vị triều chính “Không một giây phút nào Nguyễn Trãi không tha thiết mang tất cả nghị lực và tài năng, tất cả tâm hồn và tình cảm để cống hiến, phụng sự cho đất nước và dân tộc” [36,14] Còn khi lui mình về ở
ẩn tại Côn Sơn “Ông đã xử thế bằng cách hòa nhập vào thiên nhiên Chúng ta thấy ông
hiện lên như một tiên ông, một vị thánh hiền giữa núi non, mây nước, cỏ cây, chim muông Tâm hồn ông, thoát khỏi những chốn “cửa mận tường đào” đầy bon chen và bụi bậm, càng trở nên cao khiết và đáng kính” [36,16] Thậm chí, tác giả còn nhìn thấy mối lo cao quý của Nguyễn Trãi cả khi lâm triều lẫn khi đã lui về ở ẩn “Cái mối lo cao quý của bậc nho thần trung trực khi ngồi cao ở miếu đường thì lo lắng vì dân, khi xa
Trang 12lánh ở giang hồ thì lo lắng vì vua” [36,15] Một con người luôn cánh cánh trong lòng nỗi quân, dân
Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn trong cuốn “Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX” đã quan tâm đến sự ảnh hưởng của tư tưởng – chính trị trong sáng tác của Nguyễn Trãi, nhân cách vĩ đại cũng như tinh thần nhà Nho của Nguyễn Trãi từ đó khẳng định cống hiến của Nguyễn Trãi đối với nền văn học nước nhà Trong phần bàn
về “Nhân cách Nguyễn Trãi”, tác giả đã chỉ ra mối quan ái trong phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi “Chú ý nhiều đến đạo làm cha và đạo làm con chứ hầu như không đề cập đến các quan hệ xã hội khác” [30,328] Và khẳng định “Trước sau như một, Nguyễn Trãi vẫn kiên trì đạo trung hiếu, vì trung hiếu là điều kiện để lo cho dân cho nước” [30,331]
Có một công trình nghiên cứu khá sâu sắc về ứng xử của Nguyễn Trãi, đó là luận văn thạc sĩ về văn hóa của Trần Thị Thanh Bình trường ĐH KHXH và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Phạm vi vấn đề nghiên cứu khá rộng: toàn bộ những gì liên quan đến ứng xử của Nguyễn Trãi trên phương diện văn hóa như: với văn hóa Trung Hoa (trên cả mặt ứng phó và tiếp biến); với văn hóa Việt Nam (trong việc ứng xử với
môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) Mục tiêu của đề tài này là: thông qua tìm
hiểu về văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi trên hai trục quan hệ chính là quan hệ với các
nền văn hóa bên ngoài (tiêu biểu là với văn hóa Trung Hoa) và quan hệ trong nội bộ của nền văn hóa dân tộc, để làm rõ hai luận điểm chính sau: Trong một thời đại đầy
biến động, có tính chất bản lề của lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã kế thừa và phát huy một cách xuất sắc truyền thống văn hóa dân tộc trong quan hệ với Trung Hoa Trong nội bộ của nền văn hóa Việt Nam, Nguyễn Trãi đã có những đóng góp xuất sắc, góp phần quan trọng vào việc phát triển và nâng nền văn hóa dân
tộc lên một tầm cao mới Và rõ ràng vấn đề được làm sáng tỏ trong đề tài khoa học này
là sự củng cố vững chắc cho ý kiến đánh giá về Nguyễn Trãi “nhà văn hóa lớn của dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới” Trong luận văn này, tác giả đã nghiên cứu văn hóa ứng xử của Nguyễn Trãi với cứ liệu là toàn bộ các sáng tác của ông chứ không riêng gì “Quốc âm thi tập”
Có thể thấy các công trình đi trước đã ít nhiều đề cập đến vấn đề về tư tưởng chi phối đến cách ứng xử của Nguyễn Trãi với bản thân, với môi trường xã hội và môi
Trang 13trường tự nhiên để thấy được tư tưởng, trí tuệ, tâm hồn, bản lĩnh của Nguyễn Trãi, đồng thời bước đầu cho thấy sự linh hoạt trong lựa chọn cách thức ứng xử của tiên sinh Đây chính là những gợi ý để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu “Phương thức
ứng xử của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy vấn đề phương thức ứng xử của con người làm cơ sở nền tảng để từ đó tìm hiểu cặn kẽ phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với bản thân, với môi trường xã
hội và môi trường tự nhiên trong “Quốc âm thi tập” Qua đó, ta nhận thấy phương thức
ứng xử linh hoạt, mềm dẻo, lúc buông lúc giữ vô cùng đắc dụng của Ức Trai tiên sinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khoa học lấy văn bản “Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập” của tác giả Phạm
Luận phiên âm và chú giải, Nxb Giáo dục, Hà Nội xuất bản năm 2012 làm tư liệu nghiên cứu và đi sâu tìm hiểu các vấn đề liên quan đến phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên
Để phục vụ cho việc tìm hiểu đề tài, chúng tôi cũng sử dụng một số tài liệu, bài viết cũng như các bài nghiên cứu có liên quan đến vấn đề ứng xử của Nguyễn Trãi
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng những phương pháp sau để tiến hành nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: tổng quan những vấn đề lý thuyết có liên quan đến truyền thống ứng xử của dân tộc và con người trung đại Việt Nam nói chung cũng như những vấn đề lý thuyết có ảnh hưởng đến phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi nói riêng
- Phương pháp tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm văn học để thấy được văn hóa ứng xử của con người trung đại có ảnh hưởng như thế nào đến Nguyễn Trãi khi viết
“Quốc âm thi tập”
- Phương pháp tiếp cận xã hội học để thấy sự ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử,
xã hội đến cách thể hiện phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi trong “Quốc âm thi tập”
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học đối với tác phẩm văn học để tìm hiểu nội
Trang 14dung cũng như nghệ thuật của “Quốc âm thi tập”
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp
vi lạc đạo và cả những khát vọng cuộc đời được thể hiện trong “Quốc âm thi tập”, từ
đó có cái nhìn sâu sắc hơn về cốt cách, tâm hồn, trí tuệ của bậc vĩ nhân Nguyễn Trãi
Mục đích thứ hai mà đề tài cũng muốn hướng tới đó là “ôn cố tri tân” Phương thức ứng xử không chỉ là vấn đề xưa của Nguyễn Trãi mà đó còn là vấn đề trường nguyên của nhân loại Nên mong muốn của những người làm đề tài chúng tôi là thế hệ hôm nay sẽ sàng lọc được những kinh nghiệm hữu ích từ phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi để vận dụng vào cách ứng xử của mình trong cuộc sống hiện đại Như nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên đã nhận định: “Chỉ sợ chúng ta quá hãnh diện về máy móc mà chưa theo kịp tổ tiên của mình về vị trí làm người mà thôi Đó là tất cả tâm tư Nguyễn Trãi gửi lại chúng ta, những con em đất Việt, trong tập thơ Quốc âm của mình” [14,21] Bởi một chân lí hiển nhiên, còn tồn tại, còn sống ngày nào chúng ta còn
ấp lòng bài học ứng xử ngày đó
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, đề tài khoa học cần thực hiện được nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu rõ cơ sở nền tảng văn hóa, xã hội, chính trị khách quan cũng như yếu
tố bản thân chủ quan bên trong hình thành nên phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi
Chỉ rõ cách thức thể hiện trong ứng xử mà Nguyễn Trãi đặt ra cho bản thân mình cũng như với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên trong “Quốc âm thi tập” Qua đó, để ta thấy được chân dung con người Nguyễn Trãi
Trang 15Đúc rút được những bài học ứng xử cho con người hiện đại thông qua phương châm xử thế mà Nguyễn Trãi đã thể hiện trong tập thơ Nôm của ông
6 Đóng góp của đề tài
Trong hệ thống dày dặn các công trình nghiên cứu khoa học về Nguyễn Trãi, đặc biệt những bài nghiên cứu có đề cập đến phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi, khi tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn đóng góp thêm một góc nhìn
về Nguyễn Trãi, đứng từ phương thức ứng xử để định giá lại một lần nữa những lựa chọn cam go nhưng rất thông tuệ và đầy tâm huyết của tiên sinh trước thời đại và lịch
sử Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi như một gợi dẫn cho chúng ta làm sao để vừa cống hiến lại vừa thỏa mãn những khát vọng cá nhân và luôn tìm được niềm vui trong mọi thế cảnh cuộc đời
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc đề tài được
triển khai làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi
Chương 2: Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với bản thân, gia đình và
cộng đồng trong “Quốc âm thi tập”
Chương 3: Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với môi trường tự nhiên
