1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay thực trạng và các phương hướng giải pháp

100 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 9,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật chỉ thực sự phái huy tác aung khi nó được áp dụng vào cuộc sống, được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.. Pháp chế bao hàm Irong

Trang 2

CÁC PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP

C huyên ngành: Lý luân Nhà nuớc và pháp luạt

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu sử dụng Irong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

LỀ THANH BÌNH

Trang 4

Lý luận về thực hiện pháp luật

1.1 Quan đic’m của các nhà kinh điển M ác-Lênin, Chủ tịch Hồ 6

Chí M inh và Đ ảng ta về pháp chế và Ihực hiện pháp luậí

1.3 Vai Irò của thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc 19

nước ta hiện nay

Thực trạng thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc

2.1 Tinh hình thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bấc 25

2 2, Những yếu tố tác động lên quá trình ihực hiện pháp luật ở 36

các tỉnh m iền núi phía Bắc

2.3 Đặc điểm thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc 53

Phưortg hướng và giải pháp tăng cưòng thực hiện pháp

luật ở các tình miền núi phía Bắc

3.1 Tăng cường ihực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bấc 60

nước ta là m ộl đòi hỏi lất yếu khách quan

3.2 Phương hướng; tăng cường thực hiện pháp luật ở các tỉnh 63

miền núi phía Bắc nước la hiện nay

3.3 M ột số ẹịải pháp cơ bản tăng cường thực hiện pháp luật ở các 84

tỉnh m iền núi phía Bấc

D an h m ục tài liệu th am k h ảo 92

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của để tài

Đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam đã ch rõ đổ ihực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, cần phải xây dựng được một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân [21, Ir 131 ]

Đó là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế Trong đó, hiện hữu một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, phản ánh đúng các quy luật phát triển khách quan của xã hội, mọi chủ thế pháp luật chấp hành nghiêm minh, chính xác Hiến pháp và pháp luật Ý thức tôn trọng pháp luật phải ăn sâu vào tiềm thức của mỗi công dân Sống và làm việc theo Hicn pháp và pháp luật phải trở thành thói quen, lối sống của mỗi người Tất nhiên, để đạt được điều đó không phải chỉ cần đến sự nỗ lực của mỗi cá nhân m à cần đến sự nỗ lực của toàn xã hội Trước hết, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải lự đổi mới về tổ chức, hoạt động củ t mình Dó là việc đổi mớitrong hoạt động xây dựng pháp luật, trong công tác tổ chức Ihực hiện pháp

i

luật sao cho cả khi làm luật cũng như khi đưa luật vào cuộc sống đều đúng luật Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật là hai hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau H oạt động xây dựng pháp luật là tiền đề, là cơ sở vật chất của hoạt động thực hiện pháp luật Ngược lại, thực hiện pháp luật là áp dụng trên thực tế những kết quả của hoạt động xây dựng pháp luậí Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhu cầu khách quan của xã hội được phản ánh irước hết thông qua pháp luật Với ý nghĩa đó, công tác xây dựng pháp luật có vai trò to lớn trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta Nhưng nếu chỉ có như vậy thì chưa đi Cho dù chúng ta có một hệ thống các văn bản pháp luậl tốt và đầy đủ đi chăng nữa thì pháp luật vẫn ở trạng thái tĩnh", vẫn chỉ là cơ sở vật chất, có thể tác động đến các quan hệ xã hội,

Trang 6

nhưng ớ mức độ rất hạn chế Sự tác động đó chỉ dừng lại ở việc tác dộng ihỏng

qua ý thức pháp ỉuật của công dân và cũng chỉ ớ m ột bộ phận khõng Mng kể Pháp luật chỉ thực sự phái huy tác aung khi nó được áp dụng vào cuộc sống, được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

và công dân Pháp luật phải trở thành phương thức quản lý xã hội, ià cơ sở cho

tổ chức đời sống xã hội Do vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành ihật nhiều văn bản pháp luật m à quan trọng hơn là phải thực hiện pháp luật, iàm cho những yêu cầu, qui định của nó trở thành hiên thực Thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác pháp luật ià m ột yêu cầu tất yếu khách quan của quản lý nhà nước bằng pháp luật

Việt N am là m ột quốc gia đa dân tộc Hiện nay, chúng ta đang nến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, m ở rộng hợp lác giao lưu quốc

tế Quá trình đó thành hay bại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Một trong những yếu tố quan trọng là giải quyết tốt vấn đề dân tộc, chính sach dân lộc Các tỉnh m iền núi phía Bắc nước ta [à địa bàn cư trú cúa hầu hết các dân tộc

thiểu Fố N ghiên cứu vãn đề thưc hiện pháp luật của các dân tộc thiểu số à các

tỉnh miền núi phía Bắc mong muốn tìm ra được những nguyên nhàn n ia tình trạng không tôn trọng pháp iuật, thực hiện pháp luật không nghiêm ơ các 'inh mièn núi phía Bắc nước ta Từ đó đưa ra được những phương hướng, biện pháp tăng cường pháp ch ế cũng như giúp cho việc xây dựng các chính sách dân tộc

phù hợp, đúng đắn Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài: "Thực h ịn pháp

luật ở các tính miền núi phía Bắc nước ta hiận nay - thực trạng và các phương hướng y g iả i pháp " .

2o T inh hình nghiên cứu

ở nước ta hiện nay, vấn để thưc hiện pháp luât luòn luôn là vấn iề thời

SƯ n o n g b ỏ n p thu hút sir q u a n lâm củ a toàn xã hội

Trước thưc trạng coi thường kỷ cương phép nước, bất chấp pháp luật của một bộ phận dân cư, nhiéu tác giả đã đi sãu nghiên cứu về vãn đé aaỵ

Trang 7

Chảng hạn như đê tài: "Tổ chức thực hiện pháp luật và tăng cường pháp chế nong điều kiCn đòi mới ở nước ta hiện nay - những vấn đề lý luạn và ihực uỗn" (Khoa Nhà nước - pháp luật, Học viện CTQG Hồ Chí Minh) Trong phạm vi đề tài này các tác giả đã đề cập đến những vấn đề cư hản nhấl của lý luận VC thực hiện pháp luật, quan điểm của các nhà kinh điến và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đ ảng cộng sản Việt Nam về vấn đề pháp chế Nhưng đó mới chỉ là những vấn đề lý luận mang tính khái quát Trong luận án tiến sì luật học:

"Thực hiện pháp luật trong hoạt động của lực lượng công an nhân dân để bảo

vệ trật tự an toàn xã hội ở nước ta hiện nay" (Đỗ Tiến Triển), tác giả đề cập đến vấn đề thực hièn pháp luật trong hoạt động của công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ trật lự, an toàn xã hội Đáng chú ý còn có dự án điều tra cơ bản

"Tình hình thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay" của Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật Tuy nhiên, trong dự án này các tác giả mới chỉ dừng lại ở viêc toầng kết nhân tírh tình hình íhưc hiện pháp lu |t ở nước ta thông qua các phiếu điều tra xã hội học, chưa đi sâu phân tích để tìm ra những nguyên nhân của thực trạng ấy Ngoài ra, liên quan đến đề tài còn có m ột số bài viết của các tác giả đăng trong các tạp chí "Nhà nước và pháp luật", "Người đại biểu nhân dân" V í dụ bài "Áp dụng pháp luật - một số vấn đề cần quan tâm" (tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3 năm 1996) của Nguyễn Minh Đoan Trong bài viết này tác giả mới nêu ra những yêu cầu đối với hoạt động áp dụng pháp luật

- một hình thức của thực hiện pháp luật Trong các bài: "Thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số" (Tạp chí Người đại biểu nhân dân số 111 năm 2000) và "Đưa pháp luật vào đời sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi" (tạp chí Người đại biểu nhân dân số 109 năm 2000) của M ã Đ iền Cư, tác giả mới chỉ cung cấp cho độc giả một số thông tin

về tình hình thực hiện pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Như vậy, đến nay vấn đề thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta chưa

có một công trình nào nghiên cứu m ột cách hệ Ihống, toàn diện từ góc độ lý luận nhà nước và pháp luật

Trang 8

3 M ục đích và nhiệm vụ của luận vãn

Mục đích của luận văn là tìm hiêu những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc Irong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Để thực hiện được mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn là:

- Phân tích cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật và pháp ché xã hội chủnghĩa

- Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật ở các 1 inh miền núi phía Bắc, những thành tựu, thiếu sót và nguyên nhân của chúng

- Nêu những phương hướng và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Vấn đề thực hiện pháp luật là một vấn đề có nội dung rộng lớn, thể hiện Irên tất cả các m ặt của đời sống xã hội, với nhiều đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng chính của luận văn này là nghiên cứu việc thực hiện pháp luật trên m ột số lĩnh vực như luật khiếu nại tố cáo, luật dân sự, luật hôn nhân gia đình, luậi hình sự của đồng bào m ột số tỉnh miền núi phía Bắc trong thời kì đổi mới ở nước ta

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

M ác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, pháp chế

Trong quá trình phân tích, luận văn có sử dụng những phương pháp cụ thể như: phương pháp khảo sát, so sánh, kết hợp sử dụng phương pháp lôgích

và lịch sử, phân tích và tổng hợp

6 Những đóng góp về khoa h'jc của luận văn:

- Luận văn hệ thống hoá những quan điểm lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật, làm sáng tỏ tư tư^ng của chủ nghĩa M ác-Lênin, Chủ lịch Hồ Chí Minh về pháp chế

