Do vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành thật nhiều văn bản quy phạm pháp luật là xã hội ổn định và phát triển mà quan trọng hơn là phải thực hiện pháp luật một cách chính xác và đầy đủ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐÀO THỊ MAI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
(TỪ THỰC TIỄN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS TS NGUYỄN VĂN ĐỘNG
HÀ NỘI - 2005
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
6
1.1 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật 6
1.3 Những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện pháp luật có hiệu quả 27
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở
NƯỚC TA NÓI CHUNG, HẢI PHÒNG NÓI RIÊNG TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
35
2.3 Một số nguyên nhân chủ yếu của sự tồn tại ảnh hưởng đến thực
hiện pháp luật ở nước ta
53
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁP LÝ CHỦ YẾU
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY (TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG)
56
3.1 Những đặc điểm cơ bản về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ảnh
hưởng đến quá trình thực hiện pháp luật ở thành phố Hải Phòng
56
3.2 Những yêu cầu mang tính khách quan của việc nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật ở nước ta nói chung, Hải Phòng nói riêng trong giai
đoạn hiện nay
59
3.3 Một số biện pháp pháp lý chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật ở nước ta nói chung, Hải Phòng nói riêng trong giai đoạn
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, trong đó khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Tăng cường pháp chế là điều kiện bảo đảm cho việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để xây dựng thành công nhà nước pháp quyền không chỉ cần có một hệ thống pháp luật hoàn thiện đạt được các tiêu chí toàn diện, đồng bộ, phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý cao, mà còn cần dựa vào ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của mỗi người Để pháp luật đi vào cuộc sống thì ngoài việc ban hành văn bản pháp luật đầy đủ thì bất cứ nhà nước nào cũng phải chú ý đến khâu tổ chức thực hiện pháp luật sao cho có hiệu quả nhất Đây là khâu then chốt quyết định đến sức sống của pháp luật Pháp luật dù có tốt và đầy đủ đến đâu đi chăng nữa thì pháp luật vẫn chỉ nằm trên giấy nếu không được tổ chức thực hiện Pháp luật chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó được thực hiện nghiêm chỉnh thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân Pháp luật phải trở thành phương thức quản lý xã hội, là cơ sở để tổ chức đời sống xã hội Do vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành thật nhiều văn bản quy phạm pháp luật là xã hội ổn định và phát triển mà quan trọng hơn là phải thực hiện pháp luật một cách chính xác và đầy đủ, phải tính toán đến hiệu quả thực hiện pháp luật và chuyển hóa những quy phạm pháp luật thành những hành vi thực tế của các chủ thể pháp luật, chuyển hoá pháp luật từ “trạng thái tĩnh” sang “trạng thái động”
Trang 4Những năm gần đây, thực hiện pháp luật ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng, ngày càng được đổi mới và tăng cường,
có nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từng bước nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta trong thời gian qua chưa cao, còn bộc lộ những yếu kém, hạn chế, vướng mắc cả về mặt lý luận và thực tiễn Những hạn chế và yếu kém này là một trong những nguyên nhân của tình trạng: ý thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, còn có hiện tượng coi thường pháp luật, tội phạm và các vi phạm pháp luật gia tăng; nạn quan liêu, tham nhũng và suy thoái đạo đức, lối sống của một số cán bộ, công chức, cơ quan đang gây bất bình, giảm lòng tin của nhân dân; tình trạng khiếu nại, tố cáo của công dân gia tăng về số lượng, phức tạp về nội dung, gay gắt về tính chất cần phải giải quyết kịp thời và triệt để; công tác ban hành văn bản pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, kém hiệu lực, gây lúng túng cho người áp dụng pháp luật
Vì vậy, đề tài “Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay (từ thực tiễn của thành phố Hải Phòng) mang tính cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, rất cần được nghiên cứu một cách cơ bản để từ đó đề xuất biện pháp lý đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện pháp luật hiện nay ở nước ta đang là vấn đề nóng bỏng được các nhà khoa học nghiên cứu dưới các góc độ và mức độ khác nhau Các công trình nghiên cứu như “Tổ chức thực hiện pháp luật và tăng cường pháp chế trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Khoa nhà nước và pháp luật - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh); luận án tiến sỹ luật học “Thực hiện pháp luật trong hoạt động của lực
Trang 5lượng công an nhân dân để bảo vệ trật tự an toàn xã hội ở nước ta hiện nay” của tác giả Đỗ Tiến Triển; luận án tiến sỹ luật học “Nâng cao hiệu quả của pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” và sách chuyên thảo “Hiệu quả pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tiến sỹ Nguyễn Minh Đoan; luận văn thạc sỹ luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật ở thành phố Hà Nội” của tác giả Trần Thị Xuân Các tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật, về hiệu quả của pháp luật ở nước ta Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện bao quát vấn đề nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước
ta, đặc biệt từ thực tiễn của thành phố Hải Phòng Vì vậy, luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay (từ thực tiễn của thành phố Hải Phòng) dưới góc độ lý luận về nhà nước và pháp luật
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động của nhà nước và xã hội Trong phạm
vi một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật, hiệu quả thực hiện pháp luật, trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp pháp lý chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta nói chung, thành phố Hải Phòng nói riêng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về đường lối đổi mới của đất nước, về xây
Trang 6dựng nhà nước pháp quyền thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng cũng như trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Nhà nước ta
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin, luận văn có sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp hệ thống kết hợp lý luận với thực tiễn để giải quyết vấn đề đặt ra trong luận văn
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là tìm hiểu những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước ta hiện nay
Để thực hiện mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật
- Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật ở nước ta nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng
- Đề xuất một số biện pháp pháp lý chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta nói chung, thành phố Hải Phòng nói riêng trong giai đoạn hiện nay
6 Những đóng góp mới của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta (từ thực tiễn của thành phố Hải Phòng) dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật
- Luận văn tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn lý luận về thực hiện pháp luật
và hiệu quả thực hiện pháp luật
- Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật ở nước ta nói chung, thành phố Hải Phòng nói riêng và phân tích, lý giải những nguyên nhân của thực trạng ấy
Trang 7- Đề xuất những biện pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta và thành phố Hải Phòng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật và
hiệu quả thực hiện pháp luật
Chương II: Thực trạng thực hiện pháp luật ở ở nước ta nói chung và
thành phố Hải Phòng nói riêng
Chương III: Một số biện pháp pháp lý chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật ở nước ta nói chung, Hải Phòng nói riêng trong giai đoạn hiện nay
Trang 8CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
1.1 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật
1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật
Việc nhà nước ban hành nhiều qui phạm pháp luật, nhiều văn bản pháp luật không có nghĩa là nhà nước đã điều chỉnh tốt các quan hệ xã hội theo ý muốn chủ quan của mình Điều đó chỉ đặt ra và đạt được khi các qui phạm pháp luật đó được
cá nhân, tổ chức trong xã hội thực hiện một cách chính xác, nghiêm chỉnh và đầy
đủ Đương nhiên, khi ban hành các qui phạm pháp luật, nhà nước nào cũng mong muốn tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân của mình luôn tôn trọng và thực hiện pháp luật đầy đủ, nghiêm minh ở nước ta cũng vậy, khi ban hành những qui phạm pháp luật, nhà nước luôn mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ, bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của con người, vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Mục đích đó chỉ đạt được khi pháp luật do nhà nước ban hành được “vật chất hóa” có sự tham gia của con người, tác động vào pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Với ý nghĩa đó, thực hiện pháp luật có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật như xây dựng pháp luật, phổ biến, tuyên truyền pháp luật, thực hiện pháp luật, kiểm tra và xử lý mọi vi phạm pháp luật Chính vì vậy mà thực hiện pháp luật, mối quan hệ giữa các hình thức thực hiện pháp luật, hiệu quả thực hiện pháp luật là những vấn đề cần được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện
ở nước ta hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thực hiện pháp luật:
Trang 9- Quan điểm thứ nhất cho rằng “Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động
hoặc không hành động) của con người phù hợp với những qui định của pháp luật Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với qui định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện thực tế các qui phạm pháp luật” [21 tr 453] Như vậy, theo quan điểm trên thì
thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp Hành vi đó không trái pháp luật, không vượt quá giới hạn quy định của pháp luật và phù hợp với qui định của pháp luật, các lợi ích của nhà nước, xã hội và cá nhân Xử sự của con người khi thực hiện pháp luật có thể là chủ động (hành động) nhằm thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ pháp lý của mình Khác với quá trình xây dựng pháp luật (chủ yếu do các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật tiến hành), quá trình thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể tiến hành nên tác động của yếu tố chủ quan là rất lớn và phức tạp
- Quan điểm thứ hai cho rằng: “Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có
mục đích làm cho những qui định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [22, tr.370].Tất cả những xử sự được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của các quy phạm pháp luật đều được coi là sự thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật Dưới lăng kính pháp lý thì hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật là hành vi hợp pháp Đó là xử sự (hành động hoặc không hành động) của các cá nhân, tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật, có ích cho
xã hội, nhà nước và công dân
- Theo tiến sỹ Đào Trí úc thì “áp dụng (thực hiện) pháp luật là toàn bộ những
việc làm, những hoạt động, những phương thức nhằm thực hiện những yêu cầu đặt
ra trong pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội” [27, tr.227] áp dụng
(thực hiện) pháp luật phải là một quá trình thống nhất bao gồm các hình thức pháp
lý hình thành tiền đề, tạo điều kiện cho việc áp dụng (thực hiện) pháp luật, mang lại kết quả thực hiện cụ thể
Trang 10Nhìn chung, trong các định nghĩa trên đều có điểm tương đối đồng nhất, thể hiện ở chỗ đều cho rằng thực hiện pháp luật là việc làm có mục đích, làm cho các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành trở thành hiện thực và đi vào cuộc sống
Sự khác nhau giữa các định nghĩa đó, có chăng chỉ là việc sử dụng các từ ngữ khác nhau để diễn đạt tư tưởng ấy
Như vậy, có thể nói rằng, thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích của con người, của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội nhằm làm cho những qui phạm pháp luật đi vào cuộc sống, tạo ra những giá trị văn minh vật chất và văn minh tinh thần phong phú cho con người và xã hội Tất cả những xử
sự được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của qui phạm pháp luật đều được coi
là sự thực hiện thực tế các qui phạm pháp luật đó
1.1.2 Các hình thức thực hiện pháp luật
Các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành rất phong phú về chủng loại để điều chỉnh hành vi của con người phù hợp với ý chí và lợi ích chung của nhà nước, xã hội Có loại qui phạm pháp luật qui định những hành vi được thực hiện (còn gọi là qui phạm pháp luật cho phép hay quy phạm pháp luật trao quyền); có loại qui phạm pháp luật qui định những hành vi không được thực hiện (còn gọi là qui phạm pháp luật ngăn cấm); có loại qui phạm pháp luật qui định những hành vi phải thực hiện (còn gọi là qui phạm pháp luật bắt buộc) Ngoài ra, còn có những quy phạm xác định các hình thức khen thưởng đối với cá nhân, tổ chức có thành tích trong việc thực hiện pháp luật và xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm phạm pháp Do có nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau, cho nên việc thực hiện pháp luật cũng được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Thừa nhận hình thức này hay hình thức khác của thực hiện pháp luật phải căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật Khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật dưới đây:
Trang 11- Tuân theo (tuân thủ) pháp luật - hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế để không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Các hành vi bị cấm này thường được qui định trong các qui phạm pháp luật hành chính, qui phạm pháp luật hình sự Việc tự kiềm chế để không vi phạm điều cấm, về thực chất, là nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
và tổ chức kinh tế
- Thi hành (chấp hành) pháp luật - hình thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện những nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Chủ thể pháp luật buộc phải thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật qui định cho mình Những qui phạm bắt buộc được thực hiện ở hình thức này
- Sử dụng pháp luật - hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép) Những qui phạm pháp luật qui định các quyền và tự do dân chủ của công dân được thực hiện ở hình thức này Từ “sử dụng” đã nói lên sự tùynghi của chủ thể thực hiện pháp luật Nó khác tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật ở chỗ: chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện Tuy nhiên, đối với hình thức thực hiện pháp luật này, pháp luật yêu cầu chủ thể phải sử dụng quyền một cách đúng đắn, không được vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép hoặc qui định
- áp dụng pháp luật - hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện những qui định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các qui định của pháp luật tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Trong trường hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các qui định của pháp luật có sự can thiệp của nhà nước
Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó mọi chủ thể đều có thể thực hiện thì áp
Trang 12dụng pháp luật luôn đòi hỏi có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách áp dụng pháp luật vừa là hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật, nên trong áp dụng pháp luật có các hình thức tuân thủ (tuân theo) pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật và sử dụng pháp luật
Trong các hình thức thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật là một hình thức
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tính đặc thù nên cần đi sâu nghiên cứu
áp dụng pháp luật được thực hiện trong bốn trường hợp sau đây:
- Khi có vi phạm pháp luật xảy ra và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thấy cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, hoặc áp dụng các chế tài pháp luật đối với những chủ thể đó
- Khi đã có quy phạm pháp luật quy định về các quyền và nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật cụ thể, nhưng quyền và nghĩa vụ đó chưa thể phát sinh vì chưa có
sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải can thiệp để làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ quan hệ pháp luật đó
- Khi quan hệ pháp luật đã phát sinh nhưng nó vẫn chưa được thực hiện vì xảy
ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật đó mà
tự họ không tự giải quyết được phải nhờ cơ quan có thẩm quyền của nhà nước để
Trang 13- Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia vào quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế như chứng nhận di chúc, công chứng hợp đồng tại các phòng công chứng chuyên trách
áp dụng pháp luật có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Mang tính tổ chức – quyền lực nhà nước Tính tổ chức - quyền lực của áp
+ Văn bản áp dụng pháp luật khi có hiệu lực pháp luật thì có tính bắt buộc phải thi hành đối với cá nhân, tổ chức có liên quan và nó được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
- Được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật qui định Xuất phát
từ thực tế là việc áp dụng pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức cho nên trình tự, thủ tục áp dụng pháp luật phải được quy định cụ thể, rõ ràng Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân
có thẩm quyền áp dụng pháp luật và các bên có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định đó
- Mang tính chất cá biệt, tức là cơ quan nhà nước hay cá nhân có thẩm quyền áp
dụng pháp luật cho từng trường hợp cụ thể, đối với từng cơ quan, tổ chức, cá nhân
cụ thể Bằng hoạt động áp dụng pháp luật đó, những qui phạm pháp luật được cá biệt hóa một cách cụ thể và chính xác
- Là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ mọi tình tiết vụ việc để từ đó lựa chọn qui phạm
Trang 14pháp luật phù hợp, ra văn bản áp dụng pháp luật chính xác và tổ chức thực hiện văn bản áp dụng văn bản áp dụng pháp luật Trong trường hợp pháp luật chưa qui định hoặc chưa qui định rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự dưới hai hình thức là áp dụng tương tự qui phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật Và để tránh việc áp dụng pháp luật một cách máy móc, tùy tiện đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có ý thức pháp luật và kinh nghiệm phong phú và lương tâm nghề nghiệp
Từ sự phân tích trên, có thể định nghĩa: áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định, nhằm cá biệt hóa những qui phạm pháp luật vào từng trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể
1.1.3.2 Các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật
áp dụng pháp luật là một quá trình hoạt động rất phức tạp, vì vậy, nó được thực hiện theo các giai đoạn sau:
- Giai đoạn thứ nhất: phân tích, đánh giá đúng, chính xác mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống xảy ra vụ việc và thực chất của vụ việc đã xảy ra để xác định tính chất pháp lý của nó (tức là xem vụ việc đó có cần đến pháp luật để giải quyết không) Việc xem xét các tình tiết của vụ việc cũng đòi hỏi phải xác định sự việc đó
có ý nghĩa pháp lý hay không, vì trên thực tế, không phải mọi sự việc đều cần sự can thiệp của nhà nước Ví dụ: Đối với việc tranh chấp đất đai, nếu hai bên tự hòa giải được thì không cần đến sự giải quyết của uỷ ban nhân dân hoặc của tòa án nhân dân Nếu xác định vụ việc có tính pháp lý, cần tiếp tục áp dụng thì chuyển sang giai đoạn hai
- Giai đoạn thứ hai: lựa chọn qui phạm pháp luật phù hợp để giải quyết và phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của qui phạm pháp luật đó Yêu cầu trong giai đoạn này là phải lựa chọn đúng qui phạm pháp luật cụ thể, thích ứng với vụ việc sao
Trang 15cho qui phạm pháp luật đó phải đang còn hiệu lực tại thời điểm cần áp dụng, không mâu thuẫn với các đạo luật và văn bản qui phạm pháp luật khác Nếu gặp trường hợp các văn bản qui phạm pháp luật có qui định khác nhau về cùng một vấn đề, thì
áp dụng văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc văn bản được ban hành sau hay văn bản pháp luật chuyên ngành
Sau khi lựa chọn qui phạm pháp luật phù hợp rồi thì công việc tiếp theo của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật là làm sáng tỏ nội dụng và ý nghĩa của qui phạm pháp luật lựa chọn Điều đó có ý nghĩa đảm bảo cho pháp luật được áp dụng đúng đắn, chính xác Muốn làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của qui phạm pháp luật được lựa chọn đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật có trình độ pháp lý cần thiết để hiểu được nội dung tư tưởng ngôn ngữ của bản thân mỗi qui phạm cũng như ý tưởng của nhà làm luật và đối chiếu nội dung qui phạm ấy với tình tiết, nội dung, thực chất của vụ việc xem đã khớp nhau chưa, nếu khớp rồi thì chuyến sang giai đoạn ba là giai đoạn ra văn bản áp dụng pháp luật
- Giai đoạn thứ ba: ban hành văn bản áp dụng pháp luật Đây là giai đoạn quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật Khi ra các văn bản áp dụng pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách phải căn cứ vào qui định pháp luật chứ không thể xuất phát từ những động cơ cá nhân, cục bộ vì hoạt động áp dụng pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp
lý của các chủ thể, đặc biệt là áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý (có khi là trách nhiệm hình sự) đối với người vi phạm Vì vậy, văn bản áp dụng pháp luật đòi hỏi phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng tên gọi, đúng trình tự và thủ tục do pháp luật qui định; nội dung rõ ràng, chính xác theo đúng qui định của pháp luật; nêu rõ trường hợp cụ thể, chủ thể cụ thể và chỉ được thực hiện một lần Ngoài ra, văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành trên cơ sở qui phạm pháp luật cụ thể (cơ sở pháp lý), trong đó thể hiện rõ: căn cứ cho thấy cơ quan nào có thẩm quyền áp dụng, cơ quan ra văn bản áp dụng dựa trên cơ sở qui định nào của pháp luật (cần chỉ
Trang 16rõ, cụ thể điều, khoản của văn bản qui phạm pháp luật được áp dụng) và việc ra văn bản áp dụng pháp luật phải có cơ sở thực tế, nghĩa là nó được ban hành căn cứ vào những sự kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và có thật (đáng tin cậy)
- Giai đoạn thứ tư: tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật, là một trong những đảm bảo quan trọng để văn bản áp dụng pháp luật được thực hiện trên thực tế, đảm bảo kỷ cương, phép nước Nhưng hoạt động tổ chức nhằm bảo đảm về mặt vật chất, kỹ thuật cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp luật được tiến hành ở giai đoạn này Các
cơ quan ra văn bản áp dụng pháp luật phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để cá nhân,
cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh văn bản đã ban hành (Ví dụ: người vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ có thể nộp phạt tại chỗ đối với những lỗi nhẹ) Cũng ở giai đoạn này, phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thi hành văn bản áp dụng pháp luật và khi cần thiết có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đã không tự giác và không nghiêm chỉnh chấp hành văn bản áp dụng pháp luật
Như vậy, trong bốn giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật thì giai đoạn thứ
ba là quan trọng nhất Hình thức thể hiện chủ yếu của kết quả áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- Chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
- Có tính chất cá biệt và được thực hiện một lần đối với các cá nhân, tổ chức
cụ thể trong những trường hợp xác định
- Được ban hành hợp pháp và phù hợp với thực tế, có nghĩa là văn bản áp dụng pháp luật được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định, phù hợp với luật và dựa trên cơ sở những quy phạm pháp luật cụ thể Nếu không phù hợp với thực tế thì văn bản đó sẽ khó được thi hành hoặc thi hành kém hiệu quả
- Được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác định, tên và cách trình bày của mỗi loại văn bản phải theo đúng qui định của pháp luật
Trang 17- Văn bản áp dụng pháp luật là một yếu tố của sự kiện pháp lý phức tạp, thiếu
nó, nhiều qui phạm pháp luật cụ thể không thể thực hiện được Nó luôn mang tính chất bổ sung trong trường hợp khi có các yếu tố khác của sự kiện pháp lý phức tạp
Như vậy, văn bản áp dụng pháp luật là văn bản có tính cá biệt mang tính quyền lực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trên cơ sở qui phạm pháp luật, theo trình tự, thủ tục, hình thức luật định nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật
Qua định nghĩa trên có thể thấy có hai loại văn bản áp dụng pháp luật:
1 - Văn bản xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý theo hướng tích cực (quyết định đề bạt cán bộ, quyết định giao quyền sử dụng đất, )
2 - Văn bản bảo vệ pháp luật trong đó xác định biện pháp cưỡng chế nhà nước
có tính chất trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp luật (bản án hình sự kết tội, quyết định xử phạt vi phạm hành chính)
1.1.3.3 Vấn đề áp dụng pháp luật tương tự
Khi xây dựng pháp luật, cơ quan nhà nước đã cố gắng dự liệu hết điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có thể xảy ra trong đời sống để đặt ra các qui phạm pháp luật điều chỉnh hành vi con người Tuy nhiên, cuộc sống xã hội hết sức phức tạp, luôn luôn biến đổi nhanh chóng Có nhiều sự kiện, quan hệ xảy ra trên thực tế liên quan đến lợi ích của cá nhân, tổ chức cần phải được pháp luật điều chỉnh nhưng thực tế chưa có qui phạm pháp luật nào điều chỉnh Nếu chúng ta không vận dụng pháp luật để giải quyết, đợi ban hành qui phạm mới để áp dụng pháp luật thì nhiều khi quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức không được bảo đảm Giải pháp cho những tình huống trên là áp dụng pháp luật tương tự Đây chỉ là giải pháp tạm thời mang tính tình thế
áp dụng pháp luật tương tự có hai loại: áp dụng tương tự qui phạm pháp luật và
áp dụng tương tự pháp luật
Trang 18- áp dụng tương tự qui phạm pháp luật là giải quyết một vụ việc cụ thể chưa có qui phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp trên cơ sở qui phạm pháp luật điều chỉnh một trường hợp khác có nội dung tương tự với vụ việc đang cần giải quyết
- áp dụng tương tự pháp luật là giải quyết một vụ việc cụ thể chưa có pháp luật điều chỉnh trên cơ sở những qui tắc và nguyên tắc chung và ý thức pháp luật (dựa vào sự công bằng và lẽ phải mà giải quyết) Chỉ khi nào xác định được rằng vừa không có qui phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc đang cần giải quyết, vừa không có qui phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự với vụ việc đang cần giải quyết thì mới được áp dụng tương tự pháp luật
1.1.4 Quan hệ giữa các hình thức thực hiện pháp luật
- Quan hệ giữa tuân thủ pháp luật với các hình thức thực hiện pháp luật khác (thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật)
Tuân thủ pháp luật là các chủ thể tự kiềm chế mình, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Về thực chất thì tuân thủ pháp luật chính là các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý là tôn trọng pháp luật Tuân thủ pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể thường sử dụng dưới dạng không hành động, tự kiềm chế không làm những điều mà pháp luật cấm; ngược lại thi hành (chấp hành) pháp luật thì các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Nếu tuân thủ pháp luật tốt thì ở chừng mực nào đó, ý thức pháp luật của người dân đã được nâng cao, do vậy họ sẽ tích cực thực hiện tốt nghĩa vụ của mình tức là thi hành (chấp hành) pháp luật tốt Ngược lại, nếu không tuân thủ pháp luật thì việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước có nguy cơ ngày càng tăng, do họ đã không tự kiềm chế mình trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước Tuân thủ pháp luật cũng có quan hệ mật thiết với sử dụng pháp luật Trong quá trình sử dụng các quyền mà pháp luật cho phép, thường các chủ thể có xu thế lạm quyền, sử dụng quyền của mình vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép Do vậy, nếu chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình tốt thì khi sử dụng pháp luật họ sẽ sử dụng đúng quyền trong phạm vi pháp luật cho phép tránh tình trạng sử dụng quá quyền Đồng thời việc sử dụng đúng quyền cũng sẽ tác động trở lại đối với ý thức tự kiềm
Trang 19chế của chủ thể, giúp chủ thể hiểu được giá trị thực tế của việc sử dụng đúng quyền,
từ đó luôn tự kiềm chế không phạm vào những điều mà pháp luật ngăn cấm
Tuân thủ pháp luật còn có quan hệ chặt chẽ với áp dụng pháp luật Nếu như tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật luôn có sự tham gia của nhà nước, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong hoạt động áp dụng pháp luật bao hàm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật Việc các cơ quan nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các qui định của pháp luật, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ đòi hỏi các cơ quan phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật tức là tự kiềm chế không phạm vào điều cấm trong khi áp dụng pháp luật; thi hành các nghĩa vụ pháp lý và vận dụng đúng đắn, chính xác các qui phạm pháp luật trong quá trình áp dụng pháp luật
- Quan hệ giữa thi hành (chấp hành) pháp luật với các hình thức thực hiện pháp luật khác
Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể luôn luôn đi cùng nhau Pháp luật hiếm khi chỉ qui định cho phép chủ thể có quyền mà không thực hiện nghĩa vụ gì đối với nhà nước, tổ chức, xã hội và cá nhân khác “quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân” (Điều 51- Hiến pháp năm 1992) Việc thực hiện nghĩa
vụ một cách đầy đủ tạo điều kiện cho việc hưởng quyền tốt Do vậy, thi hành (chấp hành) pháp luật có sự liên hệ khăng khít với sử dụng pháp luật Việc chấp hành pháp luật tốt giúp cho các chủ thể thấy rõ nghĩa vụ pháp lý của mình mà thực hiện tốt, để từ đó họ sẽ sử dụng quyền mà pháp luật cho phép một cách chính xác và hiệu quả Ngược lại, việc sử dụng pháp luật tốt, hiệu quả sẽ giúp các chủ thể phải có
ý thức hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình Việc các chủ thể không thực hiện tốt các nghĩa vụ pháp lý cũng cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết Khi đó các cơ quan nhà nước phải ra văn bản áp dụng pháp luật mang tính bảo vệ pháp luật
- áp dụng pháp luật có quan hệ mật thiết với ba hình thức còn lại của thực hiện pháp luật Nếu chỉ có tuân thủ (tuân theo) pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật
Trang 20và sử dụng pháp luật mà không có áp dụng pháp luật thì nhiều qui phạm pháp luật không được thực hiện, hoặc được thực hiện nhưng không chính xác, không đầy đủ
và nghiêm minh vì thiếu sự cưỡng chế của nhà nước Việc áp dụng pháp luật chính xác, đầy đủ và nghiêm minh đảm bảo cho các qui phạm pháp luật đi vào cuộc sống góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật
1.2 Khái niệm hiệu quả thực hiện pháp luật
1.2.1 Khái niệm hiệu quả thực hiện pháp luật
Khi ban hành các qui phạm pháp luật, nhà nước mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội Điều đó chỉ có thể đạt được khi các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy
đủ và thống nhất Do vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành thật nhiều các văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật sao cho có hiệu quả
Vậy hiệu quả thực hiện pháp luật là gì? Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến bước đầu về vấn đề này Theo chúng tôi, hiệu quả thực hiện pháp luật và hiệu quả của pháp luật là hai khái niệm gần giống nhau song không phải là một Khái niệm hiệu quả của pháp luật rộng hơn hiệu quả thực hiện pháp luật, hay nói khác đi, hiệu quả thực hiện pháp luật chỉ là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả của pháp luật Do vậy, một trong những cơ sở để đánh giá hiệu quả của pháp luật, trước hết phải đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật (các qui phạm pháp luật đã được hiện thực hoá) Vì pháp luật được nhà nước ban hành không chỉ để không làm “rung động không khí” mà nhà nước luôn mong muốn đạt được những mục đích, yêu cầu, định hướng nhất định Do vậy, nhà nước phải có những biện pháp đảm bảo sao cho các qui phạm pháp luật được thực hiện trên thực tế có hiệu quả nhất Do khái niệm hiệu quả của pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật có nhiều điểm tương đồng, cho nên trước khi đưa ra khái niệm về hiệu quả thực hiện pháp luật, chúng tôi xin nêu ý kiến của một số nhà nghiên cứu về khái niệm hiệu quả của pháp luật
Trang 21Theo quan điểm của tiến sỹ Nguyễn Minh Đoan thì “ hiệu quả của pháp luật là
kết quả thực tế đạt được do sự điều chỉnh, tác động của pháp luật mang lại trong những phạm vi và điều kiện nhất định, biểu hiện ở sự biến đổi trạng thái của các quan hệ xã hội, phù hợp với mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật, với mức chi phí thấp” [10, tr.22].Còn tiến sỹ Đào Trí úc lại cho rằng hiệu quả của pháp
luật là “khả năng của pháp luật có thể tác động được vào các quan hệ xã hội và ý
thức xã hội để điều chỉnh các quan hệ đó với những tổn thất vật chất và tinh thần ít nhất và mang lại kết quả theo hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật” [23, tr.258] Trên cơ sở hai định nghĩa hiệu quả pháp luật này, chúng tôi có
thể tiếp cận, xem xét khái niệm hiệu quả thực hiện pháp luật như sau:
Nhà nước ban hành pháp luật không có mục đích nào khác là điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng xác định, phù hợp với lợi ích của nhà nước, của xã hội
và công dân Chẳng hạn, mục đích yêu cầu ban hành Pháp lệnh luật sư năm 2001 là
để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tư vấn pháp luật của cá nhân,
tổ chức, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Những mục đích, yêu cầu đặt ra cho pháp luật không chỉ mang tính chủ quan
mà còn có tính khách quan Không thể đặt ra mục đích, yêu cầu khi ban hành pháp luật mà biết chắc rằng trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện tại không thể thực hiện được hoặc nếu có ban hành thì ít ra các điều kiện để thực hiện chúng cũng đang được hình thành trên thực tế trong một tương lai gần Việc xác định mục đích, yêu cầu của việc ban hành pháp luật là cơ sở để đối chiếu, so sánh với kết quả thực tế đạt được khi thực hiện văn bản pháp luật đó thông qua bốn hình thức thực hiện pháp luật như đã phân tích ở trên Không thể nói hiệu quả thực hiện pháp luật nói chung hay hiệu quả thực hiện một qui phạm pháp luật, một nhóm qui phạm pháp luật, một chế định hay cả một ngành luật là cao nếu ta so sánh việc thực hiện pháp luật các qui phạm pháp luật trên thực tế chưa đạt được so với mục đích hoặc còn xa mới đạt được so với mục đích mà nhà làm luật đặt ra trước khi ban hành văn bản pháp luật đó Xét đến cùng thì mục đích cuối cùng của việc ban hành pháp
Trang 22luật là đảm bảo cho các qui phạm pháp luật được thực hiện trên thực tế, được “vật chất hoá” bằng những hoạt động cụ thể
Tuy nhiên, chỉ tìm hiểu mục đích mong muốn đạt được khi ban hành pháp luật thì chưa thể đánh giá hết được hiệu quả thực hiện pháp luật mà chúng ta phải xem xét kết quả thực tế thu được khi pháp luật được thực hiện Nếu kết quả thu được trong thực tế khi thực hiện pháp luật phù hợp với mục đích ban hành pháp luật thì việc thực hiện pháp luật có thể được xem là có hiệu quả, ngược lại có thể là “phản hiệu quả ” khi mà kết quả thu được trái ngược với mục đích, yêu cầu đề ra khi ban hành pháp luật Chẳng hạn, để bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần chống oan, sai trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định cho phép người bào chữa được tham gia tố tụng sớm hơn so với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, cụ thể: người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, đối với trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ (khoản 1 Điều 58) Pháp luật quy định là vậy nhưng trên thực tế người bào chữa không được thực hiện quyền này do sự cản trở, gây khó khăn của các cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy, hiệu quả thực hiện pháp luật tố tụng hình sự trong trường hợp này là thấp, không đạt được mục đích, yêu cầu khi ban hành pháp luật mà nhà làm luật mong muốn
Nhìn chung kết quả thực hiện pháp luật thực tế thu được càng lớn thì hiệu quả thực hiện pháp luật càng cao và ngược lại kết quả thu được càng nhỏ thì hiệu quả thực hiện pháp luật càng thấp Đây là hai đại lượng tỷ lệ thuận với nhau Đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật không chỉ xem xét đánh giá mục đích, yêu cầu của ban hành pháp luật và việc so sánh kết quả đạt được của việc thực hiện pháp luật so với mục đích ban hành pháp luật mà còn phải đánh giá được chất lượng của hoạt động thực hiện pháp luật, những chi phí thực tế cho việc tổ chức triển khai thực hiện pháp luật là ít hay nhiều so với chi phí dự kiến ban đầu Không thể nói hiệu quả thực hiện
Trang 23nghị định 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký hộ tịch là cao nếu những chi phí cho việc đăng ký và quản lý hộ tịch là quá lớn so kết quả thu được
Qua sự phân tích trên đây, ta thấy thực hiện pháp luật được xem có hiệu quả khi kết quả đạt được trong thực tế phù hợp với mục đích, yêu cầu khi ban hành pháp luật, có nhiều biến đổi tích cực các quan hệ xã hội khi pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh; mức chi phí về vật chất cho việc thực hiện pháp luật là thấp
