Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cùa pháp luật về TNBTTH nói chung và TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra; và thực tiễn thực hiện pháp luật về loại trách nhiệm nà
Trang 3T ôi x in c a m đ o a n đ á y là c ô n g trìn h n g h iê n c ứ u cu a r iê n g tôi C á c sô ìỉệ u n ê u
tr o n g lu ậ n á n ỉà tr u n g thực N h ữ n g k ê t lu ậ n k h o a h ọ c c u a lu ậ n á n k h ô n g
tr ù n g lặ p và c h ư a từ n g đ ư ợ c c ô n g bô ơ c á c c ô n g trìn h n g h iên c ứ u trư ớ c đó.
Tác giả luận án
NG UYẺN MINH TH U
Trang 4DANH M Ụ C C H Ữ VIÉT TẤ T s ủ D Ụ N G TR O N G LUẬN Á N vi
DANH MỤC HÌNH s ử DỤNG T R O N G LUẬN Á N vii• • •
PHẦN M Ở Đ Ầ U 1
C H Ư Ơ N G 1: M Ộ T SỐ VẢN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ TR Á C H NHIỆM BỎI T H Ư Ờ N G T H IỆ T HẠI DO SẢN PHÁM CÓ K H U Y Ế T TẠ T G Â Y R A 9• • •
7.1 M ột so vẩn đề lỷ luận về trách nhiệm bồi thư ờng thiệt h ạ i 9
7.7.1 K hải niệm vê trách nhiệm bôi thường thiệt h ạ i 9
ỉ 1.2 Đặc âiêrn trách nhiệm bói thường thiệt h ạ i 12
ỉ 1.3 Điêu kiện p h át sinh trách nhiệm bồi thường thiệt h ạ i 13
7 ].4 So sảnh trách nhiệm bôi thường thiệt hại ỉrong hợp đ ồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đ ồ n g 1 7 1.2 K hái quái về trách nhiệm bồi thư ờng llìiệt hại do sản p h ẩ m có kh u yết tật gâ y ra 19
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bôi thường thiệt hại do sán p h â m cỏ khuyết tật gâ y r a 19
1.2.2 Đ ặc điềm trách nhiệm bôi llm rm g thiệt hại do sản p h â m cỏ khuyết tật gây r a 22
1.2.3 Đ iều kiện p h á i sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản p h â m có khuyết lật g â y r a 25
1.2.4 N hữ ng y ế u to cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại CỈO sản p h ấ m cỏ khuyết tật g â y ra 38
1.3 Lịch sư hình thành và p h á i triển của trách nhiệm bồi thư ờng th iệt h ại do sán p h ẩ m có kh u yết tật g â y r a 54
K É T LUẬN C H Ư O N G 1 63
C H Ư Ơ N G 2: T H Ụ C TRẠNG PH Á P L U Ậ T VÀ T H Ụ C TIẺN T H Ụ C HIỆN PH ÁP LU ẬT V È TR ÁCH NH IỆM BỎI T H Ư Ờ N G TH IỆ T HẠI DO SẢN PH Ẩ M CÓ K H U Y É T TẬT GÂY RA Ở V IỆT N A M 64
2.1 Thực trạng p h á p lu ật Việt N am về trách nlíiệm bồi thường th iệt hại do sản ph àm cỏ khuyêt lật g â y r a 64
Trang 52 ì 2 N hóm quy định riêng về trách nhiệm bôi ĩìnrờng thiệt hại do sản phàm có khuyêí tột g â y r a 67
2.1.3 Đánh giả chung hệ thông phá p luật Việt Nam vê trách nhiệm bôi thường thiệt hại do sản phâni có khuvêí tật gâv r a 77
2.2 Đ ánh g iá thực tiễn í/lự c hiện ph áp luật về trách nhiệm bồi thư ờng thiệt hại
do sản p h ẩ m có khuyêt tật g â y ra ỏ’ Việt N a m 86
2 2 7 Thực tiên thực hiện p h áp luật vê trách nhiệm bói tlnròvg thiệt hại do sán
p h â m có khưyêt tật g â y ra của người tiêu d u n g 88 2.2.2 Thực tiên thực hiện p háp ìuật vê trách nhiệm bôi thường thiệt hại do sản
p h â m có khuyêt tật g â y ra của các tô chức, cá nhân sản xuât, kinh d o a n h 93 2.2.3 Thực tiễn thực hiện p h á p luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sàn
p h ẩ m cỏ khuyết tật g â y ra của hệ thống các cơ quan nhà nước về bảo vệ quyền lợi n gư ờ i tiêu d ùn g 101 2.2.4 Thực tiên thực hiện p h á p luật vé trách nhiệm bôi thường thiệt hại do sản
p h ẩ m có khuyết tật g â y ra của hệ thống các tổ chức trọng tài thương m ại 127 2.2.5 Thực tiên thực hiện pháp luật vê trách nhiệm bôi tlnrờng thiệt hại do sàn
p h â m có khuyêt tật gâ y ra cùa các tô chức x ã hội báo vệ người tiêu dùng Ỉ31
K É T LUẬN C H Ư Ơ N G 2 140
VIỆT N A M 142
3.1 Đ ịnh hư ởng hoàn thiện p h á p luật Việt N am về í rách nhiệm bồi thường thiệt h ạ i do sản p h ẩ m cỏ khuyết tật g â y ra 142 3.2 M ộ t sổ kiến nghị hoàn thiện p h á p lu ật và nâng cao hiệu quả hoại động thực hiện p h á p luật về trách nhiệm bồi thư ờng thiệt h ại do sản p h à m cỏ khuyết íật g â y ra ởz Việt N a m 148
Trang 63.2.1 Kiên nghị hoàn thiện pháp luật về những y ế u tổ cơ bản của trách nhiệm bôi thường thiệt hại do sản ph âm có khuyêt tật g ây r a 148 3.2.2 Kiên nghị nâng cao hiệu quả hoạt đ ộ n g thực hiện pháp luật vê trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản p h à m có khuyết tật g ây ra của hệ thống các CO' quan quán /v nhà nước vê bao vệ quyên lợ i người tiêu d ù n g 157 3.2.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật về trách nhiệm bôi thường thiệt hại do sản p h â m cỏ khuyết tật gây ra của hệ thông các
cơ quan tòa á n 162 3.2.4 Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoại động thực hiện pháp luật về trách nhiệm bôi thường thiệt hại do san p h â m có khuyết tật g ây ra của hệ thong các
tô chức trọng tài thươ ng m ạ i ì 67 3.2.5 Kiên nghị nâng cao hiệu qua hoạt độn g thực hiện pháp luật vê trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản p h ẩ m cỏ khuyết tật gâ y ra của các lô chức,
cá nhân sản xuất, kinh d o a n h 168 3.2.6 Kiên nghị nâng cao hiệu qua hoạt động thực hiện pháp luật vê trách nhiệm bôi thường thiệt hại do san ph âm có khicyêt tật g â y ra của các íô chức xã hội bảo vệ người tiêu d ù n g 171 3.2.7 Kiên nghị nâng cao hiệu quả hoạt đ ộn ạ thực hiện p h á p luật vê trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản p h ẩ m cỏ khuyết lật g â y ra của người tiêu
d ù n g 175
K É T LUẬN C H Ư Ơ N G 3 177•
K É T L U Ậ N 178 DANH MỤC CÁ C CÔ NG TR ÌNH ĐÃ CÔ NG BÓ LIÊN Q U A N ĐÉN NỘI DUNG ĐÈ TÀI LU ẬN Á N 180 DANH MỤC TÀI LIỆU TH A M KHẢO
PHỤ LỤC 1: TÔ NG QUAN TÌNH HÌNH N G H IÊ N c ử u VÀ HƯỚNC, PHÁT
T R IẺ N NỘI DUNG CỦA ĐÈ TÀI
PHỤ LỤC 2: BÁO CÁO KÉT QUẢ KHẢO SÁT Ý KIÉN NGƯỜI TIÊU DÙNG
VÈ TRÁCH NHIỆM BÒI THƯ ỜNG THIỆT HẠI DO SẢN PHÁM CÓ
K HUYÉT TẬT GÂY RA CỦA NHÀ SẢN XUẨT, PHÂN PHỐI SAN PHÀM
Trang 7NGOÀI HỢP Đ Ỏ N G
PHỤ LỤC 4: THÓNG KÊ THỤ LÝ, GIẢI QUYÉT CÁC LOẠI v ụ VIỆC DÂN
S ự SO THẢM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAO TÙ 2008 - 2012
PHỤ LỤC 5: DANH MỤ C CÁC c o SỎ VI PHẠM VÀ HÀM LƯỢNG 3 -
M C P D VƯỢT MỨC C H O PHÉP
PHỤ LỤC 6: HỆ T H Ố N G N H ỮN G DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VIỆ T NAM Q UY ĐỊNH QUY C H UẢ N KỸ T HU Ậ T Q UÓ C GIA TR ON G LĨNH V ự c T H Ụ C PHẨ M
PHỤ LỤC 7: HỆ T H Ó N G CÁC c o Q UA N QUẢN LÝ NHÀ N Ư Ớ C VÈ BẢO
VỆ QƯYÈN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
PHỤ LỤC 8: N H Ữ N G v ụ VIỆC KHIÉU NẠI ĐỈẺN HÌNH DO c ụ c QUẢN
PHỤ LỤC 9: DANH SÁCH MỘT SÓ HÀ NG HÓA KHLIYÉT TẬ T ĐƯ Ợ C THU HÒI TR O N G NĂ M 2012
PHỤ LỤC 10: S ự K H Á C BIỆT VÈ CÁC THỦ TỤC GIẢI QU YÉ T VÁN ĐỀ
TR Á C H NHIỆM SẢN PHÀ M CỦA CÁ C NƯỚC TH À N H VIÊN EU
PHỤ LỤC 11: KÉ T Q U Ả H OẠ T ĐỘ N G T Ư V Á N GIẢI QUY ÉT KHIÉU NẠI CỦA VINASTAS NĂM 2012 - 2013
NỘI (VINASTAS)
Trang 8Trách nhiệm bồi thưòng thiệt hại
CQ Q LN N
Govermental Athorized Units
Cơ quan quản lý nhà nước
Trang 9DANH M Ụ C HÌNH s ử DỤNG T R O N G LUẬN ẢN
Hình 1.1 Quá trình phân phối sản phẩm trong thị trư ờ n g 38Hình 2 1: Mức tăng sản lượn 2 vận chuyển hàng hóa hàng k h ô n g 76Hình 2.2: s ố liệu khiếu nại tại văn phòng tư vẩn khiếu nại tại Hà Nội (639 khiếu nại) và thành phố Hồ Chí Minh (650 khiếu nại) siai đoạn 2 0 0 9 - 2 0 1 2 133
Trang 101 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ những năm 1990 nền kinh tế Việt Nam chuyên từ ciai đoạn kế hoạch hóa sang nên kinh tế thị trường Quá trình chuyển đỏi này đã làm cho kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu nổi bật như tăn2 trường kinh tế nâng cao đời sống nhân dân Trong lĩnh vực tiêu dùng SP hàng hóa và dịch vụ tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, phong phú
đa dạng về chùng loại, tạo điều kiện cho NTD có quyền tự do lựa chọn theo như cầu SP hàng hóa được sản xuất ra ngày càng nhiều thì NTD càng quan tâm hơn tới chất lượng SP mẫu mã và các aiá trị sử đụno; Cuộc chay đua thương trường đã khiến cho những NSX, NPP phải liên tục đưa ra thị trường các loại SP mới với các thiết kể, tính năng và vật liệu
đa dạng phù hợp với các xu thế của thị trường Việc sàn xuất liên tục các SP mới này một mặt đã đáp ứn£Ị được nhu cầu luôn thay đối của NTD và mang lại lợi nhuận cho NSX, NPP, nhưng mặt khác, áp lực cạnh trạnh về giá cả cũng khiến các thiết kế hoặc việc thừ nghiệm trên những SP đó đôi khi thiếu hoàn hảo và íỉâv ra thiệt hại hoặc tai nạn không mong muốn cho người sử dụng SP Đặc biệt, từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, bên cạnh những lợi ích là NTD Việt Nam được tiếp cận và sử dụng những hàng hóa dịch vụ chất lượng đến từ các nước khác nhau với công nghệ sản xuất hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, vẫn còn tồn tại hiện tượng nhiều NSX, NPP nước ngoài, đặc
biệt là ở các nước phát triển coi Việt Nam là một "bãi rác ih à r đê lắp đặt những dây
chuyền sản xuất lạc hậu, tiêu thụ những hàng hóa lỗi, hết hạn sư dụng, SP có khuyết tật gia tăng cả về số lượng lần mức độ vi phạm với tính chất ngày càng tinh vi phức tạp
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, vấn đề BVQLNTD được đề cập khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng và đang được công luận coi là một vấn đề nóng bỏng trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Không chỉ tại Việt Natn hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng công tác này bời lẽ bảo vệ NTD chính
là bào vệ sự phát triển bên vững của xã hội trờ thành một bộ phận không thê thiếu trong hệ thống pháp luật của các nước Do đó, nhiều quốc eia đã sớm ban hành các đạo luật với mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD Tại Việt Nam ngày 27 tháng 4 năm
1999 Uy ban Thường vụ Quôc hội đã ban hành Pháp lệnh BVQLNTD cụ thể hóa các yêu cầu của nguyên tắc bào vệ NTD nói chung trong Hiến pháp 1992 bằng việc quy định rõ các quyền cơ bản của NTD Việt Nam như quyền được an toàn, quyền được lựa chọn hàng hóa dịch vụ, quyền được cung cấp thône tin (Điều 8) quyền được bồi thường thiệt hại (Điều 4), quyền được khiếu kiện (Điều 9) Đây có thể coi là một bước níỉoặt quan trọng trong công tác bảo vệ NTD ờ nước ta cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác này, là tiền đê quan trọng cho sự ra đòi của Luật BVQLNTD và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan như: BLDS; Bộ luật Hình sự; Luật Thương mại; Luật Cạnh tranh; Luật Chất lượng SP hàng hóa Luật An toàn SP Trong đó để bảo vệ quyền lợi
Trang 11NTD khi bị xâm hại pháp luật quy định hệ thống những chế tài đa dạng có thê áp dụng đối với cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh vi phạm Những chế tài này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một nền kinh tế lành mạnh, công bằng, tránh những thiệt hại cho
xã hội cũng như nâng cao trách nhiệm của NSX, kinh doanh đối với cộng đồng Tuy nhiên, việc áp dụng chê tài hành chính và chế tài hình sự phai luân theo các trình tự thu tục rất chặt chẽ và chủ yếu mang tính chất răn đe trừng phạt chu thể vi phạm cua các cơ quan nhà nước, về cơ han đứng dưới góc độ của NTD việc áp dụng những chế tài này vẫn chưa đu
và không có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ quyền lợi cho NTD Để giúp những NTD đên bù tôn thât khăc phục được những thiệt hại mà họ phải sánh chịu thì chi có việc áp dụng những chế tài dân sự đặc biệt là chế tài về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra mới