Trang 9

- Qua phân tích thực trang thực hiện pháp luật ớ các tỉnh miền núi phía Bắc, luân văn góp phần lý giải những nguvên nhân cúa thưc trạng ấy và từ đó rút

ra đặc điểm thực hiện pháp luạt ớ các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay

- Luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện pháp luật ở các tinh m iền núi phía Bắc nước ta hiện nay

7 Ý nghĩa của luận văn:

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần xây dựng cơ chế chỉ đao và điều hành công tác tổ chức thực hiện pháp luật

- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo, giúp các cơ quan Đảng và Nhà nước đổi mới công tác xây dựng pháp luật, xây dựng các chính sách dân tộc phù hợp Ngoài ra, luận văn có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu trong các viện nghiên cứu, trường đại học, cho các cán bộ hoạt động thực tiễn ở các tỉnh m iền núi

8 K ết cấu của luận văn

Ngoài phần m ở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luân vãn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 10

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT■ ■ ■ ■

Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy phạm pháp luật dân chủ và

nhân đạo Thực hiện chính xác, đầy đủ hệ thống quy phạm pháp luật ấy là đòi

hỏi tất yếu khách quan đối với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các tổ

chức chính trị xã hội và với mỗi công dân Đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa

và các tổ chức chính trị xã hội, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật là thực

hiện trách nhiệm được nhân dân uỷ thác, giao phó, là cơ sở của nền dân chủ

và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đối với mỗi công dân, thực hicn

pháp luật vừa là nghTa vụ vừa là quyền lợi Nó là quyền lợi bởi vì, ihực hién

đúng pháp luật có nghĩa là bảo đảm có tự do, tự do trong khuôn khổ pháp luát

Nó là nghĩa vụ bởi vì, thực hiện pháp luật là không làm ảnh hưởng đến quyén

tư do của người khác Với ý nghĩa đó, thực hiện pháp luật là mối quan lâm

chung của mọi chủ thể pháp luật Từ trước đến nay, nhà nước ta đã ban hành

nhiều van bản pháp luật trong rất nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội khác n h a j

Nhưng, nhiều văn bản và qui định pháp luật đã không phát huy được hiệu lưc

thi hành, không m ang lại hiệu quả mong muốn Đ iều đó cho thấy chúm1 ta

phải quan tâm nghiên cứu nhiều hơn, tìm tòi những cơ chế và hình Ihức dể

nânm cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong thực tế

1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ KINH ĐIỂN MÁC-LÊNIN, CHỦ TỊCH

HÓ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ PHÁP CHẾ VÀ THựC HIỆN PHÁP LUẬT.

Thực hiện pháp luật, với tư cách là một nội dung nghiên cứu của ý

luận về nhà nước và pháp luật, là một mặt quan trọng của pháp chế xã hội cl.ủ

nghĩa Trong kho tàng lý luận cách mạng của mình, các nhà kinh điển M á>

Lênin thường coi pháp chế như là sự tuân thủ pháp luật của những người than

gia các quan hệ xã hội C.M ác và Ph.Ảngghen là người đặt nền móng cho ph Ị

chế, theo các ông vấn đề cốt lõi của pháp chế là sự thực hiện nghiêm chỉnh

Trang 11

pháp luâl Kết quả của việc tổ chức và thực hiện pháp luật là một trong nhữnii liêu chuẩn để xác định lính chất của nên pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp chế bao hàm Irong nó yêu cầu vê một hệ thống pháp luật hoàn thiện, là sự đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình

Lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa là mộl bộ phận quan trọng trong học thuyết của Lênin về cách mạng, nhà nước và pháp luật Lênin là người đầu

I iên đưa ra các luận điểm cơ bản nhất về pháp chế như các nguyên tắc, hình thức bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Ông đã chỉ ra bản chất của pháp chế

là sự tuân thủ chính xác, nghiêm ngặt pháp luật Với ý nghi t vô cùng quan trọng trong toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội, không ngừng tăng cường pháp chế là m ột yêu cầu tất yếu khách quan Đề cao vai trò của pháp luật, Lênin chỉ rõ: "Nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta sẽ tức khắc biết làm việc cho xã hội mà không cần phải có qui tắc pháp lý nào cả"[55, tr.6] Có m ột hệ thống pháp luật

ít nhiều hoàn chỉnh là cơ sở, nhưng yếu tố trung tâm của pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Lênin cho rằng dù pháp luật có tốt, có hoàn chỉnh đến đâu thì mới dừng lại ở khả năng quản lý, khả năng điều chỉnh Muốn cải tạo xã hội cũ, đấu tranh với những thói hư tật xấu ở nước Nga lúc bấy giờ thì phải biết hiện thực hoá, phải biết áp dụng vào cuộc sống những khả năng đó:

Pháp luật Xô viết rất tốt, vì những pháp luật này đã đem lại cho mọi người cái khả năng đấu tranh chống bệnh quan liêu và lề mề, cái khả năng mà bất cứ m ột nước tư bản nào, công nhân và nông dân cũng đều không có T hế nhưng, có ai sử dụng khả năng đó không? Hầu như không có m ột ai ! Không những nông dân, chính cả một số rất lớn đảng viên cộng sản cũng không biết dùng pháp luật Xô viết

để đấu tranh chống bệnh lề mề và bệnh quan liêu hoặc ngay cả cái hiện tượng thật sự điển hình của nước Nga là nạn hối lộ[58, tr.2 14]

Trang 12

Ngay sau khi giành được chính quycn ở nước Nga năm 1917, Lênin đã khẳng định m ật trong những điều kiện để giữ chính quyền, củng cố chính quyổn công nông là phải luân thủ luyẹt đối đối với pháp luật Lênin đòi hỏi ử các cơ quan nhà nước, đoàn thể xã hội, các công dân "chấp hành một cách thiêng liêng pháp luật của nhà nước"[55, tr.7].

Tư tưởng về pháp chế cách mạng của Lênin được thể hiện rõ nét trong bức thư gửi công nhân và nông dân về việc chiến thắng côntrắc năm 1919:

"Phải tuân theo từng li từng tí những luật lệ và mệnh lệnh của chính quyền Xô viết và đôn đốc mọi người tuân theo" [57, tr 178] Pháp luật của nhà nước phải được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác Nếu không như vậy, xã hội Xô viết m ất Ổn định, là đùều kiện thuận lợi để kẻ địch chống phá chính quyền: "Hễ hơi làm tó i luật pháp, hơi làm mất trật tự Xô viết một chút, thế là đã

có một lỗ hổng cho bọn thù địch của người lao động lợi dụng ngay"[57, tr 179]

Những tư tưởng có ý nghĩa lý luân về xây dựng nhà nước pháp quyền

và pháp chế được Người đề cập đến trong bức thư gửi Bộ Chính trị Ban chấp hành Đảng cộng sản Bôn sê vích Nga "Bàn về chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế" Trong đó, Người khẳng định Viện kiểm sát là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện thống nhất, nghiêm chỉnh, triệt để các đạo luật của nhà nước Xô viết Lênin viết: "Ưỷ viên công tố chịu trách nhiệm làm sao cho bất cứ quyết định nào của bất cứ cơ quan hành chính địa phương nào cũng không được đi ngược lại pháp luật"[56, tr.233] Theo Lênin, cần phải có

sự nhận thức nhất trí về pháp chế trong toàn nước cộng hoà dù là ở địa phương

có những đặc điểm và những ảnh hưởng như thế nào đi chăng nữa [55, tr.3 8 1 ]

Pháp chế phải là pháp chế duy nhất, áp dụng thống nhất cho toàn liên bang: "Pháp chế không thể là pháp chế của tỉnh Ca-lu-ga hoặc tỉnh Cadan dược, mà phải là pháp chế duy nhất cho toàn nước Nga và cho cả toàn thể liên bang các nước cộng hoà Xô viết nữa"[59, tr.232]

Bảo đảm được tính thống nhất của pháp chế là thực hiện trên thực tế lính công bằng trong thực hiện pháp luật Mọi chủ thể pháp luật ở bất cứ

Trang 13

là những đòi hỏi, ý chí đó phải được tiếp tục thể hiện ở một giai đoạn khác hẳn

về chất: được hiện thực hoá Hay nói khác đi, thực hiện pháp luật là sự tiếp tục

ý chí nhà nước của nhân dân lao động.

K ế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí M inh nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của pháp luật, thực hiện pháp luật Ngay từ khi đất nước ta, nhân dân ta còn sống dưới ách cai trị của thực dân Pháp, Hồ Chí M inh đã có tư tưởng về xây dựng m ột H iến pháp dân chủ của nhân dân Người viết trong Việt Nam yêu cầu ca: "Bảy xin hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền" Người đòi hỏi mọi hoạt động của xã hội, của bộ máy nhà nước thực dân lúc đó cũng phải tuân theo pháp luật - H iến pháp, bảo đảm pháp chế Người yêu cầu thực dân Pháp phải bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh, thay vào đó ché độ cai trị bằng luật

Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ (3-9-1945) ĨIỒ Chủ tịch đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có: tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp Người thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của hiến pháp, có Hiến pháp thì nhà nước hoạt động hợp hiến

và mới khẳng định được vị trí của đất nước ta trên trường quốc tế Với việc chỉ đạo xây dựng H iến pháp 1946, Hồ Chủ tịch m ột lần nữa chứng tỏ với thế giới rằng: V iệt Nam là m ột nước độc lập, có chủ quyền riêng

Để thực hiện chủ trương quản lý xã hội bằng pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí M inh luôn chú trọng ban hành các luật và văn bản dưới luật Khi mới giành được độc lập chưa kịp ban hành các văn bản pháp luật mới, người đã ký một sắc lệnh cho phép sử dụng một số văn bản pháp luật của chế độ cũ nếu như các văn bản pháp luật đó không trái với hiến pháp 1946 và không trái với

Trang 14

lợi ích của nhân dân Hồ Chủ tịch đã trực ticp làm Trưởng Ban soạn thảo hai bản Hiên pháp 1946, Iliên pháp 1959, dã chỉ đạo xây dựng 16 dạo luật và đã

ký trên 1.300 sắc lệnh và văn bản dưới luật [12, lr.216] V iệc định ra pháp luật

là rất quan trọng, song vấn đề quan trọng hơn là pháp luật ấy phải dược xã hội thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Vì thế, theo Người, khi chưa có luậl thì phải khẩn trương ban hành luật, khi đã có luật thì phải tổ chức thi hành nghiêm chỉnh, triệt để qui định của luật, m ột dân tộc có nhiều bộ luật tốt và thi hành luật tốt, dân tộc ấy sẽ phát triển nhanh Chủ tịch Hồ Chí M inh luôn đề cao vấn

đề thực hiện nghiêm chỉnh hiến pháp và pháp luật - m ột điều kiện quan Irọng của nền pháp ch ế xã hội chủ nghĩa Người cũng nêu đặc trưng của pháp chế nhà nước ta là vấn đề tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động, muốn có

lự do thì phải thực hiệp pháp luật, thực hiện pháp luật là m ang lại tự do cho mình và cho mọi người khác Người viết:

N hân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật Mỗ người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng lự do của người khác Người nào sử dụng quyền tự do của m ình quá mức mà phạm đến tự

do của người khác là phạm pháp K hông thể có tự do cho bọn việt gian, bọn phản động, bọn phá hoại tự do của nhân dân [35, tr.187]

Pháp luật phải được thực hiện một cách nghiêm minh, bất cứ một hành vi

vi phạm pháp luật nào cũng phải chịu trách nhiệm pháp lí: "Phải thẳng tay trừng

li ị kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở cương vị nào và làm nghề nghiệp gì" [37, ừ.425]

Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí M inh là tấm gương về tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Bất cứ ở đâu, làm việc gì dù lớn hay nhỏ người đều thực hiện đúng theo những qui định chung của pháp luật nhà nước Trong cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, nhân dân cả nước tin yêu và suy tôn Bác làm chủ tịch vĩnh viễn, nhưng Bác đã viết thư trả lời:

Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu m à đề nghị tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khác cử tôi vào Quốc hội Nhưng, tôi là m ột công dân nước V iệt Nam dân chủ cộng hoà, ncn t.ôi khônp

Trang 15

xã hội Tinh thần pháp chế ấy luôn được thể hiện trong các đường lối, chủtrương của Đảng, văn kiện Đại hội VI ghi nhận:

Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mọi cán bộ ở bất cứ cương vị nào đều phải sống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu tôn trọng pháp luật, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái pháp luật, mọi vi phạm đều phải xử lý [18, tr 121]

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, vấn đề thực hiện pháp luật, tăng cường pháp chế đã được Đảng ta xác định là m ột trong những điều kiện then chốt phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: "Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân"[19, tr.91] Vấn đề này lại được nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức" [20, tr.129]

Hiện nay đất nước ta đang từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Đứng trước những cơ hội cũng như thách thức lớn của thời đại, Đảng ta càng phải vững tay lái con thuyền Việt Nam xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội có thành công hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng một yếu tố không thổ thiếu được là xã hội

Trang 16

ta phải được quản lý bằng pháp luật, pháp luật phải nghiêm minh, không cho phép bất cứ ai khinh nhờn phép nước: "Nhà nước la là công cụ chủ yếu để ihực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật"[21, lr.131].

Hiến pháp và pháp luật là phương tiện quản lý chủ yếu của nhà nước Các quan điểm, tư tu ỉmg của Đảng đều được cụ thể hoá trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật Nghicn cứu bốn bản hiến pháp nước ta (1946, 1959, 1980, 1992) chúng ta nhận thấy vấn đề thực hiện nghiêm minh pháp luật đều được ghi nhận ở những cấp độ khác nhau

Trong các hiến pháp 1946, 1959, 1980 mới chỉ nói đến nghĩa vụ thực hiện pháp luật của công dân: Hiến pháp 1946: "Mỗi công dân Việt Nam phải bảo vệ tổ quốc, tôn trọng hiến pháp, tuân theo pháp luật" (điều 4); Hiến pháp 1959: "Công dân Việt Nam dân chủ cộng hoà có nhiệm vụ tuân theo hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công cộng và qui tắc sinh hoạt xã hội khác" (điều 39); Hiến pháp 1980: "Công dân có nghĩa vụ tuân theo hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội giữ gìn bí m ật nhà nước, tôn trọng những qui tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa" (điều 78) Nhưng đến Hiến pháp năm 1992, nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện Hiến pháp và pháp luật không chỉ là của mỗi công dân mà còn được cụ thể hoá là nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật" (điều 12)

Trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, chưa đề cập đến nghĩa vụ thực hiện pháp luật của Đảng Đến Hiến pháp 1980 đã khẳng định: "Các tổ chức

Trang 17

của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp (điều 4) Hiến pháp 1992:

"Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật" (điêu 4) Như vậy, tinh ihẩn pháp quyền trong hoại động của Đảng và Nhà nước ta đang ngày càng được thể hiện rõ nét, cho đến nay đã được luật hoá Đảng là cơ quan lãnh đạo nhà nước xây dựng hiến pháp và pháp luật, nhà nước

là chủ thể ban hành pháp luật nhưng hoạt động của Đảng, của nhà nước đều phải tuân theo pháp luật M ột xã hội mà trong đó, nhà nước tôn trọng pháp luậ! có nghĩa là nhà nước có trách nhiệm với nhân dân, ngược lại nhân dân tôn trọng pháp luật cũng có nghĩa là có trách nhiệm với nhà nước Đó cũng chính

là nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang phấn đấu xây dựng

1.2 KHÁI NIỆM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật

"Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những qui định của pháp luật Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của con người, của các tổ chức m à phù hợp với qui định

củ pháp luật thì đều đươc coi là biểu hiên của viêc thực hiện thưc tế các quy phạm pháp luật" [47, tr.457] Như vậy, vấn đề trọng tâm của thực hiện pháp luật là hành vi phù hợp với quy phạm pháp luật Ban hành các quy phạm pháp luật, nhà nước mong muốn sử dụng tối đa các quy phạm pháp luật ấy để điều chỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, mức độ hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật lại phụ thuộc vào hành vi của con người, phụ thuộc vào mức

độ phù hợp của hành vi đối với các quy phạm pháp luật Dưới góc độ pháp lí thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp Hành vi đó không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật Hành vi hợp pháp có thể được thực hiện trên cơ sở nhận thức sâu sắc của chủ thể là cần thiết phải xử sự như vậy Lúc đó hành vi của họ là hành vi tự giác Chúng cũng có thể được thực hiện do ảnh hưởng của những người xung quanh Ngoài ra, hành vi hợp pháp còn có thể được thực hiện do kết quả của việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước

Trang 18

Thực hiện pháp luật là mộl quá trình hoại động có mục đích làm cho những qui định của pháp luật được ihực hiện (những qui định phải làm, nhữn£ qui định được làm và những qui định bị ngăn cấm).

1.2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp

lý ihừa nhận bốn hình thức thực hiện pháp luật: Tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật

-Tuân theo (tuân thủ) pháp luật, là hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những hành vi

mà luật hình sự, luật hành chính ngăn cấm, tức là đã tuân theo pháp luật

- Thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật), là m ột hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các ch I thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Chẳng hạn, mọi công dân nam từ 18 đến 27 tuổi lên đường nhập ngũ theo đúng thời gian qui định trong luật nghĩa vụ quân sự là đã thi hành pháp luật

- Sử dụng pháp luật, là m ột hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi

mà pháp luật cho phép) Những quy phạm pháp luật quy định các quyền và tự

do dân chủ của công dân được thực hiện ở hình thức này Từ "sử dụng" đã nói lên sự khác biệt của hình thức thực hiện pháp luật này với các hình thức trên Chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện Chẳng hạn, pháp luật qui định công dân có quyền khiếu nại và tố cáo Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, một công dân gửi đơn khiếu nại lên

cơ quan nhà nước có thẩm quyền tức là anh ta đã sử dụng pháp luật

- Áp dụng pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền, nhà chức trách, tổ chức cho

Trang 19

các chủ thổ pháp luật thực hiẹn những qui định của phap luật Trong Irường hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nước Trong trường hợp đặc biệt, theo qui định của pháp luật, cơ quan ló chức

xã hội cũng có thể thực hiện hoạt động này

Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự tham gia của nhà nước

Trong 4 hình thức thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật là một hình thức quan trọng, có tính đặc thù nên cần đi sâu nghiên cứu Áp dụng pháp luật vừa là m ột hình thức thực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn đặc thù của sự thực hiện pháp luật Áp dụng pháp luật có tính đặc thù bởi vì nó chứa đựng yếu tố bảo đảm cho những quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế Yếu tố bảo đảm đó chính là sự can thiệp của nhà nước Trên thực tế, có những trường hợp nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì nhiều quy phạm pháp luật sẽ không được Ihực hiện hoặc thực hiện không đúng

Áp dụng pháp luật được thực hiện trong các trường hợp sau:

+ Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế do các chế tài pháp luật qui định đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Một chủ thể pháp luật thực hiện hành vi phạm tội thì không phải ngay sau đó trách nhiệm hình sự tự động phát sinh và người vi phạm tự giác chấp hành hình phạt tương ứng Vì vậy, cần có hoạt động của các cơ quan nhà nước chức năng buộc người đó phải chấp hành trách nhiệm hình sự

+ Nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước, những quyền chủ thể và nghĩa

vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật không mặc nhiên phát sinh

+ Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được

+ Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải thdm gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại mộl số sự việc, sự kiện thực tế

Trang 20

Ap dụng pháp luật là hình thức ihực hiện pháp luật mang tính đặc thù,

vì no là hoạt động mang lính tổ chức - quyền lực nhà nước Đó là hoạt động chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành Theo qui định của ph«'íp luật, mỗi cơ quan nhà nước chỉ có thẩm quyền thực hiện một số hoạt động áp dụng pháp luậl nhất định Tính tổ chức - quyền lực nhà nước của hoạt dộng áp dụng pháp luật còn thể hiện ở việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành áp dụng pháp luật không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp đụng Sự

áp dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan Trong m ột số trường hợp cần thiết như chủ thể bị áp dụng pháp luật vi phạm pháp luật hay có tranh chấp giữa các chủ thể bị áp dụng pháp luật thì quyết định áp dụng pháp luật được bảo đảm thực hiện bởi sự cưỡng chế nhà nước

Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể bị áp dụng pháp luật, pháp luật qui định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ các bên trong quá trình áp dụng pháp luật Đó là những qui định được ghi nhận trong bộ luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định Bằng hoại dộng áp dụng pháp luậl, những quy phạm pháp luật nhấi đnih được cá biệt hoá m ột cách cụ thể và chính xác

Áp dụng pháp luật còn là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo Khi áp dụngv

pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành Trong khi xây dựng luật, các nhà làm luật luôn luôn cố gắng phản ánh đầy đủ các nhu cầu phát triến của thực tiễn khách quan Nhưng trên thực tế, pháp luật không thể dự liệu hết được các tình huống của thực tiễn cuộc sống phức tạp và đầy biến động Chính vì vậy,

có những tình huống pháp luật chưa qui định hoặc qui định chưa rõ Trong trường hợp đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự Và để tránh việc áp dụng pháp luật tương tự m ột cách tuỳ tiện hay máy móc, những người có trọng trách áp

Trang 21

Văn bản áp dụng mang tính bảo vệ pháp luật là văn bản chứa đựng những biện pháp trừng phạt, cưỡng chế nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức

T H Ư V I Ẹ N

TRƯỜNG ĐAI HOC U JA I í ù \ NÔI

Trang 22

+ Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật dược Irù lính cho trường hợp đó sao cho quy phạm đó phải đang có hiệu lực và không mâu ihuẫn với các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật khác, làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn.

+ Giai đoạn quan trọng nhất của quá trình áp dụng pháp luật là ra vãn bản áp dụng pháp luật Để tránh những sai lầm trong việc ấn định những quyền

và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm, văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng tên gọi, đúng trình tự và thủ tục, nội dung rõ ràng theo đúng những qui định của pháp luật Ngoài ra, văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành dựa trên cơ sở của những quy phạm pháp luật cụ thể, theo những đòi hỏi của thực tế đáng tin cậy, có khả năng thực hiện được và mang lại lợi ích trên các mặt kinh tế, chính trị, tinh thần và xã hội

+ V iệc tổ chức thực hiện trên thực tế văn bản áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật M ột yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện nghiêm chỉnh văn bản áp dụng pháp luật, đó là hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Lý luận về nhà nước và pháp luật đã khái quát những nội dung cơ bản

về thực hiện pháp luật như sau:

- Về nội dung, thực hiện pháp luật là toàn bộ những hành vi ( ửa các chủ thể pháp luật nhằm thực hiện những qui định của pháp luật Thực hiện pháp luật ở đây được hiểu như một loại hoạt động trong toàn bộ các hoạt động

về pháp luật như: xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, thông tin - tuyên truyền pháp luật, giáo dục pháp luật Ở một khía cạnh khác, thực hiện pháp luật lại là tính chất, là yêu cầu đối với toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội

- Về hình thức thực hiện pháp luật: việc thừa nhận bốn hình thức thực

hiện pháp luật là căn cứ vào loại hoạt động thực hiện pháp luật Loại hoạt động thuộc về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân, biểu hiện ở các hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật Loại

Trang 23

hoạt đọng maníĩ tính quyến lực nhà nước bicu hiện ở hình thức áp dụng pháp

luật Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc hiệt, là hoạt

động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước Nó vừa là một hình thức

thực hiện pháp luật, vừa là cách thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể khác

thực hiện các hình thức khác của thực hiện pháp luật Chẳng hạn, khi có tranh

chấp giữa các bên tham gia hợp đồng dân sự mà không tự giải quyết được thì

cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ can thiệp buộc các bên phải tuân theo

những qui định của bộ luật dân sự

1.3 VAI TRÒ CỦA THựC HIỆN PHÁP LUẬT ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY:

1.3.1 Vai trò của thực hiện pháp luật

Xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật đều là những hoạt động có

mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý các quá trình xã hội Đó là

hai quá trình hoạt động có mối liên quan chặt chẽ với nhau

Pháp luật có thể được xem là mô hình có tính lý thuyết, trừu tượng,

còn thưc hiên pháp luật là mô hình hoat động, cụ thể Hai mô hình đó bổ sung

cho nhau Pháp luật được coi là phương tiện, công cụ cần thiết cho hoạt động

thực tiễn pháp luật, là khuôn mẫu cho mọi hoạt động của các chủ thể pháp luật

Ngược lại, qua hoạt động thực tiễn của các chủ thể pháp luật sẽ đặt ra những yêu

cầu khách quan cho việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật Với ý nghĩa đó, thực

hiện pháp luật có vai trò kiểm chứng cho tính đúng đắn, phù hợp tbưc tiễn của

pháp luật Pháp luật có được coi là hoàn chỉnh hay không phụ thuộc vào mức

độ phản ánh đúng đắn nhu cầu phát triển khách quan của thực tiễn xã hội

Điều đó chỉ có thể được chứng minh qua hoạt động thực hiện pháp luật

M ục đích của pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhà nước

ban hành các quy phạm pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng

các quan hệ xã hội ấy phát triển theo những hướng nhất định, với những mục

đích nhất định T hế nhưng, hệ thống các quy phạm pháp luật ít khi có tác động

Trang 24

trực tiếp đôn những quan hệ cụ thổ, cùng lắm cũng mới chỉ tác dộng vào ý thức của công dân Pháp luật chỉ có thể có lác dụng đi ĨU chỉnh các quan hệ xã hội khi nó được áp dụng vào cuộc sống Pháp luật như vậy là pháp luật Irong cuộc sông, trong hành động, được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân Vai trò điều chính các quan hệ xã hội là vai trò cơ bản, quan trọng nhất của quá trình thực hiện pháp luật.

Vai trò của quá trình thực hiện pháp luật còn thể hiện ở việc phát hiện

và khắc phục hiện tượng "xung đột quy phạm" Xung đột quy phạm là khi hai hay nhiều quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh m ột quan hệ xã hội, nhưng nội đung trái nhau hoặc mâu thuẫn với nhau Trường hợp này hay xảy ra trong thời kỳ văn bản pháp luật mới được ban hành, trong khi các văn bản khác chưa kịp thời được điều chỉnh, bổ sung, thay đổi cho phù hợp với nó v ề nguyên tắc, khi có xung đột quy phạm, thì cần áp dụng quy phạm có giá trị pháp lý cao hơn Trong trường hợp các quy phạm xung đột lại do cùng một cơ quan ban hành thì áp dụng quy phạm ban hành sau Nếu xung đột quy phạm chung với quy phạm chuyên ngành thì áp dụng quy phạm chuyên ngành Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp xung đột ấy, việc thực hiện pháp luật không có nghĩa là bãi bỏ hay đình chỉ quy phạm không được thực hiện Việc làm đó thuộc thẩm quyền của các cơ quan theo luật định

Trong khi xây dựng pháp luật, các nhà làm luật luôn cố gắng dự liệu được tất cả các tình huống của phát triển thực tiễn khách quan Nhưng điều đó chỉ là mong muốn mà thôi Pháp luật chỉ là m ột hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh được các quan hệ xã hội mang tính khái quát điển hình Trong khi đó, trong quá trình thực hiện pháp luật có thể có những quan hệ cụ thể hơn, nhiều hơn về số lượng các bên tham gia quan hệ xã hội Khả năng phát hiện và khắc phục "khoảng trống" trong pháp luật cũng thuộc về quá trình thực hiện pháp luật "Khoảng trống" pháp luật là những sự kiện, quan hệ xã hội cụ thể trong thực tế liên quan đến lợi ích của các chủ thể pháp luật cần

Trang 25

phải được phap luật đieu chỉnh song chưa có quy phạm pháp luật nào điền chỉnh Hay nói khác đi, lúc đó rơi vào tình Irạng thiếu quy phạm pháp luật Nhu cầu đời sống xã hội đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải giải quyéi ngay để bảo đảm lợi ích của các chủ thể pháp luật M uốn ban hành quy phạm pháp luật mới đòi hỏi phải có nhiều thời gian Hơn nữa, rất nhiều sự kiện, hiện tượng chỉ xảy ra đột xuất nhất thời nên cũng chưa hẳn đã cẩn đến các quy phạm pháp luật mới Trong quá trình thực hiện pháp luật, các cơ quan áp dụng pháp luật khắc phục "khoảng trống" pháp luật bằng hai cách: áp dụng tương tự quy phạm pháp luật và tương tự pháp luật

- Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là giải quyết một vụ việc thực

tế cụ thể chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh m ột trường hợp khác có nội dung gần giống như vậy

- Áp dụng tương tự pháp luật là giải quyết m ột vụ việc thực tế cụ thể chưa có quy phạm pháp luật điều chi'ih trực tiếp trên cơ sở những qui tắc và nguyên tắc chung của pháp luật

Như vậy, qua quá trình thực hiện pháp luật với sự phong phú đa dạng

về chủ thể cũng như điều kiện thực hiện, những "khoảng trống" pháp luật được phát hiện và khắc phục V iệc khắc phục "khoảng trống" trong pháp luật chỉ được thực hiện Irong những trường hợp cụ thể, nhất thời Tuy nhiên, điều đó cũng nói lên vai trò to lớn của quá trình thực hiện pháp luật M ột mặt, với việc phát hiện và khắc phục "khoảng trống" pháp luật đó, quá trình Ihực hiện pháp luật đã đáp ứng được nhu cầu tức thời của thực tiễn, góp phần bảo vệ lợi ích cho các chủ thể pháp luật Đ iều đó cũng gián tiếp góp phần vào việc duy trì hoạt động thường xuyên, ổn định, hiệu quả của các cơ quan nhà nước, cũng như bảo đảm trật tự ổn định xã hội M ặt khác, qua quá trình phát hiện và khắc phục đó, việc áp dụng pháp luật tương tự cho phép tích luỹ kinh nghiệm và đề xuất yêu cầu hoàn thiện pháp luật Đó chính là m ột trong những vai trò quan irọng của thực hiện pháp luật đối với quá trình xây dựng pháp luật

Trang 26

1.3.2 V ai trò của thực hiện p háp lu ật ở các tỉn h m iền núi phía Bác nước ta hiện nay

Khu vực phía Bắc nước ta hiện nay có 14 trong tổng số 19 tỉnh mien

núi và vùng cao trong toàn quốc, trong đó có 8 tỉnh miền núi và 6 tỉnh micn

cao, chiếm hơn 1/3 diện tích cả nước Đó là nơi cư trú của hơn 30 dân tộc

thiểu số Với những nét đặc thù về điều kiện tự nhiên và dân cư, công tác lổ

chức thực hiện pháp luật ở đây cũng có những nét đặc thù so với các ủnh

thuộc các vùng khác

Trước hết, cần khẳng định rằng việc thực hiện nghiêm chỉnh, chính

xác pháp luật có vai trò to lớn trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần

của đồng bào các dân tộc thiểu số Việc thực hiện tốt m ột số bộ luật hoặc là

trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần nâng cao đời sống vật chất của đồng bào

Chẳng hạn, hiện nay rừng nước ta chiếm tỉ trọng lớn trong tổng diện tích và

được xác định là một tiềm năng Song, việc khai thác rừng không có kế hoạch,

đang là nguy cơ về măt kinh tế Nếu rừng được khai thác theo đúng qui định

của pháp luật, gỗ được đưa vào sản xuất và xử lí dung hướng sẽ phái huy hiệu

quả kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho nhân dân H oặc như việc khai thác

và quản lý khoáng sản không chặt chẽ cũng là m ột thiệt thòi cho đất nước,

đồng thời cũng ảnh hưởng đến tình hình kinh tế đồng bào các dân tộc Việc

thực hiện tốt luật hôn nhân và gia đình cũng giúp đồng bào có cơ hội học tập

nâng cao kỹ năng lao động, tích luỹ kinh nghiệm sống cũng như của cải vật

chất cho tương lai Thực hiện tốt pháp luật, tạo được môi trường ổn định, thu

hút sự đầu tư của nước ngoài, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự

phát triển kinh tế ở vùng này

Thực hiện nghiêm minh pháp luật có vai trò to lớn trong việc giữ gìn

an ninh trật tự xã hội, góp phần chống lại âm mưu "diễn biến hoà bình" của

các thế lực thù địch Hầu hết các tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc có đường

biên giới giáp Trung Quốc, có chung với Lào hàng ngàn km đường biên (chỉ

Trang 27

riêng ủnh Lai Châu đã có đường biên dài 764 km [41, tr.10] Hiện nay, đất nước ta đang Irong quá írình mở rộng giao lưu, hội nhập kinh lé quốc tế Đó là một quá trình chịu tác động của cả những nhân tố tích cực và tiêu cực từ bên ngoài Lợi dụng địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc giáp biên, lại là nơi cư trú của nhiều dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch thường tuyên truyền chia rẽ, gây m ất đoàn kết giữa các dân tộc anh em Chúng chỉ có thể thực hiện được điều đó nếu tình hình xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc m ất ổn định, pháp luật không nghiêm

V iệt N am là m ột quốc gia đa dân tộc, trong tiến trình đổi mới Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có trị trí chiến lược trong sự nghiệp cách m ạng M ột vấn đề có ý nghĩa thời sự cấp bách hiện nay là phải Ihực hiện tốt chính sách dân tộc Nội dung xuyên suốt bao trùm của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là: thực hiện "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển", chính sách dân tộc luôn luôn gắn liền hữu cơ với toàn bộ hệ thống chủ trương chính sách của Đảng và được cụ thể hoá trong hệ thống pháp luật của nhà nước Thực hiện tốt pháp luật của nhà nước, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bác đã góp phần thực hiện tôt chính sách dân tộc, giữ gìn và xây đắp khối đoàn kết giữa các dân tộc trước những biến động vô cùng phức tạp của đời sống chính trị - xã hội thế giới và trước những âm mưu lợi dung vấn đề dân tộc, tâm lý dân tộc, thực hiện diên biến hoà bình" của các thế lực thù địch hòng phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghía xã hội ở nước ta M ặt khác, cũng chính thông qua quá trình thực hiện pháp luật, qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm ở các tỉnh miền núi, các yêu cầu

về hoàn thiện hệ thống pháp luật mới được đề xuất N hất là các bộ luật có liên quan m ật thiết với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số như luật khiếu nại,

tố cáo, luật dân sự, luật hình sự, luật hôn nhân gia đình Việc đổi mới, hoàn ihiện thường xuyên pháp luật trực tiếp tác động đến đời sống của đồng bào dàn tộc thiểu số là một đòi hỏi tất yếu khách quan Và quan trọng hơn là đổi mới, hoàn thiện pháp luật phải theo xu hướng kết hợp nhuần nhuyễn giữa

Trang 28

những qui định chung của nhà nước với những phong tục tập quán, luật tục và thói queo, nếp nghĩ của đồng bào Việc xây dựng pháp luật phải tính đến những nốt đặc thù về điều kiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình

dộ văn hoá, phong tục tập quán và luật tục của các dân tộc Tất nhiên những nội dung đặc thù ấy không được trái với những nguyên tắc chung của hệ ihống pháp luật, ở đây mối quan hệ giữa hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước với hoạt động thực hiện pháp luật của đồng bào các tỉnh miền núi nói chung

và các tỉnh m iền núi phía Bắc nói riêng là mối quan hệ hai chiều Trong đó thực hiện pháp luật có vai trò quan trọng, kiểm chứng tính phù hợp đúng đắn của các văn bản pháp luật

K ết luận chương 1

Thực hiện pháp luật là m ột nội dung quan trọng trong lý luận chung về nhà nước và pháp luật H iện nay, đất nước ta đang từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những nội dung xác định, nhưng theo chúng tôi vấn đề cốt lõi nhất là vấn đề th Tc hiện pháp luật Nhà nước pháp quyền là nhà nước đề cao vai trò tối thượng của pháp luật, là nhà nước quản lý

xã hội bằng pháp luật T h ế nhưng, vai trò của pháp luật cổ được đề cao hay không, xã hội có được quản lý bằng pháp luật hay không, ý chí của nhân dân lao động có được tiếp tục thực hiện hay không biểu hiện trước hết ở quá trình thực hiện pháp luật V iệc nghiên cứu quá trình thực hiện pháp luật ở Việt Nam

có ý nghĩa quan trọng như vậy, nhưng ngbiên cứu quá trình đó ở các tỉnh miền núi phía Bắc lại càng m ang tính cấp thiết hơn Bởi vì, thực hiện nghiêm minh pháp luật sẽ góp phần ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn an ninh các vùng biên giới và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước

ta thành hay bại phụ thuộc rất nhiều vào sự vận dụng đúng đắn sáng tạo những nội dung, hình thức thực hiện pháp luật Như vậy, thực hiện pháp luật với nội dung, đặc điểm và các hình thức thể hiện là m ột hoạt động về pháp luật, là sự tiếp tục ý chí nhà nước của nhân dân lao động

Trang 29

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ở

CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

2.1 TÌNH HÌNH THựC HIỆN PHÁP LUẬT ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Bước vào những năm đổi mới, tuy kinh tế còn kém phát triển, trình độ dân trí thấp, đồng bào các tỉnh miền núi vùng cao phía Bắc nước ta đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ được pháp luật qui định về dân sự, chính trị, kinh

tế, xã hội, văn hoá Chẳng hạn, đồng bào đã lích cực thực hiện quyền và nghĩa

vụ bầu cử Hội đồng nhân dân, Quốc hội được qui định trong Hiến pháp: "Trong

cuộc bầu cử Hội đổng nhân dân các cấp ờ 'nh Lai Châu nhiệm kỳ 1999 -

2004, Uỷ ban M ặt trận tổ quốc đã tổ chức các bước hiệp thương giới thiệu, đé

cử những người có đủ tài, đức vào đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo đúng qui trình hiệp thương mà chính phủ và trung ương M ặt trận tổ quốc V iệl Nam ban hành, đảm bảo dân chủ, đúng luật 99,4% cử tri đã đi bầu cử"[25, tr.27-28] Bầu cử Hội đồng nhân dân, quốc hội vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân Thực hiện tốt trách nhiệm bầu cử, đồng bào các dân tộc thiểu số vừa thực hiện hình thức sử dụng và thi hành pháp luật trong lý luận về thực hiện pháp luật Cũng như vậy, đồng bào các dân tộc thiểu số sử dụng quyền khiếu nại

tố cáo để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình: "chỉ trong 3 tháng đầu năm 2002 ở tỉnh Quảng Ninh, đồng bào các dân tộc đã gửi 450 đơn thư lên các cơ quan có ihẩm quyền, khiếu nại - tố cáo về các vấn đề đền bù di rời, giải phóng mặt bằng đường 18, cầu Bãi Cháy, chế độ chính sách, đất đai nhà ở " [5, tr.2] Đó là những mặt tích cực trong quá trình thực hi ện pháp luật ở các tỉnh miển núi vùng cao phía Bắc Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ bầu cử Hội đồng nhân dân, quốc hội, đồng bào các dân tộc thiểu số thể hiện trách nhiệm cùa công dân đối với nhà nước, xã hội Thực hiện các quyền khiếu nại tố cáo không chỉ khắc phục được tình trạng "mù mờ" về pháp luật của đồng bào các dân tộc mà

Trang 30

còn là phương tiện để đồng bào các dân tộc đấu tranh chống lại những hành vi

vi phạm pháp luật của nhà nước, các tổ chức xã hội, công dân, thiết lập kỉ cương xã hội

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiệu quả thi hành và tuân iheo pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay còn rất hạn chế Tình trạng coi thường pháp luật với những tệ nạn như nghiện hút và mua bán

ma tuý, cờ bạc, tảo hôn, du canh du cư, phá rừng, buôn lậu, giết người, cướp của vẫn còn rất phổ biến Những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành và

tổ chức th Jc hiện nhiều văn bản pháp luật quan trọng, nhưng nhìn chung pháp luật vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống đồng bào các dân tộc

Qua việc đánh giá quá trình thực hiện các bộ luật dân sự, hôn nhân và gia đình ở các tỉnh miền núi phía Bắc chúng ta thấy được ý thức thi hành pháp luật của đồng bào các dân tộc thiểu số

Ngày 9/11/1995, Bộ luật dân sự đã được công bố Toàn bộ nội dung gồm bẩy chương, 838 điều của bộ luật đã thể hiện phương châm xuyên suốt trong quá trình xây dựng, triển khai thực hiện của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: "K ế thừa và phát triển pháp luật dân sự Việt Nam từ tiirớc đến nay, cụ thể hoá hiến pháp năm 1992, bộ luật dân sự có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật nước nhà, tạo cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy quyền dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, quyền con người về dân sự"

Sau khi được chính thức ban hành, bộ luật dân sự đã được phổ biến thông qua hệ thống chính trị và hệ thống cơ quan pháp luật các tỉnh ở vùng miền núi phía Bắc Các địa phương tổ chức tuyên truyền phổ biến bộ luật dân

sự để mọi công dân đều hiểu biết và tự giác chấp hành Song mức độ và khả năng tuyên truyền pháp luật của cán bộ các địa phương còn hạn chế Điều kiện cư trú phân tán của đồng bào các dân tộc ở vùng cao đã làm giảm bớt hiệu quả tuyên truyền bộ luật quan trọng này đối với đồng bào Cho đến nay,

Trang 31

lệ bản mường, trong hành lang pháp lý của bộ luật dân sự để duy trì và phát triển việc quản lý xã hội trên địa bàn cư trú của m ình.

Chỉ m ột số quan hệ dân sự như quan hệ về sở hữu, chiếm hữu tài sản của cá nhân cũng như tổ chức, tài sản công cộng, những quyền và nghĩa vụ dân sự, việc chuyển quyén sử dụng đất, m ang tính phức tạp m à luật tục không thể giải quyết nổi thì mới chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Tuy nhiên,

bộ luật dân sự mới chỉ phát huy được hiệu lực đối với bộ phận đồng bào sinh sống ở các thị xã, thị trấn, ở các trục đường giao thông, những địa bàn thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và giao lưu dân sự H ầu hết các giao dịch dân sự thông thường đều chịu sự điều chỉnh của phong tục tập quán, luật tục Đó là các giao dịch có liên quan đến hoà giải các quan hệ cộng đồng, quan hệ sở hữu và chiếm hữu đất đai m ang tính chất địa phương V í dụ, vấn đề sở hữu và chiếm hữu tài sản ở địa phương, luật tục của người M ông có qui định như sau:

Các gia đình đều được tự do khai phá đất đai nương rẫy, nhưng phải tuân theo các qui định chung của "giao" (làng, bản) Nếu có ai

đó đã đánh dấu m ột vùng đất nào đó thì người đến sau không được

tự ý phát nương làm rẫy nữa, gặp cây gỗ to nếu có người đã đánh

Trang 32

dáu quyèn khai thác thì người phát hiện sau không dược phép chặt (lon Nếu do vô tình không biết mà cứ phát nương, cứ chặt cây thì thành quả lao dộng phải đem chia đôi Nêu cố tình vi phạm thì toàn

bộ diện tích nương đã phát hay cây gỗ đã chặt phải trả lại cho chủ của nó Ai muốn canh tác trên đất của người khác phải xin phép người chủ mảnh đất ấy Nếu người chủ đồng ý thì người xin thường biếu m ột chút quà (thành tâm, như chai rượu hay con gà) cho người chủ mảnh đất đã được khai phá hay chỉ mới được phát hiện [27, tr.46]

Tóm lại, các nội dung chế định của bộ luật dân sự tuy là rất đầy đủ và hoàn thiện, nhưng lại chưa được phổ biến sâu rộng đến từng công dân Chính

vì vậy, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, tập quán pháp, luật lệ bản mường vẫn được coi là chuẩn mực pháp lý để quản lý xã hội trong thực tế Bộ luật dân sự chỉ phát huy được hiệu lực ở các thị xã, thị trấn

và để giải quyết một số quan hệ dân sự quá phức tạp mà luật tục, tập quán pháp không thể giải quyết nổi

V iệc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở m ién núi phía Bắc nước ta cũng còn gặp nhiều khó khăn Chính là vì những qui định của luật tục còn tác động m ạnh m ẽ đến đời sống đồng bào các dân tộc Phần lớn vấn đề hôn nhân

và gia đình đều chịu sự điều chỉnh của luật tục Nếu trong luật hôn nhân và gia đình yêu cầu nam phải từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn thì trên thực tế ở địa phương các vùng núi phía Bắc, tuổi kết hôn thường là dưới mức luật qui định Nhiều trường hợp người nữ mới chỉ có 16 tuổi đã kết hôn, nam thì mới 18 tuổi đã kết hôn Nhất là ở các dân tộc như dân tộc Mông: thường con trai, con gái dân tộc này lấy vợ, lấy chồng rất sớm Con trai từ 15 -

16 tuổi đã lấy vợ, con gái từ 13 - 15 tuổi đã lấy chồng Người Chứt cũng vậy: con trai 17, con gái 16 đã phải lấy chồng, lấy vợ [33, tr.75] Hơn thế nữa hiện tượng lấy vợ, lấy chồng sớm thường kèm theo tệ nạn mua bán, cướp vợ

M ột số đồng bào các dân tộc rất coi nhẹ các thủ tục pháp lý trong hôn nhân N hiều trường hợp cứ đôi trai gái yêu nhau, đồng ý lấy nhau là về ở với

Trang 33

nhau không cần đăng ký các thủ tục tại Uỷ ban nhân dân xã, phường Thậm chí có irường hợp người con trai về ở nhà người mình yêu như là người làm thuê, sau m ột thời gian mới được nhận làm chồng sau khi đã mang cống nộp

đủ các khoản lỗ vật cần có [33, tr.77]

Việc phần lớn không đăng ký kết hôn của đồng bào các tỉnh miền núi nói chung và các unh miền núi phía Bắc nói riêng cho chúng ta thấy ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân các vùng này chưa cao Có thể nói, đồng bào còn coi thường pháp luật, chưa thực hiện nghiêm minh luật hôn nhân và gia đình Bởi vì, đăng ký kết hôn là một thủ tục pháp lý cần thiết để thực hiện các điều khoản khác của luật hôn nhân và gia đình Đó là trách nhiệm và quyền lợi giữa vợ và chồng, trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái và ngược lại, vấn đề thừa k ế tài sản

Theo Báo cáo của 6/10 huyện, thị xã (Tủa Chùa, Điện Biên, Phong Thổ, Thị xã Đ iện Biên Phủ, thị xã Lai Châu) của tỉnh Lai Châu thì lới tháng 4/2002 đã phát hiện 5945 đôi vợ chồng chưa đăng ký kết hôn Huyện Điện Biên, Đ iện Biên Đông, Phong Thổ, thị xã Điện Biên Phủ đã vận dộng và tổ chức đăng ký lại cho 130 đôi [6, tr.3]

Cả xã Lầu Thí Ngài (tỉnh Lào Cai) 99% số cặp vợ chồng không có đăng ký kết hôn Năm 2001 duy nhất có 1 cặp vợ chồng là anh k ế toán của Uỷ ban và cô giáo viên tiểu học trước khi kết hôn có đến Ban tư pháp xã trình báo

! Thực trạng hôn nhân không đăng ký kết hôn của gần 70% đồng bào Mông ở

xã Lùng Phin cũng đang là hiện tượng nhức nhối Xã có 1.109 nhân khẩu thì

có 204 cặp vợ chồng không đăng ký kết hôn Cả tỉnh Lào Cai có hơn 60 vạn dân thì có 1.395 trường hợp hôn nhân không có đăng ký kết hôn Tính từ ngày 1/01/2000 đến ngày 30/6/2001 các phòng tư pháp, ban tư pháp (xã, phường, thị trấn) đã đăng ký kết hôn lại cho 913 trường hợp[7, tr.3]

Theo báo cáo của Ban soạn thảo sửa đối luật hôn nhân và gia đình: ở

An Giang có hơn 50% các cặp vợ chồng không đăng ký kết hôn, các xã vùng sâu Tiền G iang là 50%, ở 22 xã vùng sâu của Bình Định 100% các cặp vợ

Trang 34

chổng không đăng ký kết hôn.

Như VÓỴ so với đồng bào các ủnh miền núi phía Nam, thì tình hình đăng ký kết hôn ở các tỉnh miền núi phía Bắc là yếu kém hơn

Một nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình là việc kết hôn phải do trai gái tự nguyện quyết định, ở một số tỉnh như Hoà Bình hoặc Nghệ

An dân tộc Thái thường cho phép trai gái tự do yêu nhau, khi đôi trai gái tiến tới hôn nhân, gia đình nhà trai nhờ một bà trong họ đến ướm hỏi Nếu nhà gái đồng ý thì hôm sau trả lời Còn nếu đôi trai gái bị nhà gái ngăn cản thì nhà trai

bí mật đến nhà cô gái và đón cô gái về nhà mình Sau hai, ba ngày hai người

về nhà bố mẹ vợ để xin ở rể Còn nếu cả hai nhà trai và nhà gái đều không đồng ý thì đôi trai gái bỏ sang mường khác để ở, khi đã có với nhau hai hoặc

ba mặt con mới trở về và gia đình phải chấp nhận Trong trường hợp này thường miễn luôn cả lễ cưới Nếu nhà trai quá nghèo, nhà gái chấp nhận cho chàng rể ra m át bằng đôi gà, đôi chai rượu, m ột ít trầu cau là xong Cũng có đôi trai gái bị nhà gái ngăn cản, họ tổ chức cướp người yêu Trước khi đi, cô gái để đồng tiền hay ít gao vào chiếc ninh xôi để báo cho bố mẹ biết Hai ba ngày sau đôi trai gái về nhà bố mẹ xin ở rể Trong trường hợp này chàng rể thường chịu nhiều thứ thách Nhưng cuối cùng nhà gái cũng phải chấp nhận [33, tr.76]

Tuy nhiên, ở một số dân tộc phía Bắc cũng còn có những tập tục cưỡng

ép hôn nhân V í dụ, nếu vợ của người anh chết, thì em gái vợ phải lấy anh rể goá; chồng chết, vợ goá phải lấy em trai chồng Đó là m ột hình thức hôn nhân cưỡng ép, vừa trái với đạo lý của dân tộc, vừa trái với luật hôn nhân và gia đình Người Thái theo chế độ "hôn nhân mua bán" Theo luật lệ này, người sinh thành ra nữ giới sẽ phải bán con mình để làm dâu phía người sinh thành

ra nam giới Các khoản chi phí hK ra để gọi là "mua" đó hoàn toàn nằm ngoài những tốn kém do lệ luật qui định trong các bước cưới xin, được gọi là "giá đầu"

Khi tiến hành hôn lễ, các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc thực hiên nhiều thủ tục rườm rà, tốn kem Chẳng hạn, theo luật tục của người Thái,

Trang 35

nhà trai phải qua lại nhà gái ít nhấl ha lần:

- Đi dạm uống: gia đình nhà trai nhờ m ột bà trong họ mạc, mang haigói chè đến gặp bố mọ cô gái Nẽu gia đình và cô gái bằng lòng Ihì vài ngày sau sẽ trả tráng Dù không bằng lòng, hai gói chè trên không phải trả lại

- Đi dạm hỏi: ông mối đến gia đình hỏi ý kiến gia đình, mang theo 4chai nrợu, 2 gói chè, 2 gói trầu, 100 bánh nếp

- Xin ngày cưới: ông mối m ang theo m ột đôi gà, 200 bánh nếp, 4 chai rượu, 2 gói cơm, 2 gói trầu, 2 gói vỏ, nửa buồng cau, m ột phần tiền cưới, m ột cái váy đẹp, 2 vòng tay bằng bạc để tặng mẹ vợ[33, tr.78]

Lễ cưới được tiến hành theo trình tự sau (ở M ai Châu):

Nhà trai m ang ít nhất m ột con lợn, 8 lạng bạc, 3 vò rượu cần, 3 tạ gạo, vài chục lít rượu đến nhà gái làm bữa cơm xin dâu Bữa cơm này do nhà trai đảm nhiệm từ nấu nướng đến mời ăn, thu dọn N hà gái càng đông khách nhà trai vất vả nhưng lấy đó làm mừng Vai trò ông cậu và bà dì rất lớn Đây là tàn tích về quyền lực m ẫu hệ trong xã hội Thái Khi đón dâu về nhà trai, đến ngày thứ ba chàng rể đưa m ẹ vợ về nhà m ẹ đẻ

Về vấn đề trách nhiệm và quyền lợi giữa vợ và chồng: các dân tộc đều

có những tục lệ khắt khe với những người sống không chung thuỷ với người bạn đời của m ình Luật lệ người Thái qui định vợ chồng phải thương yêu nhau suốt đời Tuy nhiên, cũng có những qui định lạc hậu, xâm phạm đến quyền tự

do kết hôn của người phụ nữ Chẳng hạn, qui định: khi chồng chết, vợ được quyền tái giá, nhưng phải do nhà chồng gả bán N ếu gia đình người con gái tự

gả con gái đi lấy chồng lần nữa, nhà gái phải trả lại m ọi phí tổn cưới dâu, tiền giá đầu và công con trai đã ở rể

Người M ông rất chú ý đến tình cảm vợ chồng V ợ chồng người M ông

đi chợ về, chồng say rượu có phải nằm ở dọc đường, người vợ vẫn ngôi bên cạnh chờ đợi, quạt m át cho chồng và chờ đến khi nào chồng tỉnh rượu mà về thì mới thôi

Trang 36

Vê vấn đề quyền và nghía vụ của cha mẹ và con cái: Nhiêu dân tộc qui định quycn lợi và nghĩa vụ của con cái, trong đó thể hiện rõ sự phân biệt nam

nừ Do đó, tài sản của cha mẹ chỉ chia cho con trai Người được hưởng nhiều nhất là con trưởng Qui tắc phân chia tài sản là "Anh được hai, em được mội" Nếu gia đình có 3 con trai thì tài sản chia 3, anh cả hai phần, phần còn lại tiếp tục chia 3, anh hai được hai phần, còn lại một phần của anh ba Có nhiều con írai, tiếp tục chia theo nguyên tắc đó Cuối cùng, nếu hết tài sản, thì anh cả, anh hai phải bớt phần mình chia cho em út

N hư vậy, qua việc phân tích một số qui định trong luật tục của một số dân tộc ở vùng núi phía Bắc về vấn đề hôn nhân gia đình (luật tục của dân tộc Thái và dân tộc M ông là hai dân tộc có số dân chiếm đa số ở các tỉnh miền núi phía Bắc) chúng ta phần nào hiểu rõ về thực trạng thực hiện Luật hôn nhân gia đình Bởi vì, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình hiện nay ở các vùng núi phía Bắc vẫn chịu sự điều chỉnh của luật tục Bên cạnh những yếu tố ít nhiều mang khía cạnh tiến

bộ, các nội dung trong luật tục đ ỈU mang tính chất lạc hậu, trái với nội dung

và nguyên tắc của luật hôn nhân gia đình Iliện nay, lấy luật tục làm chuẩn mực điều chỉnh các quan hệ xã hội, luật hôn nhân và gia đình ít phát huy hiệu lực đối với đồng bào các dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc Kếl quả điều tra thực tế về Luật tục tại các tỉnh miền núi vùng cao phía Bắc cho thấy: chỉ có 0,96% ý kiến được hỏi cho rằng không ai tin vào luật tục, 37,1% cho rằng ít người tin, trong khi đó có tới 34,5% cho rằng đa số mọi người tin theo

và 22,7% trả lời là tất cả mọi người đều tin theo [41, tr.l 10] Việc đưa luật hôn nhân và gia đình vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số là một việc làm rất khó khăn, phức tạp và gian khổ

Để tăng cường quá trình thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình, đưa

nó vào cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, ngày 27/3/2002 Chính phủ đã ra nghị định 32/2002/NĐ-CP qui định việc áp dụng luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số Trong đó, Chính phủ qui định

Trang 37

những nội dung, nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, danh mục những phong tục tập quán tốt đẹp VC hôn nhân và gia đình được phát huy và những phong tục tập quán lạc hậu bị nghiêm cấm hoặc vận động xoá bỏ

Thực hiện pháp luật hình sự, luật bảo vệ và phát triển rừng là hình thức tuân thủ pháp luật trong lý luận về thực hiện pháp luật Nhìn chung, hiện nay ở các tỉnh miền núi phía Bắc thực trạng tuân theo hai bộ luật này rất đáng lo ngại Tinh trạng coi thường pháp luật đang có xu hướng gia tăng Trong năm

2001, toàn ngành toà án Lạng Sơn đã thụ lý sơ thẩm 504 vụ án hình sự với 747

bị cáo K ết quả tính đến ngày 31/12/2001 đã giải quyết 484 vụ với 700 bị cáo,

tỉ lệ giải quyết đạt 95,2% Trong đó, số vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của toà

án nhân dân tỉnh là 256 vụ vứi 398 bị cáo và tập trung ở m ột số loại tội như: Các tội phạm về m a tuý có 126 vụ với 185 bị cáo (tăng 8 vụ so với năm 2000); tội tàng trữ lưu hành tiền giả có 27 vụ với 40 bị cáo (tăng 11 vụ so với năm 2000); tội vi phạm các qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ có 17 vụ với 17 bị cáo (tăng 8 vụ so với năm 2000) [2, tr.2]

Theo số liệu chưa đầy đủ, năm 2001 toà án nhân dân các cấp tỉnh Bắc Cạn đã xét xử sơ thẩm , phúc thẩm 251 vụ án hình sự [4, tr.2]

Năm 2001 lực lượng kiểm lâm thị xã Hà Giang, đã phát hiện và xử lý

59 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng Trong đó, khai thác lâm sản trái phép 13 vụ; vận chuyển lâm sản trá phép 22 vụ; m ua bán, tàng trữ lâm sản trái phép 24 vụ Lực lượng kiểm lâm đã ra quyết định xử lý 49 vụ, tịch thu 37,60 m 3 gỗ các loại, thu cho ngân sách nhà nước 47 triệu đồng [4, tr.2]

Từ đầu năm đến hết tháng 3/2002, lực lượng chống buôn lậu, chống sản xuất và buôn bán hàng giả của tỉnh Cao Bằng đã tiến hành kiểm tra, kiểm soát trên địa bàn phát hiện 23 vụ vi phạm về đăng ký kinh doanh, xử phạt hành chính 8.900.000 đồng, bắt giữ 3 vụ hàng cấm, 1 vụ hàng kém chất lượng

và 92 vụ buôn bán, vận chuyển hàng nhập lậu với tổng trị giá 333.983.000 đồng Các mặt hàng vi phạm nói trên chủ yếu là thuốc lá nguyên kiện, thuốc gây nghiện, xi m ăng đen, vải, các loại gạo và nhiều m ặt hàng khác như: quần

Trang 38

ao may sẩn, pháo nổ các loại [8, tr.2j.

Tinh hình tội phạm ma tuý ở tỉnh Lai Châu cũng rất đáng lo ngại, ’rong 2 năm 1999 - 2000 các cơ quan chức năng của lỉnh Lai Châu đã chặt dứt nhiều đường dây mua bán ma tuý trái phép, phá 34 chuyên án, bắt giữ 1.489 đối tượng phạm tội mua bán, vận chuyển, tàng trữ, chiếm đoạt trái phép

và sử dụng trái phép các chất m a tuý, thu giữ 27,35 kg hê rô in, 168,8 kg thuốc phiện, 1528 viên hồng phiến [ 25, tr.29-30]

Khi đánh giá về thực trạng thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía

Bắc, theo chúng tôi không thể không đề cập đến việc thi hành Nghị định

29/CP của Chính phủ về qui chế dân chủ ở cơ sở Qui chế dân chủ ở cơ sở là một văn bản có tính pháp luật, được áp dụng và có hiệu lực thực thi trong phạm vi cả nước V iệc thực hiện qui chế đân chủ ở cơ sở vừa là thực hiện văn bản pháp luật của nhà nước vừa là điều kiện để tăng cường quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, tăng cường pháp chế nói chung K ết quả điều tra của đề tài cấp bộ: "Hệ thống chính tri cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn m iền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" (Học viện CTQG Hồ Chí M inh) cho thấy việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở ở các tỉnh m iền núi phía Bắc đã bước đầu đạt được m ột số kết quả nhất định Trả lời cho câu hỏi "ở thôn, bản anh (chị) đã thực hiện qui chế dân chủ như thế nào?" 26,8% số người được hỏi trả lời là chưa triển khai, 50,8% số người trả lời là mới triển khai, 11,8% số người trả lời là thực hiện tốt, 28,8% số người trả lời là thực hiện khá và 3,2% số người trả lời là thực hiện kém [41, tr 108]

Cụ thể là sau hơn hai năm thực hiện nghị c nh 29/CP của Chính phủ, tỉnh Lai Châu đã đạt được m ột số kết quả nhất định Niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, chính quyền đang được củng cố Trí tuệ, sáng kiến của mọi tầng lớp nhân dân được khơi dậy và phát huy tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay ở Lai Châu đã xây dựng, điều chỉnh bổ sung hoàn chỉnh 1.187 qui ước của thôn, bản, khu phố, đạt 63,8% tổng số thôn, bản [25, tr.27-28] Ngoài ra trong tỉnh đã hoà giải và giàn xếp hàng nghìn vụ việc

Trang 39

dưn thư khi-ếu kiện Irong nội bộ nhân dân, hạn chê có hiệu quả tình trạng khiếu kiện tập thể lên xã, huyện, tỉnh và không có tình trạng kéo về trung ương Từ khi triển khai qui chê' thực hiện dân chủ ở cơ sở, không có trương hợp nào biểu hiện "phép vua thua lệ làng", chưa có hiện tượng nào quá khích Một số vụ "điểm nóng đột biến" được dàn xếp tại chỗ như: phá nhổ cây thuốc phiện ở bản K hom Kún, Pa Cá, huyện Điện Biên Đông Việc thanh toán xây dựng ki ốt chợ trung tâm thị xã Điện Biên Phủ cũng đều thông qua hoà giải trực tiếp do Uỷ ban m ặt trận tổ quốc thị xã Điện Biên Phủ thực hiện Trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội đã khuyến khích được sự đóng góp sức người sức của cùng với nhà nước tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng Giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như: bảo vệ an ninh trật tự thôn bản, chống tệ nạn xã hội, chống nghiện hút, không trồng cây thuốc phiện, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, đóng góp xây dựng trường học, trạm xá Những xã có chương trình

135 đang được thực hiện tốt qui chế dân chủ ncn nhân dân tham gia rất tích cực và hiệu quả M ột số cơ quan trong tỉnh đã xây dựng được hệ thống nội qui, qui định, công khai các chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dan Qui định về lề lối làm việc, mối quan hệ công tác, giảm bớt m ột số đầu mối không cần thiết và những thủ tục gây phiền hà cho nhân dân Tổ chức hội nghị cán bộ công chức, bầu thanh tra nhân dân Qui định ch ế đô, thời gian tiếp dân, giải quyết khiếu nại, thắc mắc trong cơ quan hoặc tổ chức cá nhân khác thuộc chức năng của mình

Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân mà nội dung cơ bản của nó là quản lý nhà nước bằng pháp luật Nhưng trên thực tế hiện nay, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc nói riêng việc đưa pháp luật vào đời sống của nhân dân còn rất hạn chế Việc thực hiên luật dân sự, luật hôn nhân gia đình không nghiêm dẫn đến làm giảm hiệu quả của thi hành pháp luật - một hình thức của thực hiện pháp luật Các quan hệ dân sự, quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình chủ yếu được điều chỉnh bằng phong tục tập quán, luật tục

Trang 40

Những qui định "cấm" trong bộ luật hình sự, luật hành chính, luật bảo vệ và

phát triển rừng đã bị vi phạm và còn có xu hướng ngày càng bị vi phạm nhieu

hơn Từ đó tác giả nhận thấy việc nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân

của thực trạng trên đây là vô cùng quan trọng Điều đó giúp hiểu được thực

chất của quá trình thực hiện pháp luật kém hiệu quả ở các tỉnh miền núi phía

Bắc, từ đó xác định những phương hướng, giải pháp thích hợp đưa pháp luật

vào cuộc sống, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

2.2 NHỮNG YẾU T ố TÁC ĐỘNG LÊN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC:

2.2.1 Ảnh hưởng của điều kiện địa lí và trình độ phát triển kinh tẽ đến quá trình thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.

K hu vực phía Bắc nước ta có các t nh miền núi là: Thái Nguyên, Yên

Bái, Tuyên Q uang, Phú Thọ, Hoà Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Bắc Giang;

Các tỉnh vùng cao là: Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và

Sơn La Trong đó có 131 huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh (131/604

huyện, quận trong toàn quốc) với hơn 2.000 xã, phường, thị trấn (2000/10 387

đơn vị cấp xã trong cả nước) và chiếm hơn 1/3 diện tích cả nước [41, tr.9]

Các tỉnh m iền núi và vùng cao phía Bắc là nơi tập trung nhiều tài

nguyên, khoáng sản Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên, địa lí và môi trường rất đa

dạng Địa th ế cao, dốc tập trung các dãy núi đồ sộ (nhiều núi cao từ 1.500 m

trở lên) Diện tích tự nhiên rộng lớn nhưng chủ yếu là đồi núi, đất canh tác

nông nghiệp chiếm tỉ lệ thấp so với các vùng sinh thái trong nước Do địa thế

dốc, đầu nguồn nên các tỉnh miền núi và vùng cao hàng năm hứng chịu thiên

tai, lũ lớn, đất đai bị xói mòn, kém mầu mỡ, năng suất cây trồng thấp Địa dư

hành chính rộng, địa bàn cách trở giao thông khó khăn, sự phân tán của địa

bàn cư trú cư dân các dân tộc là nguyên nhân hạn chế hiệu quả hoạt động của

hệ thống chính trị, nhất là đơn vị hành chính cấp cơ sở Thực tế cho thấy, trên

lãnh thổ các tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc, xét về diện tích tự nhiên có

Ngày đăng: 14/08/2020, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN