Phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay là một nội dung hết sức quan trọng trong quá trình giáo dục - đào tạo của Nhà trường. Với mục tiêu đào tạo đội ngũ chính trị viên tương lai có đủ phẩm chất, năng lực, trong đó những giá trị văn hoá nói chung và văn hoá ứng xử nói riêng là một yếu tố quan trọng, có vai trò ngày càng tăng trong quá trình hoàn thiện nhân cách người học viên theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Văn hóa ứng xử của học viên đào tạo chính trị viên không phải tự nhiên có, cũng không phải hình thành một lần là xong mà được phát triển trong quá trình lâu dài, phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố như: môi trường; nhận thức và hoạt động của các lực lượng quản lý, giáo dục; quy trình giáo dục và tự giáo dục; trong đó giáo dục, bồi dưỡng và tự giáo dục, tự bồi dưỡng ở nhà trường có vai trò quan trọng hàng đầu.
Trang 11.2 Thực trạng và nguyên nhân phát triển văn hóa ứng xử
của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay 29
Ch¬ng 2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA HỌC VIÊN
2.1 Những yếu tố tác động đến phát triển văn hóa ứng xử
của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay 462.2 Một số giải pháp phát triển văn hoá ứng xử của học viên
Trang 2BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Công tác đảng, công tác chính trị CTĐ, CTCT
Trường Sĩ quan Chính trị TSQCT
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiệnnay là một nội dung hết sức quan trọng trong quá trình giáo dục - đào tạo củaNhà trường Với mục tiêu đào tạo đội ngũ chính trị viên tương lai có đủ phẩmchất, năng lực, trong đó những giá trị văn hoá nói chung và văn hoá ứng xử nóiriêng là một yếu tố quan trọng, có vai trò ngày càng tăng trong quá trình hoànthiện nhân cách người học viên theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo, đáp ứng yêucầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.Văn hóa ứng xử của học viên đào tạo chính trị viên không phải tựnhiên có, cũng không phải hình thành một lần là xong mà được phát triểntrong quá trình lâu dài, phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố như: môitrường; nhận thức và hoạt động của các lực lượng quản lý, giáo dục; quytrình giáo dục và tự giáo dục; trong đó giáo dục, bồi dưỡng và tự giáo dục,
tự bồi dưỡng ở nhà trường có vai trò quan trọng hàng đầu
Những năm qua, công tác phát triển văn hoá ứng xử cho học viên đàotạo ở TSQCT đã được Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, các cơ quan, khoa giáoviên và đơn vị hết sức quan tâm, xác định nội dung, phương pháp và hìnhthức giáo dục phù hợp cho các đối tượng, đồng thời mỗi học viên phát huytính tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đã tạo ra bước phát triển mới vềvăn hoá ứng xử
Những năm gần đây, do tác động của nhiều nguyên nhân khách quan vàchủ quan, một số học viên đã có những biểu hiện lệch chuẩn về giá trị, chuẩnmực văn hóa ứng xử trong quan hệ với cấp trên, với đồng đội và nhân dân…
Do đó, đã ảnh hưởng, cản trở sự phát triển, hoàn thiện nhân cách chính trịviên, làm xấu đi hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”; ảnh hưởng đến chất lượng giáodục - đào tạo, xây dựng Nhà trường tiên tiến, chính quy, mẫu mực Vì vậy,phát triển văn hoá ứng xử của học viên đào tạo chính trị viên ở TSQCT đápứng yêu cầu nhiệm vụ là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết cần được nhận thức
Trang 4và thực hiện trên cơ sở khoa học Điều đó đã tạo thôi thúc tác giả lựa chọn
vấn đề: “Phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
Đã có một số công trình khoa học trực tiếp nghiên cứu về vấn đề liênquan đến luận văn với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, ở các phạm vi khác
nhau, trong đó nổi bật là: lý luận về văn hoá và nhân cách.
Khi nghiên cứu văn hoá và nhân cách, đặc biệt văn hoá và nhân cáchtrong điều kiện chủ nghĩa xã hội phát triển, các nghiên cứu củaAV.Lunatsaroxki, PN.Phedoxeep, AG.Egorop, GI.Gomman, AK.Uledop vàLN.Cogan (Liên Xô) đã luận chứng khá sâu sắc dưới góc độ triết học, xãhội học; chỉ ra sự tương tác chặt chẽ giữa văn hoá và nhân cách; khẳngđịnh: sự tồn tại trọn vẹn của con người, sự phát triển toàn diện lực lượngsáng tạo, trí tưởng tượng, đời sống tình cảm cũng như đời sống thể lực củacon người, đó là các hiện tượng cơ bản của văn hoá GS La Quốc Kiệt, nhà
nghiên cứu ở Trung Quốc, trong “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng” (2003) đã đưa
ra quan điểm về nhân cách, giá trị, luận chứng bản chất và sự thống nhất giữagiá trị bản thân và giá trị xã hội trong nhân cách; đặc biệt, đã làm rõ khái niệm
“tố chất văn hoá”, coi đó là tố chất cơ sở, nó thẩm thấu và ảnh hưởng rất mạnhđối với sự hình thành, phát triển các tố chất khác Việc tu dưỡng tố chất vănhoá là điều kiện tiên quyết nhằm hoàn thiện nhân cách ở mỗi người Tuy nhiên
“văn hoá” ở đây chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là “trình độ học vấn”
* Các công trình nghiên cứu trong nước
Về văn hoá và vai trò của văn hoá: ngay từ khi thành lập, Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã coi phát triển văn hoá gắn với phát triển kinh tế - xã hội là
nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài Đề cương văn hoá Việt Nam(1943) xác
định những đặc trưng của nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là: dân tộc, khoahọc, đại chúng Tư tưởng đó ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hoáphù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong các kỳ Đại hội của
Trang 5Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Phát triển toàn diện, đồng
bộ các lĩnh vực văn hoá, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừatiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế vàvăn hoá để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lựcphát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Tập trung xây dựng đời sống, lốisống và môi trường văn hoá lành mạnh; coi trọng văn hoá trong lãnh đạo, quản
lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong ứng xử”[9, tr 126]
Lý luận và vai trò của Văn hoá quân sự được nhiều công trình, luận án và luận văn khoa học đề cập tới: “Văn hoá quân sự một văn hoá độc đáo Việt Nam”, các tác giả đặc biệt đi sâu phân tích làm rõ biểu hiện đặc thù như: văn
hoá quân sự gắn liền với nếp sống chính quy, văn hoá chỉ huy và văn hoá lãnhđạo, văn hoá chiến hào, văn hoá đánh giặc và đánh giặc có văn hoá… Tổng cục
Chính trị “Chặng đường 5 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng môi truờng văn hoá trong các đơn vị quân đội” đã đăng tải tiêu chuẩn đơn vị có môi
trường văn hoá tốt, những kinh nghiệm xây dựng môi trường văn hoá ở một sốloại hình đơn vị cơ sở thuộc quân khu, quân đoàn, quân chủng TS Văn ĐứcThanh (2001), về xây dựng MTVH cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
PGS, TS Lê Văn Quang chủ biên “Giáo trình văn hoá học”, Nxb QĐND, H 2002; PGS, TS Văn Đức Thanh chủ biên “Giáo trình văn hoá học”, Nxb QĐND, H 2009 trình bày những vấn đề cơ bản nhất của văn hoá với tư cách
là đối tượng nghiên cứu của Văn hoá học, làm rõ khái niệm văn hoá, đặctrưng, tính chất và phân loại văn hoá, văn hoá quân sự; đặc biệt nhấn mạnh việcnhận thức và vận dụng quy luật phát triển văn hoá trong sự nghiệp xây dựng
văn hoá quân sự theo quan điểm của Đảng ta Đoàn Mô, chủ biên đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, luận giải tương đối toàn diện việc tổ chức các hoạt động văn hoá ở đơn vị cơ sở trong quân đội Võ Văn Ninh, luận văn thạc sĩ: “Nâng cao trình độ văn hoá pháp luật cho học viên cấp phân đội ở Học viện Chính
Trang 6trị Quân sự hiện nay”, luận giải những vấn đề về trình độ và biểu hiện trình
độ văn hoá pháp luật; vai trò của việc nâng cao trình độ văn hoá pháp luậtcho học viên cấp phân đội ở Học viện Chính trị Quân sự; đồng thời đề xuấtmột số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ văn hoá pháp luật cho họtrong giai đoạn hiện nay
Văn hoá ứng xử và vai trò của văn hoá ứng xử được nhiều công trình
quan tâm nghiên cứu và luận giải sâu sắc ở nhiều góc độ khác nhau Trần
Thuý Anh, “Vài nét về ứng xử xã hội của người Việt”, Tạp chí Hà Nội ngày nay, số 94, tháng 01/2002, khẳng định: truyền thống ứng xử xã hội là di sản
văn hoá, hành trang đặc biệt cần thiết của người Việt Nam và tập trung làm rõ,chỉ ra đặc trưng căn bản trong cách ứng xử truyền thống của người Việt Nam.Phan Quang Long, luận văn thạc sĩ ( 2005) “ Văn hóa ứng xử của người HàNội trong thời kỳ đổi mới hiện nay” đã đề cập đến những quan niệm, đặcđiểm, thực trạng và đề ra những giải pháp trong xây dựng văn hóa ứng xử cho
người Hà Nội trong thời kỳ đổi mới hiện nay Phạm Minh Thảo, “Hỏi đáp về văn hoá ứng xử của người Việt”, Nxb QĐND, 2008, tác giả đưa ra một loạt
câu hỏi liên quan đến những tình huống căn bản nhất của văn hoá ứng xử,đồng thời trả lời một cách khái quát nhưng đầy đủ, sâu sắc thông qua những ví dụ
thực tiễn, dẫn chứng sinh động TS Đoàn Trọng Thiều, “Giáo dục văn hoá giao tiếp trong nhà trường: giáo dục cái tâm, cái đẹp”; Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo: Giáo dục văn hoá giao tiếp trong nhà trường, tháng 12/2009, cho rằng: giáo dục văn hoá giao tiếp có nhiều giải pháp, nhưng
giải pháp quan trọng nhất là giáo dục về cái tâm, làm cho mọi người có cái tâmtrong sáng, lương thiện, giáo dục về cái đẹp và xây dựng các nguyên tắc giao tiếp
Nguyễn Tú, Minh Thu, “Chiến sĩ nói lời hay, nếp sống đẹp”, Báo QĐND, thứ 6, ngày 07/08/2011, chỉ ra tầm quan trọng của việc bồi dưỡng, xây dựng văn hoá
ứng xử cho học viên, chiến sĩ phù hợp với môi trường quân đội không chỉ gópphần xây dựng môi trường văn hoá trong đơn vị mà còn giúp họ phát triển toàn
Trang 7diện, đẹp cả về thể chất lẫn tinh thần TS Đào Huy Tín (2012) chủ biên, “Bồi dưỡng văn hoá ứng xử cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội trong nhà trường quân đội hiện nay”, đề tài cấp Tổng cục Chính trị, đã làm rõ quan niệm về
văn hoá ứng xử, bồi dưỡng văn hoá ứng xử, đánh giá thực trạng, dự báo nhữngnhân tố tác động và đề xuất các giải pháp cơ bản bồi dưỡng văn hoá ứng xử chohọc viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội trong nhà trường quân đội hiện nay