Việc đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật cần được tiến hành trong những phạm vi nhất định Về không gian, phải giới hạn sự xem xét đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật ở từng phạm vi lãnh thổ nhất định (ở phạm vi địa phương, một vùng lãnh thổ nào đó hay trong phạm vi cả nước) Không thể đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật ở những nơi mà ở đó pháp luật không được thực hiện Ví dụ: Nghị quyết của Hội đồng nhân đân thành phố Hải Phòng chỉ có hiệu lực pháp luật
ở Hải Phòng, nó không thể có hiệu lực ở thủ đô Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh Về thời gian, phải giới hạn xem xét đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật trong khoảng thời gian xác định, thông thường khoảng 1 năm, 5 năm hay 10 năm sau khi pháp luật được thực hiện Ví dụ: đánh giá hiệu quả thực hiện Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Luật đất đai 1993 sau 10 năm thi hành Về số lượng, căn cứ vào mục đích, qui mô, mức độ cần thiết, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật đối với mỗi chế định pháp luật, mỗi ngành luật, mỗi văn bản pháp luật hoặc hiệu quả thực hiện pháp luật nói chung Về chất lượng: có thể đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật ở từng khía cạnh, phương diện nhất định hoặc đánh giá một cách tổng thể
Từ những phân tích trên có thể định nghĩa hiệu quả thực hiện pháp luật như
sau: Hiệu quả thực hiện pháp luật là kết quả thực tế tích cực đạt được của tuân
thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật so với mục đích, yêu cầu của việc ban hành văn bản pháp luật trong những phạm vi và điều kiện nhất định với mức chi phí thấp nhất
Tóm lại, hiệu quả thực hiện pháp luật chính là hiệu quả của sự tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật, do đó phải tùy từng
Trang 24trường hợp cụ thể mà xác định hiệu quả thực hiện pháp luật Hiệu quả thực hiện pháp luật được xem như là kết quả đạt được tốt nhất của việc chuyển tải các qui phạm pháp luật trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
1.2.2 Những tiêu chí để đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật
Để có thể đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật, theo chúng tôi cần xác định các tiêu chí sau:
+ Trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội khi pháp luật chưa điều chỉnh và thực hiện
+ Mục đích, yêu cầu, định hướng của việc ban hành pháp luật
+ Kết quả thực tế đạt được so với mục đích được đề ra
+ Mức chi phí cho việc thực hiện pháp luật
- Tiêu chí thứ nhất: trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội khi pháp luật chưa điều chỉnh và thực hiện
Để đánh giá được hiệu quả thực hiện pháp luật trước hết phải xem xét trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội khi chưa có pháp luật điều chỉnh và thi hành trên thực tế Đây là tiêu chí đầu tiên cần được xem xét vì chỉ có trên cơ sở xem xét trạng thái các quan hệ xã hội khi pháp luật chưa điều chỉnh thì mới có cơ sở để so sánh trạng thái của chúng sau khi pháp luật được điều chỉnh và tổ chức thực hiện Tất nhiên chúng ta không đi xem xét trạng thái ban đầu của tất cả các quan hệ xã hội mà chỉ xem xét các quan hệ xã hội có liên quan đến các quy định của pháp luật đang cần đánh giá hiệu quả Chẳng hạn, trước khi Luật phá sản có hiệu lực từ ngày 15/10/2004 thay thế Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định tiêu chí để xác
định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản rất chặt chẽ: “Doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn” nên trên thực tế nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản nhưng toà không thụ lý đơn do không thuộc thẩm quyền, không được nhà nước tuyên bố phá sản hay “doanh nghiệp chết mà không được chôn”
Trang 25Trạng thái của các quan hệ xã hội mà ta so sánh trước và sau khi pháp luật điều chỉnh và được thực thi thường được biểu hiện ở những khía cạnh sau: trật tự và ổn định tình hình chính trị xã hội, tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục hoặc việc giải quyết các công việc xã hội đến đâu, những gì đạt được, những gì chưa đạt được, những gì khiếm khuyết, những gì phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật để từ đó có sự điều chỉnh pháp luật sao cho phù hợp hơn
Có thể coi việc xác định rõ trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội khi pháp luật chưa tác động, chưa được tổ chức thi hành là tiêu chí đầu tiên khi xem xét hiệu quả thực hiện pháp luật Từ tiêu chí này ta có thể so sánh được sự biến đổi (tích cực hay tiêu cực) của môi trường xã hội (các quan hệ xã hội cần xem xét) trước và sau khi pháp luật được thi hành và qua đó ta cũng có thể xem xét mức độ phù hợp của pháp luật, nguyên nhân làm cho pháp luật hiện hành có hiệu quả hoặc kém hiệu quả, nghĩa là, pháp luật sau khi được ban hành có tính khả thi hay không, có được thực tế chấp nhận hay không
- Tiêu chí thứ hai: Mục đích, yêu cầu và định hướng của việc ban hành pháp luật
Có thể khẳng định rằng khi nhà nước ban hành bất kỳ một văn bản pháp luật nào cũng nhằm đạt đến mục đích nhất định Mục đích ban hành pháp luật của nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của nhà nước và xã hội, thực hiện sự công bằng xã hội và đưa lại hạnh phúc cho con người Mục đích cần đạt được khi ban hành pháp luật ở mỗi cấp độ và phạm vi khác nhau thì khác nhau Có mục đích đặt ra cho mỗi ngành luật, mỗi chế định luật hoặc mỗi quy phạm pháp luật Bên cạnh việc xác định rõ mục đích, pháp luật còn
đề ra những yêu cầu ban hành pháp luật Thông thường các mục đích, yêu cầu và định hướng đó được thể hiện ở lời nói đầu của văn bản Ví dụ: mục đích ban hành Hiến pháp được thể hiện ở lời nói đầu Cũng có khi mục đích ban hành văn bản pháp luật được thể hiện cụ thể trong điều luật như Điều 1 của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 qui định: “Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục nhằm
phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Bộ luật góp phần bảo vệ chế độ
Trang 26xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa” Trong nhiều trường hợp mục đích, yêu cầu, định hướng của văn
bản pháp luật chỉ được nêu một cách gián tiếp trong những sáng kiến pháp luật bằng cách nêu ra những lý do dẫn đến việc ban hành, sửa đổi Chẳng hạn, một trong những mục đích ban hành Luật phá sản năm 2004 là thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm (2001 - 2005) là: “Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp
luật phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất
là các luật: Luật thương mại, Luật phá sản doanh nghiệp” ở mỗi giai đoạn phát
triển của đất nước, mục đích đặt ra cho pháp luật cũng không giống nhau và mục đích đặt ra cho mỗi ngành luật, mỗi chế định, mỗi quy phạm lại càng khác nhau song chúng không được mâu thuẫn với mục đích chung của pháp luật vì chúng là những bộ phận cấu thành nên hệ thống pháp luật Mục đích đề ra cho pháp luật có thể thực hiện được trong hiện tại, nhưng cũng có mục đích chỉ có thể thực hiện trong tương lai
Việc xác định mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật là cơ sở để đối chiếu, so sánh với kết quả sau quá trình pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội, để từ đó có những giải pháp hợp lý hơn trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật tiếp theo
- Tiêu chí thứ ba: kết quả thực tế đạt được so với mục đích được đề ra Đây là tiêu chí để đối chiếu và so sánh với mục đích, yêu cầu và định hướng mong muốn đạt được khi ban hành pháp luật nhằm xác định, kết quả thực tế đạt được của việc thực hiện pháp luật Những kết quả này thường được thể hiện ở những thay đổi trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Kết quả của việc thực hiện pháp luật có thể tạo ra những biến đổi tích cực và cũng có thể là những biến đổi tiêu cực Ví dụ: việc thực hiện quy định đội mũ bảo hiểm trên những tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tai nạn giao thông so
Trang 27với trước khi ban hành Nghị định 15/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 cuả Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn giao thông đường bộ.Như vậy, hiệu quả thực hiện Nghị định này trên thực tế có những biến đổi tích cực Ngược lại, khi triển khai thực hiện Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực mặc dù trong Nghị định quy định cả 3 cơ quan (phòng công chứng, uỷ ban nhân dân cấp huyện và cấp xã) đều có thẩm quyền chứng nhận bản sao nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều cơ quan, tổ chức yêu cầu công dân phải nộp bản sao các văn bằng chứng chỉ có công chứng của phòng công chứng, không chấp nhận bản sao do uỷ ban nhân dân cấp huyện và cấp xã chứng thực Kết quả, việc ùn tắc người đến yêu cầu công chứng thường xuyên tại các phòng công chứng thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác không giảm
Thông thường khi ban hành luật, các nhà làm luật dự liệu trước được những biến đổi tích cực cũng như biến đổi tiêu cực sẽ diễn ra khi pháp luật được thi hành
để cân nhắc xem xét có hay không nên ban hành văn bản pháp luật đó Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp nhà làm luật không thể dự liệu được hết những biến đổi của việc thực hiện pháp luật trên thực tế so với mục đích khi xây dựng văn bản pháp luật đó đưa ra Kết quả không lường trước được như vậy có thể tốt hơn nhiều so với mục đích đề ra ban đầu, nhưng có thể xấu hơn, thậm chí lại trái ngược hẳn với mục đích mà dự kiến ban đầu khi ban hành văn bản pháp luật đặt ra
Kết quả thực hiện pháp luật có thể thay đổi theo không gian và thời gian nghĩa
là ở những vùng lãnh thổ có điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau thì kết quả thực hiện pháp luật cũng sẽ khác nhau Chẳng hạn, quy định pháp luật về đường thông hè thoáng theo Nghị định 36/NĐ-CP được thực hiện tốt vào thời gian mới ban hành Nghị định nhưng sau một thời gian các cấp chính quyền cơ sở không làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, không xử lý vi phạm nên kết quả là tình trạng tái lấn chiếm vỉa hè, lòng đường lại diễn ra khá phổ biến như trước khi ban hành Nghị định Việc thực hiện pháp luật có thể đạt được kết quả cao ở phạm vi lãnh thổ này những có thể đạt được kết quả thấp
Trang 28ở những khu vực lãnh thổ khác.Ví dụ: việc thực hiện Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch ở vùng đồng bằng thực hiện tốt hơn các tỉnh miền núi
- Tiêu chí thứ tư: mức chi phí cho việc thực hiện pháp luật
Ngoài việc xác định các tiêu chí trên để đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật còn phải căn cứ vào mức chi phí cho việc tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tế Tiêu chí này thể hiện tính kinh tế của việc thực hiện pháp luật Như chúng ta đã biết hoạt động xây dựng pháp luật tốn kém nhiều tiền của của nhà nước nên khi nó được ban hành thì khâu tổ chức thực hiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội và phát triển đất nước đóng một vai trò hết sức quan trọng và đòi hỏi phải có rất nhiều chi phí khác nhau và cần thiết như: chi phí cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; chi phí về cơ sở vật chất để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh; chi phí cho hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân; chi phí cho các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (công an, viện kiểm soát, toà án); chi phí cho hoạt động tổ chức thực hiện các văn bản áp dụng pháp luật đã ban hành và những hoạt động khác Tuy nhiên, tất cả những chi phí trên cần phải ở mức thấp nhất nhưng phải đảm bảo kết quả của việc thực hiện pháp luật trên thực tế đạt ở mức cao nhất Tiết kiệm là không lãng phí, không chi phí bừa bãi Việc tiết kiệm ở đây không có nghĩa
là cắt giảm những chi phí cần thiết đến nỗi mà pháp luật không thể thực hiện được trong thực tế, hoặc tuy có thực hiện được nhưng kết quả lại rất thấp Tính kinh tế trong việc thực hiện pháp luật đòi hỏi phải lựa chọn những phương án ít tốn kém nhất để đạt được mục đích Chẳng hạn, có những vụ việc thi hành án ở cấp xã cũng được mà ở cấp huyện, cấp tỉnh cũng được thì tốt hơn ta cần tổ chức thi hành án ở cấp xã (án dưới 500.000 đồng như quy định hiện hành là phù hợp) Như vậy, việc xem xét mức chi phí để thực hiện pháp luật đạt được kết quả so với mục đích đề ra trong thực tế khi đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật là hết sức cần thiết Một mặt,
nó cho thấy việc đầu tư chi phí đó có phù hợp và đủ mức cần thiết cho việc tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả hay chưa, mặt khác, nó cũng cho thấy chi phí như vậy có lãng phí hay không
Trang 291.3 Những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện pháp luật có hiệu quả 1.3.1 Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thể hiện ở những tiêu chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý cao của hệ thống pháp luật
Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật trước hết được thể hiện ở tính toàn
diện của nó “Có thể nói đây là tiêu chuẩn để định lượng một hệ thống pháp luật
nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ khi nà định lượng được mới có thể tiếp tục nghiên cứu để định tính” [17, tr 61] Tính toàn diện của hệ thống pháp luật đòi
hỏi hệ thống pháp luật phải đủ các nghành luật và trong mỗi ngành luật phải có đủ các chế định pháp luật và các quy phạm pháp luật đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của pháp luật trên tất cả các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội: dân sự, hình sự, thương mại, đầu tư, lao động.v.v Không chỉ chú trọng tới luật nội dung mà còn phải chú trọng đến luật hình thức (Bộ luật tố tụng dân sự, bộ luật tố tụng hình sự mới được ban hành) bởi chính luật hình thức (tố tụng) là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đầy đủ, chính xác và nghiêm chỉnh luật nội dung, bảo đảm hiệu quả cao
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự thống nhất của nó, giữa các
bộ phận của hệ thống pháp luật (ngành luật - chế định pháp luật - quy phạm pháp luật) không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo với nhau Trên thực tế sự đồng
bộ của hệ thống pháp luật còn biểu hiện ở việc ban hành các văn bản chi tiết, hướng dẫn thi hành đồng thời với các văn bản pháp luật để khi văn bản pháp luật có hiệu lực thì nó cũng được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế, tránh tình trạng một số luật
đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại không thể thực hiện được trên thực tế vì thiếu văn bản hướng dẫn thi hành luật đó Khi nói tới hoạt động xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật nước ta, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã nêu rõ tầm quan
trọng của việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ là “không có hệ thống pháp
Trang 30luật đồng bộ, minh bạch, không ngừng hoàn thiện thì không thể có vốn đầu tư, không thể có công nghệ cao để đẩy nhanh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, không thể có quản lý tiên tiến, không thể có thị trường thuận lợi, không thể có dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh như đường lối của Đảng
đã đề ra”.[1, tr.5]
Tính phù hợp ở hệ thống pháp luật thể hiện ở sự tương quan giữa trình độ của
hệ thống pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế xã hội Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, không thể cao hơn trình
độ phát triển đó Có thể nói pháp luật là đời sống xã hội được khái quát và nâng lên thành luật thông qua hoạt động lý trí và ý chí của con người Do vậy, sự phù hợp của các văn bản pháp luật đặc biệt là các đạo luật là vô cùng quan trọng đảm bảo cho hiệu quả của việc thực hiện pháp luật Trong thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta nhiều văn bản pháp luật được ban hành (thậm chí ngay cả Hiến pháp) chưa phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội, đặc biệt là các quy luật phát triển kinh tế, vượt quá xa so với trình độ phát triển kinh tế của đất nước Có khi nhiều văn bản pháp luật vừa mới ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung thậm chí phải được thay thế bằng văn bản khác vì nếu để nguyên không những không thực hiện được trong thực tế mà còn gây thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội đất nước Phù hợp với các quy luật kinh tế, pháp luật sẽ thúc đẩy, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, ngược lại pháp luật sẽ cản trở và thậm chí gây ra những thiệt hại nhất định cho sự
phát triển kinh tế “Quốc hội phải nắm bắt được ý dân về những vấn đề mà cuộc
sống đòi hỏi cần có sự điều chỉnh của pháp luật để ban hành, sửa đổi hoặc bổ sung kịp thời những quy định của pháp luật Các văn bản luật phải thể hiện ý chí, lợi ích chung của nhân dân, bảo đảm kết hợp và cân bằng một cách hài hoà giữa lợi ích của các tầng lớp nhân dân vì sự phát triển của cả cộng đồng, của cả xã hội” [28]
Do vậy, khi xây dựng pháp luật phải cân nhắc tính toán sao cho tương quan giữa các lợi ích (cá nhân, tổ chức, cộng đồng) có sự kết hợp hài hoà và ở mức độ có thể
Trang 31chấp nhân được Tính phù hợp của hệ thống pháp luật còn đòi hỏi việc ban hành các văn bản pháp luật phải đúng lúc, kịp thời, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống chứ không phải do ý chí chủ quan của cơ quan xây dựng pháp luật trên cơ sở giả định luật pháp xuất pháp từ nhu cầu quản lý
Cuối cùng, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật còn thể hiện ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao khi xây dựng văn bản pháp luật Nói một cách khái quát, thì kỹ thuật pháp lý cao thể hiện ở ba điểm quan trọng là những nguyên tắc tối ưu được vạch ra
để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật; ở việc xác định chính xác cơ cấucủa pháp luật; ở cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý đảm bảo cô đọng, logíc, chính xác và một nghĩa
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật có quan hệ gắn bó mật thiết với thực tiễn thực hiện pháp luật Để thực hiện và áp dụng đúng pháp luật được tốt trước hết phải
có pháp luật tốt, nghĩa là phải xây dựng được một hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế và trình độ kỹ thuật pháp lý cao Ngược lại, từ thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật sẽ phát hiện được những thiếu sót, khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, từ đó có những sáng kiến pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật để cho pháp luật ngày càng phù hợp với thực tế cuộc sống, có tính khả thi cao
1.3.2 Chất lƣợng hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật
Chất lượng hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật thể hiện ở hiệu quả công
tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật; công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là khâu quan trọng đầu tiên, không thể thiếu được của quá trình thực hiện pháp luật Pháp luật sau khi được ban hành nếu không được tuyên truyền, phổ biến tới cán bộ và nhân dân để nắm bắt được nội dung, tinh thần cácquy định pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật thì pháp luật vẫn là những trang giấy “ngủ yên không làm rung động không khí”,
Trang 32không đi vào cuộc sống cho dù những quy định của pháp luật có tốt đẹp đến đâu đi chăng nữa Tuyên tuyền, phổ biến pháp luật là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống, là một mắt xích quan trọng của sự tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Khẳng định vị trí của tuyên truyền, phổ biến pháp luật đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật có hiệu quả, trong thư gửi cán bộ, công chức ngành tư pháp nhân kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống ngành tư pháp, Tổng bí thư Đỗ Mười đã chỉ rõ:
“Có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ là điều kiện cần thiết Song để đảm bảo xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam thực sự của dân, do dân và vì dân, vấn đề bức thiết hiện nay là phải tạo ra những điều kiện, xây dựng một cơ chế hữu hiệu bảo đảm mọi quy định của pháp luật đã ban hành đều được mọi người, mọi cơ quan, tổ chức tôn trọng Đặc biệt là phải đẩy mạnh hơn nữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, để ai nấy đều hiểu và chấp hành nghiêm chỉnh”
Bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật mang tính bề nổi thì công tác giáo dục pháp luật mang tính chiều sâu, nhằm trang bị cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là cán bộ, công chức nhà nước tri thức pháp luật, từ đó hình thành tình cảm
và hành vi xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật, biết sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của mình, của nhà nước và xã hội, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật trong xã hội, góp phần nâng cao ý thức tự giác thực hiện pháp luật
Như vậy cả ba hoạt động tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đều là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật có hiệu quả Nếu như pháp luật là phương tiện hàng đầu để nhà nước quản lý xã hội và là phương tiện để công dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò giúp đỡ cho các cơ quan, công chức nhà nước cũng như mọi công dân biết cách sử dụng đúng đắn phương tiện pháp luật trong công việc và đời sống hàng ngày
Trang 33Một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện pháp luật được tốt là
sự nhận thức pháp luật một cách thống nhất trong bộ máy nhà nước và ở ngoài xã hội Do đó rất cần giải thích pháp luật để nhân dân nói chung, cán bộ, công chức nói riêng, nhận thức pháp luật thống nhất, từ đó thực hiện pháp luật thống nhất, có hiệu quả Không thể nói thực hiện pháp luật tốt nếu ngay từ ban đầu đã không có sự hiểu thống nhất về nội dung của các quy phạm pháp luật Điều này sẽ dẫn đến tình trạng mỗi cơ quan, tổ chức, mỗi nơi thực hiện pháp luật khác nhau, gây ra sự lộn xộn, làm giảm hiệu quả pháp luật Chính vì vậy, hoạt động giải thích pháp luật phải được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình xây dựng pháp luật, quá trình thực hiện và
áp dụng pháp luật
Để việc thực hiện pháp luật đạt hiệu quả cao không chỉ có phổ biến, tuyên truyền, giải thích và giáo dục pháp luật mà còn phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; xử lý kịp thời nghiêm minh và nhanh chóng mọi vi phạm pháp luật Cần kết hợp công tác kiểm tra của Đảng, của nhà nước và của nhân dân đối với thực hiện pháp luật; phát huy hơn nữa vai trò giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật Đồng thời, huy động sức mạnh của toàn dân vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống các vi phạm pháp luật Qua việc kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật mới có thể phát hiện ra những vi phạm pháp luật để từ đó chấn chỉnh các hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân, đồng thời, thấy được những bất cập của pháp luật để có đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Do vậy, cần có hoạt động kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện pháp luật, có những biện pháp xử lý nghiêm minh với những ai có hành vi cố ý không thực hiện pháp luật hoặc thực hiện pháp luật không đầy đủ, đi ngược lại mục đích xã hội Xã hội hoá công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, đặc biệt là kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật của cơ quan tư pháp cần được triển khai sâu rộng với sự tham gia của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân Chính vì vậy, Nghị quyết số 08/NQ-TW
Trang 34ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới là “nâng cao hiệu quả công tác giám sát của các tổ chức xã hội
và nhân dân đối với các cơ quan tư pháp thu hút đông đảo nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, đấu tranh phòng chống vi phạm, pháp luật, tội phạm ngay tại thôn, làng, bản, ấp, khu dân cư” Xã hội hóa công tác kiểm tra, giám
sát việc thực hiện pháp luật là một yếu tố khách quan xuất phát từ bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân trên cơ sở dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
1.3.3 Hiệu quả hoạt động bảo vệ pháp luật
Hoạt động bảo vệ pháp luật trước hết đó là nhiệm vụ chung của toàn xã hội trong đó nhà nước giữ vai trò chính, nhằm bảo đảm cho pháp luật luôn được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh Hiệu quả công tác bảo vệ pháp luật càng cao bao nhiêu thì ảnh hưởng tích cực của nó tới sự hình thành và nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân càng cao bấy nhiêu Điều đó bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật ngày càng có hiệu quả Hoạt động bảo vệ pháp luật đòi hỏi ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên trong đó đặc biệt chú trọng là cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật, như quân đội, công an, viện kiểm sát, toà án, thanh tra phải được coi trọng Qua thực tế cho thấy, nhiều vụ án xét xử oan sai người vô tội không phải do trình độ nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng mà do sa sút về phẩm chất đạo đức, thoái hoá, biến chất, quan liêu, cửa quyền của một bộ phận cán bộ, công chức, làm giảm hiệu lực của bộ máy nhà nước Hiệu quả bảo vệ pháp luật phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ, cán bộ, công chức của nhà nước nói chung, cán bộ và công chức của các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng Do vậy, để bảo vệ pháp luật tốt đòi hỏi người cán bộ, công chức trong cơ quan bảo vệ pháp luật phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, sự hiểu biết pháp luật sâu sắc và có
ý thức pháp luật cao
Trang 35Chất lượng của các cơ quan bảo vệ pháp luật còn được thể hiện ở việc tổ chức một cách khoa học, có sự phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, của mỗi bộ phận để tránh hiện tượng chồng chéo, mâu thuẫn, cản trở lẫn nhau trong công việc Việc không quy quy định rõ ràng thẩm quyền giải quyết của các cơ quan bảo vệ pháp luật dẫn đến cùng một việc, nhiều cơ quan cùng giải quyết không thống nhất nhưng lại có những vụ việc đùn đẩy không cơ quan nào giải quyết
Tóm lại, hoạt động bảo vệ pháp luật là một trong những điều kiện pháp lý quan trọng đảm bảo cho thực hiện pháp luật có hiệu quả Có đấu tranh, phòng ngừa phát hiện vi phạm và khắc phục vi phạm pháp luật; bảo đảm mọi vi phạm pháp luật được xử lý nghiêm minh, kịp thời, chính xác, khách quan, công bằng và đúng luật; không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội bằng hoạt động bảo vệ pháp luật thì mới giữ vững được kỷ cương, phép nước Ngoài ra, hoạt động bảo vệ pháp luật còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu ích, sáng kiến pháp luật sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và tạo cơ chế thích hợp để pháp luật đi vào cuộc sống
1.3.4 ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ, nhân dân
Xuất phát từ nhu cầu đời sống trong tiến trình phát triển của xã hội, lợi ích chung đòi hỏi mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Nhu cầu ấy đòi hỏi phải nâng cao ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý cho mỗi người dân ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý cao của cán bộ, nhân dân là một trong những điều kiện quan trọng để bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật Trên cơ sở ý thức pháp luật, các chủ thể tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với pháp luật, với các nguyên tắc của pháp luật ý thức pháp luật là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Cho nên ý thức pháp luật càng cao thì thái độ tôn trọng pháp luật, thái độ tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật càng được bảo đảm, khả năng lựa chọn và quyết định hành vi pháp luật càng chính xác, chặt chẽ
Trang 36ý thức pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động thực hiện pháp luật Như chúng ta đã biết thực hiện pháp luật được tiến hành thông qua bốn hình thức: tuân thủ (tuân theo) pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Khi chủ thể có những nhận thức pháp lý cần thiết họ sẽ có niềm tin
vào pháp luật, vào những hoạt động hợp pháp của mình, từ đó họ tự giác tuân theo
pháp luật đồng thời vận động những người khác cùng tuân theo pháp luật, thực hiện
đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ luật định (chấp hành pháp luật), sử dụng đúng quyền luật định (sử dụng pháp luật), đối với chủ thể có thẩm quyền áp dụng
pháp luật thì áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật trong từng trường hợp cụ
thể đối với đối tượng cụ thể (áp dụng pháp luật) ý thức pháp luật giữ một vai trò
đặc biệt quan trọng đối với các chủ thể áp dụng pháp luật, là cơ sở bảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn các qui phạm pháp luật Để áp dụng đúng đắn quy phạm pháp luật đòi hỏi phải có sự hiểu biết chính xác nội dung và yêu cầu của quy phạm
đó, phải giải thích và làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm ấy Muốn thực hiện được điều đó chỉ có thể thực hiện được trong trường hợp ý thức pháp luật của người áp dụng pháp luật ở trình độ cao Việc rèn luyện ý thức pháp luật của những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong cơ quan bảo vệ pháp luật đặc biệt cơ quan xét xử càng cần thiết và quan trọng bởi vì những quyết định của cơ quan này ít nhiều đều liên quan đến tự do thân thể, tài sản, danh dự của con người Sự hoạt động pháp luật ngày càng hiệu quả của nhà nước trong hoạt động xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật góp phần to lớn vào việc hình thành, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân nói chung và cán bộ, công chức nói riêng ý thức pháp luật là cơ sở tạo nên văn hoá pháp lý của cán bộ và nhân dân Văn hoá pháp lý cao đòi hỏi trước hết về trình độ hiểu biết pháp luật Do vậy, một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt là phải không ngừng bồi dưỡng, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân
Trang 37CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA NÓI CHUNG, HẢI PHÒNG NÓI RIÊNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Những ưu điểm và thành tựu
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một chủ trương lớn, có tính chiến lược được Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận thành nguyên tắc hiến định Việc xây dựng nhà nước pháp quyền trước hết đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất
và ban hành kịp thời để phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước Thực tế đổi mới những năm qua và đặc biệt những năm gần đây cho thấy bên cạnh việc ban hành rất nhiều văn bản pháp luật nhà nước ta rất chú trọng đến tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống và bước đầu đạt được những chuyển biến tích cực nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của người dân, tự giác thực hiện pháp luật Trong khuôn khổ luận văn có hạn, chúng tôi không
có điều kiện đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật ở nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nên luận văn chỉ tập trung phân tích việc thực hiện pháp luật ở một số lĩnh vực pháp luật chủ yếu dưới đây dựa trên cơ sở bốn hình thức thực hiện pháp luật
Trong thời gian qua, nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện tốt pháp luật dưới hình thức tuân thủ pháp luật trong các lĩnh vực pháp luật như đất đai, hình sự, trật tự, an toàn giao thông, du lịch , đặc biệt trong công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương cũng như địa phương đều tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định pháp luật, thu được nhiều kết quả tích cực
Theo tin từ Tổng cục cảnh sát – Bộ công an, trong năm 2004 “tình hình tội
phạm giảm mạnh, tội phạm xâm hại trật tự xã hội đã giảm 3,6% so với năm trước,
Trang 38trong đó có loại án giảm mạnh như cướp giật giảm 8,1%, cưỡng đoạt tài sản giảm 5,6%, hiếp dâm giảm 11,8% hoạt động của các loại tội phạm không còn công khai trắng trợn như trước nữa” [ 2]
Về thực hiện pháp luật đất đai: nhìn chung, các tổ chức, cá nhân được giao đất, thuê đất, sử dụng đất hợp pháp đã có ý thức chấp hành pháp luật đất đai, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, chấp hành nghiêm các quy định về nghĩa
vụ tài chính trong sử dụng đất ở thành phố Hải Phòng đã và đang thực hiện tốt việc triển khai Luật đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành; xúc tiến việc ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung quy định về giao đất, cho thuê đất, quy trình đền
bù, giải phóng mặt bằng, ban hành khung giá đất mới trên địa bàn thành phố theo quy định của Luật đất đai mới
Việc thực hiện pháp luật trong hoạt động du lịch trong những năm gần đây nhất
là sau Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp làm du lịch thuộc các thành phần kinh tế chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh du lịch mà cụ thể là thực hiện tốt Pháp lệnh
du lịch, các quy định về quản lý nhà nước liên quan đến du lịch như thủ tục xuất nhập cảnh, các quy định về an ninh trật tự, khai báo khách nghỉ, hải quan Việc chấp hành tốt hệ thống pháp luật về du lịch là cơ sở cho sự tăng trưởng của ngành
du lịch trong những năm qua “Trong 10 năm qua, từ 1991 đến 2001, lượng khách
du lịch quốc tế tăng 7,8 lần, con số ban đầu là 300 nghìn lượt nay đã tăng lên 2,3 triệu lượt Khách du lịch đã tăng 8 lần, từ 1,5 triệu lượt lên 11,7 triệu lượt Thu nhập xã hội từ du lịch cũng gia tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong 60 quốc gia trên thế giới có thu nhập từ du lịch hàng năm trên 1 tỷ USD, tăng doanh thu 14%/năm, gấp 9,4 lần so với năm 2001 Du lịch phát triển đã thu hút được nhiều
dự án đầu tư lớn từ nước ngoài Những khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ có vốn đầu
tư nước ngoài xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều Trong 10 năm từ 1990 đến
Trang 392000, Việt Nam có 194 dự án đầu tư khách sạn được thực hiện chiếm trên 6 tỷ đô la”[18, tr 16]
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 có hiệu lực, đã tạo được bước chuyển biến rõ nét trên một số mặt công tác xây dựng luật, pháp lệnh nhất là về tiến độ, công tác soạn thảo được đẩy nhanh hơn Số lượng các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ soạn thảo để trình Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội những năm gần đây là rất lớn Chẳng hạn: năm 1999 là 12 dự án; năm
2000 là 11 dự án; năm 2001 là 22 dự án; năm 2002 là 6 dự án và đặc biệt năm 2003
là 34 dự án Nhiều dự án luật, pháp lệnh được chuẩn bị tốt, bảo đảm chất lượng, tính đồng bộ, tính hợp hiến và hợp pháp, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn cho nên sau khi ban hành đã nhanh chóng đi vào đời sống, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân như: Bộ luật lao động, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật xây dựng, Pháp lệnh ưu đãi người có công.v.v Nhiều văn bản pháp luật sau khi ban hành đã thực sự hình thành khuôn khổ pháp lý mới, nhanh chóng tạo bước chuyển biến cơ bản, tích cực trên các lĩnh vực như quản lý doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng, thuế, hội nhập khu vực và quốc tế
ở thành phố Hải Phòng, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian chưa có Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân được thực hiện theo Quyết định số 947/QĐ-
UB ngày 24/4/1993 kèm theo Quy chế quản lý thống nhất việc ban hành văn bản pháp quy ở Hải Phòng Đến năm 2003 đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Uỷ ban nhân dân thành phố đã ra Quyết định số 2456/QĐ-UB về việc ban hành quy chế quản lý thống nhất việc xây dựng, thẩm định, ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Hải Phòng, bước đầu tạo cơ sở pháp lý, giúp cho việc quản lý công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở thành phố Hải Phòng dần đi và nề nếp theo một quy trình thống nhất, chặt chẽ; góp phần cụ thể hóa Hiến
Trang 40pháp, luật và các văn bản pháp luật của cơ quan Trung ương, bổ sung vào “khoảng trống” trong hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế, trật tự,
an toàn xã hội ở địa phương Hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật do hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp ban hành đều đúng thẩm quyền về nội dung
và hình thức, phù hợp các nguyên tắc pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về trình tự, soạn thảo, kiểm tra trước văn bản Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã giải quyết những vấn đề bức xức ở địa phương và có tính sáng tạo Chẳng hạn như Quyết định số 2455 /QĐ-UB ngày 08/10/2003 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng về thẩm quyền công chứng, chứng thực đã không phân định thẩm quyền “địa hạt” công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản trong phạm vi nội thành cho từng phòng công chứng và ủy ban nhân dân các quận theo tinh thần Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực mà giao thẩm quyền như nhau đối với tất cả các phòng công chứng và năm (05) ủy ban nhân dân quận Với qui định này, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu công chứng, chứng thực thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản có thể liên hệ ở bất kỳ phòng công chứng hoặc
ủy ban nhân dân quận nào, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ công chứng, chứng thực ở địa phương Từ năm 1999 đến hết năm 2003, hội đồng nhân dân các cấp ở Hải Phòng đã ban hành 2.016 Nghị quyết, trong đó cấp thành phố ban hành
47 văn bản, cấp huyện ban hành 256 văn bản, cấp xã ban hành 1.803 văn bản Uỷ ban nhân dân các cấp ở thành phố ban hành trên 1.000 văn bản, trong đó cấp thành phố ban hành 564 văn bản, cấp huyện là 461 văn bản, còn lại là văn bản quy phạm pháp luật do ủy ban nhân cấp xã ban hành [16]
Để việc thực hiện pháp luật phát huy hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của việc ban hành văn bản pháp luật thì các văn bản pháp luật sau khi ban hành phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, không mâu thuẫn, chồng chéo Do vậy công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật là một công việc rất quan trọng và