có ý nghĩa trực tiếp đối với NTD Tuy nhiên, trên thực tể nó lại không được quy định hoàn thiện và được thực thi một cách hiệu quả cône tác hao vệ NTD hiện nay chu yếu mới áp dụng phô biên các chế tài hành chính Thực trạng này đã phan ảnh sự mất cân bàng troníí việc sử dụna biện pháp dân sự đẻ giải quyết khiếu kiện, khiếu nại của NTD trong khi biện pháp này mới chính là mong muốn của NTD khi bị xâm phạm quyền và lợi ích Trên thế giới, theo kinh nghiệm từ những nước sớm coi trọng và áp dụng phô biến chế tài này đã khiến nhiều doanh nghiệp ngoài việc phai đền hù thiệt hại một khoản tiền có thể rất lớn cho NTD biện pháp này còn có một sức răn đe vô hình khiến các cá nhân, lố chức sản xuất, kinh doanh luôn phải lo sợ, dè chừng và cố gắng tránh những hành vi vi phạm vi nếu
bị áp dụng trách nhiệm này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến danh tiếng, uy tín của cá nhân, tồ chức đó cũng như thương hiệu của hàng hóa dịch vụ sẽ bị NTD tẩy chay, trực tiếp suy giảm lợi nhuận của doanh nghiệp vi phạm Vì thế, nó khiến NSX, NPP khi đưa SP ra thị trường sẽ phải nồ lực để loại trừ những khiếm khuyết của SP, từ đó đem lại cho NTD những SP đảm bảo an toàn
TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra là một phần quan trọng của pháp luật bảo vệ quyên lợi NTD nói chung, đã ra đời từ những năm 1970 và được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Sau này, kế thừa kinh nghiệm các nước phát triển, hầu hết các quốc gia đều ban hành một đạo luật để điều chỉnh đối với loại trách nhiệm này: Luật TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra hay còn gọi là Luật TNSP quy định về TNBTTH của NSX người nhập khẩu, người bán hàng đối với SP mà mình sản xuất, lưu thôns có khuyết tật và gây nguy hiểm, thiệt hại về tài sản hoặc sức khỏe cho NTD tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi cho NTD nâng cao ý thức kinh doanh chân chính cho những NSX NPP SP Tại Việt Nam nhừns năm sần đây trước hàng loạt các vụ việc xâm phạm nặng n ề 1, gây thiệt hại không chỉ về tài san mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng cùa NTD gia tàng cả về số lượng và mức độ nhưng chưa có trường họp nào NSX NPP phải bồi thường cho những SP có khuyết tật gây thiệt hại cho
1 Chắng hạn: Trường họp nưqc tương vượt quá hàm lưọna chất 3-MCPD; su dụng hàn the, íormole trong bủn phò' và các thực phấm khác có nguy cơ gây ung thư cho NTD
Trang 12tâm cua xã hội như hiện nay Mặc dù Luật BVQLNTD 2010 quy định các quyền được khiếu nại khơi kiện, quyền được bồi thường thiệt hại cùa NTD đối với các hành vi vi phạm của NSX NPP SP: cũng đã phần nào chứng minh cho sự tồn tại cua pháp luật về TNSP được thừa nhận ờ Việt Nam nhưng có vẻ những nỗ lực luật hóa đê những quy định nàv thực sự đi vào cuộc sông là điều không hê đơn giản Vì không đưcrc ban hành một cách trực tiếp trong một đạo luật cụ thê như các nước trên thế giới và việc quy định còn chung chunc mờ nhạt, máy móc nên khi xảy ra thiệt hại, NTD khôna đu cơ sơ pháp lí đê đòi bồi thường thiệt hại hoặc có được bôi thường thì cũng khône thỏa đáníĩ Rất nhiều nội dung quan trọng liên quan đến loại trách nhiệm này không được luật cụ thề hóa như cách tính thiệt hại, các trường hợp miễn trừ miễn giam thiệt hại, chu thê có trách nhiệm bồi thường, chu thể được yêu cầu bồi thường , hoặc quy định thêm bớt quá nhiều theo pháp luật bảo
vệ NTD nước naoài nên không khả thi trên thực tế không phù họp với xã hội Việt Nam Ngoài Luật BVQLNTD vấn đề TNSP cũng được quy định trong các đạo luật khác liên quan trực tiếp nhưng mới nhắc tới một cách tản mát, rời rạc, không hệ thống, thậm chí chông chéo và mẫu thuẫn Hầu hết các quv định mới chỉ dừn^ lại ớ việc áp dụng theo nguyên tắc về TNBTTH nói chung nên chưa thể hiện được tính đặc thù của loại trách nhiệm này3 Vì vậy, trên thực tế, TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra đối với NTD bị NSX, NPP phới lờ, tình trạng xâm phạm quyền lợi NTD chẳng những không giảm mà ngày cànc có xu hướng gia tăng nhiều và nghiêm trọng hơn, trắng trợn ngang nhiên hơn cho thấy những quy định pháp luật mà nhà nước ban hành trong thời gian qua vẫn chưa phát huy đầy đủ tác dụng mong muốn và còn rất nhiều lúng túng trong việc áp dụng, thực thi Sự gia tăng các vụ kiện đòi bồi thường thịêt hại liên quan đến TNSP vẫn tạo ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp sản xuất và cả các CQNN, đặc biệt là trong các vụ kiện TNBTTH do SP khuyết tật gây ra có yếu tố nước ngoài Vi vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luậl BVQLNTD nói chung cũng như pháp luật về TNBTTH
do SP có khuyết tật gây ra nói riêng là một đòi hỏi cấp thiết, đáp ứng nhu cầu cấp bách và tầm quan trọng trước thực tê xã hội hiện nay Việc tập hợp và tìm hiểu, phân tích làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn thực hiện của loại trách nhiệm này một cách có hệ thống là điều rất
cần thiết Đó là lý do đế đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phâm có
khuyết tật gây ra - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật ơ Việt
N am ” được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến sĩ luật học - chuyên ngành dân sự Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế, không thê tránh được những sai sót
2 Điều 23, 24 Luật B V Ọ L N T D 2 0 1 0
Chẳng hạn B L D S 2 0 0 5 cũng chì quy định v ề loại trách nhiệm này vẻn vẹn trons m ột điều luật:
"C á nhân, p h á p nhân, ch u thê khác sàn xuất, kinh d o an h k h ô n g đàm b ao ch a i lư ợ n g h àn g h óa m à
g á v th iệt h ại cho N T D th ì p h a i b ồ i th ư ờ n g ” (Điều 6 3 0 )
Trang 13nhất định, tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo, các nhà nehiên cứu và bạn đọc quan tâm Xin chân thành cảm ơn!
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xem phân tông quan tình hình nghiên cứu của luận án (Phụ lục 1)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cửu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cùa pháp luật về TNBTTH nói chung và TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra; và thực tiễn thực hiện pháp luật về loại trách nhiệm này tại các CQNN: các tô chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh SP: các tô chức trọng tài thương mại; NTD, các TCBVQLNTD 0' Việt Nam trong thời tíian qua luận án đề xuất những kiến nghị nhàm:
*> Góp phân xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về hao vệ quyền lợi NTD nói chung cũng như pháp luật về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra nói riêng;
♦> Đe xuất nhữne kiến nghị nhàm tháo Q,ỡ những khó khăn, bất cập và nâng cao hiệu
quả hoạt độrm thực hiện các quy định của Luật BVQLNTD Việt Nam 2010 và các văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra
3.2 Nhiệm vụ nghiên cửu
Đê đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án phải giai quyêt các nhiệm vụ cụ thê sau đây:
❖ Nêu rỏ khái niệm, đặc điểm, những vân đê lý luận pháp luật về TNBTTH nói chung
và TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra nói riêng;
♦> Phân tích những yếu tố cơ bản của TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra trong đó
có sự nghiên cứu, so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc ;
❖ Phân tích thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành về BVQLNTD ờ Việt Nam và các văn bản pháp luật khác quy định cụ thể vê TNBTTH do SP có khuyêt tật gây ra, đê từ
đó có sự đánh giá tổng quan nhất những ưu điềm và hạn chế, bất cập của hệ thống những văn bản pháp luật này, là cơ sở quan trọng để đưa ra những kiến nghị xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra;
❖ Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra ở Việt Nam; trong đó nêu bật những thuận lợi, khó khăn, bất cập và nguyên nhân của bất cập trong công tác áp dụno, và thực thi pháp luật về loại trách nhiệm này trong thời gian qua tại các CQNN; các tô chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh SP: các tô chức trọng tài thương mại; NTD; các TCBVQLNTD ờ Việt Nam;
Đe xuất định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra trong thời gian tói;
❖ Đê xuất nhữns kiến nghị cụ thế hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TNBTTH do SP
có khuyết tậl gây ra đê từ đó quyền lợi của NTD cũns như những tô chức, cá nhân sản
Trang 14xuất, kinh doanh SP được báo vệ tốt nhất, các CQNN các tô chức trọng tài cũng như các TCBVQLNTD có thể phát huy tối da vai trò và năng lực của mình trong việc thực thi pháp luật về loại trách nhiệm này.
4 Đoi tuọng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đoi tượng nghiền cứu
Đối tượng nchiên cửu cua luận án là những vấn đề liên quan tới pháp luật và việc thực hiện pháp luậl Việt Nam về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra Đây là phân trọng tâm mà đề tài luận án cần phai làm rõ trên cơ sờ nghiên cứu và học hỏi kinh nghiêm cua nhũng nước tiên tiến trên thê giới như Hoa Kỳ, các nước EU Nhật Ban Trung Quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
♦> ì é nội dung: Luận án chủ yếu phân tích các yếu tố của TNBTTH do SP có khuyết
tật gây ra (Chương ]) theo nghĩa hẹp của khái niệm TNSP các nước trên thế giới Bởi, theo nghĩa rộng thỉ phạm vi khái niệm TNSP có thể được hiếu là mọi trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân kinh doanh liên quan đến SP hàng hóa dịch vụ; nó có thể là trách nhiệm trong hợp đồng nhung cũng có thề là trách nhiệm bồi thườno ngoài hợp đồng, có thê phát sinh từ trước, trono và sau quá trình sản xuất, phân phối SP cho NTD bao gồm: trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác về SP; trách nhiệm í>iao SP đúng chất lượng cam kết; trách nhiệm hướng dẫn sử dụng SP đúng cách; trách nhiệm sưa chữa, háo hành; trách nhiệm thu hồi SP
có khuyết tật; trách nhiệm thay thế SP mới; trách nhiệm hoàn tiền, trách nhiệm bồi thường
do SP có khuyết tật gây ra thiệt hại Trong phạm vi nghiên cứu có hạn của luận án tác giả chù yếu tập trung vảo nghiên cứu T'NSP theo nghĩa hẹp dưới góc độ là TNRTTH do SP
có khuyết tật gây ra Theo đó, đây chì là một loại trách nhiệm bồi thường dân sự của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh SP đối với NTD bị thiệt hại do khuyết tật của chính SP
đó gây ra Các loại trách nhiệm khác cùa NSX, NPP SP đối với NTD xin phép được trình bày trong các cône trình nghiên cứu tiếp theo
❖ về thời gian: Khi nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về TNBTTH do SP có
khuyết tật gây ra ờ Việt Nam (Chương 2), tác già chủ yếu tập trung vào hai mốc thời gian chính là kể từ khi BLDS 2005 và Luật BVQLNTD 2010 có hiệu lực thi hành Khi đề xuất định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật (ChươnR 3) luận án đã đưa ra những kiến nghị đê hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TNBTTH do SP có khuyết tật gầy ra trong thời gian tới đến nhừns năm 2020 thậm chí xa hơn nừa khi hoạt động xuất nhập khấu SP tại Việt Nam ngày càng phát triển và cá nhân, tô chức sán xuất, kinh doanh trong nước phải đối mặt với những vụ kiện quốc tế yêu cầu TNBTTH có giá trị rất lớn so với giá trị thực tế của SP hàna, hóa xuất khâu
❖ Vé không gian: Nhữns nội dung liên quan đến thực tiễn thực hiện pháp luật
(Chương 2) luận án nshiên cứu giới hạn trong phạm vi lãnh thô Việt Nam Việc điêu tra, khao sát thực tế ở Việt Nam sẽ không bị giới hạn chu thể NTD nhưng tuân thu nhũng nguyên tấc xã hội học trong lấy mầu và điều tra điên hỉnh Naoài ra có sự đan xen học hoi
Trang 15thòng kinh nghiệm pháp luật quốc tế như Hàn Quốc EU, Hoa Kỳ Thái Lan nhâm giải Ịuyết triệt đẻ những điêm khuyết, bất cập trong các vấn đề lý luận (Chương 1) cũne như reng thực tiễn thực hiện pháp luật về TNBTTH do SP có khuyết tật gâv ra ơ Việt Nam Chương 2).
5 Phương pháp nghiên cửu
)./ Pỉtưongpháp luận nghiên cứu của đề tài
Đê làm rõ các vấn đề nghiên cứu , phương pháp luận nẹhiên cứu cua đê tài là Chu Ìghĩa Mác Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; Tư tưởng Hô Chí Minh và các }ian điểm cua Đảna về nền kinh tế thị trường, về chính sách BVQLNTD là kim chỉ nam
;ho phương pháp luận nghiên cứu của đề tài luận án
ỉ.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thế của đê tài
Bên cạnh đó, tronỉì quá trình thực hiện luận án tác giả cùng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cự thê như : phương pháp phân tích và tông họp phương pháp thông kê , phương pháp hệ thống hóa , phương pháp diễn giải phương pháp so sánh , phương pháp điêu tra xã hội học Cụ thế:
V Phương pháp kết họp lý luận với íhực tiễn: Phương pháp này được sư dụng ơ tât cả
các chương của luận án Cụ thể, tác giả sử dụng lý luận về TNBTTH nói chung , TNBTTH
do SP có khuyết tật gây ra , khái niệm S P , SP có khuyết tật (Chương 1); kết hợp giữa lý luận và thực tiễn áp dụng loại trách nhiệm này (Chương 2) làm cơ sở đề xuất các định hướim và kiến nghị hoàn thiện , để góp phần xây dựng pháp luật Việt Nam hiện hành về BVQLNTD nói chung cũng như pháp luật về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra;
‘> Phương pháp phân tích và tông hợp : Phương pháp này được sư dụng trong tất ca
các chương cua luận án Cụ thê là được sử dụng đê đi sâu vào tìm tòi , trình bày các học thuyết nền tàng lý luận , các quan điềm về TNSP trên thế giới về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra các quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật về loại trách nhiệm này ; khái quát và tổng kết lại trong các kết luận (Chương 1 Chươna 2); từ đó rút ra các định hướng, kiến nghị và giải pháp phù họp (Chương 3);
♦> Phương pháp hệ thống hóa : Được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án nhăm trình
bày các vấn đ ề các nội dung trong luận án theo một trình tự một bố cục hợp l ý chặt chẽ,
có sự gắn k ết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dunạ để đạt được mục đích , yêu cầu
đã được xác định cho luận án;
❖ Phưongpháp so sánh : Phương pháp này chu veu được sư dụng tại Chương 1, Chương 2 cua luận á n Cụ thê là được vận dụna trong việc tham khảo các lý thuyết, quan điểm về nội dune TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra như chủ thế chịu trách nhiệm bồi thường, hên bị thiệt hại, khái niệm khuyết tật mức độ an toàn hợp lý phạm vi SP trong
đó có sự so sánh với pháp luật của các nước khác trên thế giới chăna hạn như EU Nhật Bàn, Truns Quốc N<zoài ra, tại Chương 3 cua luận án tác giả cũng sử dụng phươne pháp này đê so sánh và rút ra các bài học kinh nahiệm và nhữns kiến nghị , đẻ xuât các giải pháp
Trang 16phù hợp nhàm nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra trong giai đoạn hiện nay và giai đoạn tới;
♦> Phương pháp phún lích tình huống: Tác giả sử dụng phươna pháp phân tích tình
huống dựa trên sự phân tích một số vụ việc xảy ra trên thực tiền hoặc đã được xét xử tại tòa án được giài quyết tại các CQQLNN có thẩm quyền cua Việt Nam (Chương 2) nhàm rút ra những bài học kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật Việt Nam (Chương 3);
*> Phương pháp điều tra xã hội học: Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội
học dựa trên việc xây dựne bang câu hỏi (Phụ lục 2) cho NTD trên khắp các vùng miền lãnh thổ cua cả nước Đây là phươns pháp vừa có ưu điêm nhung vừa có nhược điểm Nhược điểm của phươne, pháp này là phụ thuộc hoàn toàn vào người tham gia khao sát do
đó việc lựa chọn đối tượng tham gia đỏng vai trò quan trọng Ngoài ra khi sử dụno phương pháp nàv người điều tra sẽ không có cơ hội đe giải thích nhữna điều mà người tham gia chưa hiểu rõ Bên cạnh đó đối với nhừns câu hỏi mờ thì có thê thu thập dừ liệu rất lớn vì vậy sẽ mất thời gian đe hoàn thành Tuy nhiên lác giả vẫn sử dụnc, phương pháp này vì nó
có ưu điếm là có thế cô đọne được nội dung, từ đó hướng cho những người tham gia khảo sát tập trung trả lời vào nội dung cần nghiên cứu, kết quả thu thập được sẽ là những thông tin gắn liền và chính xác với thực tiễn nhất Ngoài ra, phương pháp này cũne, thuận lợi, chu động về thời gian thu thập thông tin của tác giả so với các phương thức khác;
❖ Phương pháp tập hợp V kiến chuyên gia: Luận án sử dụng phương pháp tập hợp ý
kiến cua các chuyên gia trong lĩnh vực thi hành và áp dụng pháp luật TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra tại các CQNN, TCBVQLNTD NSX NPP SP (Chương 2, Chương 3) Mặc dù nhược điểm của phương pháp này là mất thời gian và số lượng neười được phông vấn không nhiều, tuy nhiên thuận lợi mà nó mang lại đó là tác giả có thẻ đi sâu vào vấn đẻ nghiên cứu trong quá trình phỏng vấn, chù động điều chỉnh câu hỏi và có đôi tượng lây ý kiến đưọc chọn lọc
6 Những đóng góp mói của đề tài luận án
Trên cơ sờ kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu trước đày về pháp luật BVQLNTD và TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra, đồng thời với quá trình nehiên cứu độc lập và nghiêm túc luận án đã có những đóng góp mới về mặt khoa học:
Thử nhất luận án đã nghiên cứu và làm rõ tương đối toàn diện những vấn đê lý luận
liên quan đến TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra như chu thể chịu trách nhiệm bồi thường NTD chủ thê được bồi thường thiệt hại khái niệm khuyết tật khái niệm mức
độ an toàn họp lv, phạm vi khái niệm SP thời hiệu khởi kiện yêu câu 7'NBTTH do SP
có khuyết tật gây ra ;
T h ứ h a i luận án đã tống họp quá trình hình thành và phát triên c ũ n o như nhữne nội duns cơ bản của chế định pháp luật trách nhiệm bồi thườna đối với SP khuvết tật tại các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, EU, Canada Hàn Quốc và đôi chiếu, so sánh với pháp
Trang 17luật Việt Nam, từ đó rút ra nhũng bài học kinh nghiệm phù hợp đẻ hoàn thiện pháp luật Việt Nam:
Thử ba luận án nghiên cứu phân tích, đánh siá thực hiện khảo sát một cách có hệ
thống thực trạng pháp luật hiện hành cũng như thực trạng thực hiện pháp luật về TNBTTH
do SP có khuyết tật gây ra tại các CQNN, các tô chức trọng tài thương mại TCBVQLNTD, các cá nhân, tô chức sàn xuất và kinh doanh, và chính mồi NTD Từ đó rút
ra nhũng bất cập cua pháp luật dẫn đến khó khăn vướng mẳc trong việc thực hiện trên thực
tế của nhữna nhóm chủ thê này đê đưa ra những định hướng và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra sao cho phù hợp với đòi hỏi khách quan cua nền kinh tế thị trường cũng như phù hợp với điều kiện văn hóa, xã hội và yêu cầu xây dụng nhà nước pháp quvền Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quôc tế;
Thứ lư luận án đã sưu tâm thu thập một cách công phu những kết qua số liệu tông kết
hoạt động thực thi pháp luật tại các CQQLNN; tòa án; các tô chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh SP: các TCBVQLNTD để làm cơ sở cho những kết luận, lập luận chính xác đê luận án không chi có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn, trở thành công cụ hữu hiệu bảo vệ cho NTD khi quyền lợi cùa họ bị xâm phạm khá nghiêm trọng như trong bối cảnh hiện nay;
Thứ năm, nhũng kiến nghị, giải pháp mà luận án đưa ra góp phần không nhỏ trong việc
xâv dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật BVQLNTD nói chung cũng như TNBTTH do
SP có khuyết tật gây ra nói riêng ở Việt Nam những nghiên cứu trong luận án có thê làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật này cũng như nâns cao hoạt động thực hiện pháp luật trên thực tiền
7 Ket cấu của luận án
Ngoài phần mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục hình sử dụng trong luận án, phần mơ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khao, danh mục các công trình đã công bo
có liên quan đến đề tài các phụ lục, nội dung của luận án bao gồm ba chương:
C hương 1 Một sổ vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thườns thiệt hại do sản phâm
có khuyết tật gây ra
Chưong 2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gày ra ơ Việt Nam
Chuong 3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu qua hoạt động thực
hiện pháp iuật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sàn phẩm có khuyết tật gây ra ở ViệtNam
Trang 18C H Ư Ơ N G 1: M ỘT SÓ VẤN Đ È LÝ LUẬN VÈ TR Á C H NH IỆM BỎI
1.1 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi th uòng thiệt hại
1 1.1 K hái niệm về trách nhiệm bồi thườn ọ th iệt hại • • o • •
Trone bất kỳ xã hội nào con người sinh sống và làm việc đều phải nằm trone
m ột trật tự nhất định, tôn trọng những quy tắc chung của xã hội tôn trọng pháp luật của nhà nước, không thế vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích họp pháp của những người khác, của cộng đồng và của nhà nước Trên CO' sở những quan hệ xă hội được báo vệ, hệ thống pháp luật của các quốc sia được chia thành nhiều ngành luật, mỗi ngành luật có đối tượna phạm vi điêu chỉnh n h ữ n s nhóm quan hệ xã hội khác nhau, khi các chủ thể tham °ia vào các quan hệ đó, bên cạnh các quyền được nhà nước bảo vệ thì đều aắn với nghĩa vụ, trách nhiệm tương ứng với lừne ngành luật như trách nhiệm dân sự trách nhiệm hình sự trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính [70, trang 7]
TN BTTH là một trong những loại trách nhiệm dân sự truyền thống được hình thành sớm nhất trong lịch sử pháp luật của mọi quốc aia Ngay từ thời La Mã
cổ đại, Luật La Mã đã coi quyền khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại (reparation damni) là một trong những nội dung cơ bản của quan hệ nghĩa vụ và là một
"phương tiện đặc biệt đế bảo vệ quyền sở hữ u' ’ [31; trang 81.109] Theo từ điển luật
học TN BTTH là: “ Trách nhiệm cùa người có hành vi vi p h ạ m , có lôi írong việc
g â v ra thiệt hại về vật chất, tinh thần p h ả i bôi hoàn cho người bị thiệt hại nhăm
p h ụ c hồi tình trạng tài sản, bù đắp ton thất tinh thần cho người bị thiệt h ạ i" [84,
trang 799] Đâv là biện pháp cư ờ n s chế được áp dụne đối với naười đã có hành vi
vi phạm pháp luật, giữ vai trò quan trọng trong việc điêu chỉnh và khôi phục vê mặt tài sản, nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước Lý luận vê
TN BTTH đã được đặt những nen m óng hết sức cơ bản và dược kế thừa một cách tương đối thốna nhất trong pháp luật của hầu hết các nước Thông thường, các nước đều quy định TN B TT H nảy sinh trên cơ sở sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (như bồi thường thiệt hại trong họp đồns) hoặc n2.hĩa vụ tương tự với hợp đồng (như thực hiện công việc không có sự ủy quyền, được lợi về tài sản khône có căn cứ pháp luật) hoặc trên cơ sở trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi trái pháp luật (như bôi
th ư ờ n s thiệt hại ngoài hợp đồng) Tuy nhiên, trải qua các thời kỳ lịch sử và ở nhữna nước khác nhau, quv định về người phải bồi thường, cách thức bôi thường thiệt hại,
Trang 19cách xác định thiệt hại nguyên tắc bồi thường thiệt hại phân loại T N B T T H cũng
có những sự khác hiệt, phụ thuộc vào quan diêm giai cấp, điêu kiện kinh tẻ - xã hội của mỗi quốc £Ìa
Tại Việt Nam ngay từ các Bộ luật cổ cũng đã xuất hiện những quy định vê
TN B TT H tuv nhiên một điếm chung trone những quy định này thì đêu khôno có sự tách biệt riêns giữa trách nhiệm bồi thường với các loại trách nhiệm khác C hăns hạn: Điều 29 Bộ luật Hồng Đ ứ c4 Điều 466 Bộ luật Hồng Đức Điều 201 Bộ luật Gia Long Điều 271 Bộ luật Gia L o n s [81: trang 254-255] thì đều lồna các quy định vê hình phạt mang tính chất hình sự và phạt m an s tính chât dân sự thành một theo hướng như một khoản bồi thườn e vật chất, và chịu ảnh hương rât nhiêu vào nhân thân neười bị thiệt hại Vì m ang tính chất hình phạt nên m ức bồi thường được pháp luật ấn định eấp đôi, gấp ba sấp bốn lần thiệt hại thực tế đã xảy ra, chưa thể hiện được đúne bản chất của loại trách nhiệm này Do sự phát triển của xã hội quan điểm pháp luật về TN BTTH cũne dần dần được thay đổi, khône còn được hiểu là hình phạt mà là nahĩa vụ, bôn phận của người gây thiệt hại, nhằm phục hôi tình trạng tài sản của người bị thiệt hại Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự bồi thường thiệt hại cho noười bị hại được quy định theo hướng là một biện pháp tư p háp 5 chứ không phải là biện pháp hình sự hay hình phạt phụ chỉ áp dụng đối với các cá nhân
và yểu tố lỗi đ ó n s một vai trò rất quan trọng như Luật cổ Trong BLDS TNBTTH được khẳng định là một loại trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm tài sản do
C Q N N có thẩm quyền áp dụng đổi với mọi cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, yếu tố lồi của người vi phạm cũn2 không đóng vai trò đặc biệt quan trọng như trons pháp luật hình sự TN BTTH có thể nói là một trong những chế định pháp luật quan trợna nhất của BLDS Việt Nam được quv định tại điều khoản tổng quái - Điều 307 BLDS 2005 rải rác tại các điều khoản quy định các trường họp vi phạm nghĩa vụ
cụ thể - Điều 146 Điều 223 Điều 426, Điều 435 B L D S và tại chươna XXI của
Bộ luật về TN BTTH ngoài hợp đồn® Tuy nhiên, có thể nhận thấy răng trone rât nhiều nhừna quy định BLDS liên quan đến TN BTTH nói trên thì không có quy định nào nêu ra khái niệm cụ thể về loại trách nhiệm này mà chi có quy định về căn cử phát sinh TNBTTH nguyên tẳc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm bôi thườna thời hiệu khởi kiện yêu cầu trách nhiệm bồi thường Theo đó TN B T T H chỉ được
4 Tiền đến m ạng được ấn định tùy th eọ phẩm trật của kẻ bị chết như sau: “N h ạ t p h à m , lò n g nhá/
p h â m đ ư ợ c đền 1 5 0 0 0 q u a n , nhị p h à m , tò n g nhị p h â m 9 0 0 0 quan, tam p h àm , tò n g tam p h ạ m
7 0 0 0 quan, tứ p h à m , lò n g tứ p h â m 5 0 0 0 quan, ngũ p h â m , tò n g n gũ p lĩâ m 2 0 0 0 quan, lụ c p h à m ,
tò n g lục p h á m 1 0 0 0 quan, th át p h à m , tò n g th á t p h à m 5 0 0 quan, b á t p h â m đên cừ u p h à m 3 0 0 quan, th ứ nhân tr ờ x u ô n g 150 qu an ”
Đ iều 4 2 B ộ luật Hình sự 1999, sửa đỏi bố sung năm 2 0 0 9
Trang 20định nehĩa dưới dạng liệt kè bao gồm TN BTTH về vật chất và TN B TT H bù đăp tôn thất về tinh thần6 như sau:
❖ TN BTTH về vật chất là trách nhiệm hù đẳp tổn thất vật chất thực tế tính được thành tiền do bên vi phạm sây ra bao gôm tổn thất về tài sản, chi phí họp lý
để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại thu nhập thực tế bị mất hoặc bị eiảm sút;
❖ TN BTTH bù đấp tổn thất về tinh thần (sau đây gọi là TN BTTH về tinh thần)8 được hiếu là việc một người sây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phàm, uy tín của người đó thì bên cạnh việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lồi, cai chính công khai còn phai bôi thường một khoản tiền đê bù đẳp tổn thất về tinh thần cho nsười bị thiệt hại
Nhận thấy, quy định trên mới chỉ m ang tính chất phân loại TN BTTH là một khía cạnh lý luận của TN BTTH mà chưa thể hiện được hết bản chất, không thề thay thế được khái niệm về loại trách nhiệm này Chính thiếu sót đó làm cho TN BTTH được hiểu một cách rời rạc tản mát không thống nhất và gây nhiều khó khăn cho
hoạt động thực hiện pháp luật trên thực tế, cho thấy nhữne; "lo hỏng' ■ còn tôn tại trong chế định quan trọna này của pháp luật dân sự Sau một quá trình nghiên cứu
và tổng họp từ thực tiễn, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về TN BTTH như sau:
“TN BTTH là m ột loại trách nhiệm dân sự bao gồm TNBTTH về vật chất và
TN B TTH về tinh thần, p h á t sinh khi người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vó ỷ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phăm , uy tín, tài sán, các quyền và lợi ích hợp p h á p khác của cá nhân, xâm p hạm danh dự, uy tín, lài sản của p h á p nhân hoặc các chủ thể khác m à g à y thiệt hại thì p h ả i có trách nhiệm bồi thư ờ ng cho bên bị thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng" Chủ thể bị áp dụne loại trách
nhiệm này có thể là một công dân pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình Một số trường hợp, các C Q N N 9, cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có nahĩa vụ Bên bị thiệt hại (bèn có quyền) và bên gây ra thiệt hại (bên có nahĩa vụ) có thê là một hoặc nhiều người cùng tham gia N sh ĩa vụ hoặc quyền của họ có thể là liên đới riêng rẽ, hoặc theo phần tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh và đổi tượng bị xâm hại
N T D thì nhà nước se phải liến đới bồi thưÒTig v ó i N S X , N P P SP khuvết tật độ V iệc bồi thường
k h ô n g phai do v i phạm các nghĩa vụ về họp đỏn « k h ôn g c ỏ sự liên hệ trực tiẽp vớ i N T D chính
v ì v ậ y trách nhiệm bỏi th ư ờ n g cua nhà nước đỏi v ớ i các th iệt hại gây ra bơi hoạt đ ộ n s c ô n g
q u yền trong trường hợp này là T N B T T H ngoài hợp đ ô n s (Luật Trách nhiệm bôi thư ờ ng cua nhà
rìươc 2009)
Trang 21trách nhiệm pháp lý nói chung như do CQ N N có thẩm quyên áp dụng, áp dụng đôi với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn m ang đến hậu quả bảt lợi cho người bị
áp dụna được đảm bảo thực hiện bằng cường chế nhà nước [64] thì TN BTTH còn có những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhai, về c ơ sơ p h á p lý: TN BTTH là một loại trách nhiệm dân sự độc lập
không phụ thuộc hay thay thế trách nhiệm hình sự hay các loại trách nhiệm pháp lý khác Quan hệ bôi thường thiệt hại một quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điêu chinh, được quy định trong BL.DS và các văn bản hướng dần có liên quan, dựa trên nền tảng từ những nguyên tắc chung của Hiến p h á p 10 và các nguyên tấc cơ bản được quy định trong B L D S 11;
Thứ hai, về CO' sở hình thành: TN BTTH được hình thành dựa trên sự thỏa
thuận hợp pháp eiừa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, xuất hiện khi có sự kiện gây thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ hoặc hành vi trái pháp luật thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho những thiệt hại đó;
Thử ba, về khách thể của quan hệ bồi thường thiệt hại: Lợi ích m à các bên
hướng tới trong quan hệ bồi thường bao giờ cũng mang tính chất tài sản, là “hành
động"’ bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tôn
thát cho người khác thì tôn thât đó phải tính toán được băne tiên hoặc phai được pháp luật quy định là m ột đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường Do đó những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng c ũ n s sẽ được xác định theo quy định của pháp luật đê bù đăp lại tổn thất cho người bị thiệt hại;
Thứ tư, về chủ thể có nghĩa vụ bồi thường: Chủ thê bị áp dụng TN BTTH
thông thường là người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại trong một số trường hợp
TN B TT H còn được áp dụng cả đối với những chủ thế khác có mối liên hệ nhất định với người gây ra thiệt hại như: cha mẹ của người chưa thành niên; người giám hộ cua người được giám hộ; pháp nhân đối với neười của pháp nhân gây ra thiệt hại; trường học, bệnh viện hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nehề tro n s trư ờ n s hợp người chưa thành niên, người mẩt n ăn s lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời sian quan lý cùa những tô chức này;
10 Đ iệu 20, 30 Hiến pháp 2013
11 Đ ieu 5 6 10 B L D S 2 0 0 5
Trang 22quan hộ dân sự một cách mềm dẻo linh hoạt, là tôn trọng ý chí thỏa thuận và tự định đoạt bình đẳng và tự nsuyện giữa các chủ thể nên phương thức giải quyết các tranh chấp về TN B T T H rất phong phú có thể được giải quvết bằng biện pháp tự hòa giải, thươne lượng, các bên có thể thỏa thuận bất cứ những điêu mà pháp luật không cấm;
Thứ sáu, về hậu quá p h á p lý: Hành vi gâv thiệt hại trái pháp luật của chủ the
vi phạm có thê rất đa dạng, là xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín tài sản các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự uy tín tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thê khác, có thể gây ra thiệt hại
về vật chất hoặc thiệt hại về tinh thần, tuy nhiên hậu quả mà nỏ m ang lại luôn là sự gánh chịu bất lợi về tài sản cho n&ười gây thiệt hại qua đó đè khắc phục những thiệt hại cho bên bị vi phạm
1.1.3 Đ iều kiện p h á t sinh trách nhiệm bồi thư ờng thiệt hại
Điều kiện phát sinh TN BTTH là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bôi thường Dây sẽ là những chứng cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ bồi thườna thiệt hại giữa người vi phạm với người bị thiệt hại, theo đó bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bôi th ư ờn a thiệt hại còn bên vi phạm có nghĩa vụ đên bù cho nhừng tôn thât do hành vi trái pháp luật sây ra Các điều kiện này phải được xem xét trong mối quan
hệ biện chứng, thống nhất và đầy đủ, đó là gồm bốn điều kiện: (i) Có hành vi tráipháp luật gây thiệt hại; (ii) Có thiệt hại xảv ra; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; (iv) Có lồi của người gây ra thiệt hại (Một
số trường hợp đặc biệt như TNBTTH ngoài hợp đồng do n suồn nguy hiểm cao độ gây ra thì không cần điều kiện lồi12 ):
1.1.3.1 H ành vi trải p h á p luật g â y thiệt hại
Hành vi trái pháp luật trona TN B TT H là hoạt động có ý thức và ý chí củachủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quyđịnh của pháp luật, vi phạm nshĩa vụ hợp đồng hay vi phạm quy định pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người k h ác 13 Hành đ ộ n s gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếp của chủ thể
1: Đ iều 623 B L D S 2005
1' N ah ị quyết 0 3 /2 0 0 6 /N Q -H Đ T P ngày 8 /7 /2 0 0 6 cua Hội đồn g Thẩm phán T A N D T C thì: "Hành vi
í rá i p h á p ìu ậí là n h ữ n g x ử s ự cụ í hê cù a con n g ư ờ i đ ư ợ c lhê hiện th ô n g q u a hành ã ộ n g h oặc k h ôn g
h àn h đ ọ n g trá i v ớ i c á c q u y địn h c ù a p h á p luật
Trang 23vào đối tư ợ n a gây thiệt hại hoặc có thể là tác độna, gián tiếp cua chủ thê vào đôi tượng th ô n s qua công cụ phương tiện sây thiệt hại Không hành động gây thiệt hại
là một hình thức của hành vi gây thiệt hại nó làm biến đôi tình trạng bình thường cua đổi tượng tác động, gây thiệt hại bàng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bẳt buộc phải làm mặc dù có đầv đủ điêu kiện đê làm việc đó [80 trang 21] Tuy nhiên, một số hành vi gây thiệt hại không bị coi là trái pháp luật Đó
là những hành vi của người thừa hành nhiệm vụ công tác trong trường hợp cần thiết
do pháp luật quy định mà gây thiệt h ạ i 14, hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết15 và phòng vệ chính đ á n g 16
14 Đ iều 3 8 , khoản 1, điểm d Luật Phòng cháy chữa cháy sửa đổi 2013
vi p h ạ m p h a i b ổ i th ư ờ n g th iệt h ạ i" [57, trang 3 1 4 ] Trong trường hợp này, đối tư ợ ng của họp đông
chính là hành vi chứ kh ôn g phải là m ột đổi tượng vật chat khác, nên v iệc không thực hiện hành vi
đ ư ợ c coi như đã đự ơng nhiên gây ra thiệt hại ch o bén có quyền [69] và chủ thê có hành vi vi phạm nghĩa vụ van có thê phai gánh chịu trách nhiệm bôi thường hoặc trách nhiệm phạt vi phạm nêu các bên
co sự thỏa thuận trưóc trong họp đồng [3 trang 54].
Trang 24Thiệt hại là sự biến đổi theo chiều hướng xâu đi trons tài sản cua một người thể hiện ở những tổn thất thực tế tính được thành tiên mà người đó phải sánh chịu
[81 trang 49] Trong từ điển luật học thiệt hại là: "Tổn thai về tính m ạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phàm , uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp p há p khác cùa cá nhân; tài sản, danh dự uy tín cua p h á p nhân hoặc chủ thê khác được p h á p luật bảo vệ"
[84 tra ns 713] Trước kia phạm vi của thiệt hại chỉ được hiêu là sự "mất mát, hư
hỏng nặng nề về người và c u a '\ chu yêu là những thiệt hại vật chât Quan điẻm vê
thiệt hại trong eỉai đoạn hiện nay thể hiện sự tiến bộ của pháp luật dân sự Việt
N a m 'ọ, được phát triển thêm với sự thừa nhận những thiệt hại về tinh thần (sự thiệt hại của các 2 Ìá trị tinh thần, tình cảm, tâm lý của cá nhân như đau thương, mồ côi cảnh 2 Óa bụa sự xấu hổ do sức khõe danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tô chức bị m ất lò n s tin, sự tín nhiệm bị giảm sút, bị hiểu lầm do danh dự uy tín bị xâm p h ạ m 20 ) cũng được yêu cầu bồi thường, v ề nsuvên tắc, những loại thiệt hại này không thể trị aiá được bằng tiền theo neuyên tẳc neang eiá trị như trong trao đổi hàne, hóa và không thể phục hồi được N hưng với mục đích an ủi động viên đối với người bị thiệt hại về tinh thần, cũng như một biện pháp giáo dục nhằm ngăn
chặn người có hành vi trái pháp luật BLDS quy dịnh neười xâm hại phải: "B ồ i
thường, m ột khoan tiền khác đê bù đap tôn thất về tinh than cho người bị thiệt hại, người thân thích gần g ũ i của người đó p h a i gánh ch ịu "21 Tuy nhiên, mặc dù đã
được quv định trona B L D S 22 nhưng quv định này còn chung chung, chưa cụ thể nên đến nay việc giải quyết tranh chấp TN BTTH về tinh than vẫn còn những quan diêm khác nhau chưa thống nhất
7.1.3.3 M ối quan hệ nhân quà giữa hành vi trái p h á p luật và thiệt hại xảy I ' 0
Quan hệ nhân quả là mối quan hệ nội tại tất vếu giữa các sự kiện, hiện tượng nổi tiếp nhau trong m ột k h ô n e gian và trong một khoang thời gian xác định Thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại, nó không chỉ là sự tiếp nối về mặt thời RĨan nguyên nhản
18 "Thiệt h ạ i th ự c tế ỉà th iệ t h ạ i c ó th ể í inh đ ư ợ c c h ứ kh ôn g p h a i d o suy’ d iễn m à có ’ [33, trang 105]
19 C ó quan đ iềm ch o rằng th iệt hại tinh thần ciiỉ là m ột khai niệm xã h o i, sự tổn hại ve mặt tinh thần
là ờ trông phạm, vi tình cầm nên k h ôn g thê đòi bồi thường do kliông thê tính thành tiên đư ợ c, không thê dùng tiên để chuộc lại hay m ua lại như thiệt hại vê vật chát Pháp luật cá ẹ nược vân có những quan điem đ ồ n g tình và k h ôn g đ ồ n g tình v ó i lóại tiiiệt hại này Đ ây cũ n g là vấn đê đã được đưa ra bàn luận và gây ra nhiều tranh luận, nhất là trong quá trình xậv dựng B L D S ở V iệt N am
N ah ị quyet Õ 3 /2 0 0 6 /N Ọ -H Đ T P ngày 8 /7 /2 0 0 6 của Hội đôrm Tham phán T A N D T C tại điêm 1.1 khoầp 1
Đ iều 6 0 9 khoan 2 Đ iều 6 1 0 khoản 2 Đ iều 61 1 khoản 2 B L D S 2005
22 Đ iều 3 0 7 khoan 3 B L D S 2 0 0 5
Trang 25luôn luôn có trước kêt quá và kêt qua chỉ xuât hiện sau nguyên nhân mà còn là môi quan hệ sản sinh, đó là nguyên nhân sinh ra kết quả [34 trang 252] Trong thực tê mối quan hệ nhân quả aiừa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra biêu hiện rât phức tạp Bơi m ột kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và m ột nguyên nhân
có thể làm phát sinh nhiều kết quả Vì vậy nếu có nhiều nguyên nhân khác nhau dần đến thiệt hại thì khi xác định trách nhiệm bồi thường thuộc về ai, cần xem xét hành vi vi phạm của họ có quan hệ như thế nào đối với thiệt hại xảy ra Neu không xác định chính xác mối quan hệ này rất dề dần đến n h ữ ng sai lầm khi áp dụ n s
TN BTTH Mối quan hệ này tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người nên khi xem xét cần bảo đảm tính khách quan, phải đặt trong mối liên hệ tất nhiên, nội tại của các hiện tư ợne [21 tran a 23]
1.1.3.4 L ôi của ngườ i g â y thiệt hại
Quan điểm pháp lv truyền thống từ trước tới nay luôn coi lồi là m ột trong những yếu tố đóna vai trò là m ặt chủ quan, là yếu tố k h ô n s thể thiểu trona bốn yếu
tố cẩu thành để xác định trách nhiệm dân sự nói ch u n ạ v à T N B T T H nói riêng [5] Lồi được hiểu là trạna thái tâm lý của con người m an g tính phủ nhận đối với nhũng nguyên tắc x ử sự chung được pháp luật quy định hoặc thừa nhận, là khía cạnh chủ quan của người thực hiện hành vi, phản ánh nhận thức của neười dó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện Khi một người có đu nhận ứiức và điêu kiện đê lựa chọn cách xử sự sao cho xử sự đó phù họp với pháp luậL tránh thiệt hại cho chu thẻ khác nhung vần thực hiện hanh vi gây thiệt hại thì người đó thì bị coi là có lồi Yeu tô lồi được xem xét tron2 TNBTTH bao gồm lồi cố ý và lồi vô ý của người gây ra thiệt hại:
❖ Cố ý gây thiệt hại là trư ờ ng hợp neười gây ra thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gâv thiệt hại cho n sư ờ i khác m à vẫn thực hiện và m o ng muốn (lỗi cố ý trực tiếp) hoặc không m ong m uốn, n h ư n s đế mặc cho thiệt hại xảy ra (lỗi cô ý gián tiếp);
❖ Vô ý gây thiệt hại là trư ờ n s hợp người gây ra thiệt hại khô n g thấv trưó'c việc minh sẽ gây thiệt hại cho người khác m ặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho ràng thiệt hại sẽ không xảy ra (lồi vô ý vì cẩu thả) hoặc có thê ngăn chặn được thiệt hại (lồi vô ý vì quá tự tin)
Vấn đề lồi trong T N B T T H naoài hợp đông được quy định tại Điều 604BLDS còn lồi trong T N B T TH trong hợp đ ồng được quy định tại Điều 308 BLDS
áp dụng cho việc vi phạm trong các quan hệ hợp đ ồ n s Tuy nhiên, khác với luật hành chính và hình sự lồi đ ó n e m ột vai trò và V nghĩa quan trọna trong việc xác định tội danh và quyết định hình phạt, xử phạt nhưng tron® T N B T T H dân sự vấn đê
Trang 26hình thức lồi mức độ lồi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm bồi thường, trong nhiều trường họp còn áp đụn s nguyên tắc suy đoán lồi23, thậm chí quy định trách nhiệm bồi thường trong cả trườne hợp k h ô n s có lồi24 Việc xác định mức độ
và hình thức lồi chỉ có ý n&hĩa trong việc xem xét các trường hợp miễn TN BTTH do
sự kiện bất khả kháng, do hoàn toàn là lồi của bên có quyền25 hoặc để xem xét giảm mức bồi thường thiệt hại cho người gây thiệt hại
1.1.4 So sánh trách nhiệm bồi thư ờng th iệt hại trong liợp đồng và trách nhiệm bồi thư ờng thiệt hại ngoài hợp đong
Ngay từ thế kỷ thứ XVIII trước C ô n a nguyên, Bộ luậl Hamurabi ở vùna Lưỡng Hà cồ đại đã có sự phân loại TN B TT H thành TN BTTH nsoài hợp đồng
và TN BTTH trong hợp đồna Cơ sở khoa học cho sự phân loại này căn cứ nauồn sốc phát sinh trách nhiệm: từ nghĩa vụ hợp đ ồ n s hay từ các hành vi vi phạm Đây là cách phân loại cơ bản nhất bời lẽ xác định cơ sở giải quyết bồi thường theo họp đồne và neoài họp đone sẽ rất khác nhau, việc phản biệt, so sánh chúng là điêu rất cần thiết và có ý nghĩa tronơ nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng (Phụ lục 3) Ngoài điểm siống nhau là cùng phát sinh dựa trên bốn điêu kiện của trách nhiệm bồi thường nói chuna TN BTTH trong hợp đồna và TN B TT H ngoài hợp đồng còn có nhừng điểm khác biệt về yếu tố lồi, về căn cứ xử lý, thâm quyền xử 1Ý và những điếm khác biệt cơ bản, quan trọng sau:
Thứ nhất, về càn c ứ p h á t sinh: (i) TN B T T H trong hợp dông là trách nhiệm
dân sự phát sinh trong trườn? họp một bên do không thực hiện, thực hiện không đúne không đầy đủ các điều khoản đã tự nguyện cam kết trona hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia Loại trách nhiệm này bao giờ cũng phải dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và người gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng, hai bên có thể dự liệu và thỏa thuận trước về căn cứ phát sinh TNBTTH dự liệu thiệt hại xảy ra mức bồi thường, các biện pháp bảo đảm thực hiện nehĩa vụ bồi thường, về trách nhiệm liên đới (ii)
TN BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm phát sinh khi người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bôi
23 Đ ố i v ó i T N B T T H ngoải hơp d ồ n g : N e ư ò i mất năng lực hành vi dân sự, người không c ó năng lực hành vi dân s ự thi họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường T heo nguyên tăc suy đoán loi thì cha m ẹ, người giám h ọ được suy đoán là có lỗi khi không thực hiện tot các nghía vụ chăm sóc
a iáo dục, quàn t ý và họ phải chịu trách nhiệm bồi thư ờ ng thay ch o người trực tiếp gầv thiệt hại; Pháp nhẩn, C Q N N phải bồi thường thiệt hại thay cho nhân viên cua co quan này ga y thiệt hại trqne k h itíiự c hiện nhiệm vụ được giao.
Đ ối vó'i T N B T T H trong hơp đ ỏ n g : N gư ờ i gây thiệt hại kh ôn g thực hiện theo đ ú n s nghĩa vụ đã thỏa
1 - - ' • - 1 - .1 • = I được su y đoán la có lỗ i
TRUNG TAM THÕNG ì IN V- TRƯỜNG DAI H(
PHONG ĐỌC
Trang 27thường cho những thiệt hại do mình 2ây ra Đâv là loại trách nhiệm phát sinh giữa các chủ thề m à trước đó không có quan hệ hợp dỏn° hoặc tuy có quan hệ hợp đông nhưng hành vi của naười gây thiệt hại không liên quan đên nghĩa vụ trong hợp đông
đà ký kết [26 trang 436] hoặc trong những trường hợp hợp đồng chưa được aiao kết giữa các hên chưa được coi là tồn tại khi hợp đông vô hiệu, hợp đồng bị hủy bỏ, vi phạm đề nghị aiao kết hợp đồng ;
Thử hai, về điểu kiện p h á t sinh trách nhiệm' TNBTTH ngoài họp đồng vì
không có sự thỏa thuận trước các bên nên về nguyên tấc chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định gồm bốn điêu kiện, trừ nhừne trường hợp pháp luật
có quy định khác (trường hợp thiệt hại do súc vật nuôi gây ra 26 ) Tuy nhiên
TN BTTH trong họp đồng, do cơ sở phát sinh trách nhiệm là dựa trên sự thoả thuận nên các bên cũng có thể tự đặt ra các điều kiện phát sinh có thê không bao gồm đầy
đủ những điều kiện trên như bên vi phạm hợp đồng không có lồi cũng vẫn phải bôi thường, vi phạm nghĩa vụ coi như là có thiệt hại cho bên có quyền và phải bồi thường mặc dù chưa có thiệt hại thực tế đặt ra ;
Thứ ba, về chủ thể chịu trách nhiệm: TN BTTH ngoài hợp đona ngoài việc
áp dụng đối với neười có hành vi trái pháp luật thì còn có thể áp dụn° đối với neười thứ ba27 Tuy nhiên, TN B TT H trong hợp đồng thì chì có thể áp dụng đối với các bên tham gia hợp đồng mà không áp dụng đối với người thứ ba trừ trường hợp họ
có thỏa thuận khác;
T hứ tư, về m ức bồi thường: TN B TT H ngoài họp đồng về nguyên tắc là
người gâv thiệt hại phải bồi thưòng toàn bộ thiệt hại xảy ra Thiệt hại chỉ có thê được giảm tron g một trường họp đặc biệt đó là naười gây thiệt hại có lồi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ [26] Còn đối với T N B T T H trong họp đong thì các bên có thoả thoả thuận ngay trons hợp đồn2 về mức bồi thườna bàng, thấp hơn hoặc cao hơn mức thiệt hại xảy ra và khi phát sinh T N B T T H thì mức bồi thường sẽ áp dụng theo m ức do các bên thoả thuận ;
Thứ n ă m , về thờ i điểm p h á i sinh và chấm dứt trách nhiệm bồi thường: (i)
TN BTTH tro n a hợp đồng, thời điểm xác định nghĩa vụ và thời điểm xác định trách nhiệm bồi thường là khác nhau Thời điềm xác định nahĩa vụ là lúc các bèn giao kết hợp đồng T N B T T H chi phát sinh nếu có vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồnơ mà gây thiệt hại Điều đó có nghĩa là thiệt hại xảy ra chỉ
26 Đ iều 6 25 B L D S 2 0 0 5
27 Đ iều 6 0 6 6 1 8 6 1 9 6 2 0 , 6 2 1 , 6 22 B L D S 2005
Trang 28là một trong những điều kiện phát sinh TN BTTH trong họp đ ô n s và việc bôi thường thiệt hại không là căn cứ làm châm dứt quan hệ hợp đông, chủ thể vi phạm vừa phải có TN B TT H vừa phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng theo thỏa thuận, (ii) TN B TT H ngoài hợp đồng, thời điểm xác định nghĩa vụ và phát sinh trách nhiệm bồi thường thì xuất hiện đồng thời N hư vậy có thê thấy, thiệt hại xảy ra vừa là điều kiện xác định nghĩa vụ bôi thường, vừa là điều kiện xác định TNBTTH
và việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bôi thường thông thường sẽ làm chấm dứt quan
hệ nghĩa vụ giữa các bên:
Thứ sáu, về trách nhiệm liên đới: Những người cùna sây thiệt hại ngoài họp
đồng cho người bị thiệt hại thì đương nhiên phải chịu trách nhiệm liên đới nhưng trong họp đồng thì vấn đề trách nhiệm liên đới chi được đặt ra nếu được các bên trong họp đồng có thoa thuận trước
1.2 Khái quát về trách nhiệm bồi th uòn g thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật
‘éuon nắn” quan hệ tiêu dùng vốn bất cân xứng và yếu thế giữa N T D với các cá
nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh Sự phát triển của pháp luật về TN B TT H do SP
có khuyết tật gây ra là một bước tiến của pháp luật ở nhiều nước trong việc kiêm soát các NSX cung ứng SP vì lợi ích của cộng đồng, xuất phát từ sự xung đột lợi ích giữa việc chạy đua lợi nhuận của các cá nhân, tồ chức sản xuất kinh doanh với
sự cần thiết phải đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe cho NTD như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ N T D một cách đầy đủ và hữu hiệu nhất
Trước kia thời kỳ đầu thế kỷ 20 TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra phát sinh trước tiên từ nsh ĩa vụ đ ư ơ n s nhiên của người bán trona việc đảm bảo chất lượng SP bán ra cho người mua và yêu cầu TN B TT H chi xảy ra khi neười bán
k h ô n e thực hiện đú n2 n&hĩa vụ này [79] Do đó nó chỉ phát sinh trong khuôn khổ của những hợp đồng cụ thể và các quốc gia thường dựa vào BLDS đế giải quyết các khiếu kiện về bồi thường thiệt hại mà NTD 2ặp phải khi sử dụng SP Như vậy, trách nhiệm về những SP khuyết tật gây thiệt hại sẽ phụ thuộc vào sự quy định của pháp
Trang 29luật dân sự về trách nhiệm của người bán hàng đối với người mua hoặc vào sự thỏa thuận sẵn có cua các hên trong họp đồna Sau này, với sự gia tăne không ngừng của hàng loạt các hãng sản xuất cùng với cuộc chay dua thương trường đã làm cho các NSX có xu hướng bỏ qua những yêu cầu về an toàn của SP hoặc hở qua những cảnh báo về sự nauv hại tiềm tàng của việc sử dụng SP khiến việc kiểm soát chât lượna cũng trở nên khó khăn hơn và điều này dần đến sự 2 Ĩa tăng những thiệt hại về vật chất và tinh thần do SP chứa đựng khuyết tật đối với người mua hàng, người sử dụng, thậm chí người thứ ba có liên quan Trong khi, người bị thiệt hại thường không thiết lập quan hệ pháp lý trực tiếp với N SX NPP SP28 m à SP đó đến được tay người bị thiệt hại đã trải qua nhiều khâu cua hệ thống phân phối, đặc biệt là những SP hàng hóa nhập khấu nên loại trách nhiệm này dần tách khỏi nghĩa vụ hợp dồng và có những nội d u n s đặc thù riêng Do đó đê bảo vệ an toàn cho N TD và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng, ý tưởng xây dựng pháp luật về
TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra đã nổi lên sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
và ngày càne phát triển trona ba mươi năm trở lại đây [ 108 trang 369] Ngày nay,
TN BTTH do SP có khuyết tật eây ra đã phát triển tới việc cho phép bất cứ ai bị thiệt hại bởi m ột SP khuyết tật được phân phối trên thị trường thì đều được quyền yêu cầu bồi thường nếu có thiệt hại thực tế phát sinh từ SP có khuyêt tật đó Chủ thê thực hiện trách nhiệm bồi thường cũng không bó hẹp là NSX nữa, mà có thể là bất
kì ai trong chuồi phân phối SP có thê là người bán buôn, bán lé người nhập khâu, người trung g ia n , thậm chí là người chỉ sản xuất một bộ phận linh kiện của SP Pháp luật đa số các nước trên thế giới đều gọi chung loại trách nhiệm này theo một thuật ngữ đỏ là TN SP theo đó, NSX NPP SP phải bù đắp theo những hình thức và mức độ phù hợp với những thiệt hại mà SP do họ cune cấp đã gây ra cho người sử dụne dựa trên nhừne, căn cứ pháp luật quy định hoặc theo những thỏa thuận trong
hợp đồng: - TNSP là khái niệm dùng đẽ chi trách nhiệm cua NSX, người bán buôn,
bán lẻ (kê ca ngườ i xuat khâu) liên quan đến việc bôi thường thiệt hại vê tài sản, tính m ạng hoặc sứ c khoe khi SP cỏ khuyết tật [60 trane 41 - 49] Thậm chí chế định TNSP trong quy định của các nước phát triển ngoài trách nhiệm bôi thường
(nghĩa hẹp) còn được hiếu theo nghĩa rộna là: “M ọi trách nhiệm của tô chức, cả
8 V ụ kiện điển hình ỏ' H oa K ỳ đánh dấu v iệ c cho phép cả những người không có m ối liên hệ trực tiếp với N S X , N P P vẫn đư ợc yêu cầu bồi thường thiệt hại: N gu yên đơn Baxter kiện c ô n g ty Ford
M otor ỏ' Hoa K ỳ do kính chan g ió m ô tó hãng Ford sàn xuất, được bào liànli là chịu lực tốt và
k h ôn g v ỡ nhưng trong quá trình sử dụng lại bị vỡ, gâ y thư ơ ng tích ch o Baxter và người bạn cùna
đi T rong vụ này, tòa án đã xử c ô n g ty Ford phải bồi thư ờng ch o ca Baxter và ngư òi bạn đi cùng
th eo điều kiện b ao hành trong họp đ ôn g giữa Ford và Baxter
Trang 30khuyết tật gây ra như ở Hoa K ỳ Tùy theo tính chất, mức độ của từng trường họp
cụ thể m à NTD có thể khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường theo các loại TNSP trên
N hư vậy, pháp luật về TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra (TNSP) sẽ là chế định đặc hiệt của cơ chế áp dụng bồi thườna dân sự đối với NTD có vị trí khá độc lập với chế định hợp đồng dân sự và trên thực tế, nó không phải là pháp luật hợp đông như nhiều nsười vẫn thường hay nehĩ [66 trang 11] Hâu hết các nước, nhất là nhùng nước phát triển đều ban hành đạo luật riêng điêu chỉnh loại trách nhiệm này hoặc quy định nó là m ột chế định quan trọng trone luật BV Q LNTD tách ra khỏi các đạo luật dân sự N ghiên cứu lý luận về khái niệm và các nội duna cơ bản của
TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới
và học hỏi kinh nghiệm tiến bộ của họ là m ột điều hết sức cần thiết cho các nhà lập pháp Việt Nam
Tại Việt Nam, để có một cách nhìn nhận cụ thể và rõ ràng về loại trách nhiệm này thì vẫn còn là m ộ t điều khá mới mẻ hiện nay N h ữ n s quy định pháp luật trona lĩnh vực B V Q LN T D đã bất đầu được nhen nhóm từ những năm 90 khi mà Việt Nam chuyển đổi cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường Đặc biệt trong ngành kinh doanh bảo hiểm, đế đáp ứng các nhu cầu thực tế bảo hiểm TNSP đã xuất hiện trona danh mục các SP bảo hiêm của doanh nghiệp được Bộ Tài chính Việt N am phê duyệt nhiều năm nay Pháp luật về TNSP cũng đã được hình thành trong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam trong nhiều năm nay Thế nhung hiện nay vần chưa nhiều người biết và càng ít người hiểu được rõ ràng về khái niệm TN S P TN BTTH do SP có khuvết tật gâv ra quyền được yêu cầu
TN B TT H do SP có khuyết tật gây ra của N TD SP khuyết tật, phạm vi điều chỉnh của khái niệm và N SX NPP SP vẫn liên tục dưa ra thị trường những SP có khuyết tật xâm hại đến quyền lợi và sức khỏe NTD, thậm chí hoạt độno đó tại Việt Nam
n eày càns trắng trợn, tinh vi và nguy hiêm hơn Mặc dù Điều 8 11 22, 23, 24 Luật
B V Q LN T D 2010 quy định về quyền được bồi thường và trách nhiệm bồi thường do hàn a hóa có khuyết tật gây ra; Điều 444 BLDS 2005 về bảo đảm chất lư ợns vật mua bán: Điều 630 BLD S 2005 về bồi thườne thiệt hại do vi phạm quyền lợi của NTD; Điều 604 khoản 2 B L D S 2005 về căn cứ phát sinh TN BTTH ngoài họp đồng; Mục 2 chương V Luật Chất lượna SP hàng hóa 2007 quv định vấn đề bồi thường thiệt hại
về chất lượng SP h àng h ó a , chủng ta cũng đã phân nào thừa nhận tinh thân của chế định TNSP tại Việt Nam - một bước tiến trong công tác B V Q LN T D nhưng vì
Trang 31nhất, tồn tại nhiều bất cập trên thực tế: (i) Thứ nhất, còn nhiều quan điểm tranh cãi
liên quan đến khái niệm TNSP vì các học giả cho răn2 SP thì không thế có "trách
nhiệm " như chủ the con người, tổ chức, việc áp dụng thuật n eừ này khá xa lạ máy
móc, không phù hợp với pháp luật và không thực sự chính xác về mặt luật học quy định tên 2 ỌÌ về loại trách nhiệm này sao cho phù họp với thực tế Việt Nam vẫn còn nhiều tranh cãi: (ii) Thứ hai có rất nhiều văn bản pháp luật hiện hành điêu chỉnh vê loại trách nhiệm này nhưng lại không có văn bản nào đưa ra khái niệm TNSP cùng như khái niệm TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra nên loại trách nhiệm này cụ thê
là gì vẫn còn là m ột câu hỏi gây ra sự nhầm lẫn với các chế tài dân sự khác; (iii)
Thứ ba bản thân cụm từ "hàng hóa cỏ khuyết tật” được Luật B V Q L N T D định nghĩa2 có phạm vi nội hàm nhỏ hơn cụm từ “SP có khuyết tật" của chế định TNSP
các nước, không thể chì ra hết những đối tượng SP không phải là hàng hóa cho phép
áp dụng loại trách nhiệm này khiến quy định về TNBTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra mà Luật B V Q L N T D 2010 quy định không rỗ ràno vê mặt phạm vi; (iv) Thứ
tư cách tiếp cận về TNSP hiện nay ở nước ta trên thực tế mới chỉ dừng lại ở
TN BTTH thông thường nói chung30 nên vần không làm rỗ được bản chất đặc thù và
ý nghĩa của loại trách nhiệm này; (v) Thứ năm vì nam rời rạc trong các văn bản
khác nhau nên phạm vi khái niệm TNSP được hiẻu theo n sh ìa rộng hay Iighìa hẹp
vẫn còn chưa được quy định thống n h ất N hằm khắc phục những bất cập đỏ, theo quan điểm của tác giả khái niệm TN BTTH do SP có khuvết tật gây ra (TNSP) nên
xây dự ns theo hướng: " TN BTTH do SP có khuyết tật g â y ra là một loại trách nhiệm
bôi thường dân sự đặc thù p h á t sinh giữa các lô chức, cá nhân sán xuât kinh doanh
là NSX, N P P , trung gian SP với N T D khi SP của họ sản xuất, lưu thông có khuyết tật g â y ra thiệt hại về tời sản, tính m ạng và sức khoe cho N TD Với định nghĩa này, phạm vi khái niệm TNSP điều kiện phát sinh TNSP, đối tượno áp dụng T N S P đều được quy định rõ ràn® và phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam
1.2.2 Đ ặc điếm trách nhiệm bồi thường th iệt hại do sản p h ẩ m có khuyết íật g â v
TN B T T H do SP có khuyết tật gây ra (TNSP) cũng là một loại TN B TT H nên
nó m ans những đặc điểm của TN BTTH nói ch u n s như: tính tương đối ôn định, tôn tại theo n h ữ ng quy luật khách quan, mục đích bao vệ sự phát trièn cua các quan hệ
29 Đ iệu 23 Luật B V Q L N T D 2 0 1 0
•° Đ iếu 6 30 B L D S 20 0 5
Trang 32những đặc diêm riêng như:
Thử nhất, TN B TT H do SP có khuyết tật gây ra là một loại TN BTTH dân sự
đặc thù mà pháp luật quy định, có thể xuất hiện với tư cách là TN B TT H ngoài hợp đồng hay với tư cách là TN BTTH trong hợp đồna tùy vào từng trường hợp cụ thê thoa mãn các quy định của pháp luật về TNBTTH trong hợp đ o n s hay ngoài họp đồng, việc yêu cầu trách nhiệm bôi thường không nhất thiết phải dựa vào sự thỏa thuận họp đồne từ trước siừa người bị thiệt hại và NSX cuna ứng SP Vì thế, việc phân tách nó một cách tuyệt đối thuộc loại trách nhiệm trona hay naoài hợp đ ô n s không có ý nahĩa quan trọng đối với cơ sở lý luận về loại trách nhiệm này:
❖ Nếu TN B T T H do SP có khuyết tật sây ra là TNBTTH ngoài hợp đồng thì sẽ
m ang n hừ ne đặc điêm chính như: (i) Là một loại trách nhiệm pháp lý do luật định nên có thể phát sinh trona trường họp không có hợp đồna thỏa thuận eiừa nhà c u n s ứng và N T D ?I; (ii) Thỏa mãn các điều kiện phát sinh TN BTTH naoài hợp đồng nói chung eồm bốn yếu tố (lồi k h ô n s phải là yểu tố bẳt buộc trong mọi trườna họp); (iii) Yếu tố lỗi cố ý hay vô ý của N SX NPP SP giúp xác định việc tăng giảm mức bồi thư ờng thiệt hại cho NTD; (iv) Khách thể của hành vi vi phạm là tính mạng, sức khỏe, tài sản của N T D
**** Neu TN tì l TH do SP có khuyết tật gây ra là TN BTTH trong hợp dồng thì sẽ
m ang những đặc điểm chính như: (i) Giữa N T D và NSX N PP SP luôn có một quan
hệ hợp đồng hợp pháp dù nó được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào; (ii) Trách nhiệm nàv phát sinh trên cơ sở sự vi phạm quyền lợi NTD của các nhà cung ứng vì không thực hiện đúng nahĩa vụ từ một thỏa thuận trong quan hệ họp đồng với N TD ; (iii) N ghĩa vụ của nhà cung ứng theo hợp đồng không chỉ được xác định theo các điều khoản được quv định trong hợp đồng mà còn ở các điều khoản thường lệ - những điều khoản mà nội dung của nó thườn® được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật: nghĩa vụ đảm bảo chât lượng, n sh ĩa vụ đảm bảo an toàn, quv chuân
kỹ t h u ậ t và hệ thốna các tiêu chuẩn mà nhà cung ứng đăn° ký với CQNN có thâm quyền hoặc cam kết với NTD thông qua các hình thức, phương thức đa dạng; (iv) Trách nhiệm bồi thườiia chỉ giới hạn trong phạm vi nhừna thiệt hại thực tê mà N T D phải gánh chịu do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của NSX NPP: (v) Lồi của
N SX , N P P SP là một tro n s nhừn° điều kiện bắt buộc, nhưng không phân biệt hình thức lồi là cố ý hay vô ý vì mức bôi thưòng đã được các hên thỏa thuận từ trư ớ c ;
- 1 Đ iều 6 0 4 B L D S 20 0 5
Trang 33Thứ hai, TN B TT H do SP có khuyết tật gây ra khác với trách nhiệm đảm bảo
chất lượng hàne hóa trong hợp đồng Theo đó, trách nhiệm đam bao chất lượng hàng hóa trong hợp đồng là trách nhiệm mà người bán (hoặc người xuất khâu) phải thực hiện trước người m ua (hoặc người nhập khẩu) theo đúns thỏa thuận Trong khi đó
T N B T T H do SP có khuyết tật sây ra không chỉ đơn giàn là đảm bảo chất lư ợns SP
m à lại liên quan đến những quyền đặc hiệt của người sư dụne (NTD hoặc người thứ
ba có liên quan) được pháp luật bảo vệ về một SP phải đảm bảo an toàn khi nó được đưa tới tay người sử dụng Chăng hạn đôi với các SP hàng hóa thì đủ trọng lượng, khối lượng, màu sẳc, hạn sử dụng, không bị rỉ sét méo m ó như đã thỏa thuận, dảm bảo SP sản xuất phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn tương ứ n s thì hàng hóa
đó đã có thể được coi là đảm bảo chất lượng nhưng TN BTTH do SP có khuyết tật
s â y vần có thê phát sinh nếu trong quá trình sử dụn s hàng hóa đó những thiệt hại
kh ô n g mong muốn đã đối với người sử dụng, mặc dù người sử dụng đã tuân theo
nh ữ ng chỉ dẫn cần thiết của NSX, NPP SP;
Thứ ba, chủ thể chịu TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra là NSX N PP hay
bất cứ chủ thể nào tham eia vào quá trình đưa một SP đến tay NTD Chủ thể đó có thể có mối liên hệ trực tiếp hoặc không có mối liên hệ trực tiếp với N TD Điêu kiện cần đế xác định một chủ thể phải chịu TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra chỉ phụ thuộc vào việc bản thân người đó có mối liên hệ đối với SP m à NTD đã sử dụng hay không: là người sản xuât ra SP, bao gôm ca người sản xuât ra SP hoàn chỉnh hoặc là người sản xuất ra m ột phần, một bộ phận trong SP hoàn chinh đỏ: là người thực hiện vai trò phân phối trung gian đối với SP hoặc là người cung cấp SP đến tav của N TD bang các hình thức k h á c ;
Thứ tư cơ sở để xác định TNBTTH do SP có khuyết tật gây ra là mối quan
hệ nhân quả giữa SP bị khuyết tật và thiệt hại N T D phải gánh chịu khi sử dụna SP
K huyết tật của SP có thể bắt nguồn từ thiết kế từ chất liệu được sử dụng, từ kết hợp giữa các bộ phận, thành phần hay cách thức sử dụng, vận hành S P và làm phát sinh thiệt hại cho người sử dụng trong điêu kiện thông thường sẽ là những căn cứ đê xác định TN BTTH và mức độ bồi thường;
Thứ năm, TN B T T H do SP có khuyết tật sây ra là một loại trách nhiệm bôi
thư ờng đặc hiệt, có thể được áp dụna ngay cả khi không có đây đủ các điều kiện phát sinh T N B T T H thông thường (chỉ cần ba trong bốn điều kiện) Người bị thiệt hại theo đó không có nghĩa vụ chứng minh lồi của NSX N PP mà chỉ cân chứng minh SP có khuyết tật gây ra thiệt hại thì có thể yêu cầu NSX NPP bồi thường cho
n h ừ n s thiệt hại mà m ình phai gánh chịu;
Trang 34Thử sáu, TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra có thể là loại trách nhiệm do
hành vi hay do tài sản gây ra phụ thuộc quan điểm và góc nhìn của mồi quốc £Ìa khác nhau N h ữ n s quốc sia xây dựna cơ chế bôi thường cho loại trách nhiệm này dựa vào hành vi vi phạm pháp luật cua N SX hoặc các chủ thể trong chuồi phân phổi
SP tới NTD chủ thế nào có lỗi vô ý hoặc cố ý tạo ra khuyết tật trong SP thì sẽ phải bồi thường do hành vi trái pháp luật của mình gây thiệt hại thì TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra sẽ được coi là m ột loại TN BTTH do hành vi gây ra Còn đối với cách hiểu trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra thì việc xác định TN BTTH do SP
có khuyết tật gây ra dựa trên sự kiện SP tiêm ấn khuyết tật gây thiệt hại m à không nhất thiết khuyết tật đó có phải do lồi của NSX NPP SP tạo ra hay không Loại trách nhiệm này về nguyên tác sẽ thuộc về những chủ thể có mối liên hệ trực tiếp với SP như sản xuất, phân phối, quản lý SP m à không cân xem xét đen điêu kiện lồi của những chủ thế này
1.2.3 Đ iều kiện p h á t sinh trách nhiệm bồi thường th iệt hại do sản p h ẩ m có
kh u yết tật g â y ra
TN B TT H do SP có khuyết tật gây ra chính là một loại TN B T T H nên điều kiện làm phát sinh loại trách nhiệm này cũng xuất phát từ nền tảng của các điều kiện phát sinh TN B T T H nói chung32 Việc xác định các điều kiện này cụ thể như thế nào có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động giải quvết các yêu cầu TN B TT H do SP
có khuyết tật gâv ra trên thực té N hững nước xây dựng chế định TN SP dựa trên học thuyết về lỗi cẩu thả và sự bất cẩn như Canada thì quy định N T D khi yêu câu
TN B T T H của N SX , N PP vẫn phải chứng minh được đầy đủ cả bốn điều kiện của bồi thường nói chung Tuy nhiên điều đó gây rất nhiều khó khăn cho NTD làm mất
đi tính đặc thù và không thể hiện được bản chất của loại trách nhiệm này Hiện nay pháp luật ở hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng chế định này trên nên tảng của học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt Theo đó, khi một SP được phân phôi cho
N TD SP đó đương nhiên phải được coi là an toàn NSX, N PP phải nô lực đê loại trừ khuyết tật của SP trona mọi khả năng của mình, v ề nguyên tắc, trong trường họp sự an toàn không được đảm bảo và N TD phải aánh chịu thiệt hại thì N T D sẽ
đ ư ơ n s nhiên được bảo vệ và không một NSX, NPP nào có thể loại trừ trách nhiệm bồi thường, khi đó lợi ích của N T D sẽ được đảm bảo ở mức cao nhât Vì thế da sô các nước đều xác định điều kiện phát sinh TN BTTH do SP có khuyết tật gâv ra theo lurớns NTD chí cân chứne minh ba điều kiện: (i) SP có khuyết tật; (ii) Thiệt hại xảy
'2 G ồm : (i) Hành vi trái pháp luật gâv thiệt hại; (ii) T hiệt hại xảy ra; (iii) M ối quan hệ nhân qua giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại x ảy ra; (iv ) Lỗi của người gây ra thiệt hại.
Trang 35ra (iii) Mối quan hệ nhân qua giữa SP có khuyết tật và thiệt hại xảy ra Trong đó, điều kiện về lồi khôna bắt huộc đặt ra chính là điểm khác biệt cơ bản đặc thù nhất eiữa T N B T T H do SP có khuyết tật gâv ra và TNBTTH nói chung, cụ thê:
1.2.3.1 Sàn p h â m có khuyêt lật
C hứng minh SP có khuyết tật là một trong những điều kiện quan trọng không thể thiếu của N T D khi yêu cầu TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra vì loại trách nhiệm này không phụ thuộc vào hành vi hay yếu tổ có lồi cùa NSX NPP NSX NPP phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi không biết về khuyết tật hoặc
k h ỏ n a thể bị đô lồi sây ra khuyết tật trên SP Một SP gây thiệt hại cho N T D trong quá trình sử dụns, có thể do nhiều nguyên nhân vì SP đến tay N T D trải qua nhiêu công đoạn nên việc nghiên cứu về khái niệm SP có khuyết tật eiúp cho việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm trong các vụ kiện liên quan đến TNSP dễ dàne, hơn Tuy nhiên, để có thể giải quyết được khái niệm khuyết tật SP thì việc trước tiên là cần làm rõ phạm vi khái niệm SP thuộc sự điều chỉnh của chế định TN BTTH
do SP có khuyết tật gây ra Vì vậy SP khuyết tật SP và cách thức xác định khuyết tật SP là gì là những vấn đề m ang tính kỳ thuật pháp lý không thể thiếu khi xây dựng chế định TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra tại các quốc gia trên thế giới
*K h á i niêm san phâm
Theo cách nhìn nhận SP trong lĩnh vực marketing, ''SP là th ứ có khả năng
thoa m ãn nhu câu mong m uôn của khách hàng, công hiên những lợi ích cho họ và
cỏ thê đưa ra chào bán trên thị trường vớ i khả năng thu hút sự chủ ỷ mua sắm và tiêu dùng [74 trang 18]" SP theo quan niệm nàv gồm hai bộ phận là: hàng hóa
(goods) và dịch vụ (Service)
Theo định nghĩa của Điều khoản 3.4.1 và 3.4.2 Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2007
hệ thống quản lý chấl lượne về cơ sở và từ v ự n s thì khái niệm SP là: "K eỉ qua của
m ộĩ lập hợp các hoạt động có quan hệ lãn nhau và lương tác đê biên đáu vào thành đầu ra [ 1 5 9 ] ” SP bao gồm cả những hàng hóa hữu hình và những hàng hóa vô
hìn h 33
“CÓ bôn chunạ loại SP chung nhái như sau: + Dịch vụ là kéí qua cua ít nhái một hoạt động cán được tiên hành íại nơi tương giao giừa người cung ứng (Điêu khoan 3.3.6 ỈSO) và khách hàng (Điêu khoan 3.3.5 ISO)
và thường không hừu hình (Ví dụ: vận chuyên); + SP mém bao gôm ỉ hóng Ị in và Ị hường không hữu hình, Vớ
cỏ thé dưới dạng phương pháp, cách chuyên giao hen? thu tục (Vỉ dụ: chương trình máy lỉnh, từ điên); + SP cứng thường hữu hình và lượng cua chủng là một đặc tính đêm được ( Vi dụ: các íhiẻt bị cơ khỉ); + Vặt liệu được chê biến: thường hữu hình và lượng cua chủng là đặc tính Hên tục ( Ví dụ: dảu bói trơn) SP cứng và vật liệu qua ché biẻn thường được gọi là hàng hóa [159] Nhiêu SP bao gôm các thành phún íhuộc các loại
SP khác nhau Khi đó một SP được gọi là gọi là dịch vụ, mém, cứng hay vật liệu chê biên sẽ íùv ĩhuộc vào thành phán nôi trội Vi dụ: SP "xe hơi" gôm SP cứng (sàm lóp), vật liệu (nhiên ỉiệu, dung dịch làm mát), SP mềm (phán mềm kiém soái động cơ, sỏ ia)} lái xe) và dịch vụ (giai thích vận hành do nạười bán hàng thực hiện) "
Trang 36Theo góc độ pháp lý về chế định TNSP nói chung: "SP bao gô m những động
sản đirợe chê biên hoặc sản xuất, nó không p h ụ thuộc vào việc sàn xuâ t theo dây chuyên công nghiệp với quy mô lớn hay san xuât thủ công những SP riêng lẻ [60
trans 41 - 49]“ N hư vậy những SP khôna qua chế biến như SP nông lâm ngư nghiệp, khoáng san hay những tài sản vô hình như thương hiệu, quvên sở hữu trí tuệ quyền sử dụne đất sána chế phát m inh sẽ không là đối tượng nghiên cứu của pháp luật TN BTTH do SP có khuyết tật gây ra hầu hết các nước
N hư vậy có rất nhiều cách hiêu khác nhau trên các lĩnh vực về SP và phạm
vi của SP SP có thê được chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu chí đánh giá trona từng lĩnh vực nhưiia chủ yếu là hai loại cơ bản: hàng hóa hữu hình và hàne hóa vô hình (dịch v ụ ) Việc phân biệt SP theo cách hiểu thông thường và SP dưới góc độ điều chỉnh của TNBTTH do SP có khuyết tật aây ra có ý rmhĩa rất lớn trong việc giải quyết các vụ kiện yêu cầu TN BTTH của các cá nhân, tô chức sản xuất, kinh doanh
vì có những hàng hóa được coi là SP theo cách hiểu thôns thường nhưng lại không được coi là SP trona TNSP iheo quan điểm của từne quốc sia và không được điều chinh bởi chế định này Vì thế, SP theo góc độ nghiên cứu của Luật TNSP mang tính chất đặc thù và chỉ là một bộ phận của khái niệm SP nói chung
H oa Kỳ: Theo Luật TNSP khái niệm SP được hiếu là một thuật ngừ khá rộng từ các tài sản cá nhân hữu hình như đồ ăn đồ gia dụng, dụng cụ làm bếp cho đến máy bay, vật liệu xây dựng và các máy móc công nghiệp k h á c So với khái niệm SP theo pháp luật TN SP ở nhiều nước, khái niệm SP ở Hoa Kỳ không chỉ bó hẹp ở bản thân SP đó mà còn bao gồm tất cả n h ừ n s yếu tố có liên quan tác động đến nhận thức của khách hàng về SP hoặc các yếu tố tạo nên sự an toàn của SP [42] như sách hướng dẫn khách hàng sử dụng SP, các thông tin quảng cáo, khuyến mại, các
tờ r ơ i Cách quy định này ảnh hưởno rất lớn tới các NSX NPP SP vì việc quy kết trách nhiệm bồi thường hoàn toàn dựa trên khả n ăn s sáne tạo và linh hoạt của luật
Chăng hạn như vụ kiện ờ Plorida mà nguyên đơn là anh Jody Gorran đã kiện nhà xuất bàn Diet Atkins về TNSP vì cho rằng các sách hướng dẫn ăn kiêng được bán cua nhà xuât bán này thiêu an toàn và nguy hiêm, trực tiếp gây ra các vắn đẻ về sức khoẻ khi nsuyên đơn thực hiện theo chế độ ăn kiêng mà sách đưa ra Trước khi ăn kiêng, lượns cholesterol của Gorran là 146 Sau chỉ hai tháng ăn kiêng, con số này đâ lên tói 230 Anh
ta tiếp tục ăn kiêng và đã phai chịu đựng một trận đau ngực dừ dội Gorran cho răng sự suy giảm sức khoẻ của anh ta là hậu quả trực tiêp của sự trung thành với chẻ độ ãn kiẻne theo sách Toà án quận liên bang đã bác bo khiêu kiện của Gorran theo đúno Điêu 12c Luật TNSP bang Florida vì cho răno những lời khuvên đuợc đưa ra trona cuốn sách chỉ mang ý chí chủ quan của tác £Ìả viết, khôna phai là sự chỉ định trực tiêp của bác sĩ cho nơười ăn kiêns NTD thông thường có thê lường trước chẻ độ ăn kiêng là nguy hiẻm vì nó đòi hỏi
àn với lượng chât bẽo, chất đạm cao, lượng cacbon thâp mà điêu này làm tăne neuy co măc bệnh tim xo cứn£ động mạch, bệnh tiêu đường, chứng đột quỵ và các loại bệnh un° thư khác trước khi họ quyết định thực hiện theo Như vậy, tron« vụ kiện nàv, sách hướn£ dân ãn kiêng không phải là một SP có khuyêt tật dưới góc độ Luật TNSP vì nhữna giá trị hữu hình cua cuôn sách như bia, trang sách, và sự liên kẻt giữa chúng đêu không
có khuvẻt tật và gây ra thiệt hại cho NTD Còn nhừn« giá trị vô hình của cuôn sách như là ý kiên và sự diên siai thì không được coi là SP có khuyết tật và chịu sụ điêu chinh cua Luặt TNSP.
Trang 37sư hên nguyên đơn, các luật sư càng eiàu kinh nghiệm thì việc giải thích thuật ngừ
SP càng được m ở rộng và khả năn s quv kết trách nhiệm cho NSX N PP cànơ cao
EU : Trong Chi thị 85/374/EEC (Diều 2) và Chỉ thị 34 ra đời và sửa đổi Chi thị 85 quy định SP là những tài sản hàng hóa hữu hình, bao gôm cả các động sản gắn liền với bất động sản động sản được sản xuất theo quy trình công nghiệp, các loại động sản chưa qua chế biến như thịt thú rừng và những nông sản như ngũ côc, rau hoa q u ả ; ngoại Irừ trường hợp bất động sản: thuốc kê đơn: các tài sản vô hình như thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ quyên sư d ụ n s đất, quyên tài san sáng chê phát m in h Các mặt hàng phụ trợ ảnh hưởng đên mong đợi của N T D hoặc an toàn
SP như sổ tay của người sỏ' hữu sổ bảo hành, phụ tùng thay thế quảne cáo, sổ tay dịch vụ và nhãn m ác cũng có thể cấu thành nên một phân của chính SP đó (aiôna Hoa Kỳ) và đều có thể là SP theo Luật TNSP M ột số trường họp đặc biệt như máu
và các SP liên quan tới máu sử dụng với mục đích y học, bao gồm các chất huyết tương, dẫn xuất của huyết tươna và các v ắ c -x in sống hay là SP vô hình như điện
năng cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Chỉ thị này Các nưóc thành viên EU:
v ề phạm vi khái niệm SP, các nước cũng có những sửa đôi nhất định trên cơ sở những quy định của Chỉ thị 85, chẳng hạn: Luật TNSP của Bi thu hẹp lại khái niệm
SP và qui định chỉ những đ ộ n s sản hữu hình; C ộ n g hòa Ai-len coi điện năng là SP điều chỉnh bởi Luật TNSP chỉ khi việc không thể phát điện gây ra thiệt hại: T â y Ban N h a có qui định cụ thê răng ea cũng là SP được điêu chinh theo Luật TNSP; BLDS của P h á p quy định khái niệm SP đồng nehĩa với khái niệm hàng hóa và phạm vi của nó rất rộng35
N h ậ t B ản : Theo Điều 2 khoản 1 Luật TNSP khái niệm SP được hiểu đơn
giản là tài sản được sản xuất hoặc chế biến có thể di chuyển được Thuật ngừ '"chế
biến” ở đâv k h ô n a bao gồm các hoạt động cẳt, sấy khô hay ướp lạ n h N hư vậy các
SP như nông nghiệp, lâm nshiệp n aư nghiệp và khoáng sản mà không được chế biến, không có sự tác động của quá trinh sản xuất thì khôna phai là đôi tượng điêu chỉnh của Luật TNSP SP đang sản xuất dở dang hay chưa hoàn thành, vật nuôi, bất động sản, các tài sản vô hình như thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ băng sána chế, phát minh dịch vụ, thông tin, các chương trình, ứng dụng phân mêni điện n ă n e cũna k h ône được coi là SP theo quan điêm của Luật này [13]
B ao gồm tất cà tài sàn là đ ộn g sản (Đ iề u 13$6-3), kể cả <Jộng sản,gắn liền với bất độn g sản, như hoa lợi c ó ,đ ư ợ c từ trồng, trọt, clian nuôi, săn bắn va đánh bắt, bao gồm cả nguyên l.iệu đâu vào hay
đã qua c h ế b iên SP che tạo, các lo ạ i,n ô n g sản, điện [54, trang 5 9 ], bộ phận cơ thê n gư òi hoặc s p
c ó nguồn s ố c từ m ột bộ phận nàv (Đ iều 1386 -1 2 ) cũ n g được coi la S P
Trang 38Philippines và In d o nex ia: về mặt nội dung, sự khác biệt lớn nhất có thế nói
là hai cuốc eia này đã m ở rộna phạm vi khái niệm SP khôna chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà còn điều chỉnh đoi với cả các loại dịch vụ, điêu mà cả các quôc 2 Ìa phát triển là Hoa KỲ EU cho đến nay vẫn chưa áp dụng36
Có thể thấy rằng, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và quan điêm lập pháp của mỗi quốc gia danh mục các loại SP chịu sự áp dụng cua chế định TNBTTH do SP có khuyết tật aâv ra được m ở rộng (như Hoa Kỳ) hay thu hẹp (như Nhật Bản) Cho đến nay, ngoại lệ duy nhất là Philippines và Indonexia áp dụng TNSP đôi với hàna hóa vô hình là dịch vụ, còn lại phân lớn các quôc eia trên thẻ giới mới d ừ n s ở việc áp dụne chế định TN SP đối với hàng hóa hữu hình vì những
lý do: (i) Đổi với SP là hàng hóa hừu hình do quá trinh sản xuất và phân phối tách rời quá trình tiêu thụ và sử dụna SP nên N T D không thể kiểm soát được hết các nguyên liệu đầu vào quy trình sản xuất và đóne g ó i , SP đến tay N T D có thê tiềm
ấn những yếu tố nguy hiểm mà bằng hiểu biết và kinh nghiệm thône thường NTD không thể nhận biết được; (ii) Đối với SP là dịch vụ có đặc thù do tính vô hình của
nó, việc xác định khuyết tật đối với dịch vụ cùng sẽ là vấn đề rảt phức tạp hơn nữa việc cune ứng dịch vụ không thế luân chuyển nên luôn xác định được người cung ứng dịch vụ trực tiếp để ràng buộc trách nhiệm theo họp đông nên việc đặt ra trách nhiệm đối với SP dịch vụ là điều không cần thiết Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật các nước trên thế giới vê phạm vi những loại SP chịu sự điêu chỉnh cua chẻ định pháp luật này đóng vai trò quan trọng cốt lỗi trong công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật TNBTTH do SP có khuyết tật gâv ra ở Việt Nam [51]
*Khái niêm khuyết tâl SP và cách ĩhức xác đinh khuyết íủí SP
Theo định nghĩa trong B lack's Law dictionary [107] thì SP có khuyết tật là:
“SP gây ra sự nguy hiểm (thiếu an ĩoàn) m ột cách bất hợp lý trong điều kiện sử dụng bình ihường mà không đáp ứng được yêu câu mà m ột người s ử dụng m ong đợi, không p h ù hợp với những tiêu chuẩn thiết kế ban đầu hoặc có lỗi k ĩ thuật trong thiêt kế, sản xu ấ t SP".
Theo định nghĩa của Điều khoản 3.1.2 và 3.6.3 Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2007
hệ th ố n s quản lý chất lượna về cơ sở và từ vựng thì sai lệch/ khuyết tật của SP là:
36 C hẳng hạn, Đ iều 9 9 Luật N T D của PhiIippines v ề trách nhiệm đối vớ i d ịch vụ có khuyết tật quy
định: “N h ẩ cu n g c ấ p d ịch vụ p h a i ẹhịu tra ch nhiệm sư a chữa, khôi p h ụ c , b ô i thường, 'không p h ụ
thuộc vợ o v iệ c c ó lo i /ịợv không, đ ô i vớ i nhữ ng th iệí h ạ i g á V’ r a ch p N T D d o n hũng khuyẽt tạ t liên
qu an đén v iệ c cu n g c ắ p d ịc h vụ cũ n g nh ư v iệc k h ổn g cu n g c ắ p đ á y đu th ô n g tin vê v iệ c thự c hiện
đ ịc h vụ v à khả n ă n g gầy h ại c ù a nó”
Trang 39" S ự không thực hiện m ột nhu câu hay m ong đợi đã đirợc công bô, ngâm hiêu chung hay băt buộc liên quan đên việc sư dụng định nhăm tới hay đã quv định [159]
Hoa Kỳ: "M ột SP có khuyết tật khi SP đó không đàm bảo an loàn m ột cách
hợp lý cho m ục đích sử dụng của nó" Sự thiêu an toàn được hiêu là rủi ro gây ra tử
nạn, thương tổn hoặc thiệt hại về tài sản nhưng không bao gồm sự sai lệch chức năng hoặc chất lượng thấp Ví dụ một chiếc ti vi bị hốc cháy, vì thế, chiếc ti vi ấy
trở nên không an toàn và bị xếp loại vào "có khuyết tật" Tuy nhiên, nếu chiếc ti vi
k h ô n s lên hình khi bật sẽ bị coi là SP hỏng hóc hoặc kém chất lượng chứ không bị
tiêu chí mà N SX có thê áp dụng để chứng minh SP cua mình an toàn và được châp
nhận tại thị trường EU Các nưó‘c thành viên EU: Đa phần cũng áp dụng giống Chỉ
thị 85 về vấn đê này, tuy nhiên một số nước qui định chi tiết hon như Bi, Đ a n
M ạ ch , T h ụ y Đ iể n [15] hoặc rộng hơn như P h á p ?7 khi cho rằng m ột SP dù được sản xuất trong điều kiện tối ưu, không có khuyết tật trong khâu sản xuất và thiết kế,
vẫn có thề bị coi là có khuyết tật nếu như nó không ''đáp ứng m ức độ an loàn mà
nẹirời sư d ụng cỏ quyên mong đợi chính đ ả n g " Và việc xác định phạm tru khái
niệm ''m ong đợ i chính đáng'' của N TD trên thực tế không phải là điều dễ dàno.
N h ật Bản: Theo Diều 2 khoản 2 Luật TNSP: “K huyết tật có nghĩa là sự
thiếu an loàn mà m ột SP bình thĩĩờng cần có, bao gồm bản chất tự nhiên của S P 38, cách sử dụng cỏ thê của SP , thời gian mà người sản xuât có thê đưa SP vào liru thông trên thị trường và những trường hợp khác liên quan đen S P ” [120].
P h ilip p in es: C h ư ơ n s 5 Luật N T D về vấn đề trách nhiệm đối với SP là h à n s
hóa và dịch vụ, Điêu 97 quy định: "Bải kỳ N S X hơv nhập khâu nào của Philippines
hay nước ngoài đêu p h a i chịu trách nhiệm khôi p h ụ c hoặc bôi thường, không kê cỏ loi hay không đoi với các thiệt hại g â v ra cho N T D do khuyết tậí có nguyên nhân từ thiết kế, chế lạo, xâ y dựng, ìap ráp, dựng, nâng cấp, trình bày hay đó nơ g ó i SP,
Đ iều 1386-4 B L D S định nghĩa v ề SP đ ư ọc coi là có khuyết tật: "K hi k h ôn g đ àm b a o đ ư ợ c an
to à n m à n g ư ợ i s ư d ụ n g có qu yển m on g đ ợ i chính, đáng Vjệc ậản h g iá m ức độ ŨỊỊ lo à n m à n gư ờ i s ư
d ụ n g có q u y ên m o n g đ ợ i chính đ á n g p h a i tính đến m ọ i yêu tô, đ ặ c b iệ t là v ê m au m ã SP, lính n ăn g
s ư d ụ n g c ó thê đ ư ợ c m o n g đ ợ i m ộ i c a c h h ợ p lý v à th ơ i đ iế m S P ằ ư ợ c đ ư a v à o ìư v th ô n g ”
C hàng hạn như tính hưu ích và hữu hiệu của SP tư ơ ng quan giũa giá cả của SP và m ức độ an toàn cùa SP, kha năng aây nguy hiêm cua SP tuỏi thọ cua S P
Trang 40cũn g như do cung cáp không đầy âu thông tin về cóng đụng và các kha năng gâ y hại của c h ủ n g " [43].
Nhìn chuna các nước trên thế giới có nhừng quan điếm khác nhau về SP có khuyết tật, phụ thuộc vào tùy tím2 điêu kiện kinh tế xã hội của quốc gia Có nước đưa ra khái niệm này theo nghĩa rộna (như Pháp) nhưng cũna có nước theo nghĩa hẹp (như Hoa Kỳ) nhưng đều có điểm chuna cho ràng khuyết tật SP không chỉ đơn thuần là việc có sai sót về chất lượna SP mà còn là việc thiếu sót về độ an toàn của
SP mà thông thường người ta có thể inone đợi, vì vậy một SP bị coi là có khuyết tật
có thể được hiểu là khi 11Ó "nguy hiếm một cách bắt hợp lý39” và gây ra nhừne rủi ro
về tài sản và tính m ạns sức khỏe cho người sử dụ ns SP đó K huyết tật của SP có thể bẳt nauồn từ: (i) Khuyết tật do thiết kế (desisn defects) xảy ra khi SP được sản xuất theo thiết kế nhưng bản thân SP có những dấu hiệu có thể gây ra nguy hiểm bất họp lý cho người sư dụng theo cách thức thông thường N hững khuyết tật này là
do trona quá trình thiết kế nhà thiết kế, NSX đã không lườna trước được những nguy hiểm trons quá trình thiết kế hoặc không đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện an toàn thông thườns cho một thiết kế của SP; (ii) Khuyết tật do sản xuất (manufacturing defects) là khuyết tật trons giai đoạn sản xuất SP xuất hiện khi mà thành phẩm không tuân theo thiết kể dự kiến hoặc quy cách phâm chất của NSX đề
ra sử dụng nhữ n s vật liệu không đúne tiêu chuẩn, không tuân theo các thông sổ kĩ thuật đã thiết k ế ; (iii) Khuyết tật do không thử nghiệm độ an toàn cua S l \ theo dó
N SX đã khôn a thực hiện các cuộc kiểm tra, thử nghiệm cần thiết mà lẽ ra phải có dần đến khuyết tật của SP, gây thiệt hại cho N TD : (iv) Khuyết tật do không cảnh báo sự nguy hiểm, không cảnh báo sự an toàn (\varrant defects) là khuyết tật thường xuất hiện trong giai đoạn chào bán, dưa SP vào quá trinh tiêu dùng Theo đó NPP đã không cảnh báo đầv đủ thông qua việc mô tả hướng dần sử dụng hoặc là những chỉ dần đặc biệt cho NTD về những nsu v hiếm có thê xảy ra khi sử dụng SP Một SP
k h ô n s mắc bất kỳ lồi nào trong sản xuất hay thiết kế hay thử n°hiệm vẫn có thê bị kiện khi nó gây tổn hại đến cho N T D do các chỉ dẫn và cảnh báo đính kém với SP không đầy đủ không rõ ràng hoặc quá phức tạp làm tăng sự nguy hiểm nên có thê coi là sự cẩu thà của NSX, NPP vì thế đươna nhiên được coi là khuyết tật của SP Níiược lại một SP ân chứa các nguy cơ gây nguy hiểm nhưna được cảnh báo một cách thích hợp cho neười sử dụng theo cách thức thông thường thì NSX NPP sẽ
39 N ếu m ột SP vốn đã ẩn chứa sự nguy hiểm nhưng v iệ c sử dụng SP nguy hiểm đó lại được coi là
sự n g u y hiêm m ột cách họp lý vì tính hữu dụng của nó còn lớn hơn nhiều so vớ i sự nguy hiêm thì
N S X sẽ không phai chịu trách nhiệm cho SP đó và sự nguy hiêm này khônơ được coi là khuyêt tật cùa SP: xăn g san xuất ra đã dê bóc cháy, con dao san xuât ra đã luôn sãc n h ọ n