Trước những biến động trong nước, quốc tế hiện nay và yêu cầu ngày càngcao của sự nghiệp cách mạng, xây dựng quân đội, xây dựng đội ngũ cán bộchính trị theo tinh thần Nghị quyết 51 của Bộ chính trị, đòi hỏi người chính trịviên phải phát triển toàn diện, trong đó có trình độ văn hóa ứng xử đáp ứng yêucầu nhiệm vụ Tuy vậy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơbản, hệ thống về phát triển văn hoá ứng xử cho học viên ở TSQCT, trong khivấn đề này đang cần được làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất giải
pháp phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT hiện nay
* Nhiệm vụ:
Làm rõ một số vấn đề lý luận về phát triển văn hóa ứng xử của họcviên ở TSQCT
Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển văn hóa ứng
xử của học viên ở TSQCT hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở
TSQCT
* Phạm vi nghiên cứu: Phát triển văn hóa ứng xử của học viên đào tạo
chính trị viên, trình độ đại học (5 năm) ở TSQCT từ năm 2008 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Trang 8* Cơ sở lý luận: Hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam,Quân ủy Trung ương, Đảng ủy TSQCT về vấn đề văn hóa, văn hóa ứng xửcủa người quân nhân cách mạng và người học viên đào tạo chính trị viên
* Cơ sở thực tiễn: là thực tế phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở
TSQCT hiện nay qua báo cáo tổng kết của các cơ quan, đơn vị trong Nhàtrường và kết quả điều tra, khảo sát của tác giả
* Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng tổng hợp phương pháp luận
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phươngpháp cụ thể khác như: Phương pháp lịch sử và lô gich, phương pháp kháiquát hóa, trừu tượng hóa, điều tra xã hội học, nghiên cứu tài liệu, quan sát
và phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả phát triển văn hóa ứng
xử của học viên ở TSQCT hiện nay
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
và phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT và học viên đào tạo sĩ quancấp phân đội ở các nhà trường quân đội
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu; 2 chương (4 tiết); kết luận; danh mục tàiliệu; tham khảo và phụ lục
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ 1.1 Một số vấn đề lý luận phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị
1.1.1 Văn hoá ứng xử và biểu hiện của nó ở học viên Trường Sĩ quan Chính trị
* Văn hóa và văn hóa ứng xử
Năm 2002, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên HiệpQuốc (United Nations Educational Scentific Cultural Organization gọi tắt là
UNESCO) đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, trí thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin Trong Từ điển Triết học, văn hóa được định nghĩa: “Văn hoá - toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Văn hoá là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội” [43, tr 656]
Từ những cách định nghĩa trên, có thể khẳng định văn hóa có nghĩachính là trở thành đẹp, thành có giá trị, đó là giá trị Chân - Thiện - Mỹ Sángtạo, nhân đạo, cao đẹp chính là bản chất của văn hóa Văn hóa với ý nghĩachân chính là sự hoạt động có ý thức và sáng tạo, là hệ thống giá trị mà cốtlõi là hệ thống tư tưởng Trong mối quan hệ khách thể - chủ thể, văn hóa lànhững giá trị xã hội khách quan, là giá trị nhân cách được biểu hiện trong ýthức, thái độ, hành vi, nhu cầu, nếp sống của con người
Ứng xử là từ ghép gồm “ứng” và “ xử” gắn với nhau “Ứng” là ứng
đối, ứng phó, đối phó với sự tác động từ bên ngoài “Xử” là xử thế, xử lí,
xử sự…theo cách riêng của mỗi người trước tác động từ bên ngoài đến
Trang 10họ Ứng xử là phản ứng của con người đối với sự tác động từ bên ngoàiđến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Về bản chất ứng xử làđộng từ chỉ thái độ, hành vi, lời nói của một người khi tiếp xúc vớingười xung quanh
Nếu như văn hoá là cái đẹp nhân bản kết tinh từ những tinh hoa của dântộc, nhân loại, là nền tảng vững chắc để duy trì sự tồn tại, phát triển xã hội thìvăn hoá ứng xử là nét đẹp trong quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chínhbản thân con người
Ở góc độ nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận khái niệm văn hoá ứng xử theo nghĩa hẹp: là thái độ, hành vi ứng xử của con người trong giải quyết các
mối quan hệ với xã hội, với bản thân mình theo những giá trị, chuẩn mực vănhoá phù hợp với yêu cầu và lợi ích xã hội Theo khái niệm này, văn hoá ứng xửchỉ bao gồm hai chiều quan hệ: với xã hội, với bản thân Hồ Chí Minh đã viết:
“Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động củamột người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:
1 Mình đối với mình
2 Mình đối với người
3 Mình đối với công việc” [25, tr 643]
Về thực chất, Hồ Chí Minh nói đến cách thức con người thể hiện vớingười khác, với công việc và với mình ra sao Hay nói cách khác, là cách thức
để con người chung sống và làm việc với người khác, là đối nhân, xử thế Văn hoá ứng xử có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần củanhân loại nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng Ứng xử có văn hoá khôngchỉ tạo nên vẻ đẹp cho từng cá nhân, mà còn phản ánh bản sắc văn hoá của mộtcộng đồng, quốc gia, dân tộc Hồ Chí Minh chỉ rõ: “cán bộ phải có văn hoá làmgốc” [25, tr 224], mới giải quyết đúng đắn và hiệu quả các quan hệ phức tạptrong cuộc sống Muốn có cách ứng xử đúng chuẩn mực văn hoá phải có trithức sâu rộng cùng với bản lĩnh, tài năng và trải qua quá trình bồi dưỡng, họctập, tiếp thu nghiêm túc
Trang 11Văn hoá ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị
Trường Sĩ quan Chính trị là trung tâm đào tạo cán bộ chính trị cấp phânđội cho toàn quân Học viên ở TSQCT gồm: những học sinh phổ thông, hạ
sĩ quan, chiến sĩ, trung đội trưởng - quân nhân chuyên nghiệp, cán bộchuyên môn kỹ thuật chưa có bằng cử nhân, những cử nhân đã tốt nghiệpđại học ở các trường trong và ngoài quân đội, có đủ tiêu chuẩn về chính trị,đạo đức, văn hoá, sức khoẻ; đã trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh quân sự hoặc cửtuyển theo quy chế hiện hành, được đào tạo để trở thành CTV trong Quân đội
và Công an nhân dân Việt Nam, giảng viên khoa học xã hội nhân văn quân sự
Nhưng luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng học viên đào tạo CTV có
trình độ đại học theo chương trình 5 năm
Đặc điểm cơ bản của học viên đào tạo chính trị viên
Học viên được tuyển chọn kỹ lưỡng theo tiêu chuẩn tuyển sinh của Bộ Giáodục - Đào tạo và Bộ Quốc phòng Số con em đồng bào các dân tộc thiểu số được
cử tuyển cũng là những người có đủ phẩm chất và trình độ cần thiết theo yêu cầuđầu vào bậc đại học Họ có động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn và xu hướngnghề nghiệp rõ ràng; hầu hết còn ở lứa tuổi thanh niên đang độ trưởng thành, rấtsôi nổi, nhiệt tình, hăng hái, ham học hỏi cầu tiến bộ, nhạy cảm với cái mới
Dù điểm xuất phát không giống nhau, nhưng khi trở thành học viên, họ lànhững quân nhân, được học tập, rèn luyện trong môi trường văn hoá sư phạm quân
sự, được tổ chức và quản lý chặt chẽ, với sự giúp đỡ, hướng dẫn trực tiếp của đội ngũgiảng viên, cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ kiến thức và vănhoá ứng xử cao Ở môi trường ấy, họ tham gia vào các mối quan hệ văn hóa đadạng, phong phú và đã có cách ứng xử theo những giá trị, chuẩn mực văn hóa phùhợp với đặc điểm, cương vị chức trách theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhàtrường
Tuy nhiên, xét tổng thể các đối tượng đào tạo, đội ngũ này còn bộc lộ sựchênh lệch nhất định về trình độ nhận thức, trình độ giác ngộ, sự trải nghiệm;
Trang 12đặc biệt, do đến từ nhiều vùng, miền, đơn vị, dân tộc khác nhau, chịu ảnh hưởngrất lớn của phong tục, tập quán, lối sống, thói quen ở từng vùng, miền, nên trình
độ nhận thức và hành vi ứng xử theo chuẩn mực văn hoá cũng rất khác nhau
Quá trình học tập và rèn luyện tại Trường, học viên trải qua quá trình xãhội hoá song song, họ vừa tiếp thu các chuẩn mực, giá trị văn hoá quân sự để trởthành quân nhân; thành sĩ quan, cán bộ trong quân đội; vừa tiếp thu các chuẩnmực, giá trị văn hoá của người cán bộ chính trị để trở thành CTV Đặc điểm đólàm cho quá trình phát triển để trở thành quân nhân - sĩ quan - cán bộ chính trị củahọc viên phức tạp và khó khăn Hơn nữa, sau khi ra trường, họ là người chủ trìcông tác đảng, công tác chính trị, có trách nhiệm trực tiếp xây dựng đơn vịvững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; giữ vững, phát huy bản chất giaicấp công nhân, tính nhân dân, tính cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ”; cùng vớingười chỉ huy chịu trách nhiệm chủ yếu trong giải quyết mọi quan hệ trong đơn
vị, với nhân dân địa phương nơi đóng quân Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải luôn luôn chăm sóc đến sinh hoạt vật chất của họ: ăn, mặc,
ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu Về mặt tinh thần phải chăm sóc đến
nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hoá, phát triển văn hoá và đường lối chính trị trong bộđội…” [19, tr 392] Điều đó quy định mục tiêu, yêu cầu đào tạo CTV vừa làngười lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, vừa là nhà tâm lý, nhà giáo dục, đồng thời phải
có trình độ văn hóa ứng xử tương xứng
Văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT là thái độ, hành vi ứng xử của người học viên trong giải quyết các mối quan hệ với xã hội, với bản thân và chức trách, nhiệm vụ theo những giá trị, chuẩn mực văn hoá đáp ứng mục tiêu yêu, cầu đào tạo.
Đặc trưng căn bản nhất trong văn hoá ứng xử của học viên là thái độ, hành
vi ứng xử của họ trong các mối quan hệ giao tiếp
Thái độ ứng xử của học viên thể hiện ở vốn tri thức về văn hoá ứng xử, tìnhcảm, niềm tin vào hệ thống giá trị, chuẩn mực văn hoá xã hội và quân đội Trên
Trang 13cơ sở tri thức, tư tưởng về văn hoá ứng xử, tình cảm, niềm tin của học viênvào các giá trị, chuẩn mực văn hoá được củng cố và không ngừng được bồidưỡng phát triển Tình cảm, niềm tin vào các giá trị, chuẩn mực văn hoá giữvai trò động cơ thúc đẩy, điều chỉnh hành vi ứng xử của học viên theo hướngtích cực, tiến bộ, đúng với chuẩn mực văn hoá xã hội và quân đội.
Hành vi ứng xử của học viên thể hiện ở sự phản ứng, cách ứng xử theo giátrị, chuẩn mực văn hoá trở thành thói quen, nếp sống và nhu cầu thường xuyên với
tư cách là những phẩm chất nhân cách của họ Cách ứng xử của học viên trên cơ
sở tư tưởng, tình cảm, niềm tin, là quá trình hiện thực hoá thái độ ứng xử của họtrong một tình huống cụ thể Do vậy, hành vi ứng xử của học viên được chỉ đạobởi vốn tri thức văn hoá ứng xử, tình cảm, niềm tin và trách nhiệm, biến thànhnhu cầu, động cơ thôi thức họ hành động
Văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT có điểm chung, thống nhất vừa cónét đặc thù so với văn hoá ứng xử của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta Nét đặc thùvăn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT là mọi giá trị, chuẩn mực văn hoá phảigắn với đặc điểm, cương vị, chức trách người học viên đào tạo CTV Trong Nhàtrường, người học viên tham gia vào nhiều mối quan hệ: quan hệ giữa giảng viênvới học viên, cấp trên với cấp dưới, quan hệ đồng chí đồng đội, quan hệ quândân… Mỗi mối quan hệ đòi hỏi người học viên phải có thái độ, hành vi ứng xửtheo những giá trị, chuẩn mực văn hoá, phù hợp với đặc điểm, cương vị, chứctrách của mình Vì vậy, văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT là một chỉnh thểtoàn vẹn các giá trị, chuẩn mực văn hoá, phản ánh đầy đủ những yêu cầu kháchquan của nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo với nỗ lựcchủ quan của họ Có thể khái quát văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT trêncác nhóm chủ yếu: giá trị, chuẩn mực văn hoá ứng xử về mục đích, lý tưởngcách mạng; trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; trong sinh hoạt hoạt hàngngày
Thứ nhất, nhóm giá trị, chuẩn mực văn hoá ứng xử về mục tiêu, lý tưởng
cách mạng
Trang 14Là CTV, bí thư chi bộ tương lai, người giương cao ngọn cờ chính trị, tưtưởng của Đảng, giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của Đảng trong mọi hoạtđộng của đơn vị, cho nên sự kiên định, vững vàng về mục tiêu, lý tưởng cáchmạng là cốt lõi trong văn hoá ứng xử của người học viên Hồ Chí Minh đã chỉ
ra yêu cầu đối với người chính trị viên đó là: phải là người giác ngộ cáchmạng sâu sắc, nhận thức cách mạng vững vàng, lý luận cách mạng cứng cáp.Đồng thời phải là người có kinh nghiệm chính trị dồi dào
Do vậy, “Trung với Đảng, hiếu với dân sẵn sàng chiến đấu hy sinh vìđộc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoànthành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” là thái độ,cách ứng xử văn hoá cơ bản nhất, đúng đắn nhất của họ góp phần thực hiệnmục tiêu, lý tưởng cách mạng Đó cũng là những giá trị, chuẩn mực văn hóaứng xử quan trọng hàng đầu đối với mỗi người học viên ở TSQCT, Bởi vì,những giá trị, chuẩn mực này thấm sâu vào toàn bộ tư tưởng, tình cảm địnhhướng thái độ, hành vi ứng xử của mỗi học viên trong các mối quan hệ: vớiĐảng, Tổ quốc, nhân dân, đoàn thể, đồng chí đồng đội…trong suốt quá trìnhhọc tập công tác tại Trường và thực hiện nhiệm vụ theo chức trách lãnh đạo,chỉ huy trong tương lai
Thứ hai, nhóm giá trị, chuẩn mực văn hóa ứng xử trong thực hiện chức
trách, nhiệm vụ
Ham học hỏi, cầu tiến bộ
Học tập, rèn luyện phát triển toàn diện cả phẩm chất và năng lực trong
đó trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ cao là những yếu tố cơ bản,quan trọng của học viên ở TSQCT Vì, CTĐ, CTCT là một khoa học - khoahọc về xây dựng con người và tổ chức của con người trong hoạt động quânsự.Cho nên, họ phải có trình độ nhận thức, sự thông hiểu về văn hóa, khoahọc kỹ thuật, trực tiếp là tri thức chuyên ngành CTĐ,CTCT; phương pháp, tácphong công tác và khả năng vận dụng vào các điều kiện, tình huống cụ thể
Trang 15đáp ứng mục tiêu đào tạo Nó là cơ sở, nền tảng hình thành thế giới quan,phương pháp luận khoa học, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ họcviên Đúng như Lênin đã khẳng định: “Giữ vững vai trò lãnh đạo toàn bộphong trào, đương nhiên không phải là giữ vững bằng uy quyền mà là bằng
uy tín, bằng nghị lực, bằng kinh nghiệm phong phú hơn, bằng kiến thức vềnhiều mặt hơn và bằng tài năng nhiều hơn” [12, tr.15] Vì vậy, học viên đàotạo CTV phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên mônnghiệp vụ, tích cực, chủ động nghiên cứu, học tập mọi lúc, mọi nơi; tranh thủhọc thầy, học bạn, học trong sách vở, trong thực tiễn quân sự và sinh hoạt hàngngày ở Nhà trường để không ngừng phát triển, hoàn thành mục tiêu đào tạo
Độc lập, sáng tạo, năng động, nhạy bén
Tính chất học tập, rèn luyện theo mục tiêu đào tạo đòi hỏi mỗi học viênphải tận tâm, tận lực và tích cực, sáng tạo trong tiếp thu tri thức khoa học, nângcao trình độ, kỹ năng tiến hành CTĐ,CTCT ở cấp phân đội Ở phân đội ngườiCTV tiến hành CTĐ, CTCT một cách trực tiếp “miệng nói, tay làm” Điều đóđòi hỏi họ phải có tính độc lập rất cao, năng động, nhạy bén trước những vấn
đề mới mẻ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của phân đội “Lãnh đạo toàndiện nhưng cụ thể”, cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời làm đến nơi đến chốn";
có khả năng cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhànước, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên thành những nội dung, biện pháp, kếhoạch CTĐ, CTCT phù hợp với tình hình thực tiễn ở phân đội và tổ chức thựchiện thắng lợi những nội dung, kế hoạch đó; có khả năng đánh giá, kiểm traphát hiện kịp thời những mâu thuẫn nảy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụcủa phân đội, đưa ra những biện pháp hữu hiệu giải quyết những mâu thuẫnđó; đồng thời có khả năng đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng phi
vô sản, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước Vì thế, mỗi học viên phải thường xuyên củng cố niềm tin, rèn luyện tinhthần độc lập, sáng tạo, năng động, nhạy bén trong nghiên cứu, học tập, xử trí
Trang 16các tình huống giao tiếp hàng ngày ở Nhà trường và xã hội để không ngừngphát triển, hoàn thành mục tiêu đào tạo.
Đoàn kết, dân chủ, kỷ luật
Đoàn kết là cơ sở vững chắc xác lập quan hệ tốt đẹp giữa các quân nhân,
cơ sở tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ
có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt…”[30, tr 109] Bởi vậy, mỗi học viên ở TSQCT phải luôn rèn luyện tinh thầnđoàn kết, gắn bó với thầy, với bạn , thực hiện đúng Lời thề danh dự của quânnhân Song, đó không phải là thứ đoàn kết một chiều mà nó kiên quyết đấutranh loại bỏ các biểu hiện, hành vi thiếu tôn trọng và làm rạn vỡ tình cảmthầy trò, đồng chí, đồng đội Đoàn kết phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ trên tất
cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế… Dân chủ trong hoạt động học tập, rènluyện ở nhà trường quân đội được biểu hiện cụ thể ở thái độ của đội ngũ họcviên và cán bộ, giảng viên Mỗi học viên phải dám nói những điều mình muốnnói, mạnh dạn, thẳng thắn đóng góp ý kiến của mình vào xây dựng chủ trương,biện pháp thực hiện nhiệm vụ của Nhà trường, đơn vị, đóng góp phê bình cán
bộ, giảng viên Đồng thời phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của đồng chí,đồng đội, của cán bộ, giảng viên Dân chủ hoàn toàn đối lập với thói tự cao tựđại, thiếu tôn trọng người khác, dân chủ hình thức cũng như thái độ rụt rè, khôngdám nói lên chính kiến của mình, chỉ biết phụ hoạ, nói theo Đoàn kết, dân chủphải gắn liền với giữ nghiêm kỷ luật Mọi học viên tự giác chấp hành nghiêmtúc, vô điều kiện trên cơ sở tích cực, tự nguyện Chấp hành kỷ luật quân đội vừa
là tuân theo pháp luật, vừa thực hành văn hoá Với tư cách là một giá trị, chuẩnmực văn hoá, kỷ luật không chỉ thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi theođiều lệnh quân đội, phù hợp chuẩn mực văn hoá ứng xử mà còn đóng vai tròđịnh hướng tích cực cho học viên trong quá trình rèn luyện, học tập và công tác,giúp họ hạn chế được những mặt tiêu cực, thói tự do, tuỳ tiện
Nói hấp dẫn, lôi cuốn, mạch lạc, dễ hiểu, chuẩn xác
Trang 17Lời nói là công cụ quan trọng nhất trong ứng xử, giải quyết các quan hệ.Cùng một nội dung của câu nói, nhưng tuỳ theo giọng nói, cách nói mà người
ta có thể thông cảm cho nhau, nhưng cũng có thể gây trách cứ, hiểu lầm nhau.Học viên ở TSQCT được học tập, rèn luyện để trở thành CTV - người trực tiếptuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng; xây dựng, phát huy nhân tố chính trịtinh thần của bộ đội Cho nên, họ phải học cách nói năng giao tiếp chuẩn mực;
kỹ năng nói chuyện, thuyết trình hấp dẫn, lôi cuốn, mạch lạc, dễ hiểu, đi vàolòng người, cảm hoá con người Hồ Chí Minh khẳng định: “ ai cũng phải họcnói nhất là học nói cho quần chúng hiểu” [20, tr 301] Sử dụng lời nói phảiluôn tế nhị và nhạy cảm; câu nói phải có đầy đủ chủ, vị ngữ, đơn giản nhưnghàm ý sâu xa; trước khi nói phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận, khôngnói bừa, nói ẩu; trong khi nói phải hiểu và nắm bắt được tâm lý người nghe, đặtmình vào vị trí của người nghe, tôn trọng người nghe, xưng hô đúng mực Tuyệt đối không dùng những lời miệt thị, tránh nói về mình, tự đề cao mình…,đặc biệt không nói bậy, văng tục, nói năng tuỳ tiện, lỗ mãng Trong ứng xửhàng ngày, nên thường trực câu xin lỗi, cảm ơn nơi cửa miệng Xin lỗi, cảm ơn
là một nét đẹp, chỉ những người sống có văn hoá mới biết nhận lỗi để xin lỗingười khác, biết nhận ơn và cảm ơn người khác Đồng thời luôn ý thức và kiểmtra mình trong mọi lời nói, lời chào khi đến, lúc về, bởi “lời chào cao hơn mâmcỗ”
Học viên đào tạo CTV không chỉ biết nói một cách hấp dẫn, lôi cuốn, dễ hiểu,
nói đúng, nói đủ, mà cần đúng chuẩn mực văn hoá quân nhân, trực tiếp là cáchxưng hô, chào hỏi được quy định trong Điều lệnh quản lý bộ đội Quân đội nhân dânViệt Nam Những quy định ấy chính là sự cụ thể hoá giá trị, chuẩn mực văn hoáứng xử quân nhân Mặt khác, đặc trưng phương thức tổ chức quân đội và hoạt độngquân sự là chỉ huy - phục tùng theo một hệ thống quy chế, điều lệnh, điều lệ vàmệnh lệnh Điều đó đòi hỏi người CTV phải không ngừng rèn luyện, phát triểnngôn ngữ quân sự, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ chỉ huy - ngắn gọn, rõ ràng, chínhxác đáp ứng mục tiêu đào tạo và chức trách, nhiệm vụ sau khi ra trường
Trang 18Thứ ba, nhóm giá trị, chuẩn mực văn hóa ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày Tôn sư, trọng đạo
Trong học tập, rèn luyện học viên vừa ứng xử đúng những quy định, lễtiết, tác phong quân nhân, vừa ứng xử đúng với những giá trị, chuẩn mực vănhoá học đường; trong đó ứng xử theo tinh thần “tôn sư, trọng đạo” giữ vị tríquan trọng hàng đầu
“Tôn sư” là lòng tôn kính, thương mến của người học trò đối với người thầy;
“trọng đạo” là đề cao, xem trọng đạo lý - cái đạo làm người Tinh thần “Tôn sư,trọng đạo” có từ rất lâu, đã trở thành truyền thống tốt đẹp trong văn hoá ứng xửcủa dân tộc ta, quân đội ta Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhậpquốc tế, tinh thần “tôn sư, trọng đạo” của học viên ở TSQCT càng cần được nhậnthức đầy đủ và phát huy cao độ Trong thực tế, người ta thường nhấn mạnh cái
“tôn sư”, còn “trọng đạo” không mấy chú ý, thậm chí không chú ý đến Mặtkhác, hiểu “trọng đạo” cũng chỉ bó hẹp trong quan hệ thầy - trò, nhận thức nhưvậy là không đầy đủ Trọng đạo, phải làm cho cái đạo làm người chân chínhluôn giữ vị trí ưu trội trong mọi mối quan hệ: quan hệ học viên với giảng viên,quan hệ học viên với cán bộ quản lý, học viên với học viên, học viên với lựclượng phục vụ và với nhân dân Điều đó giúp việc xây dựng phong cách ứng
xử văn hoá đối với mọi người, mọi tầng lớp, nhất là đối với cấp dưới sau khihọc viên ra trường trở thành CTV
Trung thực, khiêm tốn, giản dị, nhân ái, vị tha, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ
Đây là những giá trị, chuẩn mực văn hóa ứng xử tạo nên sự gần gũi, tinyêu, khơi dậy tính tích cực hành động cách mạng của mỗi học viên Đồng thờicũng là những giá trị, chuẩn mực cơ bản về phương pháp, tác phong công táccủa CTV Ở phân đội, người CTV cùng ăn, ở, công tác và chiến đấu với cán
bộ, chiến sĩ thuộc quyền, tự mình giải quyết nhiều mối quan hệ xã hội, nhiềuvấn đề thuộc về đời sống chính trị, tinh thần của bộ đội, những vấn đề có sựphức tạp riêng, không giống với sự phức tạp của công tác chỉ huy, hậu cần, kỹ
Trang 19thuật và khác cả việc tiến hành CTĐ, CTCT ở cấp trên phân đội Vì thế, ngườiCTV phải thật sự gần gũi sâu sát bộ đội, hiểu họ như hiểu mình, thân thiết nhưanh em ruột thịt; tiêu biểu cho lòng vị tha, yêu thương con người như tấm lòngngười chị; thẳng thắn, nghiêm túc, minh mẫn về trí tuệ và quyết đoán, sáng tạocủa người anh; chân tình cởi mở, thông hiểu lẫn nhau của người bạn Trong thưgửi Hội nghị chính trị viên toàn quốc năm 1948 Hồ Chí Minh đã dạy: “đối với
bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như mộtngười anh, hiểu biết như một người bạn” [19, tr 392] Do đó, mỗi học viêncần được giáo dục, tự giáo dục nâng cao tính trung thực, khiêm tốn, giản dị,lòng nhân ái, vị tha, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ Điều đó
có ý nghĩa to lớn trong xây dựng khối đoàn kết, nhất trí ở tập thể học viên, tạomôi trường thuận lợi phát triển, hoàn thiện nhân cách văn hoá người CTV
Ăn, ở và trang phục gọn gàng, sạch sẽ; cử chỉ thanh cao, đàng hoàng chững chạc, đúng quy định Đây là giá trị, chuẩn mực vừa biểu hiện sự thống
nhất, vừa làm nên vẻ đẹp, ý nghĩa và giá trị văn hoá đặc sắc của đời sốngquân đội TSQCT là môi trường chuẩn mực cùng chức trách, nhiệm vụ củađội ngũ học viên đòi hỏi họ phải có tính chuẩn xác, ý thức tự giác chấp hànhmọi quy định từ ăn, ở, trang phục, đi đứng một cách nghiêm chỉnh theo đúngđiều lệnh Hơn nữa, là CTV tương lai - người lãnh đạo, người thể hiện tinh thầncủa Đảng trong quân đội, càng đòi hỏi mỗi học viên không ngừng tu dưỡng,rèn luyện, phát triển, hoàn thiện văn hoá ứng xử, trong đó việc ăn, ở, trangphục, cử chỉ giao tiếp thật sự mẫu mực Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “chính trị viênphải làm kiểu mẫu trong mọi việc”[19, tr 393]
Như vậy, văn hoá ứng xử thể hiện ở mỗi lời nói và hành động trong mọimối quan hệ, mỗi học viên ở TSQCT phải luôn tu dưỡng, rèn luyện để hoànthiện văn hóa ứng xử của mình về cả nội dung và hình thức Đồng thời, đócòn là trách nhiệm của tất cả các chủ thể trong phát triển văn hóa ứng xử củahọc viên đáp ứng mục tiêu đào tạo
Trang 201.1.2 Quan niệm về phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị
* Quan niệm về phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT Phát triển văn hóa ứng xử cuả học viên ở TSQCT tuân theo những quy
luật khách quan và chịu sự tác động của nhiều yếu tố Biểu hiện tập trung ởtrình độ của các chủ thể trong việc nắm bắt, vận dụng các quy luật kháchquan, huy động tốt nhất những điều kiện, khả năng có thể thúc đẩy sự pháttriển văn hóa ứng xử của họ đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo
Vì vậy, Phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT là quá trình tác động tích cực, tự giác, hợp quy luật của các chủ thể nhằm trang bị và nâng lên một trình độ mới về thái độ, hành vi ứng xử của học viên trong giải quyết các mối quan hệ với xã hội, với bản thân và chức trách nhiệm vụ theo những giá trị, chuẩn mực văn hóa đáp ứng mục tiêu yêu, cầu đào tạo.
Như vậy, phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT là quá trình
tác động tự giác, có chương trình, kế hoạch, có mục đích với những nội dung,hình thức rõ ràng nhằm trang bị, nâng cao thái độ, hành vi ứng xử có văn hóacủa học viên đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo
Mục đích phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT là nhằm xác
lập ở họ thái độ, hành vi ứng xử có văn hoá của người CTV và biến chúngthành thói quen trong giải quyết các mối quan hệ hàng ngày cũng như trongthực hiện mọi nhiệm vụ theo chức trách
Như trình bày trên, học viên ở TSQCT đều có trình độ phổ thôngtrung học trở lên, có thời gian nhất định học tập, rèn luyện trong môitrường quân sự, do vậy, họ đã có những hiểu biết về truyền thống, nhữnggiá trị và chuẩn mực văn hoá xã hội, văn hoá quân sự và trình độ, khả năngứng xử văn hóa ở một mức độ nhất định Tuy nhiên, so với mục tiêu, yêucầu đào tạo và trình độ văn hoá ứng xử của người CTV còn thiếu và yếu
Trang 21Vì vậy, trong quá trình đào tạo phải tiếp tục trang bị, bù đắp những thiếuhụt và nâng lên một trình độ cao hơn về văn hoá ứng xử để họ có đủ phẩmchất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và chức trách được giao Phát
triển văn hoá ứng xử ở TSQCT là một hoạt động, một quá trình xã hội cho
nên phải gắn với chủ thể nhất định
Chủ thể phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT
Chủ thể phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT là tổ chức lãnh
đạo, chỉ huy các cấp, các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo, đội ngũ giảngviên, cán bộ quản lý học viên và các tổ chức quần chúng trong Nhà trường
Đảng uỷ Nhà trường đến đảng uỷ, chi bộ các khoa giáo viên và các đơn vịquản lý học viên trực tiếp ra nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn hoá ứng
xử cho học viên
Hệ thống tổ chức chỉ huy từ Ban Giám hiệu đến ban chỉ huy lớp (đạiđội) quản lý học viên là chủ thể trực tiếp lập kế hoạch, tổ chức triển khai thựchiện các nội dung, chương trình phát triển văn hoá ứng xử cho học viên mànghị quyết lãnh đạo đã xác định
Các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo, đặc biệt là phòng chính trị,phòng đào tạo, văn phòng, là cơ quan tham mưu cho Đảng uỷ, Ban Giám hiệu
đề xuất chủ trương, nội dung, biện pháp, tổ chức lực lượng; đồng thời, trựctiếp xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình phát
triển văn hoá ứng xử cho học viên
Đội ngũ giảng viên thông qua các bài giảng và các hình thức sau bài giảngtruyền thụ những tri thức về điều lệnh, lễ tiết, tác phong quân nhân, tri thức vềvăn hoá, đặc biệt là tri thức về văn hoá ứng xử gắn với chức trách, nhiệm vụngười học viên phải thực hiện trong tương lai; trao đổi, mạn đàm, thảo luận, cổ
vũ, khuyến khích những thái độ và hành vi chuẩn mực, uốn nắn, phê phán nhữnghiện tượng phi văn hóa qua đó nâng cao trình độ tri thức làm cơ sở hình thành,phát triển thái độ và hành vi ứng xử có văn hóa trong thực tiễn cuộc sống của họ
Trang 22Trong các tổ chức quần chúng, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh vớinhững nội dung, hình thức sinh hoạt, hoạt động phong phú, phù hợp tâm lý tuổitrẻ giúp người học viên tích cực, tự giác tham gia, lĩnh hội cái hay, cái đẹp, cáitốt, thấy được điều nên và không nên làm, từ đó rèn luyện, nâng cao trình độ vănhóa ứng xử của mình.
Trên đây là các chủ thể cơ bản, trực tiếp phát triển văn hoá ứng xử cho
học viên, những chủ thể này có vị trí, vai trò khác nhau theo chức trách,nhiệm vụ; đồng thời có quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau và cùng tác độngđến quá trình phát triển văn hóa ứng xử của học viên Vì vậy, phát triển vănhoá ứng xử của học viên phải có sự phối, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữacác chủ thể trong Nhà trường
Trong Nhà trường, học viên không chỉ là đối tượng mà còn là chủ thể củaquá trình tự phát triển văn hoá ứng xử của bản thân Đó là quá trình lĩnh hội,chuyển hoá những giá trị, chuẩn mực văn hoá ứng xử của xã hội, quân độithành những giá trị, chuẩn mực văn hoá ứng xử bên trong của người học viên
Do đó, sự năng động, sáng tạo, tự giác của học viên trực tiếp quyết định kếtquả phát triển văn hoá ứng xử của họ
Phát triển văn hoá ứng xử của học viên không phải là quá trình đóng kín,TSQCT là một bộ phận của xã hội, hoạt động của học viên cũng chịu sự tácđộng của xã hội; cho nên, ngoài những chủ thể trực tiếp, còn những chủ thể khácnhư: bố, mẹ, anh, em, bạn bè của học viên; nhân dân địa phương nơi đóng quân.Vai trò của các chủ thể này đối với phát triển văn hoá ứng xử của học viên cũnghết sức quan trọng, cần được quan tâm và phát huy
Nội dung phát triển văn hoá ứng xử cho học viên đào tạo ở TSQCT
Văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT là sự biểu hiện tập trung, thốngnhất biện chứng giữa ý thức văn hoá ứng xử và hành vi ứng xử có văn hoácủa người học viên trong giải quyết các mối quan hệ đáp ứng mục tiêu yêu,
cầu đào tạo Vì thế, phát triển văn hoá ứng xử cuả học viên ở TSQCT gồm
những nội dung cơ bản sau:
Trang 23Một là, nâng cao trình độ tri thức và khả năng vận dụng đúng đắn, sáng
tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá, về pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ Nhữngtri thức đó là cơ sở lý luận giúp học viên nhận thức sâu sắc những giá trị,chuẩn mực văn hoá và vận dụng chúng trong điều chỉnh thái độ, hành vi ứng
xử của mình Đồng thời bồi dưỡng những giá trị, chuẩn mực văn hoá ứng xửtruyền thống của dân tộc, quân đội, nhất là truyền thống ứng xử trong laođộng sản xuất và đánh giặc giữ nước
Hai là, trang bị cho học viên những tri thức về văn hoá ứng xử và ý thức tự
giác thực hiện hành vi ứng xử có văn hoá Để học viên dựa vào đó giải quyết tốt cácmối quan hệ theo những giá trị, chuẩn mực văn hoá đã được thừa nhận đáp ứng mụctiêu, yêu cầu đào tạo và chức trách, nhiệm vụ tương lai
Ba là, xây dựng phong cách, lối sống của con người mới xã hội chủ
nghĩa, rèn luyện thói quen ứng xử có văn hoá gắn với rèn luyện lễ tiết, tácphong quân nhân, rèn luyện ý thức tự giác chấp hành kỷ luật và tác phongchính quy trong thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng như giải quyết cácmối quan hệ theo cương vị của người học viên và người CTV
Bốn là, nâng cao nhận thức về hành vi ứng xử có văn hoá, đấu tranh
phê phán các quan điểm và hành vi thiếu văn hoá, trái với lễ tiết, tác phongquân nhân, với thuần phong mỹ tục Việt Nam trong sinh hoạt, học tập, rènluyện, giải quyết các mối quan hệ hàng ngày cũng như trong thực hiện nhiệm
vụ của người học viên
Các nội dung cơ bản trên thể hiện những mặt khác nhau, nhưng có quan
hệ biện chứng, tác động lẫn nhau hợp thành văn hoá ứng xử của người họcviên ở TSQCT Vì vậy, trong quá trình phát triển văn hoá ứng xử cuả họcviên phải phát triển toàn diện, tránh xem nhẹ hoặc tuyệt đối hoá một nội dungnào
Hình thức phát triển văn hoá ứng xử cho học viên ở TSQCT
Trang 24Phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT được thực hiện vớinhiều hình thức đa dạng, phong phú, song nổi lên các hình thức cơ bản sau:
Một là, thông qua các bài giảng lý thuyết kết hợp với hình thức trực
quan trong giáo dục - đào tạo tại Nhà trường Phát triển văn hoá ứng xử củahọc viên là một hoạt động cơ bản trong giáo dục - đào tạo Bởi lẽ, nhà trườngđào tạo học viên phát triển toàn diện, trong đó có văn hoá ứng xử Thông quanhững bài giảng lý thuyết kết hợp với hình thức trực quan của giảng viêntrang bị và nâng cao trình độ tri thức văn hoá ứng xử, xây dựng tình cảm,niềm tin, ý chí của học viên; trên cơ sở đó họ điều chỉnh thái độ, hành vi ứng
xử đúng giá trị, chuẩn mực văn hoá đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo
Hai là, thông qua hoạt động giáo dục - đào tạo chính khoá và ngoại khoá.
Đây là hình thức quan trọng nhằm kết hợp chặt chẽ giữa học lý thuyết với thựchành trong phát triển văn hóa ứng xử cuả học viên Vì, chương trình chính khoámới chỉ giới thiệu những vấn đề cơ bản, những nguyên tắc chung, trong khi vănhoá ứng xử thể hiện hết sức đa dạng, sinh động; cho nên, cần được bổ sung bằnghình thức ngoại khoá gắn với những tình huống cụ thể của cuộc sống hiện thực
Ba là, thông qua tổ chức, quản lý, duy trì các hoạt động của học viên
trong quá trình học tập tại Trường Việc tổ chức, duy trì chấp hành điều lệnh,xây dựng chính quy và môi trường văn hoá, thường xuyên kiểm tra, kịp thờiphát hiện uốn nắn những thái độ, hành vi thiếu văn hoá; khuyến khích, ủng hộthái độ và hành vi văn hoá là những hình thức giúp học viên nâng cao nhậnthức về văn hoá ứng xử, tự rèn luyện phát triển văn hóa ứng xử của họ
Bốn là, thông qua các hoạt động khác trong quá trình đào tạo tại
Trường như: thực hành, thực tập trên các cương vị từ thấp lên cao, thực tậptheo chức trách ở các đơn vị, làm công tác dân vận v.v., Những hoạt động nàygiúp học viên rèn luyện kỹ năng, khả năng đánh giá năng lực thực hành vănhóa ứng xử của mình, qua đó tự điều chỉnh, phấn đấu để đạt kết quả cao hơn
Trang 25Đồng thời còn là cơ sở đánh giá chất lượng hoạt động phát triển văn hóa ứng
xử của học viên của các chủ thể trong Nhà trường
Năm là, thông qua các phương tiện thông tin tuyên truyền Hiện nay,
dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, các phương tiện thôngtin tuyên truyền phát triển rất mạnh, đa dạng và hiện đại Các phương tiện đótruyền tải một khối lượng lớn tri thức, tập quán, truyền thống văn hoá cácnước, các dân tộc cũng như truyền thống văn hoá dân tộc và quân đội ta tớimỗi học viên Qua đó không chỉ bổ sung lý luận mà còn cung cấp những hìnhảnh cảm tính về văn hóa ứng xử của xã hội, quân đội, từ đó nâng cao trình độvăn hóa ứng xử của mỗi học viên
Sáu là, nêu gương ứng xử văn hóa trong Nhà trường Đây là hình thức có
ý nghĩa to lớn, trực tiếp trong phát triển văn hóa ứng xử cho học viên Vì, thái
độ, hành vi ứng xử đúng chuẩn mực văn hoá của các chủ thể là những tấmgương, hình mẫu có sức cảm hoá mạnh mẽ đối với học viên, cuốn hút họ học tậpnoi theo Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đềugiầu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trămbài diễn văn tuyên truyền”[18, tr 263]
Trên đây là những hình thức cơ bản phát triển văn hoá ứng xử chohọc viên ở TSQCT Mỗi hình thức có tác dụng truyền tải nội dung dưới góc
độ khác nhau Tuy nhiên, các hình thức này không tồn tại tách biệt, màquan hệ chặt chẽ, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Vì vậy, để phát triển văn hoáứng xử cuả học viên ở TSQCT có hiệu quả cần phải sử dụng tổng hợp, kếthợp nhiều hình thức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tránh dậpkhuôn máy móc
Thực chất phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT:
Phát triển văn hóa ứng xử của học viên đào tạo ở TSQCT là quá trình khách quan
Trang 26Sự phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT là quá trìnhkhách quan, chịu sự tác động, chi phối của tổng hợp các quy luật tự nhiên
và xã hội; quy luật phát triển văn hoá, phát triển nhân cách; các quy luậtcủa quá trình sư phạm quân sự Hiệu quả tác động của hệ thống quy luậttới phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT hoàn toàn tuỳ thuộcvào khả năng của các chủ thể, trực tiếp là đội ngũ học viên trong nhậnthức, vận dụng chúng; biểu hiện tập trung ở việc nắm bắt, định hướng cho
sự tác động của từng quy luật cũng như sự tác động tổng hợp của chúngtrong những điều kiện xác định
Phát triển văn hóa ứng xử của học viên đào tạo ở TSQCT là quá trình liên tục phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn vốn có trên mọi phương diện hoạt động sống của họ trong suốt quá trình giáo dục - đào tạo tại Trường
Quá trình phát triển văn hóa ứng xử của học viên luôn chứa đựng nhữngmâu thuẫn nội tại; thực chất đây là quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫngiữa những xu hướng vận động, biến đổi đối lập nhau giữa cái cũ và cái mới,cái lạc hậu và cái tiên tiến hợp quy luật Trong quá trình phát triển, các mâuthuẫn tồn tại đa dạng và tiềm ẩn trong các yếu tố cấu thành văn hóa ứng xử họcviên Đồng thời, các mâu thuẫn còn tồn tại ngay trong cách thức, khuynhhướng, gắn với mỗi giai đoạn của quá trình phát triển
Bởi vậy, quá trình phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT trướchết, là quá trình các chủ thể thường xuyên phát hiện những mâu thuẫn nội tại trongthái độ và hành vi ứng xử của họ Việc phát hiện mâu thuẫn phải tuân thủ nguyêntắc khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể, trên cơ sở bám sát những biểu hiện cụ thểcủa văn hóa ứng xử trong toàn bộ cuộc sống, hoạt động của mỗi học viên cũng nhưtập thể học viên; quan hệ của nó với hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa ứng xử Từ đóxác định, phân loại đúng mâu thuẫn, tích cực thiết lập những điều kiện cần thiết để
Trang 27giải quyết, chuyển hoá các mâu thuẫn tạo động lực cho quá trình phát triển văn hóaứng xử của học viên
Phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT là quá trình thường xuyên tích luỹ về lượng dẫn đến sự chuyển hoá về chất các yếu tố cấu thành văn hóa ứng xử của họ
Văn hóa ứng xử không phải tự nhiên sẵn có, mà được hình thành, pháttriển trong suốt cả quá trình giáo dục, rèn luyện; tự giáo dục, tự rèn luyệncông phu, gian khổ Do đặc điểm về tâm, sinh lý của con người nói chung,
từ mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố sinh học với yếu tố xã hội trong bảnchất con người nên một điều dễ nhận thấy là: để một cá nhân tiếp thu vàrèn luyện được một phẩm chất, thói quen tốt đòi hỏi phải tốn nhiều công sức,mất nhiều thời gian Nhưng khả năng bắt chước, tập nhiễm một thói quen,hành vi xấu thì lại khá nhanh và dễ Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở mọingười phải rèn luyện tính kiên trì, Người viết: “Học cái tốt thì khó, ví nhưngười ta leo núi; phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh Học cái xấu thì dễ,như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu” [24, tr 346]
Để phát triển văn hóa ứng xử của học viên, các chủ thể tiến hànhgiáo dục cũng như đội ngũ học viên cần kiên trì, bền bỉ; rèn luyện thóiquen hành vi tốt đẹp từ nhỏ tới lớn Chống tư tưởng nóng vội, chủ quanđốt cháy giai đoạn Mặt khác, khi đã có sự tích luỹ đầy đủ về lượng, phảibằng những biện pháp cụ thể, kiên quyết tạo sự chuyển hoá về chất vănhoá ứng xử của người học viên; khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại, ngạikhó, ngại khổ, ngại rèn luyện
Phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT là quá trình quanh co phức tạp, thông qua các chu kỳ phủ định biện chứng.
Xét về lôgíc tất yếu thì khuynh hướng của sự phát triển bao giờ cũngchứa đựng quá trình xuyên qua cực đối lập với nó “Từ khẳng định đến phủđịnh, từ sự phủ định đến “sự thống nhất” với cái bị khẳng định” [15, tr 246]
Trang 28Đây là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa một bên là các giá trị, chuẩnmực của văn hóa ứng xử với một bên là những thói quen, những tàn dư củavăn hóa, lối sống cũ, cách ứng xử lệch chuẩn trước tác động của mặt trái kinh
tế thị trường; giữa cái cao đẹp với cái thấp hèn, giữa nhân đạo với phi nhânđạo Trong cuộc đấu tranh này không phải lúc nào cái tốt, cái tích cực cũngchiến thắng ngay được Thậm chí, ở những cá nhân cụ thể, ở những hoàn cảnh
và thời điểm cụ thể thì cái tốt, cái tích cực còn bị cái xấu, cái tiêu cực lấn át.Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhận thức khuynh hướngphát triển văn hóa ứng xử của học viên ở những điều kiện xác định của quátrình giáo dục - đào tạo tại Trường
Như vậy, phát triển và hoàn thiện văn hóa ứng xử của người học viên ởTSQCT là một quá trình lịch sử, quá trình mà mỗi học viên sẽ vừa phải khẳngđịnh mình theo những chuẩn mực, giá trị văn hoá ứng xử chung, vừa phải tự phủ
định mình, phải tự gạt bỏ khỏi mình những chuẩn mực, giá trị đã lỗi thời để
vươn lên đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo
1.1.3 Tiêu chí đánh giá phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị
Tiêu chí hiểu theo nghĩa phổ quát nhất là những tính chất, dấu hiệu đượcdùng làm căn cứ để nhận biết, đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó Để đánhgiá đúng sự phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT hiện nay cần dựavào các tiêu chí cơ bản sau:
Một là, mức độ nhận thức của các chủ thể về mục tiêu, vị trí và vai trò
của việc phát triển văn hoá ứng xử cho học viên
Phát triển văn hoá ứng xử cho học viên ở TSQCT là hoạt động tự giáccủa các chủ thể trong nhà trường, cho nên, khi xem xét, đánh giá, trước hết,phải căn cứ vào mức độ nhận thức của họ về mục tiêu, vị trí và vai trò củahoạt động này Mức độ nhận thức về mục tiêu, vị trí, vai trò của việc pháttriển văn hóa ứng xử của học viên của các chủ thể thể hiện ở sự nhận thức vềnhững nội dung này đã đúng đắn chưa; nhận thức đúng đến mức độ nào v.v
Trang 29Hai là, tính tích cực, chủ động, linh hoạt và sáng tạo của các chủ thể
trong xác định và sử dụng những nội dung, hình thức, biện pháp phát triểnvăn hoá ứng xử của học viên
Tính tích cực, chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong phát triển văn hoáứng xử của học viên thể hiện ở chỗ, họ đã xác định đúng nội dung; tìm ranhững hình thức, biện pháp phù hợp với từng nội dung, từng đối tượng, từngthời kỳ hay chưa; mức độ, phạm vi tích cực, chủ động, linh hoạt đến đâu v.v
Ba là, việc xác định động cơ, trách nhiệm và ý chí của đội ngũ học viên
trong hoạt động tự phát triển văn hoá ứng xử của bản thân
Hoạt động tự phát triển của học viên thể hiện, trước hết, ở việc xác địnhđộng cơ, trách nhiệm và ý chí trong hoạt động tự tu dưỡng, rèn luyện văn hoáứng xử của họ Cụ thể là, phải xét xem họ đã xác định đúng động cơ, đã thểhiện tinh thần trách nhiệm trong hoạt động tự phát triển văn hoá ứng xử chưa;
ý chí của họ trong thực hiện vấn đề này như thế nào v.v
Bốn là, sự trưởng thành về văn hoá ứng xử của học viên.
Sự trưởng thành về văn hoá ứng xử của học viên được thể hiện ở sự hiểubiết về các giá trị, chuẩn mực văn hóa ứng xử chi phối suy nghĩ và hành độngcủa họ; ở thái độ, hành vi ứng xử trong giải quyết các mối quan hệ, trong thựchiện chức trách, nhiệm vụ theo những giá trị, chuẩn mực văn hoá đáp ứng mụctiêu, yêu cầu đào tạo Cụ thể là thái độ, hành vi ứng xử trong quan hệ thày -trò; cấp trên - cấp dưới; quan hệ đồng chí, đồng đội; quan hệ quân - dân và thái
độ, hành vi ứng xử trong quá trình học tập, rèn luyện theo mục tiêu, yêu cầu đàotạo
Trên đây là các tiêu chí cơ bản để đánh giá hoạt động phát triển văn hoá ứng
xử cho học viên ở TSQCT Các tiêu chí đó là một chỉnh thể thống nhất, cóquan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau Vì vậy, trong nghiên cứu,đánh giá hoạt động phát triển văn hoá ứng xử cho học viên ở TSQCT cầnnắm vững và vận dụng linh hoạt
Trang 301.2 Thực trạng và nguyên nhân phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay
1.2.1 Thực trạng phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở Trường
Sĩ quan Chính trị hiện nay
Để đánh giá chính xác, khách quan, khoa học quá trình phát triển vănhóa ứng xử của học viên ở TSQCT hiện nay, cần phải bám sát các tiêu chí cóbản được xác định trên
* Những ưu điểm:
Thực trạng phát triển văn hoá ứng xử của học viên đào tạo ở TSQCTtrong những năm qua đã đạt được một số mặt sau:
Thứ nhất, các chủ thể đã nhận thức đúng đắn việc phát triển văn hoá ứng
xử cuả học viên là việc làm cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, xây dựng nhà trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực.
Trong những năm qua, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu cùng các lực lượng
sư phạm trong Nhà trường đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng,chỉ thị, hướng dẫn của trên về phát triển văn hoá ứng xử cho học viên Xácđịnh đây là một mặt công tác cần thiết, thường xuyên của cấp uỷ, chỉ huycác cấp và lực lượng sư phạm nhằm nâng cao trình độ văn hoá ứng xử củahọc viên, góp phần tạo sự chuyển biến toàn diện, đồng bộ về chất lượng,hiệu quả trong giáo dục - đào tạo, rèn luyện, xây dựng nền nếp chính quycủa Nhà trường Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, các cơ quan chức năng luôn cónhững biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp vớitừng đơn vị, với địa bàn nơi đóng quân; phát hiện, uốn nắn, khắc phục kịpthời những lệch lạc trong nhận thức về công tác phát triển văn hoá ứng xửcho học viên của các lực lượng sư phạm trong Nhà trường
Qua trao đổi, với đại biểu phòng chính trị, văn phòng Nhà trường và khảosát, điều tra ở 2 hệ, 2 tiểu đoàn quản lý học viên cho thấy: những biểu hiện lệch lạc,thiếu trách nhiệm của một số cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp, đội ngũ giảng viên
Trang 31trong thực hiện công tác phát triển văn hóa ứng xử cho học viên ở Nhà trường đãnhanh chóng được chấn chỉnh và chuyển biến theo chiều hướng tích cực
Các lực lượng sư phạm trong Trường đã có nhận thức khá đúng đắn vềtầm quan trọng của việc phát triển văn hoá ứng xử của học viên Đội ngũgiảng viên đã hiểu rõ, quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy không chỉđơn thuần là dạy “chữ”, truyền thụ kiến thức qua từng chủ đề bài giảng màcòn kết hợp tốt việc dạy “người”, hình thành những phẩm chất nhân cáchcần thiết của người CTV tương lai, trong đó có thái độ, hành vi ứng xử củahọc viên đối với nhiệm vụ học tập, với mọi người xung quanh và bản thânmình Hầu hết cán bộ quản lý, người thầy “tại chỗ”, trực tiếp quản lý, tổchức rèn luyện mọi mặt hoạt động của học viên theo mục tiêu đào tạo, đãnhận thức đúng vai trò quan trọng của văn hoá ứng xử và phát triển vănhoá ứng xử của học viên Kết quả trưng cầu ý kiến: có 71% cán bộ quản lý,giảng viên; 75,62% học viên được điều tra cho rằng, các chủ thể trong Nhàtrường đã có nhận thức tốt về phát triển văn hoá ứng xử cho học viên đápứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo [Phụ lục 1,2 -C6]
Thứ hai, các chủ thể đã tích cực, chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong sử dụng những nội dung, phương pháp, hình thức phát văn triển văn hoá ứng xử cho học viên
Nhà trường đã có nhiều cố gắng, tích cực chỉ đạo các phòng, khoa,ban, hệ, tiểu đoàn; tổ chức quần chúng phát huy tính sáng tạo trong đề xuấtcác nội dung, hình thức, phương pháp nhằm phát triển văn hóa ứng xử củahọc viên Trên thực tế, Nhà trường, cơ quan, đơn vị đã có những nội dung,hình thức, phương pháp tổ chức công tác phát triển văn hoá ứng xử cho họcviên phong phú, đa dạng, có tác dụng tích cực, thiết thực
Trên cơ sở nghiên cứu, quán triệt chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về giáodục - đào tạo, kết quả thực thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo hàng năm, cáclực lượng sư phạm trong Nhà trường đã chủ động hơn trong công tác phát triển
Trang 32văn hoá ứng xử cho học viên Trong các nghị quyết lãnh đạo năm học của Đảng
uỷ Nhà trường, đảng ủy các hệ, tiểu đoàn, các chi bộ đã có nội dung về phát triểnvăn hóa ứng xử cho học viên Nhà trường, cơ quan chính trị chủ động hướng dẫn
tổ chức Đoàn thanh niên, các đơn vị quản lý học viên tiến hành giáo dục về mụcđích, yêu cầu, ý nghĩa, tầm quan trọng của phát triển văn hoá ứng xử, từ đó từngbước tạo được sự thống nhất, nâng cao nhận thức cho các tổ chức, các lực lượng
sư phạm của Nhà trường về phát triển văn hoá ứng xử cho học viên
Trong những năm qua, cấp uỷ, chỉ huy các cấp, cơ quan chính trị đã tậptrung lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, quản lý học viên; kết hợp giáo dụcnâng cao ý thức chấp hành pháp luật, rèn luyện kỷ luật - xây dựng chính quy vớiphát triển văn hoá ứng xử cho học viên Nhà trường đã tổ chức nhiều hoạt độngthiết thực nhằm nâng cao trình độ văn hoá ứng xử cho học viên: Tổ chức diễn đàn
“Thanh niên Nhà trường với khát vọng cống hiến và trưởng thành”; phối hợp vớiBáo Quân đội nhân dân, Báo Bắc Ninh, Đài Phát thanh và truyền hình Bắc Ninh tổchức chương trình giao lưu - nghệ thuật “35 năm - giảng đường chắp cánh ướcmơ”; phối hợp với Trường Đại học Văn hoá nghệ thuật Quân đội tổ chức chươngtrình giao lưu - nghệ thuật “Nhà giáo - nghệ sĩ - chiến sĩ”; phối hợp tổ chức hoạtđộng “Giáo dục lý luận chính trị, lịch sử, truyền thống” với Bộ Tư lệnh Bảo vệLăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hoạt động phát triển văn hoá ứng xử cho học viên đã được tiến hànhkhá tốt, tương đối toàn diện cả về thái độ và hành vi ứng xử trong quan hệthầy với trò; với cấp trên; với các lực lượng phục vụ trong quá trình học tập,sinh hoạt; với nhân dân khi có điều kiện tiếp xúc; với nhiệm vụ học tập, rènluyện; giữa học viên với học viên Kết quả khảo sát: có từ 60% đến 82,5% cácđối tượng được điều tra nhất trí đánh giá đã làm tốt và tương đối tốt các nộidung này [Phụ lục 1 - C10, 2 - C12]
Quá trình phát triển văn hóa ứng xử của học viên đã tập trung nâng caonhận thức, thái độ, niềm tin, ý chí, xây dựng động cơ, trách nhiệm và định
Trang 33hướng cách thức ứng xử cho học viên, đề cao giá trị chính trị - tinh thần, gópphần hạn chế những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, tạo sựhài hoà trong cách sống cũng như cách thức ứng xử Kết quả điều tra: có trên70% cán bộ, giảng viên và học viên cho rằng các lực lượng sư phạm trongtrường đã chú ý xây dựng động cơ, tinh thần trách nhiệm đối với học viêntrong việc rèn luyện văn hoá ứng xử [Phụ lục 1 - C8, 2 - C7].
Hoạt động phát triển văn hoá ứng xử cho học viên ở Nhà trường đượckết hợp khá tốt với quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, nghiên cứukhoa học, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng các tổ chức, đoànthể vững mạnh Tổ chức đoàn ở các đơn vị đã thực hiện phát triển văn hoá ứng
xử cho học viên khá tốt thông qua các hoạt động ngoại khoá
Các khoa giáo viên đã tập trung gắn quá trình phát triển văn hoá ứng
xử của học viên thông qua các khâu, các bước, các hình thức của quá trìnhgiáo dục - đào tạo và hướng dẫn học viên nghiên cứu khoa học Một số khoa
đã chủ động lồng ghép, tuy chưa nhiều, các nội dung mang tính vận dụng, bổtrợ, liên hệ trong bài giảng với cách thức ứng xử sát với nhiệm vụ, chức tráchcủa học viên sau khi tốt nghiệp ra trường Kết quả trưng cầu ý kiến: có 83%cán bộ quản lý, giáo viên, 66,25% học viên cho rằng thông qua giảng dạy ởtrên lớp đội ngũ giảng viên đã kết hợp phát triển văn hoá ứng xử cho học viên[Phụ lục 1- C13, 2 - C15]
Trong phát triển văn hoá ứng xử của học viên, Nhà trường đã chủđộng làm tốt công tác phát hiện và nhân rộng điển hình tiên tiến, những việclàm tốt, những biểu hiện tốt về phẩm chất đạo đức, lối sống, cách ứng xửđúng chuẩn mực văn hoá của học viên được khuyến khích, biểu dương;những biểu hiện sống, làm việc xa rời các tiêu chí, chuẩn mực văn hoá đãđược phê phán thông qua sinh hoạt của các tổ chức đảng, đoàn, sinh hoạt đơnvị; qua bản tin thi đua, hệ thống phát thanh nội bộ của đơn vị và Nhà trường
Trong tổ chức thực hiện phát triển văn hoá ứng xử cho học viên, Nhàtrường đã chủ động, từng bước có hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị quản lý học
Trang 34viên, tổ chức đoàn điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sát hợp với những yêu cầumới trong đào tạo, cũng như phát triển văn hoá ứng xử cho học viên Kết quảtrưng cầu ý kiến cho thấy: 62 % cán bộ quản lý học viên, giảng viên; 68,5
% học viên được hỏi cho rằng, đội ngũ cán bộ quản lý học viên đã tích cực,chủ động tổ chức, thực hiện công tác phát triển văn hoá ứng xử cho học viên[Phụ lục 1 - C13.4, 2 - C15.4]
Thứ ba, phần lớn học viên có động cơ đúng đắn, trách nhiệm cao trong
tự rèn luyện, phát triển văn hoá ứng xử.
Dưới sự tác động của các lực lượng sư phạm trong Nhà trường và tự ýthức của học viên, một bộ phận học viên đã hình thành được động cơ đúngđắn, trách nhiệm cao và ý chí khá tốt trong rèn luyện văn hoá ứng xử Thôngqua hoạt động lĩnh hội kiến thức, phát triển các phẩm chất nhân cách theo mụctiêu, yêu cầu đào tạo làm nảy sinh nhu cầu rèn luyện, nâng cao trình độ văn hoáứng xử tương ứng Điều đó góp phần quan trọng trong nâng cao chất lượngphát triển, hoàn thiện nhân cách người CTV theo mục tiêu đào tạo
Một bộ phận học viên đã chủ động, thường xuyên xác lập nội dung tựrèn luyện phát triển văn hoá ứng xử thông qua tìm đọc các tài liệu về văn hoáứng xử trên các sách, báo ở thư viện, trên mạng internet vào các ngày nghỉcuối tuần; lập kế hoạch và thực hiện theo kế hoạch rèn luyện văn hoá ứng xửthông qua các tình huống giao tiếp với các lực lượng trong Nhà trường khihọc tập, sinh hoạt thường ngày; tự đánh giá các biện pháp và kết quả rènluyện văn hoá ứng xử của bản thân mình [Phụ lục 2 - C11] Ý chí trong tự rènluyện, phát triển văn hoá ứng xử của học viên khá tốt Thông qua các tìnhhuống trong sinh hoạt, học tập, công tác, phần lớn học viên đã thể hiện cáchứng xử có văn hoá, phù hợp với yêu cầu của xã hội và đúng quy định của điềulệnh, lễ tiết, tác phong quân nhân Họ đã biết tự kiểm tra, đánh giá kết quảứng xử cả thành công và chưa thành công, qua đó củng cố ý chí, quyết tâmphát huy mặt tốt, khắc phục mặt hạn chế, không ngừng nâng cao trình độ vănhoá ứng xử của mình Kết quả trưng cầu ý kiến đối với học viên: có 24,5%
Trang 35cho rằng, đã thường xuyên, 75,5 % đôi khi tự đánh giá kết quả rèn luyện vănhoá ứng xử của bản thân [Phụ lục 2 - C11.4].
Thứ tư, về cơ bản trình độ văn hoá ứng xử của học viên đã đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
Kết quả phát triển văn hoá ứng xử cho học viên biểu hiện rõ nét nhất ở
sự chuyển biến về nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử theo hướng ngày càngđáp ứng tốt hơn những yêu cầu về văn hoá ứng xử của học viên Nhìn chung,mức độ ứng xử của học viên hiện nay khá tốt so với mục tiêu yêu, cầu đàotạo Hoạt động phát triển văn hoá ứng xử cho học viên đã mang lại hiệu quả thiếtthực về ý thức tu dưỡng, rèn luyện văn hoá ứng xử, góp phần ngăn ngừa sự suythoái về chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, từng bước củng cố,nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội về chính trịtrong thời kỳ mới Từ nhận thức đến hành động của học viên đã có nhữngchuyển biến rõ nét, tích cực, nhận thức các nội dung cơ bản, cụ thể về vănhoá ứng xử được nâng lên rõ rệt Mỗi học viên trong nhà trường đã tự điềuchỉnh hành vi, lối sống, cách nghĩ, cách làm; xây dựng phong cách làm việckhoa học góp phần hình thành các phẩm chất nhân cách theo mục tiêu, yêucầu đào tạo Qua điều tra cho thấy: có 57 % số cán bộ quản lý, giáo viên; 59
% số học viên được hỏi cho rằng, thực trạng văn hoá ứng xử của học viênhiện nay là tốt và khá [Phụ lục 1, 2 - C1] Số liệu tổng hợp kết quả rèn luyệncủa học viên các năm học từ 2006 đến 2010 của Phòng Đào tạo cũng thểhiện rõ: năm học 2006-2007, rèn luyện tốt 96,50%, khá 3,40%; 2007-2008rèn luyện tốt 92,30%, khá 7,56%; 2008-2009 rèn luyện tốt 94,66%, khá4,15%; 2009-2010 rèn luyện tốt 94,89%, khá 4,23% [Phụ lục 3]
Biểu hiện cụ thể trên các khía cạnh:
Thái độ, hành vi ứng xử với cấp trên, tập trung chủ yếu là đối với đội ngũcán bộ quản lý học viên và đội ngũ giảng viên đảm bảo tốt Trong giải quyếtmối quan hệ với đội ngũ cán bộ quản lý học viên trực tiếp và không trực tiếp ởcác hệ, tiểu đoàn, lớp, đại đội thể hiện đúng điều lệnh quản lý bộ đội Đội ngũ
Trang 36học viên có thái độ tôn trọng chỉ huy các cấp, khi được giao các nhiệm vụ đều
có sự nỗ lực cố gắng trong thực hiện, phát ngôn, lời nói thể hiện sự khiêm tốn.Trong giao tiếp, tiếp xúc với đội ngũ giảng viên, học viên thể hiện rõ sự tôntrọng thầy, chú ý trong quá trình nghe giảng, ít có hiện tượng nói chuyện riêng,cười đùa trong lớp học; khi học các hình thức sau bài giảng như trao đổi, thảoluận, nhiều học viên đã mạnh dạn trong giao tiếp, tiếp xúc trao đổi với giảngviên làm rõ các nội dung vướng mắc với thái độ cầu thị, khiêm tốn học hỏi.Qua thực tế điều tra: có 77 % số cán bộ quản lý, giảng viên; 71,5 % số học viêncho rằng, thái độ, hành vi ứng xử của học viên đối với đội ngũ giảng viên ởmức tốt và khá [Phụ lục 1, 2 - C2]
Thái độ, hành vi ứng xử giữa học viên với học viên trong học tập, côngtác thể hiện được mối quan hệ đồng chí đồng đội, những người cùng chungchí hướng học tập, rèn luyện để trở thành CTV Do đó, các học viên đã có sựđồng cảm, tôn trọng nhân cách, chia sẻ giúp đỡ nhau trong học tập, công táccũng như trong đời sống hàng ngày để cùng nhau vượt qua khó khăn, hoànthành tốt nhất nhiệm vụ học tập, rèn luyện tại Trường Nhà trường là môitrường có tổ chức chặt chẽ và yêu cầu cao, học tập rèn luyện, sinh hoạt tậptrung, một số học viên đã tỏ thái đội không đồng tình, mạnh dạn đấu tranhphê phán góp ý trên tinh thần xây dựng với các học viên khác khi họ cónhững hành động vi phạm quy định của quân đội, Nhà trường, đơn vị, lời nóithiếu văn hoá Kết quả điều tra: có 71 % số cán bộ quản lý, giảng viên, 68,5
% số học viên cho rằng, thái độ, hành vi ứng xử của học viên đối với học viên
ở mức tốt và khá [Phụ lục 1,2 - C3]
Thái độ, hành vi ứng xử với nhân dân, trong tiến trình huấn luyện hàng năm,học viên thực hiện học tập dã ngoại các nội dung quân sự, các hoạt động kết nghĩa,giao lưu với địa phương nơi đóng quân, đi làm công tác dân vận, tiếp xúc với nhândân họ đã có những hành vi ứng xử văn hoá phù hợp thuần phong, mỹ tục, bản sắcvăn hoá Việt Nam Qua trao đổi với cơ quan chính trị và cán bộ quản lý học viêncho thấy: học viên cơ bản đã giải quyết tốt mối quan hệ đối với nhân dân, trong giao
Trang 37tiếp, tiếp xúc với nhân dân niềm nở, kính trọng, thể hiện tác phong chững chạc củangười học viên đào tạo CTV, tích cực giúp đỡ nhân dân trong thực hiện nhiệm vụcủa mình và đơn vị Kết quả điều tra cho thấy: có 74 % cán bộ quản lý, giảng viên;74,5 % học viên cho rằng, thái độ, hành vi ứng xử của học viên đối với nhân dânkhi thực hiện các nhiệm vụ dã ngoại, dân vận ở mức tốt và khá [Phụ lục 1,2 - C4].Thái độ, hành vi ứng xử với nhiệm vụ học tập, rèn luyện, học viên đã có thái
độ, hành vi đúng Đa số học viên đều có nhận thức, thái độ, động cơ tốt, tráchnhiệm, lo lắng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện; thể hiện rõ nét
là tinh thần học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, phẩm chất và năng lực, phục
vụ lâu dài trong quân đội, đóng góp sức mình xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa Từ thực tiễn học tập, đa số học viên chấp hànhnghiêm quy định, quy chế giáo dục - đào tạo của Nhà trường, tập trung chú ýnghe giảng; hoạt động tự học ở hội trường, ở nhà thực hiện có nền nếp, giữgìn trật tự, không để ảnh hưởng đến hoạt động tự học, tự nghiên cứu của cáchọc viên khác; mạnh dạn trao đổi lẫn nhau về nội dung học tập; chấp hành tốtquy chế thi, kiểm tra Qua thực tế điều tra: có 63% số cán bộ quản lý, giảngviên, 72 % số học viên cho rằng, thái độ, hành vi ứng xử của học viên đối vớinhiệm vụ học tập, rèn luyện ở mức tốt và khá [Phụ lục 1,2 - C5]
* Một số hạn chế
Bên cạnh nỗ lực và thành tích đã đạt được, quá trình phát triển văn hoáứng xử của học viên còn bộc lộ những hạn chế nhất định Sự hạn chế đó thểhiện ở một số nội dung sau:
Một là, trong nhận thức cũng như sự tích cực, chủ động, linh hoạt và sáng tạo thực hiện phát triển văn hoá ứng xử của học viên của một số cán bộ, giảng viên còn chưa thường xuyên, chưa đều, chưa xứng với tiềm năng
Một số cán bộ quản lý học viên, giảng viên còn chưa thực sự chủđộng, tích cực thực hiện công tác phát triển văn hoá ứng xử cho học viênmột cách toàn diện Cán bộ quản lý học viên ở cấp đại đội (lớp) nhiều lúc mớichỉ quan tâm nhiều đến nâng cao kết quả về điểm số của học viên qua các lần
Trang 38thi; chưa xác định kế hoạch một cách rõ ràng, chi tiết về mục đích yêu cầu,nội dung, biện pháp cụ thể nhằm phát triển văn hoá ứng xử cho học viên quatừng năm học, với các nhiệm vụ cụ thể hoặc ứng xử như thế nào khi tiếp xúcvới nhân dân địa phương lúc hoạt động dã ngoại, dân vận, kết nghĩa Do chưa
có sự chủ động, nên một số cán bộ quản lý còn lúng túng trong các phươngpháp tổ chức thực hiện nhằm hoàn thiện cách ứng xử có văn hoá cho họcviên Một số giảng viên, nhất là các đồng chí trợ giảng, giảng viên trẻ, mớitập trung nhiều vào truyền thụ kiến thức, chưa thể hiện rõ sự vận dụng liên
hệ với chức trách, nhiệm vụ của học viên khi học tập tại Trường và trêncương vị công tác sau này về cách ứng xử
Hai là, nội dung, hình thức, phương pháp phát triển văn hoá ứng xử của học viên đôi khi còn cứng nhắc, chưa thật phù hợp
Hoạt động phát triển văn hoá ứng xử cho học viên của các chủ thể nhưcấp uỷ, chỉ huy đơn vị quản lý học viên, chi đoàn chưa được duy trì mộtcách thường xuyên, liên tục Trong xác định bổ sung, cụ thể hóa nội dungphát triển văn hoá ứng xử tuy có nhiều cố gắng, nhưng nhiều lúc vẫn cònchung chung, chưa có nhiều nội dung thiết thực, gắn sát với từng đối tượnghọc viên Kết quả trưng cầu ý kiến: có 25 % cán bộ quản lý, giảng viên; 25%học viên cho rằng, nội dung thực hiện phát triển văn hóa ứng xử cho họcviên còn chung chung, chưa được cụ thể hoá phù hợp với nhiệm vụ, chứctrách của học viên [Phụ lục 1- C11, 2 - C13] Một số ít học viên còn chorằng, cán bộ quản lý hoặc tổ chức đoàn ở đại đội rất ít có các hoạt độngnhằm phát triển văn hoá ứng xử cho học viên
Hình thức, phương pháp phát triển văn hoá ứng xử cho học viên còn đơnđiệu, chưa chú ý nhiều đến đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi; nhiều lúc còn có biểuhiện thiên về áp đặt mệnh lệnh mà chưa làm rõ để thuyết phục học viên nhận thứcthấy được cách ứng xử phù hợp, các quy tắc chung trong các hoàn cảnh giao tiếpvới các đối tượng cụ thể Kết quả trưng cầu ý kiến: có 26 % cán bộ quản lý học
Trang 39viên, giảng viên; 37% học viên cho rằng, hình thức thực hiện cho học viên cònhạn chế [Phụ lục 1 - C13, 2 - C15].
Kết hợp giữa “xây” và “chống” trong phát triển văn hoá ứng xử của họcviên có thời điểm chưa chặt chẽ, chưa được chú trọng đúng mức Qua điềutra cho thấy: 19 % cán bộ quản lý, giảng viên khi thấy học viên có nhậnthức, thái độ, hành vi ứng xử không phù hợp với chuẩn mực văn hoá, quan hệgiữa các quân nhân còn chưa kiên quyết nhắc nhở [Phụ lục 1 - C9] Đội ngũcán bộ quản lý học viên nhắc nhở kiên quyết hơn so với đội ngũ giảng viên;với đội ngũ giảng viên việc nhắc nhở thường xuyên cũng tập trung nhiều khigiảng trên lớp, còn khi gặp gỡ giao tiếp trong cuộc sống đời thường, sinh hoạtngoài giờ lên lớp việc nhắc nhở, uốn nắn ít hơn
Ba là, một bộ phận học viên có thái độ chưa đúng, trách nhiệm chưa cao trong tự rèn luyện, phát triển văn hoá ứng xử, còn có những biểu hiện ứng xử thiếu văn hóa.
Một bộ phận học viên chưa thực sự chú trọng tu dưỡng, rèn luyện vănhoá ứng xử đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo Trong thực tiễn, không nhiềuhọc viên có được sự đồng bộ và thường xuyên về rèn luyện văn hoá ứng xử từnhận thức rõ yêu cầu cần đạt được văn hoá ứng xử của bản thân như là mộtphẩm chất cấu thành trong nhân cách của người CTV tương lai, để từ đó xâydựng được một kế hoạch chi tiết với mục tiêu cụ thể, khả thi về rèn luyện vănhoá ứng xử, lấy đó làm căn cứ để đối chiếu tự đánh giá kết quả rèn luyện,hoàn thiện, rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân [Phụ lục 2 - C11].Chính từ nhận thức chưa thật đầy đủ nên tính tích cực, trách nhiệm thấp trongquá trình tự rèn luyện, tích luỹ hiểu biết, ứng xử đúng trong quan hệ với chỉhuy, với học viên khác trong lớp cũng như với các quân nhân khác
Biểu hiện văn hoá ứng xử ở một bộ phận học viên còn kém Điều đó,biểu hiện ở thái độ, hành vi ứng xử với những người xung quanh, với thựchiện nhiệm vụ, chức trách được giao chưa phù hợp với chuẩn mực văn hoá.Nhận thức, trách nhiệm của một số học viên chưa đầy đủ về lối sống có văn
Trang 40hoá nói chung, văn hoá ứng xử nói riêng Họ đua đòi, hướng theo thứ vănhoá “lai căng”, sử dụng ngôn từ không chuẩn mực, không phù hợp vớithuần phong mỹ tục, với môi trường quân đội; có trường hợp còn biểu hiệnsống thiếu trách nhiệm, chỉ lo cho cuộc sống của riêng mình, ít hoặc khôngquan tâm đến người xung quanh; khi đi lại trong Trường ngoài giờ học tậpchưa chào theo điều lệnh, thậm chí có học viên khi gặp cán bộ đơn vị kháchay giảng viên còn không chào hoặc lảng tránh v.v Thậm chí còn số ít họcviên vi phạm kỷ luật phải xử lý và thải loại: năm học 2009 - 2010 Nhàtrường đã thải loại: 11 học viên (07 xin thôi học, 03 vi phạm kỷ luật, 01không đủ tiêu chuẩn), năm học 2010 - 2011 thải loại: 36 học viên (07 xinthôi học, 25 vi phạm kỷ luật, 04 không đủ tiêu chuẩn) [Phụ lục 6]
Sự hạn chế trong ứng xử của học viên còn biểu hiện ra ở sự thiếu tựtin hoặc tỏ ra quá rụt rè trong giao tiếp, bày tỏ quan điểm của mình; một
số học viên còn lúng túng, chưa hình thành các kỹ năng cần thiết khi phảigiao tiếp với những đối tượng mới, chậm thích nghi với môi trường mới
Tóm lại, quá trình phát triển văn hóa ứng xử của học viên ở TSQCT hiệnnay, đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên với yêu cầu ngày càngcao của sự nghiệp cách mạng, sự biến động của tình hình mới cần phải cónhững giải pháp phù hợp để hoạt động phát triển văn hóa ứng xử cuả họcviên ở TSQCT ngày càng đạt được hiệu quả cao hơn
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay
* Nguyên nhân ưu điểm
Thứ nhất, Đảng ủy, Ban giám hiệu, các cơ quan chức năng đã luôn
quan tâm đến phát triển văn hoá ứng xử của học viên
Thành quả phát triển văn hoá ứng xử của học viên ở TSQCT là công sứctổng hợp của các tổ chức, của tập thể cán bộ, giảng viên trong toàn Trường, màquan trọng nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, cụ thể của Đảng ủy, Ban GiámHiệu và các cơ quan chức năng đối với phát triển văn hóa ứng xử của học viên