trong “Quốc âm thi tập”
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI 1.1 Phương thức ứng xử
1.1.1 Giới thuyết về phương thức ứng xử
Không ai có thể tồn tại ngoài cộng đồng và môi trường sống, điều đó tạo nên mối liên hệ, ràng buộc qua lại mà ta quen gọi là “xã hội” Để nhận định đánh giá khách quan một cá nhân cần phải đặt họ trong mối tương tác với thế giới xung quanh Thước
đo chuẩn mực có lẽ là cách con người quan hệ với ngoại giới hay chính là ứng xử
“Ứng xử là thể hiện thái độ, hành động thích hợp trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác” [15,1395] Ứng xử là nét riêng biệt chỉ có ở xã hội loài người Ứng xử thể hiện trình độ văn minh của cộng đồng và văn hóa của mỗi con người Từ thái độ, suy nghĩ con người thể hiện ra bên ngoài bằng hành động Từ kênh thông tin: thái độ và hành động - người ta sẽ định giá cách ứng xử của mỗi cá nhân Ứng xử đơn thuần không chỉ thể hiện mối quan hệ thân sơ, yêu ghét mà còn thể hiện tầm trí tuệ, năng lực cá nhân thậm chí là bản lĩnh sống Vì thế, trước một hoàn cảnh, một vấn đề, cùng một đối tượng…mỗi người lại có cách ứng xử khác nhau
Con người có sự tương tác thường xuyên với xã hội và giới tự nhiên Tất nhiên, trong hai mối quan hệ ấy, người ta đặc biệt chú trọng quan hệ giữa con người với con người, vì nó thể hiện sắc nét nhất nghệ thuật sống của mỗi cá nhân Quan hệ xã hội được chia thành năm cấp độ khác nhau: gia đình, làng xóm, quê hương, quốc gia và nhân loại Còn quan hệ với giới tự nhiên thường ta chỉ đề cập đến tác động tích cực hay tiêu cực của con người Mỗi người có thể chọn cho mình một cách ứng xử mà họ tâm đắc và từ đó nhân cách được hình thành và soi sáng Từ đó con người rút ra bài học ứng xử với bản thân để đạt được thành công trong cuộc sống
Ứng xử, giao tiếp của con người là hoạt động có ý thức, vì thế ngay khi tiến hành hoạt động đó, con người đồng thời cũng đặt hàng loạt các đích giao tiếp Đích đầu tiên không thể thiếu của ứng xử, giao tiếp là trao đổi thông tin, đó chính là nhu cầu
Trang 17hối thúc con người tiến hành hoạt động này Bên cạnh đó, thông qua hoạt động giao tiếp ứng xử con người bộc lộ cảm xúc, thái độ của mình, cũng là để nhận thức và đánh giá lẫn nhau Mặt khác, ứng xử, giao tiếp còn có thể coi như một tấm gương để mỗi cá nhân soi vào đó mà tự điều chỉnh hành vi của mình
Tiến hành giao tiếp ứng xử như thế nào để hiệu quả giao tiếp cao nhất, được cho ta mà không hại cho người Câu trả lời nằm trong phương thức ứng xử bởi người xưa có câu “Ác đúng chỗ là thiện, thiện sai chỗ thành ác” Chọn cho mình lẽ xử thế hợp cảnh để đạt đến đức nhân là mong muốn của mỗi người Chính vì thế, phương thức ứng xử luôn được con người trong mọi thời đại xem trọng và đưa ra những giới thuyết hợp lý nhất
“Phương thức là cách thức và phương pháp tiến hành nói chung” [15, 1021] Nói đến phương thức người ta thường nhấn mạnh đến cách thực hiện để đạt được cái đích đã đề ra Với ứng xử, thông thường người ta thường đề cập đến biểu hiện của hành vi ứng xử để định giá chủ thể của hành vi ứng xử Nhưng với phương thức ứng
xử thì người ta chú trọng đến việc thực hiện như thế nào Hay nói cách khác, phương pháp nào được vận dụng trong hành vi ứng xử Từ phương pháp và cách thức ấy, dần
dà người ta đi tìm ra quy luật ứng xử và đó là những thông tin cần thiết để giải mã những tâm hồn, tính cách, trí tuệ, bản lĩnh của chủ thể giao tiếp
Từ hai khái niệm “ứng xử” và “phương thức”, ta có thể hiểu phương thức ứng
xử như sau Phương thức ứng xử là cách thức, phương pháp thể hiện thái độ, hành động trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác, với môi trường, hoàn cảnh sống…Từ đó khẳng định tầm trí tuệ, bản lĩnh sống cũng như vốn hiểu biết và văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân
1.2 Phân biệt văn hóa ứng xử với phương thức ứng xử
Phương thức ứng xử và văn hóa ứng xử là hai khái niệm cận quan Để phân biệt được thì trước tiên ta cần hiểu “văn hóa ứng xử” là gì
Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng xin được viện dẫn khái niệm trong
Đại từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng
Trang 18tạo ra trong lịch sử” Những gì con người sáng tạo ra trên cái nền của tự nhiên và ứng dụng quay lại phục vụ chính con người đó chính là văn hóa Đôi khi văn hóa trở thành một thước đo để đánh giá con người trong xã hội
Văn hóa ứng xử là cách đối nhân xử thế thích hợp, đẹp đẽ giữa người với người trong cuộc sống Việc ứng xử có văn hóa không chỉ tạo nên nét đẹp cho từng cá nhân,
mà còn phản ánh bản sắc văn hóa của một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc Văn hóa ứng xử của mỗi quốc gia dân tộc khác nhau, thậm chí ngay cùng một đất nước mỗi vùng miền, mỗi thời kì cũng có những chuẩn mực văn hóa ứng xử khác nhau
Bảng 1.1: Phân biệt văn hóa ứng xử và phương thức ứng xử
Tiêu chí Văn hóa ứng xử Phương thức ứng xử
- Tính chung của quốc gia, cộng đồng, vùng miền
- Tính hiện đại, luôn luôn được làm mới, thay đổi, thậm chí có những trường hợp
đi ngược lại với quy tắc văn hóa ứng xử chung cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử,
trò làm nền tảng để sản sinh và định giá hành vi ứng xử của con người
- Phương thức ứng xử được sinh tạo trên cái nền văn hóa ứng xử chung của dân tộc
Trang 19- Văn hóa ứng xử có tác động một chiều đến phương thức ứng xử - tác động chi phối
- Phương thức ứng xử có tính tương tác qua lại: Chịu tác động của văn hóa ứng
xử, nhưng cũng tác động lại văn hóa ứng
xử (trong những trường hợp sự thay đổi của cá nhân phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của lịch sử, xã hội thì từ phương thức ứng xử riêng đó có thể ảnh hưởng và hình thành nên văn hóa ứng xử chung của cộng đồng, tất nhiên cần phải có thời gian) Điều này lí giải tại sao có các nhà văn hóa, danh nhân văn hóa
“hành vi ứng xử được biểu hiện như thế nào?”
- Trả lời cho câu hỏi “hành vi ứng xử được thực hiện bằng cách nào?”
Khi phân biệt được văn hóa ứng xử và phương thức ứng xử ta sẽ hiểu rõ hơn vấn đề được bàn đến trong luận văn - phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi Ở đây, ta nhấn mạnh đến tính động, tính linh hoạt, cái riêng, cái cá nhân trong ứng xử của Nguyễn Trãi trên nền văn hóa ứng xử chung của dân tộc, điều đó vừa thể hiện được bản sắc dân tộc lại vừa thể hiện bản lĩnh cá nhân của một con người tài trí lỗi lạc, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới
Phương thức ứng xử nói chung đề cao phương pháp, cách thức con người tiến hành giao tiếp Nhưng trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi một mặt xem xét khía cạnh Nguyễn Trãi đã lựa chọn cách ứng xử như thế nào đối với chính bản thân mình, với những người thân yêu trong gia đình, với cộng đồng xã hội để có thể vừa thỏa mãn khát vọng cống hiến của một con người phận vị nhưng cũng cố gắng để thỏa nguyện khao khát của cá nhân mình Bên cạnh đó, cách thức ứng xử của Nguyễn Trãi đối với thiên nhiên như thế nào cũng được đề cập để thấy được tình yêu thiên nhiên, sự nâng niu, trân trọng thiên nhiên hết mực của ông Từ phương thức ứng xử với con người và thiên nhiên ta nhìn thấu tâm can của con người “Sinh bất phùng thời, “Hoài tài bất ngộ” nhưng vẫn cống hiến hết thân, tâm cho dân cho nước
Trang 201.2 Cơ sở hình thành phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi
1.2.1 Nền tảng khách quan khởi sinh phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi
1.2.1.1 Truyền thống ứng xử của dân tộc
Mỗi dân tộc có nền văn hóa mang bản sắc riêng Trong dòng chảy ấy thì truyền thống ứng xử là yếu tố căn cốt cấu thành nên văn hóa quốc gia Dễ nhận thấy, không một quốc gia, dân tộc nào có văn hóa, truyền thống ứng xử giống nhau Việt Nam ta cũng có những truyền thống ứng xử tạo nên sự khác biệt, hấp dẫn riêng của so với các dân tộc khác trên thế giới Truyền thống là những thói quen, tư tưởng những giá trị văn hóa lâu đời đã hình thành trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống không chỉ là bản sắc của dân tộc mà nó còn là một yếu
tố quan trọng khẳng định chủ quyền độc lập:
“Sơn xuyên chi phong vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị.”
(Núi sông bờ cỡi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác) (Cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi)
Từ khi mới sinh, mỗi người con đất Việt được tắm đẫm trong bầu sữa văn hóa Các bậc cha mẹ luôn tâm niệm dạy con cách ứng xử: “Tiên học lễ, hậu học văn” (Tục ngữ) Ứng xử là bài học “vỡ lòng” thiết yếu, cần có trước việc học “chữ” Truyền thống ứng xử của con người Việt Nam rất đa dạng nhưng ta có thể quy về các mối quan hệ cơ bản
Trước tiên là ứng xử trong gia đình Người Việt đặt việc thi lễ trong gia đình theo khuôn chuẩn đạo hiếu, chú trọng đến kính lễ của con cái với cha mẹ Làm con phải đặt ơn cha nghĩa mẹ làm đầu:
"Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" (Ca dao)
Kinh nhà Phật từng dạy: "Có hai hạng người, này các Tỳ kheo, ta nói không thể trả ơn được đó là mẹ và cha" Tình cảm nào rồi cũng nhạt phai với thời gian, chỉ có cha mẹ thương con là ngàn năm bất tận Ngẫm trên đời, quy luật chung trong mối quan
hệ giữa người với người là “cho” và “nhận” Nhưng chỉ duy nhất một thứ tình cảm đi
Trang 21ngược lại quy luật ấy là tình yêu thương của cha mẹ giành cho con mãi cho đi không mong nhận lại:
" Cha mẹ thương con biển hồ lai láng
Con thương cha mẹ tính tháng tính ngày" (Ca dao)
Công ơn cha mẹ, không ngôn từ nào kể hết, vì vậy con cái đều có ý thức hiếu lễ với bậc sinh dưỡng ra mình Đó là nét văn hóa ứng xử đẹp nhất trong gia đình của mỗi người con đất Việt Tất cả các đức rường cột của xã hội đều quy về chữ Hiếu:
“Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Hòa, Hỏi trong ba chữ, thờ cha chữ nào?
Chữ Trung, thì để thờ cha,
Chữ Hiếu thờ mẹ, chữ Hòa thờ anh” (Ca dao)
Chữ hiếu là nền tảng văn hóa ứng xử trong gia đình Và cũng có thể coi đây là cội nguồn lối sống “duy tình” của người Việt Nam khi ứng xử ngoài xã hội
Trọng tình là một nét đẹp trong phép ứng xử của người Việt Nam với những người xung quanh Nền văn hóa nông nghiệp thuần hậu, việc nhỏ trong nhà bảo
nhau, việc lớn trông cậy hàng xóm “Láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” nên ông cha
ta nhắn nhủ “Bán anh em xa mua láng giềng gần” Dù không thân thiết nhưng trước
lạ sau quen và tình nghĩa xóm làng là thứ cũng cần được bồi vun, xây đắp:
“Áo năng may năng mới, người năng chào năng thân” (Thành ngữ)
Mỗi đất mỗi lề, mỗi quê mỗi thói nhưng khi đã thành láng giềng thì các cụ ta khuyên:
“Mỗi người mỗi đạo thì tuỳ
Miễn sao có ngãi có nghì với nhau” (Ca dao)
Bởi cuối cùng, cái còn lại giữa con người với con người vẫn là nghĩa xóm, tình làng Tuy nhiên để phân định rõ các mối quan hệ đa diện của xã hội với người trên kẻ dưới thì lại có những chuẩn mực ứng xử cụ thể:
“Yêu trẻ trẻ đến nhà
Kính già già để tuổi cho” (Thành ngữ)
Trang 22Chữ “hòa” trong quan hệ ứng xử của người Việt Nam là tiêu đích chung Trong
gia đình ai cũng mong “Trên thuận dưới hòa” (Thành ngữ), ngoài xã hội tất cả đều vui khi “Hòa cả làng” hay được cùng hội cùng thuyền “Xấu đều hơn tốt lỏi”(Thành ngữ)
Và ai cũng tâm niệm, trong mọi mối quan hệ thì “Dĩ hòa vi quý”(Thành ngữ) Nên hàng xóm láng giềng là những người lân cận để thể hiện đạo lý ấy và quan điểm
“Thương người như thể thương thân” (Tục ngữ) cứ thế hình thành rồi đi vào cuộc
sống Nét đẹp trong mối quan hệ láng giềng được cố kết, tạo nên văn hóa ứng xử của
con người trong mối quan hệ với quốc gia, dân tộc
Trong thời kì quân chủ phong kiến, chữ “trung” được đặt lên hàng đầu như bổn phận của cá nhân với đất nước Đất nước là của vua, nên yêu nước là trung với vua Và tư tưởng “Trung quân ái quốc” là cách ứng xử của mỗi cá nhân đối với quốc gia, dân tộc 1.2.1.2 Ứng xử của con người trung đại
Hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” có ảnh hưởng vô cùng sâu đậm đến văn hóa, phong tục, truyền thống của người Việt thời trung đại Cách ứng xử của con người thời ấy chịu ảnh hưởng sâu đậm của cả ba tôn giáo: Nho – Phật – Đạo Mỗi cá nhân lại chọn cho mình một tư tưởng làm chuẩn tắc ứng xử, tùy sở nguyện và vị thế xã hội Tuy nhiên, do đặc điểm chính trị của xã hội phong kiến, Nho giáo được áp dụng phổ biến trở thành luật pháp cai trị nên tầm ảnh hưởng vô cùng sâu rộng với đạo “tam
cương”, “ngũ thường”
“Tam cương” là một khái niệm chỉ những nguyên tắc đạo đức xã hội chung của nhà nước phong kiến “Cương vốn có nghĩa là cái giày lớn nhất của cái lưới – Cái chủ não” [1,68] Chính vì thế, người ta còn gọi “cương” là “giếng lưới” hay “giường lưới” để chỉ những thứ quan trọng nhất trong một cơ cấu tổ chức Cuộc sống thường ngày, mối quan hệ giữa người với người có thể phân định ra năm nhóm: Vua – tôi, chồng – vợ, cha – con, anh – em, bạn bè Trong năm mối quan hệ đó người ta lại chọn ra ba mối quan hệ cơ bản và quan trọng nhất – quan hệ rường cột, chi phối những mối quan hệ còn lại trong xã hội đó là: Vua – tôi, cha – con, chồng – vợ và gọi là “tam cương”
Trong mối quan hệ “vua – tôi” chữ “trung” đặt hàng đầu Các quốc triều phong kiến có luật bất thành văn nhưng vô cùng nghiêm ngặt: “Tôi trung không thờ hai chủ”,
“Tôi sáng không thờ hai vua” Khi các vương triều phong kiến có sự thay đổi thì đại đa
số quan lại dưới triều đại cũ không ra hợp tác với triều đại mới, cho dù vị vua mới có
Trang 23là bậc anh minh, thánh chúa Họ có thể tuẫn tiết, hoặc có thể trốn tránh việc đời mà đi
ở ẩn để giữ lòng trung Nếu có những con người thức thời, sẵn sàng chọn minh chủ mới họ sẽ vấp phải sự dè bỉu của xã hội
Mối quan hệ “cha – con” lại lấy chữ “hiếu” làm trọng Nho giáo răn dạy con người “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” (Khổng Tử) Muốn thành nghiệp lớn, đầu tiên phải là một con người mẫu mực trong gia đình mà chữ “hiếu” là cốt lõi Khổng Tử đã nói với Tăng Tử: “Này đây, hiếu là căn bản của đức, do giáo dục mà sinh ra…Này đây, chữ hiếu lấy việc phụng dưỡng cha mẹ làm đầu, kế đến thờ vua, sau rốt
là lập thân" Trọn đạo làm con với cha mẹ là hiếu Phụng dưỡng cha mẹ, thành kính lễ thảo là hiếu Làm cha mẹ hài lòng, vui vẻ, tin yêu là hiếu Biết phải trái, đúng sai của cha mẹ mà làm theo hay không làm theo là hiếu Khi cha mẹ mất chôn cất, cúng tế thành tâm là hiếu Giữ gìn danh dự, nề nếp gia phong là hiếu…Hiếu là nhân cách của con người, là gốc của nhân luân, là giá trị đạo đức xã hội cao quý của con người
Trong mối quan hệ vợ - chồng, Nho giáo đề cao tình nghĩa vợ chồng, không cho phép ngoại tình sau khi kết hôn Người vợ phải biết “Tam tòng, tứ đức”, ngược lại người chồng cũng không được lạm dụng uy quyền để hành hạ vợ (bởi như thế là hành
vi "Bất nhân, bất nghĩa")
“Tam cương” của Nho giáo đã ràng buộc mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Trải hàng ngàn năm phong kiến, đó là những quy định thi lễ giữa người với người và trở thành truyền thống dân tộc Là một con người đất Việt, lại sống trong
xã hội phong kiến nên tư tưởng đó thấm nhuần trong Nguyễn Trãi, ảnh hưởng đến cách đối nhân xử thế của ông Tuy nhiên, với những con người tài trí tuyệt vời sự phá
vỡ khuôn khổ xã hội, tạo nên những giá trị mới luôn có thể xảy ra như sự khẳng định cái tôi cá nhân và bản lĩnh sống
“Ngũ thường” cũng là một khung lễ giáo của xã hội phong kiến, hạn định cách
hành xử của con người “Thường là bình thường, thông thường, vĩnh hằng” [1,477]
Ngũ thường nghĩa là năm phẩm chất đạo đức thông thường của con người Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, không nên để rối loạn Ngũ thường gồm:
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
“Nhân” lại là đức tính quan trọng nhất trong “ngũ thường” Nhân ở đây hiểu là tính thiện sẵn có của con người, là tình yêu thương đồng loại, lòng khoan dung độ
Trang 24lượng Khổng Tử nói "Nhân là tính người, là kính yêu người trong thân tộc, yêu nhân
dân của mình” Biểu hiện của “nhân” ở các đức: tính cương trực, chí quyết đoán,
lòng chất phác, lời ăn tiếng nói cẩn trọng Đạo nhân là thước đo để đánh giá người
quân tử: "Người quân tử xa rời đạo nhân làm sao có thể xứng danh quân tử được”
(Khổng Tử) Đặc biệt đối với bậc thức giả “nhân” còn lẽ gốc rễ của lẽ xuất - xử của nhà Nho: có đức nhân thấy minh chúa phải ra phò giúp, thấy quân vương vô đạo thì lui về ở ẩn giữ mình
“Nghĩa” chính là cách cư xử của mình đối với người khác sao cho hợp lẽ phải,
đường hoàng, hào hiệp Tiêu chí của hành động đạt nghĩa trước tiên cần xem nó có hướng thiện hay không "Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều
lợi” (Khổng Tử) Đáng suy ngẫm về điều nghĩa cũng như sự sang hèn mà đạo Nho đã
răn dạy con người: "Nước nhà thái bình mà mình lại nghèo hèn, như vậy là đáng sỉ
nhục Nước nhà loạn lạc mà mình giàu có như vậy cũng là đáng sỉ nhục” (Khổng Tử) -
sống tùy thời phần nào cũng là đạo nghĩa
tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật Khổng Tử nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành loạn nghịch Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở
nên thô lỗ” Vì thế, “lễ” cũng là một tiêu chí để đánh giá bậc quân tử: "Người quân tử
giữ đạo lý nên đặc biệt coi trọng ba điều: Cử chỉ, dung mạo điềm đạm, dáng điệu
khoan thai, đàng hoàng sẽ giữ cho mình tránh thô bạo và phóng túng” (Khổng Tử) Cái
đích của “lễ” là đạt đến chữ “hòa” – thuận ta và thuận người sẽ tránh được mọi hệ lụy Sống đúng lễ con người sẽ đạt đức nhân
Con người sống không thể thiếu suy nghĩ và hành động hồ đồ, chính vì thế “trí”
là một trong năm đức lớn của con người Trí là óc khôn ngoan, sự sáng suốt, thông tuệ, biết phán đoán, tiên liệu mọi việc Cái trí của bậc quân tử là chỗ biết tùy thời, định thế,
có thể nhìn trước, tiên lượng được mọi việc, liệu thời thế mà tiến thoái, hành xử sao cho hợp lẽ Khổng Tử đã từng nói: "Ninh Vũ Tử, khi nước nhà yên ổn thái bình được tiếng là người có đức trí, khi nước nhà loạn lạc bị mang tiếng là ngu đần Trí như Ninh
Vũ Tử thì người khác có thể theo kịp, chứ còn giả ngu đần như Ninh Vũ Tử thì thiên
Trang 25hạ không có cách nào đuổi kịp" Suy cho cùng dùng trí nhìn nhận thời cuộc cũng là cách để con người hành xử hợp thời, đắc thế
“Nhân, lễ, nghĩa, trí” là những yếu tố quan trọng làm nên phẩm cách con người Nhưng để cho phẩm cách ấy phát triển thì “tín” chính là dung môi nuôi dưỡng Để
tín, không biết có thể làm gì được?” Nói ra phải làm, hứa hẹn phải thực hiện không để lời nói gió bay đó mới là người quân tử
Được tôn vinh là vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, Nguyễn Trãi
đã đi hết cuộc đời mình với đường bay của chim bằng qua giông bão lịch sử Đôi cánh
ấy được chắp bằng gốc “tam cương”, nội lực của “ngũ thường” Sải cánh ấy đã bị gục ngã bởi mũi tên oan khốc, thân thể ấy có thể bị tiêu hạ, con người ấy dẫu có chết ngàn
lần thì phẩm trí tuyệt vời của Nguyễn Trãi xứng đáng là bậc quân tử
1.2.1.3 Thời đại, xã hội với những “ngã ba lịch sử” đầy biến động
Người xưa nói “Thời thế tạo anh hùng” Ở một góc độ nào đó, câu nói ấy đúng Con người là một mắt xích luôn được đặt trong mối quan hệ tất yếu với xã hội, những biến động của xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời, vận mệnh cá nhân Một sự thật lịch sử minh chứng, đời thái bình, thịnh trị các anh hùng hào kiệt ít được tạo ra, nhưng càng thời loạn càng lắm anh hùng
Cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV, tình hình chính trị của công triều phong kiến Việt Nam có những biến động lớn lao Các triều đại lần lượt lật tẩy nhau và thoán ngôi đoạt vị Nhà Trần có những biểu hiện đớn hèn: gần như bất lực trước tình hình giặc Chiêm Thành, Chế Bồng Nga trở thành nỗi ám ảnh của vua tôi nhà Trần (Chúng không chỉ chiếm đóng các tỉnh phía Nam của nước ta mà còn liên tiếp đem quân ra tận kinh đô đốt phá) Trong khi đó, giặc Minh phương Bắc cũng lăm le xâm chiếm nước ta Nhà Trần khoanh tay đứng nhìn, thậm chí chống trả như hình thức dẫn đến thất bại tất yếu
Sứ mệnh lịch sử của nhà Trần đối với dân tộc gần như đã đến hồi kết Hồ Quý Ly là bề tôi của triều Trần, nhận thấy thực tế đó, đã tiến hành lật đổ nhà Trần, lập nên nhà Hồ Với tư tưởng rập khuôn “Quân trung không thờ hai chủ”, nhiều nho sĩ đã bất mãn với nhà Hồ Coi nhà Hồ là kẻ phản chủ, cướp ngôi Có hai xu hướng hành xử trong các nho
Trang 26sĩ: Một là lui về ở ẩn không hợp tác để tránh mang tai tiếng Hai là tập hợp nhau lại để chống nhà Hồ, thậm chí sang Trung Quốc dập đầu cầu cứu giặc Minh
Nhà Hồ lập nên với những cải cách hành chính thật sự cấp tiến, có thể coi như cứu cánh giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng bấy giờ Nhưng vì thù trong, giặc ngoài, và vua quan nhà Hồ lại không phải là các võ tướng mà là quan văn nên khi lãnh đạo đất nước về mặt quân sự không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Đặc biệt yếu tố căn cốt của một quốc gia là “dân” thì nhà Hồ lại không có nên đất nước rơi vào tay giặc Minh
Trước bao cuộc nổi dậy của nhân dân và những cuộc tàn tranh của nhà Trần nhằm khôi phục lại vương triều, giành lại độc lập chủ quyền, nhưng hoàn toàn thất bại,
Lê Lợi đứng lên tập hợp nghĩa quân – trên thuận ý trời, dưới được lòng dân, tiến hành cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi và đất nước chuyển sang triều đại hậu Lê
Dưới những biến động lớn lao của thời đại, các vương triều hưng vong, lập diệt,
đã sản sinh cho đất nước bao vị anh hùng: Nguyễn Phi Khanh, Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Lê Lợi, Lê Lai và Nguyễn Trãi Với giai đoạn đầy bão táp có thể coi như vòng xoáy của lịch sử, nếu gắng gượng, tỉnh táo sẽ vượt qua, còn không sẽ bị nhấn chìm trong thất bại Lịch sử là bánh xe nghiệt ngã, Nguyễn Trãi đã đi qua vòng quay của lịch sử, của số phận để trở thành vĩ nhân, anh hùng của thời đại và dân tộc
1.2.2 Yếu tố chủ quan - bản thể hình thành phương thức ứng xử của Ức Trai
1.2.2.1 Nguyễn Trãi – con người tiên tri thời loạn
Lần giở lại lịch sử, ta dễ dàng nhận ra cách ứng xử hoàn toàn khác biệt của Nguyễn Trãi với hầu hết các nhà Nho lúc bấy giờ Vậy, tại sao lại có sự lựa chọn phương thức ứng xử khác người, khác đời ấy? Trước tiên ta có thể khẳng định nhận thức và tư tưởng của Nguyễn Trãi xứng tầm là nhà “tiên tri thời loạn”
Các bậc tể tướng hiền tài, chúa thánh minh ở bất kì thời đại nào cũng có một ưu cảm là khả năng tiên lượng chuẩn xác, đoán đặt lộ trình vận hành của lịch sử Điều này
ở Nguyễn Trãi, ta nhận ra qua những điểm khu biệt của ông với những người cùng giai tầng, giai đoạn Mấy đời gia tộc họ Nguyễn ăn lộc nhà Trần, làm tôi nhà Trần, nhưng Nguyễn Trãi đã không cho phép mình là một ngu trung, mù quáng, lẵng đẵng đi theo triều Trần khi nó có những dấu hiệu suy vong và chính nhà Trần cũng không hề trọng
Trang 27dụng Nguyễn Trãi Khi Hồ Quý Ly lật đổ vương triều Trần, lập nên nhà Hồ, Nguyễn Trãi đã không “vô minh” mà chống đối theo đại đa số quan lại nhà Trần và nhân dân Hơn cả sự “tiên tri”, chắc hẳn Nguyễn Trãi đã nhìn nhận, đánh giá rất kĩ lưỡng, công minh để thấy những việc làm, hàng loạt những cải cách cấp tiến của Hồ Quý Ly thật
sự cần thiết để vực dậy vận thế đất nước thời điểm đó như: đổi tiền kim ra tiền giấy, làm sổ hộ tịch, hạn chế gia nô, lập kho dự trữ thóc gạo, định lại quan chế và hình luật, thuế và tô ruộng, lập cơ quan chăm sóc y tế…Nhưng tại sao, các bậc nho thần học sĩ lại không ủng hộ, dân chúng lại không tin nghe? Tất cả chỉ vì “cái mũ nhà nho” làm cho lu mờ, vì dân chúng nông nổi, tất cả đều áp Hồ Quý Ly vào cái thước của lễ giáo phong kiến và chụp mũ “phản chủ” Quan lại chống đối, nhân dân quay lưng Đó chính
là lý do cơ bản khiến nhà Hồ sụp đổ Nguyễn Trãi chọn riêng mình một lối đi: bắt tay ngay khi Quý Ly lên ngôi Vỏ ngoài tạm gọi là sự tiên đoán, nhưng có phần thiên về cảm tính, thực chất đó là sự minh mẫn, sáng suốt nhận định tình hình lịch sử của tiên sinh họ Nguyễn mà nền tảng được xây trên lập trường “nhân nghĩa”
Khi nhà Hồ bị lật đổ, giặc Minh một mặt đòi giết Nguyễn Trãi, mặt khác tìm cách mua chuộc, nhưng với thái độ khảng khái, trung liêm, Nguyễn Trãi đã chọn cách hành xử là phiêu bạt trong nhân gian – “mười năm xiêu giạt, thân như cánh bèo, như
cỏ bồng” trước gió (Quy Côn Sơn chu trung tác – Nguyễn Trãi) Thiết nghĩ, trong lúc
bị giam lỏng ở Đông Quan, khi phiêu bạt đây đó, Nguyễn Trãi lo bảo đảm sự an nguy của mình trước những thủ đoạn thâm độc của giặc Minh đã là lẽ ứng biến tuyệt vời, huống chi minh trung họ Nguyễn vẫn nung nấu chí phục thù Mười năm gió bụi khắp nhân gian đã cho Nguyễn Trãi những bài học mà không một sách vở nào dạy được Câu trả lời về sự hưng vong của các triều đại, lời đáp về vận mệnh đất nước và con đường đến tự do đã thôi thúc Nguyễn Trãi cho ra đời “Bình Ngô sách”, như một tất yếu chín muồi về nhận thức lịch sử, khi Lê Lợi vừa “lớn lên” giữa núi rừng Thanh Hóa, Nguyễn Trãi đã mang đến trao tay
Mốc lịch sử quan trọng của dân tộc cũng là của Nguyễn Trãi - năm 1416, hội thề Lũng Nhai Nếu nhìn nhận theo quan điểm của phong kiến chính thống, thì Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn cũng chỉ là cuộc nổi dậy của “giặc cỏ” Trong 20 năm chịu ách đô hộ của giặc Minh, khắp cả nước đã có hơn 60 cuộc khởi nghĩa của nhân dân nổ ra để chống ngoại xâm Trong đó đặc biệt có hai cuộc khởi nghĩa lớn của họ
Trang 28Trần nhằm khôi phục lại vương triều Vậy một câu hỏi đặt ra, tại sao Nguyễn Trãi không tham gia bất cứ cuộc khởi nghĩa nào, mà khi hay tin Lê Lợi tụ binh dấy nghĩa đất Lam Sơn thì ông lại có mặt (là một trong số 19 người đầu tiên bao gồm cả Lê Lợi)
Đó không phải là cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên của lịch sử mà là kết quả của sự suy xét, nghiền ngẫm chín muồi Nói cách khác, Nguyễn Trãi đã nhìn thấy những kế hoạch, chiến lược, sách lược đúng đắn của nghĩa quân nên có thể tiên lượng được tương lai của cuộc dấy binh ấy Xét cho cùng đó là con mắt nhận định của bậc tài trí tinh anh Kết quả cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi là minh chứng hùng hồn thay cho lời kết về khả năng “tiên tri” của vĩ nhân họ Nguyễn
Trước cả những rối ren triều chính, với tư cách một vị quan thanh liêm, Nguyễn Trãi đã đứng đẫu mũi giáo mà chống trả lại bọn gian thần, không chịu hợp tác, khuất phục Nhưng đến khi bất lực, ông đã lui mình về đất Côn Sơn để dưỡng lòng thanh Đó
là một quyết định sáng suốt của Nguyễn Trãi trong tình thế rối ren Nhưng vì một lòng mong mỏi cống hiến nên khi có cơ hội trở lại làm quan, Nguyễn Trãi đã vội mừng ra phò vua giúp nước mà không biết rằng cạm bẫy đang chờ Trong lúc “Say hết tấc lòng hồng hộc” của một bậc anh hùng “vệ Nam, điện Bắc”, con người trí dũng vĩ đại ấy đã
bị giăng lưới rợp trời để ngậm oan nơi chín suối cho đến khi Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan, chiêu tuyết cho ông
Trước những “ngã ba lịch sử”, Nguyễn Trãi đã đứng lại, suy xét và chọn cho mình một lối đi riêng, thậm chí là lội ngược dòng với xu thế chung của nhân quần Đi hết “bể triều quan” như cánh chim bằng không ngại bão giông, Nguyễn Trãi đã chọn cho mình cung đường bay ngược nắng, ngược gió để đạt đến đức nhân nghĩa, lo cho dân cho nước và tất nhiên, cánh chim ấy phải bay vượt lên trước thời đại để thấy những tất yếu của lịch sử mà nhanh nhạy nắm bắt Nhưng có một ánh đèn soi sáng lối
đi Nguyễn Trãi, ngoài khả năng tiên tri tuyệt vời của bậc trí nhân, thức giả chính là thiên tâm trong sáng, quên mình sống vì nước vì dân
1.2.2.2 Nguyễn Trãi – con người vì nước vì dân
Con người bổn phận là mẫu hình lý tưởng của xã hội trung đại Những trang nam nhi ngay khi sinh ra đã vác trên vai món “Nợ tang bồng”:
Trang 29“Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”
(Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ)
Làm trai phải “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nên danh nên phận Chí nam nhi gắn liền với chữ “trung” và chi phối tư tưởng ứng xử của con người: sống hết mình vì dân vì nước “Quan chi phụ mẫu” là tư tưởng bất kỳ ai bước vào con đường hoạn lộ đều thông hiểu Suốt một đời làm quan của mình Nguyễn Trãi đã cố gắng làm tròn bổn phận của một công dân, và hơn thế là bổn phận của một vị quan đầy trách nhiệm với nhân dân, đất nước
Con người Nguyễn Trãi luôn “Lo trước mối lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” (Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc – Phạm Trọng Yêm) Vì thế, trong lẽ quan xử của mình, Nguyễn Trãi luôn đặt vận mệnh của nhân dân, đất nước lên trên số mệnh cá nhân Hoàn toàn đủ minh mẫn để nhận ra những mối họa của chốn cửa quyền đầy “hiểm hóc”, bon chen nhưng ông vẫn nấn ná chưa muốn
về vì tấm lòng trung:
Khi còn làm quan trong triều, một điều băn khoăn duy nhất của ông là làm sao
để cho nhân dân được sống trong thái bình, yên ổn:
“Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền” (Bài 74)
Khi cực chẳng đã, lui mình về ở ẩn, ông cũng vẫn chỉ một mối lo:
“Âu có một lòng âu việc nước Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung” (Bài 68)
1
Toàn bộ thơ quốc âm Nguyễn Trãi sử dụng trong bài viết trích dẫn từ “Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập” Phạm Luận, (2012), Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 30Có lẽ đấy là một lí do tại sao cả đời làm quan, thậm chí có lúc quyền bính trong tay nhưng Nguyễn Trãi vẫn sống trong cảnh thanh bần nếu không muốn nói là quá nghèo khổ Phải chăng đó cũng xuất phát từ hồng tâm trong sáng của ông
Một điểm sáng nữa trong con người Nguyễn Trãi chính là cách làm quan Làm quan cũng có năm bảy đường Có kẻ chỉ vì một chữ danh làm rạng rỡ dòng tộc
tổ tiên, có kẻ làm quan để vét cho đầy túi tham Còn Nguyễn Trãi làm quan mà thanh liêm quá:
“Thì nghèo sự biến nhiều bằng tóc Nhà ngặt quan thanh lạnh nữa đèn” (Bài 46) Nhà của một vị quan mà tài sản đâu có gì, nhìn lại Nguyễn Trãi như nhà sư vô
sự giữa đời, của nả không cất giữ, lòng rộng rãi mọi sự để cho qua, không vướng bận, toan tính những được mất, sang hèn:
“Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh Cảnh ở tựa chiền lòng tựa sàng” (Bài 117)
Ức Trai khi xưa đã sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị như đất trời cây cỏ,
không mưu cầu, tư lợi gì cho cá nhân“Nâng niu tất cả chỉ quên mình” (Hồ Chí Minh)
Xin được lấy câu thơ của Lê Thánh Tông thay cho lời kết để ca ngợi danh nhân văn hóa đất Việt ta:
“Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”
Tiểu kết
Phương thức ứng xử được hình thành dựa trên thể chế chính trị, văn hóa, xã hội nhưng yếu tố quyết định phương thức ứng xử lại là trí tuệ, tâm hồn và bản lĩnh của mỗi
cá nhân Sống trong thời đại lịch sử đầy biến động, và chịu ảnh hưởng sâu sắc của các
tư tưởng, học thuyết tôn giáo, Nguyễn Trãi đã lựa chọn cho mình một phương thức ứng xử vừa đậm chất truyền thống nhưng cũng vừa thấy điểm phá cách
Chất truyền thống trong ứng xử của Nguyễn Trãi có nguồn gốc sâu xa từ văn hóa ứng xử ngàn đời của dân tộc Việt và cách ứng xử của con người trung đại mà Nguyễn Trãi là một tế bào
Trang 31Nhưng ở Nguyễn Trãi sự kế thừa, bảo tồn, phát huy nét đẹp ứng xử của dân tộc cũng có những đột biến đó là sự phá vỡ, thậm chí đi ngược lại những khuôn thước ứng
xử truyền thống Điều làm nên phương thức ứng xử ấy ở Nguyễn Trãi chính là tài năng tiên lượng, óc phán đoán, khát vọng sống, tình yêu nhân dân, đất nước và hơn thế là một bản lĩnh sống của một con người phi thường dám đương đầu với lễ giáo hà khắc của xã hội phong kiến để đạt được chí nguyện của bậc chính nhân quân tử
Trang 32Chương 2 PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI VỚI
BẢN THÂN, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG “QUỐC ÂM THI TẬP”
2.1 Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với bản thân
2.1.1 “Xuất – xử”, niềm trăn trở khôn nguôi
Sự lựa chọn thường làm người ta sợ Đi suốt cuộc đời Nguyễn Trãi là quá trình đấu tranh giằng xé giữa những lựa chọn: ở lại làm quan hay lui về ở ẩn Như Nguyễn Hữu Sơn đã nói “Nguyễn Trãi là nhà thơ của các trạng huống cảm xúc đối nghịch Ông có quan phương nhưng cũng “ly tâm”, “bung tỏa” đến tận cùng gam độ” [19,150] Khi trong triều, bọn tham quan kết bè kéo cánh, vua nghe lời xiểm nịnh, áp lực quá Nguyễn Trãi cũng có lúc ao ước:
“Ấy còn lẵng đẵng làm chi nữa
Sá tiếc mình chơi áng thủy vân” (Bài 29) Nhưng khi về làm bạn với mây ngàn, chim núi, sống giữa thiên nhiên thì lại canh cánh mối lo dân nước:
“Thức nằm nghĩ ngợi còn mường tượng
Lá chưa ai quét cửa thông” (Bài 51)
Là “Thái Sơn, Bắc Đẩu của làng Nho Việt”, Nguyễn Trãi thấm nhuần lẽ “xuất – xử” của một nhà Nho Trần Đình Hượu đã nhận xét ở Nguyễn Trãi hội tụ đủ ba mẫu
hình “nhà nho hành đạo, ở ẩn và tài tử” [18,732] Sở nguyện bình sinh thôi thúc
Nguyễn Trãi ra làm quan, chọn con đường “xử thế” Nhưng “Làm quan tha dại tài chăng đủ”, không được trọng dụng như “cúc qua trùng cửu”, “quạt đã sơ thu”, vị quan
họ Nguyễn đành chọn cách “xuất thế” Trong cách quy khứ của một “dật dân”, “ẩn sĩ”, Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà Nho thông hiểu lẽ “xuất – xử”, mà còn chịu ảnh hưởng cả quan niệm Phật giáo (“xuất thế - nhập thế” của nhà Phật), và Đạo giáo ( sống giữa thiên nhiên “thanh tĩnh vô vi” của Lão - Trang) Nhìn chung, cách hành xử của Nguyễn Trãi là sự kế thừa, tiếp nối tư tưởng của các bậc tiền nhân: Đào Tiềm, Khuất Nguyên, Chu Văn An…Có điều “Mâu thuẫn thường trực của Nguyễn Trãi là mâu
Trang 33thuẫn giữa xuất và xử, lánh trần hay nhập thế Đây là vấn đề đặt ra thường xuyên cho nhà nho xưa Nhưng với Nguyễn Trãi thì vấn đề trở thành day dứt, đau đớn” [18, 839]
Trăn trở lớn nhất trong “Quốc âm thi tập” là tấm lòng ưu thời, mẫn thế của con người tưởng như “bước ra ngoài thế giới” mà vẫn còn canh cánh bên lòng “Một sự quân thân chẳng khứng nguôi”
“Lấy đâu xuất xử trọn hai bề Được thú làm quan mất thú quê” (Bài 109) Theo con số thống kê có đến 48 bài thơ chứa những câu chữ, những hình ảnh thơ thể hiện rõ nỗi giằng xé ấy của Nguyễn Trãi (Phụ lục 1) Với số lượng lớn các bài thơ thể hiện sự tương phản trong cách lựa chọn lẽ xử thế, ta nhận thấy sự trăn trở của Nguyễn Trãi Nếu so sánh với Nguyễn Bỉnh Khiêm, người gần thời đại với ông, cũng chọn cách quy ẩn để giữ mình nhưng ta dễ dàng nhận ra nỗi day dứt trong con người
thức quan lại nhưng cả cuộc đời ông chưa bao giờ coi việc làm quan là lý tưởng cao nhất của mình Nên khi về ở ẩn tại am Bạch Vân lòng ông rất thanh thản, coi “nhàn dật” như một triết lý sống, không làm quan trong triều nhưng vẫn vui vẻ cáng đáng việc kinh đô Còn Nguyễn Trãi, lựa chọn nào ông cũng thấy không trọn vẹn: còn làm quan trong triều thì thấy ngao ngán thế sự đua tranh, lòng người “hiểm hóc”, nước không mấy ai ngay thẳng, biết trọng người tài, tiếc tài; về ở ẩn thì canh cánh trong lòng món nợ quân thân chưa báo đáp, nhân dân bốn bể còn sống trong đói nghèo, khổ đau, từng học sách Thánh hiền mà không thể nối gót bậc tiên nhân để phò vua giúp nước Tìm đến thiên nhiên để “Gạn đục khơi trong”, tìm chút thanh thản trong lòng nhưng “cương thường lòng đỏ” vẫn nóng như lửa lò luyện đan Về “ở thanh nhàn” với Nguyễn Trãi chỉ như một giải pháp tình thế của cái tôi đầy cô đơn giữa cõi hồng trần
Trong “Quốc âm thi tập”, dễ thấy một câu thơ, hình ảnh thơ nói về việc triều chính, quan trường lại xen cấy một câu thơ, hình ảnh thơ nói về thú ẩn dật như hối thúc lòng mình phải đưa ra lựa chọn, vượt qua nỗi đau Nguyễn Trãi đã từng lo trước mối lo thiên hạ, vậy mà cũng có lúc phải gác lòng, xếp lại những mong ước, toan tính của mình bởi thế cảnh chẳng chiều lòng người Căn nguyên nỗi trăn trở “xuất – xử” của Nguyễn Trãi phải chăng bởi con đường hoạn lộ quá đỗi gian truân Lúc nhận thấy
Trang 34chốn cửa quyền nhiều “hiểm hóc” với bon chen, cũng là lúc Nguyễn Trãi mong gửi mình đến chốn bình yên:
“Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lẩn Thanh nhàn án sách hãy đeo đai” (Bài 6)
“Thương Chu kiện cũ gác chưa đôi
Xá lánh thân nhàn thủa việc rồi” (Bài 2) Câu thơ gợi nhắc ta nhớ đến những bậc ẩn sĩ tài ba: Gia Cát Lượng khi sống trong nhà tranh tưởng như lơ đãng việc đời mà lại sớm biết Trung Quốc sẽ chia ba hình thành thế chân vạc: Ngụy–Thục–Ngô; Nguyễn Bỉnh Khiêm dù sống ẩn dật nhưng lại được coi là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam…Với tầm trí tuệ, Nguyễn
Trãi dù “xá lánh thân nhàn”, tưởng như không bận tâm “Thương Chu kiện cũ” thì con
Nguyễn Trãi, cả cuộc đời cống hiến hết thân, tâm cho đời xứng bậc công thần khai quốc, vậy mà có lúc đớn đau, cám cảnh nhận thấy chốn cửa quyền kia chẳng còn hợp với mình:
“Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh
Án sách cây đèn hai bạn cũ Song mai hiên trúc một lòng thanh” (Bài 7) Thân ấy có khi chỉ như con “thuyền mọn” không dám đua chen “bể lục kinh” bởi “Trong dòng phẳng có phong ba”, bởi “Dưới công danh nhiều thác cả” nên lui về
mà làm bạn với “án sách, cây đèn” với “song mai hiên trúc” để gìn giữ tấc “lòng thanh” Những vần thơ nghe chua xót, ái ngại của một cánh chim bằng giữa bão biển công danh
Khi vị quan họ Nguyễn rời “bể lục kinh” làm bạn với núi rừng tưởng đã thỏa lòng ước nguyện, nhưng vẫn canh cánh trong lòng món nợ quân thân:
Trang 35“Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân Trúc rợp hiên mai quét tục trần
Nợ quân thân chưa báo được Hài hoa còn bện dặm thanh vân” (Bài12) Thân thì gọi về chốn điền viên để dưỡng tâm, nhưng tâm còn mong nấn ná đường quan tự làm nhọc mình Mệt mỏi với đời, mong được “cày nhàn câu quạnh” nhưng sao cứ mãi tính chuyện “tới lui”:
“Thân nhàn dầu tới dầu lui Thua được bằng cờ ai kẻ đôi” (Bài 13) Nơi suối vắng làm bạn với Sào Phủ, Hứa Do, nơi an nhàn làm học trò của Khổng Tử, Chu Công nhưng lòng lại vương vấn nơi ngôi cao nghĩa lớn chưa báo đáp:
“Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào Hứa
Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng Chu
…
Tơ hào chăng có đền ơn chúa” (Bài 15) Khối mâu thuẫn trong tâm can Nguyễn Trãi không chỉ là nỗi băn khoăn của riêng ông mà đó còn là dấu hỏi lớn của những con người tài hoa bất đắc chí, sinh bất phùng thời như cổ nhân Đào Tiềm đã từng tự vấn “Quy khứ lai hề, điền viên tương vu,
hồ bất quy?” (Về đi thôi, ruộng vườn sắp hoang vu, sao không về ?) Nỗi giằng xé của những con người ưu thời, mẫn thế mãi là “câu hỏi lớn không lời đáp” Mỗi khi đọc lại những vần thơ trong Quốc âm những ai còn biết “giá người ngay” thì “Cho đến bây giờ mặt vẫn chau” bởi nỗi đau thế thái nhân tình của Nguyễn Trãi, dù đã ngót hai thế
kỉ mà vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua
2.1.2 Phương châm “danh chăng chác, lộc chăng cầu”
Danh lợi vốn là tiêu đích đối với các trang nam nhi trong xã hội phong kiến Họ miệt mài đèn sách mong bảng vàng ghi danh, tổ tiên rạng rỡ Có người may mắn công danh thuận buồm xuôi gió, nhưng có người bước chân vào lại phải thoái lui để bảo toàn danh tiết, tính mệnh; có người chết bởi những sai lầm và có những người lại chết
Trang 36vì những oan khiên cay đắng…Để tỉnh táo trên đường hoạn lộ thời thái bình đã là khó, huống hồ trong thời loạn, điều ấy lại khó gấp vạn lần
Như ta đã nói ở trên, Nguyễn Trãi sinh ra trong một thời đại đầy bão táp cách mạng Trong chốn quan trường “hiểm hóc”, người ta cần tỉnh táo hơn bao giờ hết Là một nhà Nho nhưng có lúc ông muốn bỏ “thi thư” để “tu thân khác” và chịu ảnh hưởng
ít nhiều tư tưởng của Phật giáo nên trước lợi danh Nguyễn Trãi coi nhẹ: “Danh chăng chác lộc chăng cầu” Phải chăng Nguyễn Trãi cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng “hư danh” của cha mình:
“Hư danh táp tải bạn trần ky, Nhất phản giang sơn một thị phi.”
(Cái hư danh đã buộc mình vào cõi đời bụi bặm ba mươi năm, Trở về quê cũ quên mọi chuyện thị phi ở đời.)
(Sơn thôn cảm hứng – Nguyễn Phi Khanh)
Khát vọng cống hiến đưa Nguyễn Trãi đến trường quan nhưng cũng chính nơi này đã dạy ông những bài học đắng cay của “cõi đời bụi bặm” Danh lợi với Nguyễn Trãi chỉ là phương tiện chứ chưa bao giờ là tiêu đích đời ông
2.1.2.1 Suy nghĩ về chốn “Cửa quyền hiểm hóc ngại thồn chân”
Quy luật của xã hội phân tầng là ở đâu có quyền lợi, ở đó có sự đua chen Cám
dỗ của lợi danh đã từng được Cao Bá Quát khẳng định:
“Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu, Tỉnh giả thường thiểu, tuý giả đồng”
(Đầu gió hơi men thơm quán rượu
Người say vô số, tỉnh bao người?) (Sa hành đoản ca)
Lợi danh là rượu ngon, người đi trên đường danh lợi như kẻ nghiện rượu khó tránh khỏi ma men cám dỗ Lúc nhiễu nhương, “Đục nước béo cò” muôn kẻ thả câu thì
lợi danh là chốn bon chen đầy “hiểm hóc” Đã 15 lần Nguyễn Trãi nói đến điều này
trong “Quốc âm thi tập” (Phụ lục 2):
Trang 37“Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lẩn” (Bài 6) Mối hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào mà con người không thể dự trước càng không thể tránh Với những âm mưu, thủ đoạn khó lường:
“Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc Cho hay đường lợi cực quanh co” (Bài 20) Một con người “say mùi đạo” như Nguyễn Trãi, thậm chí đã “Say hết tấc lòng hồng hộc”, cả cuộc đời “xốc xốc nẻo tam cương” rồi cũng có lúc giật mình chua chát
mà thốt lên:
“Cửa quyền hiểm hóc ngại thồn chân” (Bài 27) Nên tới hay lui, tiếp tục làm quan hay lui về ở ẩn bởi chưng chốn ấy “hiểm hóc” khôn lường Bỏ hết mối lo cho an nguy của tính mạng vì khát vọng cống hiến dẫu biết
“hiểm hóc” mà vẫn say sưa chí nguyện:
“Chí cũ ta liều nhiều sự hóc” (Bài 49) Nhưng run rủi thay, tấm lòng Nguyễn Trãi có ai thấu Để rồi chính ông cũng phải than thở mà tiếc thay cho một dân tộc:
“Nước chẳng còn có Sử Ngư” (Bài 36) Nỗi “ta oán” của những kẻ mang lòng “trúc thông” phải ở lẫn chốn “xô bồ” Với sự tinh tế, Nguyễn Trãi hiểu “ruột bể sâu cạn” dễ đo nhưng “lòng người vắn dài”
khôn biết Nhưng biết rồi mà vẫn đưa chân bởi “danh thơm” là niềm say nếu muốn mang tài hèn sức mọn ra giúp dân, giúp đời Bởi “Niềm riêng, riêng những bàn hoàn” (Quốc văn trích diễm), Nguyễn Trãi không ngại ngần bước qua chông gai trên đường
danh lợi, không sợ nếm vị đắng cay mặn nhạt của thế sự nhân gian:
“Chông gai nệ đường danh lợi Mặn lạt no mùi thế tình” (Bài 80) Nhưng càng bước sâu càng thấy những ngặt nghèo, khó khăn, thậm chí là những lo lắng, bất an như đẩy thuyền trên ghềnh thác, có thể lật bất cứ lúc nào:
“Dưới công danh đeo khổ nhục” (Bài 3)
Trang 38“Dưới công danh nhiều thác cả” (Bài129) Quan trường là chốn nhìn qua ngỡ bằng phẳng, tưởng chỉ việc nhẹ lướt buồm giong nhưng khi bước chân vào quan lộ là chấp nhận giong buồm, vượt gió bão bể khơi khiến cho vị quan họ Nguyễn đôi khi thấy nản chí, “ngại vượt” dòng:
“Sóng khơi ngại vượt bể triều quan” (Bài 160)
“Thấy bể triều quan đà ngại vượt Trong dòng phẳng có phong ba” (Bài 168) Sóng gió ập đến, thăng giáng trên đường quan, thậm chí cả những lần làm quan đấy nhưng không có chút quyền hành trong tay, không được can dự vào công việc triều chính khiến Nguyễn Trãi không khỏi những ti cảm:
“Mấy phen lần bước dặm thanh vân Đeo lợi làm chi cho nhọc thân” (Bài 165)
Đi hết quãng đời đầy vinh quang nhưng cũng không ít phen “khổ nhục”, long đong “Một thân lẩn khuất đường khoa mục” dưới ba triều đại liên tiếp, khi thịnh, khi suy, có khi được sủng ái tin dùng nhưng có khi bị phế truất Cuối cùng Nguyễn Trãi cũng nhận ra, bao năm lẵng đẵng theo đuổi con đường danh lợi, hình như thứ ông có
được là những “ân oán” với “hăm he”, công danh như cái “lụy” phải mang:
“Hai chữ công danh chăng cảm cốc Một trường ân oán những hăm he” (Bài 44)
“Rồi việc mới hay khuôn được thú Khỏi quyền đã kẻo lụy chưng danh” (Bài 156) Một đời phụng sự lòng “trung” mà cuối cùng lại “thác” vì “danh” Chính cuộc đời Nguyễn Trãi là minh chứng cho mối “lụy danh” của bậc trung thần nghĩa sĩ thời loạn Không chỉ có bản thân Nguyễn Trãi, mà dòng họ của ông cũng gánh họa lây với
án oan Lệ Chi Viên trải khắp ba đời
Trang 39“Ơn tư là ấy yêu dường chúa Lỗi thác vì nơi lụy bởi danh” (Bài 158) Mối “lụy danh” khủng khiếp, và những tiên cảm của Nguyễn Trãi về một chốn quan trường đầy “hiểm hóc” quả không sai Có đấy rồi tất cả lại là không bởi suy cho cùng công danh chỉ như giấc chiêm bao
2.1.2.2 Công danh tựa như giấc chiêm bao
Lúc nản nhất trên quan trường cũng là lúc lòng ham “thiền” trỗi dậy Có lẽ Phật giáo là căn nguyên dẫn đến tư tưởng coi công danh như áng phù vân của Nguyễn Trãi Đạo Phật quan niệm “không không – sắc sắc” để khẳng định mọi thứ trong cuộc đời này có đấy mà cũng lại là không: con người vốn mang “thân hư ảo” nên “danh hư ảo” Thân thể mình “tích” lại là “sắc” nhưng “tản” đi là “không”; công danh đắc thế thì
“hữu” mà thất thế thành “vô” Nguyễn Trãi, bằng những trải nghiệm của chính mình với bao thăng trầm trên hoạn lộ thấm thía lẽ “tiêu trưởng doanh hư” để rồi đến cuối cùng cũng mặc lòng chấp nhận “vạn sự vô thường” trong lẽ “sinh diệt” của tạo hóa
Đã có 11 lần Nguyễn tiên sinh dùng tích “giấc Hòe” để khẳng định tính hư ảo,
“vô thường” của công danh (phụ lục 2):
“Phú quý bao nhiêu người thế gian
Mơ mơ bằng thủa giấc Hòa An” (Bài 63) Phú quý, công danh cũng chỉ như sương đầu ngọn cỏ, long lanh trong nắng sớm, đẹp đẽ, sáng rỡ nhưng nắng lên rồi tất cả sẽ tan:
“Phú quý treo sương ngọn cỏ Công danh gửi kiến cành hòe” (Bài 73) Đối với Nguyễn Trãi, những tháng ngày làm quan, là khi ông có “phú quý lòng” và cả “phú quý danh” Nhưng rồi tất cả cũng là hư bay, để khi về quê làm bạn cùng “viên hạc” ngẫm lại mới nhận ra:
“Chẳng thấy phồn hoa trong thủa nọ
Ít nhiều gửi kiến cành hòe” (Bài 84)
Trang 40Khi rời khỏi nơi phồn hoa, thị thành bước khỏi chốn triều quan thì Nguyễn Trãi
lại mơ mòng hoàn lối Có lẽ giấc Hòe An với ông chưa bao giờ “phỉ sở nguyền”, cửa kia chỉ lướt then tạm đó để chờ đợi ngày quay lại đường quan:
“Ngày nhàn gió khoan khoan đến Thớt thớt cài song giấc hòe” (Bài 79)
Về sống với mây ngàn, gió núi nhưng cày nhàn, câu vắng không khỏa lấp được giấc mộng công danh của Ức Trai Gió mảnh mai chẳng đủ để cài then, đóng khóa
“giấc hòe” ôm ấp cả một đời Giấc mộng ấy đeo đẳng vị quan họ Nguyễn, bởi chí nguyện chưa thỏa nên lòng mong len lỏi vào trong cả giấc mơ chập chờn:
“Phồn hoa một đoạn tỉnh mơ Mỉa chuông tàn cảnh thoắt xơ” (Bài 108) Ngay cả cách lựa chọn từ ngữ, Nguyễn Trãi cũng thể hiện dụng ý coi công danh như “áng phù vân”, hợp đó rồi lại tan Khi sủng ái, binh quyền vi biến, tiếng thơm dậy đất; cũng có khi, “Nhà ngặt quan thanh lạnh nữa đèn” để rồi “láng giềng” cũng “ngảnh mặt đi”:
“Danh thơm một áng mây nổi” (Bài 63)
“Đắc thì thân thích chen chân đến Thất sở láng giềng ngảnh mặt đi” (Bài 57) Thế mới biết, có ngôi cao, ghế lớn chốn công danh thì cũng chỉ như hương thơm theo gió Còn quyền sóc thì còn tất cả, khi hết quyền thì nhân nhẹ như không:
“Tiêu sái tự nhiên nhẹ hết mình Nài bao ngôi cả áng công danh” (Bài 78) Công danh có rồi mất, đến rồi đi cũng đừng than tiếc, bởi Nguyễn Trãi cho hay, tất cả đều do tạo hóa nhiệm màu Âu cũng là quan niệm nhà phật “vạn sự tùy duyên” duyên đến nên giữ, duyên hết nên buông, “sắc” đấy rồi cũng là “không”, chỉ còn tấm thân tự tại: